Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21

❊ ❊ ❊

21

Bảy giờ tối. Diane bỗng thấy đói ngấu và vội vã đi tới cái căng tin nhỏ bé nơi cô chắc chắn sẽ tìm thấy bữa tối cho số ít cán bộ ở lại. Trên đường đi, cô chào hỏi hai bảo vệ đang dùng bữa tại một chiếc bàn gần cửa, rồi cầm lên một cái khay.

Cô băn khoăn khi nhìn qua lớp kính trưng bày và thấy những món ăn nóng hổi được dọn ra, gà và khoai tây chiên. Cô sẽ phải xem xét lại nếu muốn có một chế độ ăn hợp lý và không trở về nhà với mười cân thịt thừa khi rời Viện. Để tráng miệng, cô lấy một ít salad hoa quả. Cô ngồi bên cửa sổ và ngắm nhìn cảnh đêm bên ngoài. Những chiếc đèn nhỏ đặt xung quanh tòa nhà chiếu sáng lớp tuyết dưới gốc những cây lãnh sam tạo nên một khung cảnh kì diệu.

Khi hai bảo vệ rời đi, cô chỉ còn một mình trong căn phòng im ắng, thậm chí nhân viên đằng sau quầy hàng cũng đã biến đâu mất, khiến một cảm giác buồn bã xen lẫn nghi ngờ choán lấy cô. Hồi sinh viên, cô đã từng ở một mình một phòng không ít lần, để học và làm việc khi những người khác bỏ lại ngôi trường vắng ngắt và tới các quán rượu, câu lạc bộ ở Geneva. Chưa bao giờ cô có cảm giác xa nhà đến thế. Đơn độc quá chừng. Lạc lối quá chừng. Mỗi tối đều như vậy, ngay khi màn đêm buông xuống.

Cô giận dữ nhủ thầm phải tự chủ. Chuyện gì đang xảy ra với sự minh mẫn, với những kiến thức về tâm sinh lý con người của cô vậy? Phải chăng cô không thể tự đánh giá bản thân mình tốt hơn, thay vì chịu thua trước cảm xúc? Phải chăng chỉ đơn giản là cô không tương thích với nơi này? Cô biết cái phương trình cơ bản: không tương thích = đau lòng = lo âu. Cô phẩy tay như thể muốn gạt cơn sóng lòng sang một bên. Cô biết tại sao mình lại dễ dàng xuống tinh thần đến vậy. Không phải tại cô, mà là tại những chuyện đang xảy ra ở đây. Tâm trí cô không thể thanh thản cho tới khi biết ngọn nguồn mọi chuyện. Cô đứng lên và đặt khay của mình lên cái băng chuyền nhỏ bé. Những dãy hành lang cũng vắng lặng không khác gì căng tin.

Cô rẽ vào góc hành lang dẫn tới văn phòng của mình và sững người. Ớn lạnh tới tận ruột gan. Xavier ở đó. Anh ta đang chậm rãi đóng cửa văn phòng của cô, liếc mắt sang phải rồi sang trái. Cô nhanh chóng co mình lại sau bức tường, và thở phào nhẹ nhõm khi nghe tiếng anh ta đi khuất về phía đối diện.

Băng cát xét.

Là thứ tiếp theo khiến anh chú ý. Giữa đống giấy tờ bừa bộn trên bàn làm việc của thị trưởng là những cuốn băng cát xét thu thanh đã lỗi thời mà không ai còn dùng nữa, nhưng có vẻ Chaperon vẫn gìn giữ cẩn thận. Servaz nhặt chúng lên và đọc các nhãn dán, CHIM HÓT 1, CHIM HÓT 2, CHIM HÓT 3. Anh đặt chúng xuống. Anh cũng thấy một chiếc đài nhỏ chạy cát xét ở góc phòng.

Người leo núi, tiếng chim hót, người đàn ông này thực sự rất say mê thiên nhiên. Và những món đồ quá cũ kĩ, ảnh cũ, băng cát xét cũ… Tất cả trong một ngôi nhà cũ, còn gì có thể bình thường hơn không?

Tuy vậy, đâu đó sâu trong tâm trí anh, chuông báo động đang réo vang. Và nó có liên quan tới những đồ vật trong căn phòng này. Chính xác hơn, có liên quan tới tiếng chim hót. Ý nghĩa của nó là gì? Anh thường có khuynh hướng tin tưởng trực giác của mình, hiếm khi nó cảnh báo anh vô cớ. Anh vắt óc suy nghĩ, nhưng không thu hoạch được gì. Ziegler thì gọi cho sen đầm, bảo họ tới phong tỏa ngôi nhà và mang theo giấy phép.

“Chúng ta đang đến gần sự thật,” cô nói khi đã cúp máy.

“Phải,” anh nghiêm nghị đồng ý. “Nhưng rõ ràng chúng ta không phải là những người duy nhất.”

Một lần nữa, anh có thể cảm thấy nỗi sợ hãi đang cồn lên trong lòng. Đến lúc này, anh gần như có thể chắc chắn, bộ tứ Grimm-Perrault-Chaperon-Mourrenx cùng với ‘những chiến công’ trước đây của họ chính là nút thắt của cuộc điều tra. Nhưng kẻ giết người, hoặc những kẻ giết người, phải đi trước họ ít nhất hai bước. Không giống như Ziegler và anh, chúng biết mọi điều cần biết, và đã biết từ rất lâu rồi. Nhưng Hirtmann và con ngựa của Lombard thì liên quan gì tới tất cả những chuyện này? Một lần nữa, Servaz tự nhủ rằng có điều gì đó anh chưa nhìn ra.

Họ trở xuống và ra hiên trước. Đêm lạnh và ẩm ướt. Những hàng cây hắt bóng ra xung quanh khiến khu vườn trở nên u tối. Tiếng cửa kẽo kẹt văng vẳng. Trong lúc chờ đợi, Servaz tự hỏi tại sao băng cát xét thu tiếng chim hót lại ám ảnh anh đến vậy. Anh lấy những cuốn băng ra khỏi túi áo và đưa chúng cho Ziegler.

“Cử người nghe cái này. Không chỉ vài giây đầu tiên. Mà là toàn bộ.”

Cô ngạc nhiên nhìn anh.

“Tôi muốn biết trong băng có thực sự là tiếng chim không. Hay cái gì khác.”

Di động của anh rung lên trong túi áo. Anh lấy ra và nhìn tên người gọi, Antoine Canter, sếp anh.

“Servaz nghe,” anh đi xuống bậc thềm, chân giẫm lên tuyết trong vườn.

“Martin? Antoine đây. Vilmer muốn gặp cậu.”

Vilmer là giám đốc Cục cảnh sát hình sự Toulouse. Một người Servaz không thích, và lão ta cũng chẳng ưa anh. Theo quan điểm của Vilmer, Servaz chỉ là loại cảnh sát hết thời, từ chối cách tân phương pháp điều tra, đề cao chủ nghĩa cá nhân, làm việc theo bản năng, và không chịu tuân thủ các chỉ thị mới nhất từ Bộ. Những bề tôi của nhân dân mà Vilmer hằng mơ ước phải là những người dễ uốn nắn, được huấn luyện đầy đủ, luôn luôn nghe lời, và có thể thay thế nhau.

“Ngày mai tôi sẽ ghé qua,” anh nói, liếc nhìn Ziegler đang đợi ở cổng.

“Không. Vilmer muốn cậu đến văn phòng giám đốc ngay tối nay. Ông ta đang đợi cậu. Đừng có giở trò đấy, Martin. Cậu có hai tiếng để trình diện.”

Servaz lập tức rời Saint-Martin. Đã hơn 8 giờ tối. Nửa tiếng sau, anh tách khỏi tỉnh lộ 825 để rẽ sang A64. Anh bỗng thấy mỏi mệt vô cùng khi lao đi trên xa lộ và chói mắt trước ánh đèn pha của những chiếc xe đi ngược chiều. Anh tấp vào một khu vực dịch vụ, mua một cốc cà phê ở máy bán hàng rồi lấy một lon Red Bull ở chiếc tủ lạnh to tướng, trả tiền tại quầy, giật nắp và tu hết sạch trong lúc liếc nhanh các bìa tạp chí và tiêu đề báo trên giá trưng bày trước khi trở lại xe.

