25
Servaz ngồi rất lâu sau tay lái, thẫn thờ nhìn qua kính chắn gió. Anh không nhận thấy tuyết đang rơi dày hơn bao giờ hết, hay từng lớp tuyết đang phủ trắng con đường. Đèn đường hắt một vòng tròn sáng trên tuyết, những ánh đèn trong cối xay tắt dần, ngoại trừ một cái, chắc là của phòng ngủ. Servaz đoán là ông thẩm phán già đang đọc sách trên giường. Ông không đóng cửa chớp. Chẳng để làm gì, trộm muốn vào nhà sẽ phải bơi ngược dòng nước và trèo dọc bức tường để lên tới cửa sổ. Nhưng ít nhất đóng cửa chớp cũng hiệu quả như một con chó hay một cái chuông báo trộm.
Irène Ziegler. Tên cô có trong danh sách. Anh tự hỏi điều này nghĩa là gì. Anh nhớ đã trở lại trụ sở sen đầm cùng cái hộp trong tay sau cuộc gặp đầu tiên với Saint-Cyr. Anh gặp cô, họ bắt tay đào xới cái hộp và phân loại từng tài liệu một trong đống hồ sơ. Saint-Cyr quả quyết danh sách đám trẻ đến trại hè nằm trong cái hộp. Nhưng dù gì ông ta cũng đã nhiều tuổi, lỡ lầm lẫn thì sao? Có lẽ trí nhớ của ông đang sa sút dần nhưng lại không muốn thừa nhận. Có lẽ ông đã để danh sách ở đâu khác.
Nhưng còn một giả thuyết nữa, một giả thuyết khó tiêu hóa hơn nhiều. Rằng Servaz chưa bao giờ thấy danh sách bởi vì Irène Ziegler đã thủ tiêu nó. Anh nhớ lại là cô hầu như không có ấn tượng về các vụ tự tử vào lần đầu tiên anh đề cập tại trụ sở sen đầm. Đột nhiên, một hình ảnh khác hiện lên: anh bị cầm chân trong cabin và cố liên lạc với cô. Đáng lẽ cô phải đến trước anh từ lâu mới phải, vì cô ở cách đó không xa, nhưng khi anh tới chỗ cáp treo thì không thấy cô đâu. Qua điện thoại, cô giải thích rằng mình gặp tai nạn xe máy, rằng cô đang trên đường đến. Lúc anh gặp được cô, thì Perrault đã chết.
Servaz chợt nhận ra, mình đang siết vô lăng chặt đến nỗi đốt ngón tay trắng bệch. Anh dụi mắt. Anh kiệt sức. Cơ thể đau đớn cùng cực và nỗi nghi ngờ lan khắp tâm trí như một liều thuốc độc. Những hình ảnh khác kéo đến… Cô hiểu biết về ngựa, cô điều khiển ô tô và trực thăng như một người đàn ông, cô nắm rõ vùng này như lòng bàn tay. Anh nhớ là vào buổi sáng hôm ấy, cô đã lên tiếng nhận việc ghé qua tòa thị chính. Cô biết thứ mình sẽ tìm được. Danh sách là manh mối duy nhất dẫn tới cô. Phải chăng, cô cũng đã xem qua giấy tờ của Chaperon nên biết sẽ phải tìm ông ta ở đâu? Liệu cô có phải người toan giết anh ở trại hè? Là người đã siết dây thừng và túi nhựa? Anh không thể tin nổi.
Cơn mệt mỏi làm xáo trộn tư duy của Servaz. Anh không thể suy nghĩ mạch lạc được nữa. Anh nên làm gì? Dù sao anh cũng chưa thể chứng minh cô sen đầm có tội.
Anh nhìn đồng hồ trên bảng điều khiển, mở điện thoại và gọi cho Espérandieu.
“Martin? Chuyện gì thế?”
Servaz kể cho cậu về cựu thẩm phán và những hồ sơ của ông ta, giải thích điều anh vừa khám phá. Một khoảng lặng dài ở đầu dây bên kia.
“Anh có nghĩ là cô ta không?” Rốt cuộc Espérandieu cũng nói, giọng hoài nghi.
“Cô ấy không ở bên cạnh khi tôi trông thấy Perrault trong chiếc cabin cùng kẻ giết người. Hắn đội mũ trùm đầu. Hắn trốn ra sau Perrault khi hai cabin đi ngang qua nhau để tôi không nhìn thấy mắt hắn. Đáng lẽ Irène phải lên tới nơi trước tôi, nhưng không. Rất lâu sau cô ấy mới đến.”
Đột nhiên, một ý nghĩ lóe lên trong đầu anh.
“Irène đã tới trại hè nhưng chưa bao giờ đả động đến điều đó. Cô ấy quen thuộc với ngựa, biết rõ về những dãy núi này, cô ấy khỏe khoắn, và tôi chắc chắn cô ấy biết cách sử dụng thừng leo núi.”