Servaz về đến Toulouse giữa lúc mưa phùn đang tới tấp đổ xuống. Anh chào nhân viên an ninh, đỗ xe và vội vã đi vào thang máy. Đã 9 giờ rưỡi, anh nhấn nút lên tầng thượng. Thông thường Servaz vẫn tránh đến nơi này. Những dãy hành lang luôn gợi anh nhớ lại khoảng thời gian làm việc ở đây hồi mới vào ngành. Tổng cục Cảnh sát Quốc gia toàn những người mà hiểu biết về cảnh sát chỉ dừng ở các báo cáo vô hồn, và luôn né tránh các kiến nghị của cảnh sát như né virus Ebola. Thời điểm này trong ngày, hầu hết nhân viên đã về nhà, các phòng làm việc đều vắng ngắt. Anh so sánh sự yên lặng ở đây với không khí thường xuyên hỗn loạn vì căng thẳng lan khắp tầng lầu tại chỗ làm việc của mình. Đương nhiên, Servaz cũng đã gặp gỡ không ít những người làm việc hiệu quả và có năng lực ở Tổng cục. Họ không phải loại phô trương. Thậm chí còn rất ít người biết đeo cà vạt hợp thời trang. Anh mỉm cười nhớ lại học thuyết của Espérandieu. Cậu cho rằng một khi sở hữu số lượng com lê và cà vạt nhất định tính trên mét vuông, người ta sẽ bước vào một vùng gọi là ‘vùng năng lực loãng’, có thể chia nhỏ thành những vùng ‘quyết định ngớ ngẩn’, ‘cái rốn vũ trụ’ hay ‘ẩn núp’.

Anh xem đồng hồ và quyết định để Vilmer đợi thêm năm phút nữa. Không phải lúc nào cũng có cơ hội cho một kẻ ích kỉ như Vilmer tha thẩn chờ đợi. Anh tranh thủ đi tới phòng cà phê và thả một đồng xu vào cái máy. Hai người đàn ông và một phụ nữ đang ngồi tán gẫu quanh một chiếc bàn. Khi anh đi vào, âm lượng của cuộc đối thoại giảm xuống vài decibel, một trong số họ hạ giọng nói đùa một câu. Khiếu hài hước, Servaz nghĩ. Một lần vợ cũ của anh đã chê anh thiếu hài hước. Có lẽ cũng đúng. Nhưng điều đó đâu có nghĩa là anh không thông minh như người khác? Không, cứ thử đếm số thằng đần làm việc trong lĩnh vực này đi rồi sẽ thấy. Nhưng thiếu hài hước hẳn là biểu hiện của một điểm yếu về tâm lý. Anh sẽ hỏi Propp. Servaz bắt đầu thích tay bác sĩ tâm lý này, dù không ưa cái tính ra vẻ biết tuốt của anh ta.

Khi đã uống hết cốc cà phê không biết thứ bao nhiêu, anh rời khỏi phòng, và cuộc hội thoại tiếp tục. Người phụ nữ sau lưng anh phá lên cười. Một nụ cười giả tạo và khiếm nhã khiến anh khó chịu.

Văn phòng của Vilmer ở cách đó vài mét. Thư kí của lão chào đón Servaz với nụ cười thân thiện.

“Xin mời vào. Ông ấy đang đợi anh.”

Servaz tự nhủ đây không phải dấu hiệu tốt, đồng thời cũng tự hỏi liệu thư kí của Vilmer có được nhận lương làm ngoài giờ hay không.

Vilmer là một gã gầy gò với một nhúm râu dê cắt tỉa gọn ghẽ, mái tóc hớt hoàn hảo và nụ cười uy quyền thường trực trên môi như vết chốc mép cứng đầu. Lão luôn mặc áo sơ mi, cà vạt, com lê và giày hợp thời, với màu sắc thiên hẳn về tông sôcôla, hạt dẻ ngào đường và oải hương. Servaz xem Vilmer như bằng chứng sống của việc một thằng ngu có thể tiến xa tới đâu nhờ vào việc cấp trên của hắn là những thằng ngu khác.

“Ngồi đi,” lão nói.

Servaz ngồi xuống chiếc ghế bành bằng da màu đen. Vilmer có vẻ bực mình, tay đan vào nhau dưới cằm và im lặng đánh giá anh trong giây lát, như thể muốn anh biết là lão đang khó chịu. Biểu cảm này có thể đoạt giải Oscar ở Hollywood được đây. Servaz cũng quan sát lại, rồi mỉm miệng cười. Biểu hiện đó khiến ngài giám đốc giận điên lên.

“Cậu thấy tình huống này hài hước lắm à?”

Giống như mọi người của tổ hình sự đóng tại các địa bàn, Servaz biết Vilmer đã dành toàn bộ sự nghiệp của mình để yên ổn chễm chệ đằng sau bàn làm việc. Ngoại trừ một thời gian ngắn ban đầu làm bên phòng chống tệ nạn xã hội, lão hoàn toàn không biết thế giới ngoài kia trông ra sao. Có tin đồn lão từng là bù nhìn rơm, và là trò tiêu khiển cho đồng nghiệp.

“Không, thưa sếp.”

“Ba vụ giết người trong tám ngày!”

“Hai,” Servaz đính chính. “Hai vụ giết người và một con ngựa chết.”

“Cuộc điều tra tiến triển tới đâu rồi?”

“Chúng tôi đã tiến hành điều tra được một tuần. Sáng nay chúng tôi suýt bắt được tên giết người, nhưng hắn đã trốn thoát.”

“Cậu để cho hắn trốn thoát,” Vilmer nói rành mạch, rồi vội vàng bổ sung, “Confiant đang phàn nàn về cậu.”

Servaz rùng mình, “Ý sếp là gì?”

“Cậu ta than phiền riêng với tôi và với Tòa án tối cao. Ngay lập tức chánh án thông báo cho thư kí Bộ Nội vụ, và thư kí đã gọi cho tôi.” Lão ngừng lại để tạo hiệu ứng, rồi tiếp tục, “Cậu đặt tôi vào tình huống cực kì khó xử, sĩ quan chỉ huy ạ.”

Servaz sửng sốt. Confiant đã lén lút hành động sau lưng d’Humières. Tay thẩm phán này không lãng phí chút thời gian nào.

“Sếp muốn tôi rút khỏi vụ án?”

“Đương nhiên là không,” Vilmer phủ nhận, như thể chưa từng có ý nghĩ ấy. “Phải nói rằng Catherine d’Humières đã biện hộ cho cậu một cách khá hùng hồn. Bà ta nghĩ rằng cậu và Ziegler đang làm rất tốt.”

Vilmer hít vào, như thể quá hao tâm tổn sức khi phải nhắc lại một điều thật ngớ ngẩn, “Nhưng tôi cảnh cáo cậu, nhiều nhân vật quyền lực đang theo dõi vụ này. Chúng ta đang ở tâm bão. Hiện tại thì mọi thứ bình lặng. Nhưng nếu cậu thất bại, sẽ có hậu quả đấy.”

Servaz không thể không mỉm cười. Ngồi trong bộ com lê bảnh bao, Vilmer ra vẻ như chẳng có chuyện gì to tắt, nhưng thực chất thì sợ đến vãi ra quần. Bởi lão biết rất rõ rằng ‘hậu quả’ không chỉ liên đới tới riêng các điều tra viên.

“Đây là một vụ án nhạy cảm, đừng quên điều đó.”

Vì một con ngựa, Servaz nghĩ. Bọn họ chỉ quan tâm tới con ngựa. Anh cố kìm nén cơn tức giận.

“Chỉ vậy thôi sao?” Anh hỏi.

“Không. Cái tay… nạn nhân, Perrault, đã gọi điện cầu cứu cậu?”

“Đúng.”

“Sao lại là cậu?”

“Tôi không biết.”

“Cậu không thử can ngăn Perrault đừng lên cáp à?”

“Tôi không có thời gian.”