“Chúa ơi!” Espérandieu bàng hoàng kêu lên, nhưng giọng rất nhỏ. Làm Servaz đoán chắc cậu đang nằm trên giường với vợ, và Charlène đang ngủ.
“Chúng ta nên làm gì đây?” Servaz hỏi.
Im lặng. Dù không nhìn thấy mặt, nhưng anh biết chắc Espérandieu đang kinh ngạc. Cậu không quen với việc sếp để cho mình cầm cương.
“Anh thật khôi hài.”
“Tôi kiệt sức rồi. Tôi nghĩ tôi còn đang sốt nữa.” Anh không nói cho cậu biết về vụ tấn công ở trại hè, anh không muốn nói về nó vào lúc này.
“Anh đang ở đâu?”
Servaz nhìn xuống con đường thanh vắng, “Bên ngoài nhà Saint-Cyr.”
Theo bản năng, anh liếc vào gương chiếu hậu. Đằng sau anh, con đường vẫn hoang liêu và không chút sinh khí. Những ngôi nhà ở cuối đường, cách đó 100 mét, đóng cửa im ỉm. Tuyết đang rơi, dày và tĩnh lặng.
“Trở về khách sạn đi,” Espérandieu. “Đừng làm gì vào lúc này. Em đến luôn đây.”
“Khi nào? Tối nay à?”
“Phải, em mặc quần áo và sẽ lên đường ngay. Anh biết Ziegler ở đâu không?”
“Tôi nghĩ cô ấy ở nhà.”
“Hoặc ở bên ngoài tìm kiếm Chaperon. Có lẽ anh nên gọi cho cô ta xem.”
“Và nói gì?”
“Em không biết, rằng anh cảm thấy không khỏe, anh đang ốm. Anh kiệt sức, anh đã nói thế còn gì. Ngay giọng nói của anh cũng thể hiện rất rõ. Báo với cô ta ngày mai anh sẽ nằm nhà, anh không thể tiếp tục được nữa. Xem cô ta phản ứng thế nào.”
Servaz cười. Sau tất cả những gì xảy ra, chắc chắn cô sẽ tin ngay tắp lự.
“Martin? Có chuyện gì thế?”
Anh cẩn thận lắng nghe. Tiếng tivi loáng thoáng ở phía sau. Ziegler đang ở nhà. Hoặc ở chỗ ai đó. Một căn hộ? Một ngôi nhà? Anh không thể hình dung ra nơi ở của cô. Dù thế nào, cũng không phải đang ở bên ngoài, lảng vảng như một con sói đói săn đuổi ông thị trưởng. Hoặc anh. Anh lại thấy rõ hình ảnh của cô trong bộ đồ liền thân bó sát màu đen, đôi bốt cao cổ và chiếc xe máy phân khối lớn, anh thấy cô đang cầm lái trực thăng. Đột nhiên, anh dám chắc, kẻ đó chính là cô.
“Không có gì,” anh nói. “Tôi chỉ gọi để báo cho cô biết tôi cần nghỉ ngơi đôi chút. Tôi cần ngủ.”
“Anh không thấy khá hơn sao?”
“Tôi không biết. Tôi không thể suy nghĩ mạch lạc được nữa. Hoàn toàn đình trệ. Tôi kiệt sức và cổ họng đau đớn dữ dội.” Không có lời nói dối nào thật hơn khi nó chứa đựng một phần sự thật. “Ngày mai cô tự đi, được không? Chúng ta phải tìm ra Chaperon, bằng bất cứ giá nào.”
“Được,” Ziegler nói sau một lúc lưỡng lự. “Dù sao hiện tại anh cũng không đủ sức. Nghỉ ngơi đi. Tôi sẽ gọi cho anh khi có tin mới. Bây giờ tôi cũng phải đi ngủ thôi. Như anh nói đấy, cần suy nghĩ cho mạch lạc.”
“Ngủ ngon, Irène.”
Anh cúp máy và gọi vào số của trợ lý.
“Espérandieu nghe,” cậu nói.
“Cô ấy đang ở nhà. Hoặc dù là gì thì cũng có tiếng một chiếc tivi quanh đó.”
“Nhưng cô ta không ngủ.”
“Thức khuya như những người khác thôi. Cậu đang ở đâu?”
“Trên xa lộ. Em sẽ dừng lại mua xăng và đến ngay. Em chưa từng thấy vùng quê nào tối tăm thế này bao giờ. Em sẽ đến trong vòng năm mươi phút nữa. Anh có nghĩ là chúng ta nên đến chỗ cô ta và đợi sẵn ở ngoài không?”
Servaz do dự. Anh có đủ sức không?
“Tôi không biết cô ấy sống ở đâu.”
“Anh đùa đấy à.”
“Không.”
“Thế chúng ta làm gì?”
“Tôi sẽ gọi cho d’Humières.”
“Vào lúc đêm hôm thế này sao?”
Servaz đặt điện thoại lên giường, đi vào nhà tắm và vã nước lạnh lên mặt. Anh rất muốn uống một cốc cà phê, nhưng cũng biết là không thể trông cậy nhiều vào nó được. Anh trở lại phòng ngủ và gọi cho Cathy d’Humières.