“Thế còn toàn bộ câu chuyện về các nạn nhân tự tử? Chuyện đó thì liên quan gì?”

“Hiện tại chúng tôi vẫn chưa biết rõ. Nhưng Hirtmann đã gợi ý như thế trong lần chúng tôi gặp nhau.”

“Ý cậu là gì?”

“Hắn… khuyên tôi chú ý tới những vụ tự tử.”

Vilmer nhìn anh với vẻ sững sờ, sững sờ thực sự chứ không hề vờ vịt, “Ý cậu là Hirtmann đang chỉ vẽ cách tiến hành cuộc điều tra?”

Servaz nhíu mày, “Nhìn nhận vấn đề như thế thì có hơi… đơn giản thái quá.”

“Đơn giản thái quá?” Vilmer cao giọng. “Tôi có cảm tưởng các cậu đang ôm đồm quá đấy, sĩ quan chỉ huy ạ. Cậu có DNA của Hirtmann, không phải sao? Còn cần thêm gì nữa? Hắn không thể rời khỏi Viện có nghĩa là đang tồn tại một tên tòng phạm trong đó. Tìm tên ấy là được!”

Thật là tuyệt khi ngắm nghía vụ án từ xa, bỏ qua các chi tiết và bởi thế nhận thấy mọi thứ thật đơn giản, Servaz thầm nghĩ. Nhưng về cơ bản, Vilmer đã đúng.

“Cậu có những manh mối nào rồi?”

“Vài năm trước có một vụ đâm đơn kiện Grimm và Perrault vì tống tiền. Tống tiền tình dục.”

“Thì sao?”

“Có vẻ như không phải lần duy nhất họ gây chuyện. Thậm chí có thể họ đã làm điều kinh khủng hơn với các phụ nữ khác. Hoặc với trẻ vị thành niên … Đây có thể là động cơ mà chúng ta đang tìm kiếm.” Servaz ý thức được lập luận của anh rất thiếu căn cứ, và họ đang có rất ít cơ sở để tiếp tục, nhưng giờ đã quá muộn để lùi bước.

“Trả thù?”

“Có thể.”

Bỗng chốc, anh bị sao lãng bởi một bức tranh trên tường đằng sau Vilmer. Một cái bồn tiểu. Servaz nhận ngay ra tác phẩm của Marcel Duchamp. Triển lãm Dada ở Trung tâm Georges-Pompidou năm 2006. Rõ ràng là nhằm khoe mẽ, như thể muốn chứng minh cho khách khứa thấy rằng mình là một người yêu văn hóa, đam mê nghệ thuật và còn có cả khiếu hài hước.

Vilmer suy nghĩ trong giây lát, “Có mối liên hệ nào với con ngựa của Lombard?”

Servaz ngập ngừng, “Nếu bám theo giả thuyết trả thù, nghĩa là các nạn nhân hẳn đã làm một việc cực kì xấu xa,” anh gần như nhắc lại từng từ mà Alexandra đã nói. “Đặc biệt khi họ là tòng phạm. Trường hợp của Lombard, vì không thể trực tiếp làm gì được anh ta, hung thủ đã nhắm vào con ngựa.”

Vilmer đột nhiên tái mặt, “Đừng nói với tôi… đừng nói với tôi là cậu nghi ngờ Éric Lombard dính líu… vào việc…”

“Lạm dụng tình dục,” Servaz giúp Vilmer nói nốt câu, dù ý thức được rằng có thể mình đang đưa mọi chuyện đi quá xa, tuy vậy nỗi sợ hãi anh thoáng thấy trong đôi mắt Vilmer không khác nào một liều thuốc kích thích. “Không, hiện tại thì chưa có dấu hiệu nào khả nghi. Nhưng chắc chắn anh ta phải liên quan gì đó với những người kia, phải có một mắt xích nối anh ta với các nạn nhân.” Ít nhất anh đã thành công ở một việc, là làm Vilmer ngậm miệng.

Ra khỏi văn phòng Tổng cục, Servaz tiến về trung tâm cổ kính của thành phố. Anh không muốn về nhà. Chưa phải lúc này. Anh cần trút gánh nặng và cơn giận dữ mà một kẻ như Vilmer đã khơi lên trong anh. Vẫn đang mưa phùn và anh không đem theo ô, nhưng anh chào đón cơn mưa như trời ban phúc lành. Như thể nó đang gột rửa anh khỏi vũng bùn dơ dáy anh vẫn đắm chìm trong mấy ngày qua.

Anh để mặc bước chân đưa mình tới phố Taur và dừng lại bên ngoài lối vào bằng kính được thắp sáng rực rỡ dẫn tới chỗ làm của Charlène, phòng trưng bày nghệ thuật của vợ cậu trợ lý. Phòng trưng bày dài, hẹp và chiếm hai tầng lầu, có thể thấy nội thất màu trắng hiện đại qua những khung cửa sổ lớn. Sự tương phản rõ nét với mặt tiền bằng gạch đỏ cũ kĩ của những ngôi nhà xung quanh.

Có rất nhiều người bên trong. Một buổi trưng bày cá nhân. Đang định đi tiếp, anh bỗng ngẩng đầu lên và thấy Charlène Espérandieu đang vẫy tay với mình từ tầng hai. Anh hờ hững đi vào. Quần áo và tóc tai nhỏ giọt, đôi giày sũng nước để lại một vệt ướt dài trên sàn gỗ sáng màu, nhưng anh thu hút ít ánh mắt tò mò hơn anh tưởng. Tất cả những khuôn mặt này đang cố gắng tỏ ra đặc biệt, hiện đại và cởi mở, hay ít nhất là họ nghĩ như vậy. Ngoài mặt, họ có vẻ phóng khoáng và hiện đại, nhưng còn sâu bên trong thì sao? Luôn chỉ chăm chăm theo nguyên tắc của chính họ và bài xích những luồng tư tưởng khác.

Hướng về cầu thang xoắn bằng kim loại ở phía sau, anh bị lóa mắt trước sắc trắng của không gian và những chùm sáng hắt lại từ hệ thống đèn sân khấu trên đầu. Anh đang định đặt chân lên bậc đầu tiên thì một bức tranh khổng lồ treo trên bức tường phía sau khiến anh chú ý và hoàn toàn câm nín.

Bức tranh cao gần 4 mét, tái hiện cảnh đóng đinh câu rút với nền lam nhờ nhờ. Đằng sau thập giá là bầu trời giông gió, với những đám mây bị sấm chớp xé toạc. Trên thập giá, Chúa Jesus được thay bằng một người đàn bà chửa. Đầu cô ta ngoặt sang một bên và đang khóc ra máu. Máu đỏ tươi cũng chảy ra từ vòng gai đội trên vầng trán xanh xao. Không chỉ bị đóng đinh lên thập giá, ngực cô ta còn bị xẻo đứt, để lại hai vết thương đẫm máu đỏ lòm. Hai con ngươi trắng sữa, trong mờ như bị đục thủy tinh thể.

Servaz giật lùi. Chủ nghĩa hiện thực và tính bạo lực trong bức tranh quá sức kinh khủng. Loại người điên rồ nào đã tạo nên một tác phẩm thế này? Tại sao người ta lại bị mê hoặc trước bạo lực đến vậy? Hàng loạt hình ảnh gây sốc trên truyền hình, phim ảnh và sách báo, có phải một cách để ngăn chặn nỗi sợ hãi hay không? Hầu hết các nghệ sĩ chỉ biết đến bạo lực theo cách gián tiếp và trừu tượng chứ chưa từng đối mặt với nó. Trong khi đó, cảnh sát phải giáp mặt với những hiện trường vụ án quá sức chịu đựng, lính cứu hộ phải kéo xác nạn nhân ra khỏi đống xe cộ vỡ nát, thẩm phán ngày này qua ngày khác phải xem xét những vụ án tàn bạo… nếu để những người này sáng tác thì ai biết được họ sẽ tạo nên tác phẩm gì? Liệu có phải là cùng một thứ bạo lực kinh tởm ấy, hay là thứ gì khác hắn?

Các bậc thang kim loại khẽ rung lên theo từng bước chân anh. Charlène đang tán gẫu với một người đàn ông bảnh bao tóc bạc mượt mà mặc com lê may riêng. Cô ngừng lại để ra hiệu cho Servaz đến gần, rồi giới thiệu họ với nhau. Servaz hiểu rằng người đàn ông này, một giám đốc ngân hàng, là một trong những khách hàng quan trọng của phòng trưng bày.

“Được rồi, tôi sẽ xuống gác để thưởng thức triển lãm tuyệt vời này,” ông ta nói. “Một lần nữa, chúc mừng cô về khiếu thẩm mỹ hoàn hảo của mình, Charlène thân mến. Tôi không biết bằng cách nào, mà lần nào cũng vậy, cô đều có thể tìm ra những nghệ sĩ vô cùng tài năng.”

Người đàn ông đi khuất. Servaz tự hỏi liệu ông ta có nhìn anh lấy một lần không, hay thậm chí còn chẳng nhận biết tình trạng của anh. Đối với những người như ông ta, Servaz không tồn tại. Charlène hôn lên má Servaz, anh ngửi thấy mùi phúc bồn tử và vodka trong hơi thở của cô. Cô lộng lẫy trong chiếc đầm bầu màu đỏ bên trong áo da ngắn màu trắng, và đôi mắt, cũng như chuỗi hạt trên cổ, sáng ngời lấp lánh.

“Trời đang mưa hả,” cô nhìn anh, nở nụ cười dịu dàng.

Cô xòe tay về phía những bức tranh. “Anh hiếm khi đến đây. Em rất vui vì anh đã tới, Martin. Anh thích không?”

“Nó có hơi… không thoải mái,” anh trả lời.

Cô cười vang, “Nghệ danh của họa sĩ là Mentopagus. Chủ đề của triển lãm là Tàn nhẫn.”

“À, nếu vậy thì nó rất thành công đấy,” anh đùa.

“Trông anh không ổn lắm, Martin.”

“Xin lỗi, tôi không nên vào đây trong tình trạng này.”

Cô xua tay gạt đi lời xin lỗi của anh, “Ở đây, nếu có thêm một con mắt giữa trán cũng chẳng khiến ai chú ý cả. Những người này chỉ nghĩ đến việc con người họ tiên phong, tân tiến, hiện đại, và phá cách thế nào thôi. Họ nghĩ mình đẹp đẽ trong tâm hồn, và đẹp hơn đứt những người khác…”

Anh ngạc nhiên trước sự cay đắng trong giọng Charlène và liếc nhìn chiếc ly đầy đá của cô. Có lẽ là tác dụng của cồn.

“Sự khuôn sáo của giới nghệ sĩ vị kỉ,” anh nói.

“Nếu khuôn sáo trở thành khuôn sáo, thì chính là bởi chúng hàm chứa một sự thật quan trọng,” cô phản biện. “Trên thực tế, em thấy chỉ có hai người thực sự mang vẻ đẹp trong mình,” cô lẩm bẩm như tự nhủ. “Vincent, và anh. Hai cảnh sát. Thế nhưng anh luôn giấu nhẹm vẻ đẹp đi.”

Servaz bất ngờ trước lời thổ lộ của cô. Anh không ngờ cô sẽ nói như vậy.

“Em ghét nghệ sĩ,” đột nhiên cô nói, giọng run rẩy.

Hành động tiếp theo của Charlène còn gây bất ngờ hơn. Cô ngả người tới trước và một lần nữa hôn lên má anh, nhưng lần này dừng ở khóe môi. Đầu ngón tay cô len lén chạm vào môi anh. Hai cử chỉ thân mật dù dè dặt nhưng khiến anh ngỡ ngàng. Rồi cô bước xuống và đi mất. Gót giày cô vang lách cách trên những bậc thang kim loại.

Tim Servaz đập loạn. Đầu óc anh quay cuồng. Một phần sàn nhà được rải sỏi, trát vữa và đá cuội, anh tự hỏi là một tác phẩm nghệ thuật hay là một công trường. Trên bức tường trắng đối diện anh là bức tranh hình vuông vẽ vô số nhân vật tí hon tụ lại dày đặc thành một đám đông nhiều màu sắc. Hàng trăm người, có khi là hàng ngàn. Dường như tầng hai được dành trọn cho triển lãm Tàn nhẫn.

“Rất tuyệt vời phải không?” Một phụ nữ đứng bên cạnh anh lên tiếng. “Thể loại nghệ thuật pop art[1] này, cả phong cách truyện tranh nữa. Trông giống một bức tiểu họa của Lichtenstein[2].”

Servaz giật mình. Mải suy tưởng nên không để ý thấy bà ta đi tới. Giọng bà như thể đang luyện thanh, lên bổng xuống trầm.

Quos vult perdere Jupiter prius dementat,” anh nói.

Người đàn bà băn khoăn nhìn anh.

“Là tiếng La tinh, ‘Muốn hủy diệt ai, Jupiter sẽ làm kẻ đó phát điên trước’.”

Anh quay đi và nhanh chóng tiến về phía cầu thang.

Ở nhà, anh bật The Song of the Earth trên loa, bản hiện đại do Eiji Oue trình bày cùng Michelle De Young và Jon Villars, rồi chuyển thẳng sang bản Farewell kinh điển. Vì không thấy buồn ngủ, anh lấy xuống một quyển sách trên giá. Aethiopica[3] của Heliodorus thời Emesa.

“Và giờ con gái ta ở đây cùng ta, đứa con gái ta đã đặt tên theo tên mình, gửi gắm nơi con mọi trông mong hy vọng. Ngoài những điều tuyệt vời khác mà ta có mơ cũng không thể tưởng tượng nổi, con đã nhanh chóng học được tiếng Hy Lạp và cũng mau chóng như vậy, con đã đến tuổi trăng tròn. Như một nhánh cây tươi non hoàn hảo, con sở hữu vẻ đẹp hoàn mỹ hơn người, đến mức ánh mắt của tất thảy đàn ông, và cả những người Hy Lạp lạ mặt, đều đổ dồn vào con.”

Ngồi trên chiếc ghế bên cạnh giá sách, anh ngừng đọc và miên man nghĩ về Gaspard Ferrand, người bố khốn khổ. Rồi tới Alice và những nạn nhân tự tử. Những suy nghĩ của anh cứ trôi dạt như mọt bầy quạ chao lượn trên cánh đồng. Giống như nàng Chariclea trẻ trung trong câu chuyện của Heliodorus, ánh mắt của tất thảy đàn ông đều đổ dồn vào Alice. Anh đã đọc đi đọc lại lời khai của những người láng giềng, Alice Ferrand là một đứa trẻ hoàn mỹ, xinh đẹp, hiểu biết, đạt thành tích xuất sắc ở trường, bao gồm cả thể thao và luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác. Nhưng con bé gần đây đã thay đổi, theo lời bố cô gái. Chuyện gì đã xảy ra với cô bé? Suy nghĩ của anh trở lại với bộ tứ Grimm-Perrault-Chaperon-Mourrenx. Liệu Alice và những đứa trẻ tự tử khác có liên quan tới bọn chúng không? Nếu vậy thì vào lúc nào? Ở Les Isards chăng? Nhưng hai trong số bảy nạn nhân tự sát chưa từng tới trại.

Một lần nữa, anh lại rùng mình. Như thể nhiệt độ trong phòng đã giảm vài độ. Anh muốn vào bếp tìm một chai nước khoáng, nhưng phòng khách đột nhiên quay cuồng. Những quyển sách trên giá đang lắc lư, ánh sáng đèn bàn lại có vẻ chói lóa và hung hiểm. Servaz thả mình xuống ghế. Anh nhắm mắt lại. Khi anh mở mắt lần nữa, cơn choáng váng đã qua đi. Chuyện gì xảy ra với anh vậy, vì Chúa?