“Martin! Vì Chúa! Cậu biết mấy giờ rồi không? Người ngợm như thế thì cậu nên ngủ đi mới phải.”
“Tôi xin lỗi,” anh nói. “Nhưng việc rất gấp.”
Anh đoán bà trưởng công tố đã ngồi hẳn dậy.
“Một nạn nhân nữa?”
“Không. Nhưng là một tin xấu. Chúng ta có một nghi can mới. Nhưng tôi không thể nói với ai khác ở thời điểm này. Ngoại trừ chị.”
“Là ai?” D’Humières nói, chợt tỉnh như sáo.
“Đại úy Ziegler.”
Đầu dây bên kia im lặng một lúc lâu, “Nói hết cho tôi nghe xem nào.”
Và anh kể. Anh kể với bà về danh sách của Saint-Cyr, về sự vắng mặt của Irène vào thời điểm Perrault bị hãm hại, thái độ miễn cưỡng khi nhắc đến tuổi thơ, cố tình né tránh việc cho biết sự thật là cô từng ở trại hè, rồi những lời nói dối vô hại về đời sống cá nhân…
“Điều đó không chứng minh cô ta có tội,” d’Humières nói.
Quan điểm luật gia điển hình, anh nghĩ. Còn như anh thấy, lrène Ziegler hiện tại là nghi phạm số một. Đấy là chưa kể đến trực giác cảnh sát của anh.
“Tuy nhiên cậu nói đúng, tình hình đúng là phiền phức. Tôi không thích vụ danh sách chút nào. Cậu muốn tôi làm gì? Tôi không nghĩ cậu gọi cho tôi vào đêm hôm thế này chỉ để báo với tôi một chuyện hoàn toàn có thể đợi đến sáng mai.”
“Chúng tôi cần địa chỉ của cô ấy. Tôi không có.”
“Chúng tôi?”
“Tôi đã bảo Espérandieu tới gặp.”
“Cậu định theo dõi cô ta? Đêm nay luôn sao?”
“Có lẽ.”
“Lạy Chúa lòng lành! Martin! Cậu nên ngủ đi! Cậu đã nhìn mình trong gương chưa?”
“Tôi thà không nhìn còn hơn.”
“Tôi không thích cách làm này. Cẩn thận đấy. Nếu đúng là cô ta, thì có thể sẽ khá nguy hiểm. Cô ta từng giết hai người rồi. Và chắc chắn sử dụng súng thành thạo không thua kém gì các cậu.”
Thật là nói giảm nói tránh, anh nghĩ. Anh là một tay súng tồi. Về phần trợ lý của anh, cậu cũng không phải thanh tra Harry Callaban.
“Năm phút nữa gọi lại. Tôi cần gọi một, hai cuộc điện thoại,” bà nói.
Espérandieu gõ cửa phòng anh sau bốn mươi phút. Servaz mở cửa. Những bông tuyết đọng trên mũ áo và tóc cậu.
“Anh có cốc nước và ít cà phê không?” Cậu cầm một lọ aspirin trong tay, rồi ngước nhìn lên và thấy sếp của mình. “Quỷ thần ơi!”
Vào lúc Servaz rời khỏi nhà Saint-Cyr, Diane vẫn còn ngồi tại bàn làm việc.
Cô tự hỏi giờ mình phải làm gì. Cô cảm thấy đã sẵn sàng để hành động, nhưng đây có phải là điều cô thực sự mong muốn không? Trong cô còn nguyên khao khát được xử sự như thể mọi chuyện vẫn bình thường, và quên đi những gì mình đã phát hiện ra. Cô có nên thảo luận với Spitzner hay không? Ban đầu cô cho là một ý kiến hay, nhưng khi nghĩ lại, cô không còn chắc chắn nữa. Thành thực mà nói, cô không biết phải tìm đến ai.
Cô hoàn toàn đơn độc, một thân một mình. Cô xem giờ ở góc màn hình. 23:15.
Viện hoàn toàn im ắng, ngoại trừ gió đang giật từng cơn ngoài cửa sổ. Cô vừa nhập xong dữ liệu những buổi nói chuyện trong ngày vào một trang excel. Xavier đã rời khỏi văn phòng của anh ta từ lâu. Bây giờ hoặc không bao giờ. Cô cảm thấy bồn chồn. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô bị bắt gặp? Tốt nhất không nên nghĩ tới.
“Cô ta đây rồi.”
Espérandieu đưa cho anh cặp ống nhòm. Servaz nhìn vào ngôi nhà bốn tầng nho nhỏ dưới chân đồi. Irène Ziegler đang đứng giữa phòng khách, điện thoại áp vào tai. Cô đang nói liến thoắng. Cách ăn mặc của cô như thể chuẩn bị ra ngoài, chứ không giống một người có ý định sẽ dành cả buổi tối xem tivi trước khi đi ngủ.
“Trông cô ta không giống sắp đi ngủ chút nào,” Espérandieu lại cầm lấy cặp ống nhòm.