Anh đứng lên và lao vào nhà tắm. Anh lấy một viên thuốc của Xavier. Cổ họng nóng cháy, dòng nước lạnh chỉ xoa dịu trong chốc lát, rồi cảm giác bỏng rát lại ùa về. Anh xoa xoa hai mắt, băng qua phòng khách ra ban công hít thở chút khí trời. Anh nhìn đèn đường và thắc mắc tại sao những thành phố hiện đại, với ánh đèn huyền ảo và tiếng ồn không dứt, lại có thể biến cư dân của mình thành những bóng ma lơ mơ và mất ngủ vào lúc rạng đông.

Một lần nữa, Alice ám ảnh tâm trí anh. Anh thấy căn phòng của cô bé, đồ đạc màu cam và vàng, những bức tường tím và thảm trắng. Ảnh và bưu thiếp, CD và đồ dùng học tập, quần áo và sách. Một cuốn nhật kí… thiếu nhật kí. Servaz ngày càng tin chắc rằng một cô bé như Alice không thể không có nhật kí. Phải có một quyển nhật kí ở đâu đó.

Và rồi Gaspard Ferrand, giáo viên văn học, đã đi khắp thế giới và tập luyện yoga. Theo bản năng, Servaz so sánh ông ta với bố mình. Bố anh cũng từng là thầy giáo dạy Ngữ văn, tiếng La tinh và Hy Lạp. Một người đàn ông thông tuệ, giữ kẽ, lập dị, đôi lúc dễ cáu giận. Genus irritabile vatum (giới thi nhân hay cáu kỉnh).

Servaz biết rất rõ dòng suy tưởng này sẽ dẫn anh tới đâu. Quá muộn, anh không kịp ngăn kí ức ùa về, chúng nhấn chìm, và cuốn anh đi. Quá khứ như được tái hiện, chính xác đến mức đáng sợ.

Những sự thật. Không gì ngoài sự thật.

Vào một buổi tối tháng Bảy ấm áp, Martin Servaz 10 tuổi đang chơi trong sân nhà thì trông thấy ánh đèn ô tô bên ngoài con đường dài thẳng tắp. Nhà cậu nằm giữa một trang trại biệt lập, cách thị trấn gần nhất 3 kilomet. Đã là 10 giờ đêm. Bóng tối mờ mờ bao phủ cảnh vật, tiếng dế râm ran ở những cánh đồng bên cạnh sẽ sớm bị thay thế bởi âm thanh ộp oạp của ếch nhái, sấm ì ùng vọng đến từ những ngọn núi nơi chân trời, tinh tú càng lúc càng sáng rõ trên bầu trời nhàn nhạt. Tiếng động cơ rì rầm cắt vào sự yên ả đó, lớn dần, rồi chiếc xe giảm tốc để rẽ lên lối vào nhà. Nó chậm rãi di chuyển, nảy qua những vết lún trên lối đi. Lốp xe nghiến lạo xạo trên sỏi khi qua cổng và phanh lại trong sân. Một cơn gió thổi qua làm tán bạch dương xào xạc, hai người đàn ông ra khỏi xe. Martin Servaz không thể trông thấy mặt họ dưới bóng tối buông trùm của những hàng cây, nhưng cậu nghe rõ một người lên tiếng, “Chào chú bé, bố mẹ cháu đâu?”

Gần như cùng lúc, cửa mở và mẹ cậu đứng dưới ánh sáng nơi ngưỡng cửa. Người đàn ông vừa nói tiến về phía bà và xin lỗi vì đã làm phiền. Người ấy nói rất nhanh, trong khi người còn lại đặt một bàn tay lên vai Servaz với vẻ thân thiện. Không hiểu tại sao, cử chỉ ấy khiến cậu bé khó chịu. Như một sự gián đoạn giữa buổi tối bình yên. Như một mối đe dọa mơ hồ mà chỉ mình cậu nhận thức được dù người đàn ông kia đang cư xử ôn hòa, dù cậu thấy mẹ mình đang cười. Cậu nhìn lên, bóng bố lướt qua cửa sổ phòng làm việc ở tầng hai, ông đang sửa bài tập cho sinh viên. Servaz muốn hô lên nhắc mẹ mình cẩn thận, đừng để họ vào nhà, nhưng cậu đã được dạy phải lịch sự và giữ trật tự khi người lớn nói chuyện.

Cậu nghe thấy mẹ nói, “Mời vào.”

Người đàn ông sau lưng khẽ đẩy Servaz tới trước, cậu cảm nhận được những ngón tay to lớn nóng rát qua lớp vải áo trên vai. Cậu nghĩ cử chỉ này độc đoán chứ không còn thân thiện nữa. Ngay cả hiện tại, Servaz vẫn nhớ rõ từng bước chân của họ, chúng dội vào óc anh như một lời cảnh báo. Anh nhớ mùi nồng nồng của nước hoa và mồ hôi, nhớ tiếng dế rít lên như hồi chuông báo động. Thậm chí cả trái tim anh cũng đang nổi trống báo điềm gở. Lúc họ đi tới gần bậc thềm, người đàn ông bịt cái gì đó lên miệng và mũi Servaz. Một miếng vải ướt. Trong tích tắc, một lưỡi lửa đốt cháy cổ họng và phổi cậu, mắt chỉ kịp bắt được những chấm trắng nhảy nhót trước khi rơi vào một hố đen sâu thẳm.

Khi tỉnh lại, Servaz thấy mình đang ở trong gian nhà kho bên dưới cầu thang, buồn nôn và mụ mị. Tiếng cầu xin của mẹ đằng sau cánh cửa khiến cậu sợ hãi. Xen vào đó là giọng hai người đàn ông gầm gừ đe dọa và thay nhau cợt nhả mẹ. Nỗi sợ hãi choán lấy Servaz, toàn thân cậu bắt đầu run lên. Cậu tự hỏi bố đã đi đâu. Theo bản năng, cậu biết hai người đàn ông này là ai. Bọn chúng không phải là người, mà là kẻ xấu trên màn ảnh, những sinh vật độc ác, những nhân vật siêu phản diện trong truyện tranh cậu từng đọc, nhà khoa học Tinkerer và tên Green Goblin[4]… Cậu đoán chắc bố đang bị trói ở đâu đó, bất lực, giống như cảnh ngộ thường gặp của các anh hùng trong truyện tranh, bởi nếu không, hẳn ông đã tới cứu họ. Nhiều năm về sau, Servaz tự nhủ rằng cả mớ kiến thức triết học của Seneca[5] hay Marcus Aurelius[6] đều không giúp gì được cho bố nếu phải đấu lý với hai kẻ đó. Nhưng thực sự thì ta có thể nói lý với hai con sói đói khát hay không? Thứ chúng tìm kiếm không phải thịt tươi, mà là một loại thịt khác.

Nếu Servaz nhỏ bé lúc ấy có một chiếc đồng hồ, cậu sẽ biết rằng khi mình tỉnh lại là 12 giờ 20 phút đêm, và còn năm tiếng nữa tai họa khủng khiếp mới kết thúc. Trong năm tiếng ấy, cậu nghe mẹ mình la hét, nức nở, nghẹn ngào, rủa xả và van vỉ, gần như liên tục. Cuối cùng tiếng kêu la của mẹ dần dần chuyển thành tiếng thổn thức và nấc cụt, rồi chỉ còn là những tiếng lẩm bẩm không rõ nghĩa. Khi cậu cảm thấy nước mũi chảy thành một dòng sền sệt và nước tiểu ấm nóng tràn xuống đùi, những âm thanh đầu tiên của buổi sớm mai vọng qua cửa kho, gà trống gáy vang, chó sủa ở đằng xa, một chiếc ô tô chạy qua, cách không đến 100 mét. Một luồng sáng xam xám mờ mờ bắt đầu lọt qua sàn nhà. Sự tĩnh lặng bao trùm khắp ngôi nhà, một sự tĩnh lặng tuyệt đối, dứt khoát và yên tâm tới kì lạ.

Mười lăm năm sau bi kịch, ba năm sau khi bước chân vào ngành cảnh sát, Servaz mới đủ can đảm chạm tay vào báo cáo khám nghiệm tử thi. Để rồi nhận ra mình đã phạm phải một sai lầm nghiêm trọng. Anh tưởng rằng năm tháng sẽ cho mình sức mạnh. Nhưng anh đã sai. Kinh hoàng cùng cực, anh khám phá ra tất cả những gì mẹ phải trải qua đêm hôm ấy. Vừa gấp tập báo cáo lại, là anh phải chạy ngay vào nhà vệ sinh và nôn ra toàn bộ bữa trưa của mình.

Sự thật. Không gì ngoài sự thật.

Bố anh sống sót, nhưng phải nằm viện hai tháng, trong khi Servaz bé dại được gửi đến ở với dì. Khi xuất viện, bố trở lại với công việc giảng dạy. Tuy vậy, không lâu sau, rõ ràng ông không thể tiếp tục đứng lớp được nữa. Ông thường xuyên xuất hiện trên giảng đường với bộ dạng nhếch nhác, say xỉn, râu ria xồm xoàm, thậm chí còn sỉ vả om sòm các sinh viên. Cuối cùng, ban giám hiệu cho ông nghỉ phép vô thời hạn, từ đó ông càng lún sâu hơn vào rượu chè. Servaz bé dại lại được gửi đến ở cùng dì.

Sự thật, không gì ngoài sự thật.

Vào một ngày cuối xuân đầu hạ, hai tuần sau khi gặp người phụ nữ ở trường đại học mà sáu tháng sau sẽ trở thành vợ anh, Servaz đến gặp bố mình. Khi bước ra khỏi xe, anh nhìn ngôi nhà một lượt. Kho thóc cũ kĩ đang đổ nát dần, phần chính của ngôi nhà có vẻ bỏ không, phải đến một nửa số cửa chớp đóng im ỉm. Servaz gõ vào tấm kính cửa trước. Không ai trả lời. Anh đi vào. “Bố ơi?” Im lặng. Ông già chắc hẳn lại đang bí tí ở đâu rồi. Servaz ném áo vét và cặp da lên ghế và vào bếp uống một ly nước. Sau khi đã khát, anh lên cầu thang. Chắc bố đang say bí tỉ ở phòng làm việc.

Servaz trẻ tuổi đã đúng, ông Servaz đang ở trong phòng làm việc. Tiếng nhạc loáng thoáng vọng qua cánh cửa đóng kín, anh lập tức nhận ra là Gustav Mahler, nhà soạn nhạc ưa thích của bố anh. Nhưng Servaz cũng sai, bố anh không say. Cũng không đọc sách của một trong các tác giả La tinh ông yêu quý. Ông ngồi bất động trên ghế, mắt mở to và vô hồn, một lớp bọt trắng phì trên môi. Thuốc độc. Giống như Seneca, giống như Socrates.

Hai tháng sau, Servaz thi đỗ kì thi sát hạch và trở thành sĩ quan cảnh sát.

10 giờ tối, Diane tắt đèn phòng làm việc. Cô đem theo ít giấy tờ định bụng hoàn thành trước khi đi ngủ và trở về phòng ở tầng năm. Trên phòng vẫn lạnh ngắt đó cô khoác thêm chiếc áo choàng tắm rồi ngồi xuống đầu giường để đọc. Vừa xem các ghi chú của mình, cô vừa mường tượng lại bệnh nhân đầu tiên cô gặp hôm nay. Một người đàn ông nhỏ thó 64 tuổi, nguyên là giáo viên triết học, trông khá vô hại, giọng chua loét như thể dây thanh quản đã mài sắc. Ông ta chào hỏi rất lịch sự khi cô bước vào. Cuộc nói chuyện diễn ra trong một căn phòng nhỏ với bàn và ghế đều được cố định xuống sàn. Chiếc tivi màn hình rộng được niêm phong trong một lớp kính cầu lồi làm bằng thủy tinh hữu cơ, và tất cả các góc cạnh sắc nhọn của đồ đạc đều được bịt nhựa. Không còn ai khác trong phòng, nhưng có một hộ lý canh gác ở cửa ra vào.

“Hôm nay ông cảm thấy thế nào, Victor?” Diane hỏi.

“Như cứt.”

“Ý ông là sao?”

“Như một bãi cứt chó, một đống rác rưởi, một…”

“Victor, tại sao ông lại thô tục thế?”

“Tao cảm thấy giống như cái thứ chui ra từ đít mày ấy, con bác sĩ, khi mày đi vào…”

“Ông không muốn trả lời tôi à?”

“Tao cảm thấy…”

Diane nhắc nhở bản thân không bao giờ được hỏi cảm giác của ông ta thêm một lần nào nữa. Victor đã giết vợ, em trai và em gái vợ bằng một cái rìu. Theo hồ sơ, vợ và người nhà bên vợ đã đối xử với ông ta như một kẻ vô dụng và liên tục cười cợt ông ta. Trong cuộc sống ‘bình thường’, Victor là người cực kì hiểu biết và có văn hóa. Trong lần nằm viện trước, ông ta đã hành hung một y tá vì đã cười trước mặt ông ta. May thay, ông ta chỉ nặng có năm mươi cân.

Dù cố gắng bao nhiêu đi nữa, Diane cũng không thể tập trung hoàn toàn vào bệnh nhân này. Một điều gì khác đang chực ùa vào tâm trí. Cô mong hoàn thành sớm công việc để rảnh rang tìm hiểu những sự kiện ở Viện. Cô không chắc mình sẽ khám phá được chuyện gì, nhưng cô đã quyết tâm điều tra sâu hơn. Và giờ cô biết phải bắt đầu từ đâu. Ý tưởng chợt nảy ra sau khi cô bất ngờ thấy Xavier rời khỏi văn phòng của mình.

Khi mở tập tài liệu tiếp theo, cô lập tức hình dung ra người bệnh. Một người đàn ông tầm 40 tuổi với ánh mắt nóng nảy, đầu tóc bẩn thỉu và hai má hõm sâu bên dưới một bộ râu đầy gàu. Nguyên là một nhà nghiên cứu động vật biển, người gốc Hungary và nói thạo tiếng Pháp với giọng rất nặng. Gyorgy.

“Chúng tôi có mối liên hệ vô cùng sâu sắc,” gã nói luôn. “Có thể cô chưa biết đâu, bác sĩ ạ, nhưng chúng tôi không thực sự tồn tại, chúng tôi chỉ tồn tại ở dạng suy nghĩ, xuất phát từ tâm trí của những sinh vật sống dưới đáy đại dương, sâu hơn 2.000 mét so với mực nước biển. Đó là vương quốc của bóng tối vĩnh cửu, ánh sáng ban ngày chưa bao giờ chiếu rọi tới. Lúc nào cũng tăm tối.”

Khi nghe những lời này, cô cảm thấy nỗi sợ hãi như một cơn gió lạnh buốt thổi qua người.

“Và lạnh lắm, lạnh vô cùng. Dưới có áp lực vô cùng khủng khiếp. Cứ 10 mét lại tăng lên một atmosphere. Chỉ những sinh vật đó mới chịu đựng được. Chúng giống như quái vật, cô biết đấy. Giống như chúng tôi. Chúng có những con mắt khổng lồ, cả hàm đầy răng nhọn và nội tạng tỏa sáng rực rỡ. Chúng là loài ăn xác thối, chuyên ăn những thi thể rơi xuống từ những tầng trên của đại dương, chúng là những kẻ săn mồi đáng sợ, có thể nuốt gọn con mồi chỉ bằng một cú tợp. Không có gì ngoài bóng tối và sự tàn nhẫn ở đấy. Giống như ở đây. Có loài cá rắn Viper, Chauliodus Sloani, với cái đầu giơ xương cắm đầy răng dài sắc như dao và trong suốt như thủy tinh, cùng thân hình của một con rắn phát sáng. Có loài Linophryne Lucifer và Photostomias Guernei, xấu xí và đáng sợ hơn cả cá Piranha. Có loài Pycnogonids trông giống nhện. Và cá lưỡi rìu, trông giống như đã chết nhưng chúng thực ra vẫn sống. Những sinh vật này chưa bao giờ thấy ánh sáng, chưa từng trồi lên mặt nước. Giống như chúng tôi, bác sĩ ạ. Cô có thấy sự tương đồng không? Là bởi chúng tôi không thực sự tồn tại ở đây, không giống như cô. Chúng tôi được sinh ra từ tâm trí của những sinh vật. Mỗi khi ở dưới kia, một trong số chúng chết đi, thì một người trong số chúng tôi ở đây cũng chết.”