Họ đang đứng trên một cái gờ nhỏ bên rìa bãi đỗ xe. Có một chiếc la bàn chỉ đường, nơi đây cách Saint-Martin 20 kilomet. Xung quanh bãi đậu xe là những bờ giậu rậm rì. Họ đã lách vào khoảng trống giữa hai bụi cây. Một cơn gió lạnh giá thổi bờ giậu rung lên xào xạc. Servaz dựng cổ áo vét lên. Espérandieu đang thu mình bên dưới chiếc áo gió chuyển dần thành màu trắng vì tuyết. Servaz run lên vì lạnh, răng đánh lập cập vào nhau. Đã 0 giờ 42 phút đêm.
“Cô ta đang ra ngoài!” Espérandieu nói. Cậu thấy cô vớ lấy một chiếc áo khoác lái xe treo gần cửa trước.
Giây lát sau, cô đã đóng sập cánh cửa ra vào. Cậu hạ thấp ống nhòm, nhìn xuống lối vào ngôi nhà. Ziegler xuất hiện sau hai mươi giây. Cô đi xuống bậc thềm và tiến về phía chiếc xe máy, mặc cho tuyết rơi.
“Chết tiệt! Tôi không tin!”
Họ chạy về phía ô tô. Hai bánh sau xe hơi trượt đi ở chỗ khúc quanh gần tòa nhà, vừa kịp thấy chiếc xe máy rẽ phải ở đầu phố hướng về trung tâm của thị trấn nhỏ. Khi họ đến giao lộ, đèn giao thông đã chuyển sang màu đỏ. Họ vượt qua. Chắc chẳng thể đâm phải ai vào lúc nửa đêm nửa hôm trong thời tiết thế này. Họ đang đi trên một đại lộ dài phủ trắng tuyết. Ở đằng xa, Ziegler đang lái xe rất chậm. Như vậy bọn họ sẽ dễ theo sát hơn, nhưng cũng dễ bị phát hiện, vì cả đại lộ dài tít tắp chẳng còn bóng người nào khác.
“Cô ta sẽ nhận ra chúng ta nếu cứ tiếp tục thế này,” Espérandieu lái chậm hơn.
Họ bỏ lại thị trấn nhỏ đằng sau và lái thêm chừng mười phút nữa với tốc độ sên bò, qua những ngôi làng trống trải, những cánh đồng trắng tuyết hai bên đường.
Espérandieu để Ziegler đi trước khá xa, cho tới lúc họ chỉ còn nhìn thấy đèn hậu của chiếc xe máy yếu ớt sáng lên trong bóng đêm như một đầu thuốc cháy. “Cô ta đang tới nơi quái quỷ nào vậy?”
Servaz có thể nhận thấy sự hoang mang trong giọng nói của Espérandieu. Cũng hệt như tâm trạng anh lúc này. Anh không trả lời.
“Anh có nghĩ là cô ta đã tìm thấy Chaperon rồi không?”
Servaz đờ người với ý nghĩ đó. Anh bỗng căng thẳng tột độ, và chìm trong nỗi sợ hãi khi nghĩ tới những chuyện có thể xảy ra. Các diễn biến dường như đều ám chỉ anh đang đi đúng hướng. Cô đã nói dối anh. Cô không hề đi ngủ mà ra ngoài lúc nửa đêm, lén lút, không một ai biết. Anh không thể dừng việc tua đi tua lại những giai đoạn của cuộc điều tra trong đầu, và mọi chi tiết đều chỉ vào cô.
“Cô ta đã rẽ phải.”
Servaz cố căng mắt nhìn. Ziegler đã rời khỏi con đường để đi vào một bãi đỗ sáng đèn bên ngoài một tòa nhà hình chữ nhật trông giống vô số kho hàng nằm nhan nhản dọc đường cái. Qua màn tuyết, họ thấy ánh đèn nê ông sáng lên trong bóng tối. Ánh sáng hắt lên khuôn mặt nhìn nghiêng của một phụ nữ. Cô ta đang hút thuốc và đội chiếc mũ quả dưa trên đầu. Nhìn theo khói thuốc bốc lên, hai người lờ mờ thấy dòng chữ CHUỐI HỒNG. Espérandieu giảm tốc độ một lần nữa. Họ thấy Ziegler dừng xe máy và xuống xe.
“Cái gì thế?” Servaz hỏi. “Một hộp đêm sao?”
“Quán bar dành cho các cô gái.”
“Cái gì cơ?”
“Một quán bar cho người đồng tính nữ.”
Họ về số và lái vào bãi đỗ, trong lúc đó Ziegler bước tới chỗ người gác cửa đeo khăn lông dày và mặc tuxedo. Cô đi qua hai cây cọ bằng nhựa và khuất dạng bên trong. Espérandieu chậm rãi lái xe ngang qua cửa vào quán bar. Phía trước một đoạn là những tòa nhà hình chữ nhật khác. Giống như những hộp giày khổng lồ. Một khu công nghiệp. Cậu rẽ và lùi vào chỗ tối, cách xa ánh đèn đường và nê ông, đầu xe hướng về phía cửa vào sàn nhảy.
“Anh muốn tìm hiểu đời sống cá nhân của cô ta, chà, và giờ ta ở đây.”
“Cô ta làm gì trong đó nhỉ?”
“Anh nghĩ sao?”
“Ý tôi là, cô ta đang săn lùng Chaperon, cô ta biết thời gian thiết yếu thế nào, nhưng lại lãng phí thời gian đi tới đây? Lúc 1 giờ sáng?”
“Trừ phi cô ta có hẹn với người sẽ chỉ điểm cho cô ta.”
“Trong một quán bar đồng tính nữ?”
Espérandieu nhún vai. Servaz nhìn đồng hồ trên bảng điều khiển. 1:08.
“Cho tôi quay lại,” anh nói.
“Quay lại đâu?”
“Chỗ cô ta.”
Anh lục túi áo và lôi ra một bộ sưu tập nhỏ chìa khóa vạn năng. Espérandieu nhíu mày.
“Này, bình tĩnh… Không phải ý hay đâu. Cô ta có thể trở ra bất cứ lúc nào.”
“Cậu chở tôi về rồi quay lại đây để đảm bảo cô ta vẫn ở bên trong. Tôi sẽ không đi cho tới khi nhận được ám hiệu của cậu. Di động của cậu còn pin không?”
Servaz lấy di động ra. Lần này thì nó hoạt động. Espérandieu làm theo, rồi lắc đầu.
“Từ từ đã. Anh nhìn lại mình chưa? Anh đứng còn không vững. Nếu Ziegler là kẻ giết người thì cô ta sẽ cực kì nguy hiểm.”
“Nếu cậu trông chừng cô ta, tôi sẽ có khối thời gian để ra khỏi đó. Chúng ta không còn thời gian đâu.”
“Thế nếu hàng xóm nhìn thấy anh và báo động thì sao? Confiant sẽ hủy hoại sự nghiệp của anh. Hắn ghét anh đấy.”
“Chẳng biết ai khôn ngoan hơn ai đâu. Đi thôi. Lãng phí thời gian đủ rồi.”
Diane nhìn khắp xung quanh. Không một bóng người. Hành lang vắng tanh. Không có camera giám sát ở khu vực này của Viện, vì các bệnh nhân không thể đặt chân đến đây. Cô vặn tay nắm, cửa không khóa. Cô kiểm tra đồng hồ. 0 giờ 12 phút đêm. Cô đi vào. Căn phòng ngập ánh trăng. Văn phòng của Xavier.
Cô đóng cánh cửa sau lưng lại. Mọi giác quan đều đề cao cảnh giác và nhạy bén tới mức khó tin, như thể căng thẳng đã cho cô thị giác và thính giác của một con vật quen sống trong bóng tối. Ánh mắt cô quét qua bàn làm việc. Nó khá trống trải, chỉ có một chiếc đèn, máy tính và điện thoại. Bên phải là giá sách nhỏ, bên trái là tủ đựng hồ sơ, trong góc kê tủ lạnh, bậu cửa sổ bày vài chậu cây. Bên ngoài, cơn bão đang vẫn vũ. Đôi lúc, chắc hẳn vì mặt trăng khuất sau những đám mây, ánh sáng yếu đến nỗi tất cả những gì cô thấy chỉ là hình chữ nhật xanh xám của khung cửa sổ. Tới lúc mây trôi qua, ánh trăng lại tràn xuống đủ để cô nhìn được từng chi tiết trong phòng.
Trong góc phòng, có một cái tạ nằm trên sàn. Nó nhỏ, nhưng nặng, cô nhận ra khi tiến lại gần. Mỗi bên có bốn đĩa tạ đen, nặng hai cân một đĩa. Cô muốn mở ngăn kéo đầu tiên nhưng nó đã bị khóa. Chết tiệt. Tuy nhiên, cái thứ hai thì mở. Cô ngập ngừng và bật chiếc đèn bàn nhỏ xíu. Cô lục lọi những cặp tài liệu và giấy tờ trong ngăn kéo nhưng không có gì khiến cô chú ý. Ngăn kéo thứ ba gần như trống trơn, ngoại trừ vài chiếc bút bi và bút dạ.
Cô đi tới tủ đựng hồ sơ treo đầy những tập tài liệu. Diane rút một vài tập và mở ra xem. Hồ sơ về cán bộ công nhân viên. Cô nhận thấy không có tập nào có tên Élisabeth Ferney, nhưng có của Alexandre Barski. Vì không còn Alexandre nào khác, cô kết luận hẳn phải là anh chàng y tá. Cô giữ nó dưới ánh đèn để nhìn rõ hơn.