Mắt gã nhìn xa xăm, như thể đã đi xuống bóng tối sâu thẳm dưới lòng đại dương. Bài diễn văn vô lý của gã vẽ nên một bức tranh đẹp, nhưng ám ảnh như ác mộng. Nó khiến cô rùng minh. Thật khó để tống khứ những hình ảnh mà gã đã gợi ra.

Mọi thứ trong Viện đều mâu thuẫn với nhau. Cái đẹp và sự tàn nhẫn. Im lặng và gào thét. Cô độc và hỗn tạp. Sợ hãi và tò mò. Từ khi đến, cô đã ở trong trạng thái rối loạn triền miên giữa những cảm xúc trái ngược.

Cô đóng tập hồ sơ của Gyorgy lại và tập trung suy nghĩ sang việc khác. Cả buổi tối cô cứ nghĩ về phương pháp điều trị mà Xavier đã áp dụng lên một số bệnh nhân. Chẳng khác nào áo trói tay bằng hóa học. Và việc anh ta lén lút vào văn phòng của cô. Liệu Dimitri, y tá khoa dược, có kể với Xavier rằng cô tỏ ra quan tâm tới các phương pháp điều trị của anh ta không? Chắc là không. Qua cuộc nói chuyện, cô cảm nhận được thái độ thù địch của Dimitri đối với Xavier. Cô không được phép quên rằng Xavier mới chỉ ở đây được vài tháng, và rằng anh ta đến để thay thế người thành lập nơi này. Phải chăng anh ta cũng gặp khó khăn trong việc kết giao với các nhân viên khác? Cô giở qua tập giấy ghi chép cho tới khi tìm được tên của ba loại thuốc bí ẩn mà Xavier đã đặt hàng. Và cô vẫn thấy chúng hoàn toàn xa lạ.

Cô mở laptop, vào Google. Gõ vào từ khóa đầu tiên cô cần tìm. Hypnosal là tên một chế phẩm của sodium thiopental, một loại thuốc gây mê, và là một trong ba thành phần cấu tạo nên mũi tiêm độc sử dụng trong án tử hình tại Hoa Kỳ, cũng như án tử không đau đớn tại Hà Lan. Nó được bán trên thị trường với cái tên phổ biến hơn là penthotal. Một thời gian nó đã được sử dụng trong phân tích trạng thái nửa tỉnh nửa mê, cụ thể là phải tiêm một liều gây mê để giúp đối tượng tìm lại những kí ức đã bị trấn áp do thương tổn tâm lý. Một phương pháp đã từng bị chỉ trích và loại bỏ từ lâu, vì khoa học chưa bao giờ chứng minh được chấn thương tâm lý vô thức trấn áp một khoảng kí ức nhất định.

Xavier đang định giở trò gì?

Lần thứ hai nhập lệnh tìm kiếm còn khiến cô băn khoăn hơn. Xylazine cũng là một loại thuốc gây mê, nhưng được sử dụng trong thú y. Diane tự hỏi không biết cô có bỏ sót điều gì không, và cô đọc tiếp những kết quả khác bên dưới, nhưng không tìm ra ứng dụng nào khác của loại thuốc này. Cô càng lúc càng hoang mang. Một sản phẩm thú y có thể đóng góp được gì trong khoa dược của viện tâm thần này?

Cô nhanh chóng tiếp tục với sản phẩm thứ ba. Giờ thì lông mày cô nhíu chặt lại. Giống như hai loại thuốc trước, halothane là một tác nhân gây mê. Nhưng căn cứ vào độc tính của nó đối với tim và gan, nó đã dần biến mất khỏi phòng phẫu thuật, ngoại trừ ở những nước đang phát triển. Mọi khuyến nghị sử dụng ở người đã dừng lại từ năm 2005, giống như xylazine, hiện tại halothane chỉ được sử dụng trong thú y.

Diane dựa lưng vào gối và ngẫm nghĩ. Theo như cô biết, không có động vật nào ở Viện dù là chó hay mèo, cô đã được khuyến cáo rằng một số người bệnh có chứng sợ vật nuôi. Cô với lấy laptop và xem lại những thông tin vừa tìm được, lần lượt từng điều một. Đột nhiên ánh mắt cô bắt gặp một dòng chữ. Cô gần như đã bỏ qua điều quan trọng nhất. Ba sản phẩm chỉ dùng cùng lúc cho duy nhất một trường hợp: Để gây mê một con ngựa… Cô tìm thấy thông tin này trên một trang web chuyên môn dành cho thú y. Đích thân tác giả của bài viết, vốn là bác sĩ chuyên khoa về ngựa, khuyên dùng xylazine cho giai đoạn trước hôn mê với liều lượng 0,8mgkg, dùng một liều tiêm bắp sodium thiopental, và cuối cùng là halothane với liều lượng 2,5% đối với một con ngựa nặng xấp xỉ 490 kg.

Một con ngựa…

Có thứ gì hệt như một trong những sinh vật đáy biển của Gyorgy bắt đầu quẫy đạp trong bụng cô. Xavier… Cô nhớ lại cuộc đối thoại vô tình nghe được qua lỗ thông gió. Hôm ấy anh ta có vẻ quẫn trí khi cảnh sát nói rằng ai đó trong Viện có dính líu tới cái chết của con ngựa. Cô không thể nghĩ ra lý do nào khiến Xavier chạy lên đấy giết con vật. Hơn thế, cảnh sát đã nhắc đến khả năng có hai hung thủ. Tuy nhiên vẫn còn một điều khác nữa. Nếu Xavier là người cung cấp thuốc để gây mê con ngựa trước khi giết nó, chắc chắn anh ta cũng là người đã tuồn DNA của Hirtmann ra ngoài.

Ý nghĩ càng khiến sinh vật đáy biển quằn quại trong khoang bụng cô. Rốt cuộc, vai trò của Xavier trong toàn bộ sự việc này là gì? Vào thời điểm ấy, liệu anh ta có biết rằng sau con ngựa, một người đàn ông sẽ bị giết hay không? Tại sao anh ta lại trở thành kẻ tòng phạm cho những tội ác này khi mới chỉ đến đây được vài tháng?

Diane không tài nào nhắm mắt nổi. Cô trở mình trên giường, hết nằm ngửa rồi nằm sấp, nhìn chăm chăm ra khoảng sáng nhợt nhạt màu xám bên ngoài cửa sổ. Gió đang rít gào. Quá nhiều câu hỏi khiến tâm trí cô tỉnh như sáo. Đến khoảng 3 giờ sáng, cô uống nửa viên thuốc ngủ.

Servaz ngồi trên ghế bành, lắng nghe khúc tấu sáo trong đoạn đầu tiên của bản Farewell. Có người từng ví von nó như tiếng hót của ‘chim sơn ca trong mơ’. Tiếng đàn hạc và kèn clarinet hòa vào nhau như tiếng đập cánh. Chim hót, anh đột nhiên nhớ lại. Tại sao kí ức về chúng lại cứ bám riết lấy tâm trí anh? Chaperon yêu thiên nhiên và leo núi. Thì sao? Vì lẽ gì mấy bản thu âm lại quan trọng đến thế?

Anh suy nghĩ rất lung nhưng vẫn không thể tìm ra câu trả lời. Tuy nhiên anh chắc chắn có thứ gì đó ẩn nấp trong bóng tối đang chờ được phơi bày ra ánh sáng. Và nó có liên quan tới những bản thu âm anh tìm thấy trong nhà Chaperon. Anh háo hức muốn biết có phải là tiếng chim hót thực sự hay không. Nhưng đây không phải điều duy nhất khiến anh phiền não. Còn một chuyện khác.