Hồ sơ của Alex cho biết anh ta sinh ra ở Bờ Biến Ngà năm 1980. Trẻ hơn cô tưởng. Chưa lập gia đình. Sống tại một thị trấn tên là Saint-Gaudens, Diane nhớ đã từng nhìn thấy cái tên trên bản đồ vùng này. Anh ta làm việc cho Viện đã được bốn năm. Trước đây công tác tại EPSM, cơ sở tâm thần cộng đồng ở Armentières. Khi còn là sinh viên, anh ta đã hoàn thành vài đợt thực tập, trong có một đơn vị tâm thần dành cho trẻ em, và Diane nghĩ, đây là điều họ có thể trao đổi trong tương lai. Cô muốn thân thiết hơn với Alex, kết bạn, biến anh ta trở thành đồng minh. Alex nhận được kết quả đánh giá tốt. Qua mấy năm, đầu tiên là Wargnier, rồi đến Xavier đều viết những lời nhận xét như ‘biết lắng nghe’, ‘có năng lực’, ‘có tính chủ động’, ‘có tinh thần đồng đội’, ‘quan hệ tốt với bệnh nhân’.
Phải rồi, mày không có cả đêm đâu.
Cô đóng tập hồ sơ và trả lại chỗ cũ. Cô hơi e ngại, nhưng vẫn lục tìm hồ sơ của chính mình. Diane Berg. Cô mở ra và thấy hồ sơ cùng văn bản in từ các e-mail cô đã trao đổi với bác sĩ Wargnier. Cô cảm thấy bụng mình thắt lại khi đọc một lời nhận xét viết tay của Xavier ở cuối trang, “Có thể gây phiền phức?” Những hồ sơ khác treo trong tủ không tiết lộ gì thêm. Cô xem thêm một số nữa. Tài liệu về các bệnh nhân. Các giấy tờ hành chính. Việc không có hồ sơ nào của Lisa Ferney đã chứng thực nghi ngờ của Diane. Có lẽ cô ta mới thực sự là người đứng đầu ở đây. Cả Wargnier và Xavier đều không dám lập hồ sơ về y tá trưởng.
Cô kiểm tra kĩ giá sách ở phía bên kia căn phòng. Rồi xem lại bàn làm việc và máy tính. Diane lưỡng lự, cuối cùng cũng ngồi xuống ghế của Xavier. Mùi hăng hắc của gỗ, mùi nồng đượm của xà phòng và nước tẩy toilet ngoan cố bám trên lưng chiếc ghế da. Cô dừng lại, nghe ngóng cẩn thận rồi ấn nút bật máy tính. Có gì khuấy động và rên rỉ sâu bên trong chiếc máy, như một đứa trẻ mới sinh tỉnh dậy từ giấc ngủ.
Màn hình nền hiện lên, một phong cảnh mùa thu bình thường, rồi từng biểu tượng xuất hiện. Diane nhìn qua các biểu tượng nhưng không thấy gì đáng chú ý. Cô mở hòm thư của anh ta. Không có gì thú vị. E-mail cuối cùng là vào sáng nay, gửi đến toàn bộ nhân viên với tiêu đề: Lịch họp hoạt động các nhóm trị liệu. Có 550 bức thư ở mục Thư đến, trong đó có mười lăm bức chưa đọc, Diane không có thời gian mở ra xem hết, nhưng cô lướt nhanh qua bốn mươi cái mới nhất và không tìm thấy gì bất thường.
Cô xem qua mục thư đã gửi. Cũng không có gì đáng nói. Cô thoát khỏi hòm thư và tìm danh sách đánh dấu trang của anh ta. Vài trang web gây chú ý bao gồm một trang hẹn hò cho người độc thân, một trang khác có đầu đề Học cách quyến rũ từ một nhà tâm lý, tình dục học, trang thứ ba với những hình ảnh khiêu dâm ‘trần trụi’ và trang thứ tư là Tức ngực và suy giảm tuần hoàn tim mạch. Cô thắc mắc không biết Xavier thực sự có vấn đề về tim hay chỉ đơn giản là người bị ám ảnh rằng mình có bệnh. Cô tiếp tục với những nội dung khác. Nhưng sau mười bảy phút, cô đành thất vọng tắt máy tính.
Rồi xem xét lại ngăn kéo bị khóa.
Cô tự hỏi phải chăng Xavier giữ một ổ cứng ngoài hoặc USB trong ngăn kéo. Ngoại trừ những trang web khiêu dâm, máy tính của anh ta hơi quá sạch sẽ đối với một người đang có điều giấu giếm.
Cô nhìn xung quanh mình, tìm thấy một chiếc kẹp giấy, bẻ thẳng nó ra và nhét một đầu vào cái khóa nhỏ, cố bắt chước các thao tác đã thấy trên phim ảnh. Rõ ràng những nỗ lực của cô chẳng dẫn tới đâu. Chiếc kẹp gãy làm đôi, một nửa kẹt lại trong ổ khóa. Diane khẽ chửi thề. Cô lấy một con dao rọc giấy và chật vật mãi mới khều được mảnh kim loại ra khỏi ổ khóa. Cô cân nhắc mọi khả năng và đột nhiên nảy ra một ý. Cô xoay ngược chiếc ghế về phía cửa sổ và đứng dậy, nhấc từng chậu hoa lên. Không có gì. Cô thọc tay vào trong đất.
Ở chậu thứ ba, ngón tay cô móc được một thứ. Một miếng vải, với cái gì cưng cứng bên trong… Cô lôi lên và thấy một cái túi bé xíu. Bên trong là chìa khóa. Tim cô đập rộn. Nhưng khi mở ngăn kéo ra cô đã phải thất vọng. Không có ổ cứng, không USB. Chỉ là một chồng giấy tờ về Viện. Báo cáo, thư từ trao đổi với đồng nghiệp, không có gì tuyệt mật. Nếu vậy tại sao Xavier phải khóa ngăn kéo lại? Sao không để mở như những cái khác? Khi giở vài trang giấy, cô bắt gặp một tệp tài liệu không dày như những tập hồ sơ khác. Cô rút nó ra khỏi ngăn kéo và đặt lên tấm kê giấy trên bàn làm việc, dưới quầng sáng của chiếc đèn. Chỉ có vài tờ giấy, trong đó có một danh sách tên viết theo cột dọc. Diane nhận thấy có đóng dấu của tòa thị chính Saint-Martin và là một bản sao. Vì có hai tờ, cô nhấc tờ bên trên lên.
Trên tờ thứ hai là một mẩu giấy nhớ màu vàng. Cô bóc nó ra và ghé sát vào ánh đèn. Có vài cái tên, Xavier viết tay, mỗi lần lại đi kèm một dấu chấm hỏi.
Gaspard Ferrand?
Lisa?
Irène Ziegler?
Trại hè?
Trả thù?
Sao lại là con ngựa???
Cô tự hỏi không biết chính xác mình đang nhìn vào cái gì, nhưng những câu hỏi ấy cũng là nghi vấn của cô. Có hai cái tên lạ, và từ ‘trại hè’ gợi lại trải nghiệm không hề dễ chịu tại mấy tòa nhà bỏ hoang bữa trước. Thứ cô đang cầm là danh sách nghi phạm. Đột nhiên, cô nhớ ra cuộc hội thoại nghe lỏm được qua lỗ thông gió, Xavier hứa với viên cảnh sát rằng anh ta sẽ thực hiện cuộc điều tra của riêng mình. Những câu hỏi nguệch ngoạc trên mẩu giấy này chứng tỏ anh ta đã bắt đầu hành động như đã nói. Hiển nhiên, nếu Xavier đang thực hiện một cuộc điều tra bí mật thì anh ta không phải tên tòng phạm mà cảnh sát đang tìm kiếm. Đã thế, tại sao anh ta lại đặt những liều thuốc kia?
Diane băn khoăn nhét danh sách trở vào túi tài liệu, trả nó về ngăn kéo, tra chìa khóa vào ổ. Rồi ngừng lại. Cô chưa bao giờ nghe tên của hai người kia, nhưng có ít nhất một cái tên cô có thể tra cứu. Bằng việc đặt từ ‘trại hè’ ở cuối danh sách, phải chăng Xavier đang ám chỉ rằng tất cả những người này đều ít nhiều liên quan tới trại hè? Và thế thì dính dáng gì với những vụ án xảy ra ở Saint-Martin? Câu trả lời chắc hẳn phải liên quan tới từ mà anh ta viết ngay bên dưới: Trả thù. Diane nhận ra mình còn cách quá xa sự thật vì có nhiều yếu tố mà cô không biết. Có vẻ Xavier đã đạt được những bước tiến nhất định, nhưng anh ta vẫn còn kha khá câu hỏi.
Đột nhiên cô cứng người lại, tay còn đang khóa dở ngăn kéo. Tiếng bước chân trên hành lang. Theo bản năng, cô co rúm trên ghế bành, tay lần về phía đèn bàn. Cô tắt nó đi. Căn phòng lại rơi vào cảnh tranh tối tranh sáng với ánh trăng xanh xám. Tim cô bắt đầu đập điên cuồng. Tiếng bước chân dừng lại bên ngoài cánh cửa. Phải chăng là một trong những người bảo vệ đi tuần? Liệu anh ta có nhìn thấy ánh sáng dưới chân cửa không? Từng giây dài lê thê tưởng chừng như vô tận. Người bảo vệ tiếp tục đi và tiếng bước chân xa dần.
Tim vẫn đập thình thịch, cô từ từ điều chỉnh nhịp thở. Hiện tại, cô chỉ muốn một điều, trở về phòng và chui vào trong chăn. Cô tha thiết muốn được đặt câu hỏi cho Xavier về cuộc điều tra này. Nhưng Diane biết, giây phút cô thừa nhận mình đã lục lọi văn phòng của anh ta, cô sẽ bị sa thải ngay lập tức và đi đời luôn cả sự nghiệp. Cô phải tìm cách khác để anh ta nói chuyện với mình.
“Xe máy của cô ta vẫn còn đây. Cô ta đang ở bên trong.”