Servaz đứng lên, bước ra ban công. Trời đã hết mưa nhưng có một lớp sương mù mờ nhạt bám vào vỉa hè ướt át và bóng đèn đường tạo nên một quầng sáng hư ảo. Hơi ẩm bốc lên. Anh nhớ tới Charlène Espérandieu. Nhớ tới sự thân mật bất ngờ của nụ hôn cô đặt lên má anh, và một lần nữa dạ dày anh quặn lại.

Khi trở vào qua cánh cửa kiểu Pháp, Servaz nhận ra sai lầm của mình, không phải những tiếng chim hót, mà bản thân những cuộn băng cát xét mới khiến anh chú ý. Dạ dày cứng lại như bị ai đổ xi măng xuống thực quản. Mạch đập tăng vọt. Anh lật giở cuốn sổ tay cho tới khi tìm thấy dãy số, rồi gọi điện.

“A lô?” Giọng một người đàn ông nghe máy.

“Khoảng một tiếng rưỡi nữa tôi qua nhà ông được không?”

Một khoảng lặng.

“Nhưng lúc ấy đã quá nửa đêm rồi!”

“Tôi muốn xem lại phòng Alice một lần nữa.”

“Vào đêm hôm thế này sao? Không thể đợi tới ngày mai à?”

Giọng nói ở đầu dây bên kia tỏ rõ sự chán ngán. Servaz có thể hiểu suy nghĩ của Gaspard Ferrand. Con gái ông ta đã mất được mười lăm năm. Tại sao mọi thứ đột nhiên trở nên khẩn cấp như thế được?

“Tôi thực sự vẫn muốn tới vào tối nay,” anh cố chấp.

“Được thôi. Dù sao tôi cũng không bao giờ đi ngủ trước nửa đêm. Tôi sẽ đợi anh cho tới 12 rưỡi. Sau đó tôi sẽ đi ngủ.”

Khoảng 12 giờ 25 phút, anh tới được Saint-Martin, nhưng thay vì đi vào thị trấn, anh rẽ sang đường vòng để chạy tới ngôi làng đang ngủ yên cách đó 5 kilomet.

Gaspard Ferrand mở cửa ngay khi chuông cửa vang lên. ông ta có vẻ bị kích thích và vô cùng tò mò.

“Có gì mới sao?”

“Tôi muốn xem lại phòng ngủ của Alice một lần nữa, nếu ông không phiền.”

Ferrand nhìn anh nghi hoặc. Ông ta đang mặc áo choàng tắm bên ngoài áo chui đầu cùng quần bò cũ, chân đi dép lê. Ông ta trỏ về phía cầu thang. Servaz cảm ơn và nhanh chóng lên gác. Vào tới phòng, anh tiến thẳng tới giá gỗ bên trên cái bàn học nhỏ màu cam.

Đài cát xét.

Thiết bị này không phải là một cái radio hay đầu CD, nó là một đài cát xét cổ mà Alice chắc hẳn đã tìm thấy ở một hàng đồ cũ nào đó.

Chỉ hiềm lần trước Servaz không thấy bất kì cuốn băng nào. Anh nhấc cái đài cát xét lên, trọng lượng của nó có vẻ bình thường, nhưng điều đó không có ý nghĩa gì. Anh xem lại toàn bộ ngăn kéo bàn học và tủ đầu giường. Không có băng cát xét, dù ở bất cứ đâu. Phải chăng Alice đã vứt hết chúng đi khi đổi sang dùng CD?

Thế tại sao cô bé lại giữ cái đài cát xét cổ lỗ này? Phòng của Alice không khác gì một bảo tàng về thập niên 1990, với những tấm áp phích, CD, máy điện tử cầm tay Game Boy, vô số màu sắc. Nhưng có một vật lỗi thời duy nhất, chiếc đài cát xét.

Servaz nắm lấy phần quai, xách cái đài lên và kiểm tra đủ mọi góc độ. Anh ấn nút để mở khay đựng băng. Trống không. Anh lại đi xuống tầng trệt. Có tiếng tivi trong phòng khách. Một chương trình đêm muộn về văn học và văn hóa.

“Tôi cần một cái tua vít nhỏ bốn cạnh,” Servaz nói từ ngưỡng cửa. “Ông có loại đó không?”

Ferrand đang ngồi trên xô pha. Lần này, ánh mắt ông giáo sư văn học dành cho anh không giấu nổi sự hiếu kì, “Anh tìm thấy gì rồi?”

Giọng ông ta cấp bách, nôn nóng. Ông ta muốn biết.

“Không có gì, chưa có gì cả,” Servaz trả lời. “Nhưng nếu tìm ra, chắc chắn tôi sẽ cho ông biết.”

Ferrand đứng lên và rời khỏi phòng. Một phút sau, ông ta quay lại với một chiếc tua vít. Servaz quay trở lên căn phòng trên gác. Ba ốc vít rất dễ vặn. Như thể được siết lại bằng bàn tay của một đứa trẻ. Nín thở, anh gỡ tấm chắn ở mặt trước.

Thấy rồi.

Phải ngưỡng mộ sự kì công của cô bé. Một phần mạch điện tử của đài đã bị tháo bỏ, thế chỗ chúng là ba cuốn sổ tay bìa xanh dương, được gắn vào mặt trong vỏ nhựa bằng băng dính dày màu nâu.

Servaz trân trối nhìn mấy quyển sổ tay hồi lâu. Phải chăng anh đang mơ? Nhật kí của Alice. Nó đã ở đây hàng năm trời, không một ai biết tới. Và đương nhiên, may mắn là Gaspard Ferrand đã giữ gìn nguyên vẹn căn phòng của cô con gái. Servaz khẽ khàng bóc lớp băng dính đã khô và nhăn nheo, gỡ mấy quyển sổ tay ra khỏi chiếc đài cát xét.

“Cái gì thế?” Một giọng nói vang lên sau lưng.

Servaz quay lại. Ferrand đang nhìn chằm chằm vào ba cuốn sổ. Mắt ông ta lóe lên như con chim săn mồi, xem chừng tò mò đến mức phát điên. Viên cảnh sát mở cuốn sổ đầu tiên và đọc lướt. Anh thấy những từ đầu tiên. Tim anh đập dồn, Thứ Bảy, ngày 12 tháng Tám… Chính là nó.

“Hình như là nhật kí.”

“Nó ở trong đài?” Ferrand sửng sốt. “Từng ấy năm, nó ở trong đài?!”

Servaz gật đầu. Anh thấy đôi mắt người cha đong đầy nước, gương mặt ông ta méo xệch đi vì đau khổ. Đột nhiên anh cũng cảm thấy xót xa.

“Tôi phải xem xét chúng,” anh nói. “Biết đâu sẽ tìm ra lời giải thích cho hành động của cô bé qua những trang giấy này. Xong xuôi tôi sẽ hoàn trả cho ông.”

“Anh đã làm được,” Ferrand lẩm bẩm với giọng ủ ê. “Anh đã làm được trong khi mọi người đều thất bại… Thật không thể tin nổi… Bằng cách nào? Anh đã đoán ra bằng cách nào?”

“Chưa phải lúc này,” Servaz trấn an ông ta. “Còn quá sớm.”

❀ ❀ ❀

[1] : nghệ thuật đại chúng, một trào lưu nghệ thuật bắt đầu xuất hiện từ thập niên 1950, phản ánh hiện thực vật chất trong cuộc sống hằng ngày của đại chúng.

[2] : một trong những họa sĩ tiên phong của trào lưu pop art tại Mỹ vào những năm 1960. Các tác phẩm của ông chủ yếu ảnh hưởng và lấy cảm hứng từ truyện tranh.

[3] : Tiểu thuyết lãng mạn của Hy Lạp cổ đại.

[4] : Hai nhân vật phản diện trong truyện tranh của Marvel.

[5] : tức Seneca con, là nhà triết học lỗi lạc thuộc trường phái Khắc kỷ thời La Mã cổ đại, ngoài ra ông còn là chính khách, biên kịch và nghệ sĩ hài.

[6] : hoàng đế La Mã trị vì từ năm 161 đến 180, là một trong năm Ngũ hiền đế thời kì La Mã. Ông được coi là một trong những nhà hiền triết kiệt xuất theo trường phái Khắc kỷ.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.