Servaz tắt điện thoại. Anh nhìn đồng hồ, 1.27, rồi nhìn cửa ra vào của những căn hộ khác. Hoàn toàn im ắng. Mọi người đều đang say ngủ. Anh chùi chân rất lâu trên tấm thảm, lấy chùm chìa khóa vạn năng ra và bắt đầu thử tra chúng vào ổ khóa. Ba mươi giây sau, anh đã vào được bên trong. Ziegler không lắp đặt thêm chốt cửa hay khóa ba điểm nào.
Một hành lang chạy thẳng về phía trước, với hai cánh cửa bên phải, cái đầu tiên mở ra một hành lang khác, cái thứ hai là vào phòng khách. Căn phòng sáng lờ mờ nhờ ánh đèn đường. Bên ngoài cửa sổ lớn, tuyết đang rơi khá dày. Servaz đi qua bóng tối của phòng khách tĩnh lặng, tìm công tắc bật đèn. Ánh sáng bao trùm nội thất theo phong cách tối giản trong nhà. Anh dừng lại, tim đập thình thịch.
Tìm màu trắng, Propp đã nói.
Anh chậm rãi đi quanh căn phòng. Những bức tường trắng. Căn phòng được sắp đặt theo phong cách lạnh lẽo, rời rạc. Hiện đại. Anh cố hình dung về người sống ở đây, mà không dựa vào những gì anh đã biết về cô. Không hiện lên gì cả. Như thể anh đang nhìn vào căn hộ của một bóng ma. Anh đi tới chỗ mười mấy quyển sách đặt trên một cái giá giữa những chiếc cúp thể thao và rùng mình. Sách đều liên quan tới những chủ đề như tội phạm tình dục, bạo lực với phụ nữ, sự áp bức phụ nữ, khiêu dâm và cưỡng hiếp. Anh choáng váng. Anh đang tiến dần đến sự thật.
Anh đi vào trong bếp. Có gì đó đột nhiên chuyển động phía bên phải. Trước khi anh kịp phản ứng, một thứ đã rơi xuống và chạm vào chân anh. Hoảng sợ, anh nhảy ra sau, tim đập loạn lên. Một tiếng “meo…” kéo dài, con mèo chạy biến đi đâu mất. Chúa ơi, mày làm tao sợ chết khiếp! Servaz đợi cho tim mình ổn định lại, mở những chiếc tủ búp phê. Không có gì đặc biệt. Anh nhận thấy Irène Ziegler giữ một chế độ ăn uống điều độ chứ không như anh.
Anh đi về phía dãy phòng ngủ. Cửa vào một căn phòng đang mở. Có một bàn làm việc, một chiếc giường hình vuông và tủ hồ sơ bằng kim loại. Anh mở từng ngăn kéo. Hồ sơ, thuế, điện, các khóa học tại học viện sen đầm, hóa đơn thuê nhà, chăm sóc sức khỏe, phiếu đặt báo dài hạn. Trên tủ đầu giường có một cuốn sách bằng tiếng Anh. Nữ quyền luận cấp tiến - Một tư liệu lịch sử[1]. Anh giật mình bởi chiếc điện thoại rung lên trong túi áo.
“Anh tìm đến đâu rồi?” Espérandieu hỏi.
“Vẫn chưa có gì. Bên cậu thế nào?”
“Cũng chưa có gì, cô ta vẫn ở bên trong. Lỡ đâu cô ta không sống một mình thì sao? Chúng ta chẳng biết gì về cô ta cả, vì Chúa!”
Tim anh hẫng một nhịp. Espérandieu nói đúng. Anh chưa từng nghĩ tới! Có ba cánh cửa trong căn hộ. Đằng sau chúng là gì? Ít nhất một trong số đó phải là phòng ngủ. Căn phòng anh đang đứng có vẻ không có người ở. Anh không gây ra tiếng động khi vào nhà, và đã gần 2 giờ sáng, thời điểm hầu hết mọi người đều say ngủ. Bụng quặn lên, anh rời khỏi căn phòng và đứng bên ngoài cánh cửa tiếp theo. Anh cẩn thận lắng nghe. Không một tiếng động. Anh áp tai lên cửa. Im lặng, ngoại trừ tiếng máu của chính anh đập dồn trong mạch. Cuối cùng, anh đặt tay lên nắm đấm cửa và chậm rãi xoay.
Một phòng ngủ. Một chiếc giường lâu ngày không dọn. Giường trống không. Một lần nữa tim anh lại đập loạn xạ. Anh tự nhủ có thể là vì tình trạng sức khỏe thảm hại hiện giờ của mình. Anh phải nghiêm túc nghĩ tới việc luyện tập một môn thể thao nào nếu không muốn chết vì đau tim.
Anh mở hai cánh cửa cuối cùng. Chúng dẫn vào phòng tắm và nhà vệ sinh. Anh quay lại căn phòng có bàn làm việc và kiểm tra ngăn kéo bàn. Không có gì ngoài bút và sao kê tài khoản tín dụng, ánh mắt anh bị hút vào một điểm nằm bên dưới chiếc bàn. Một tấm bản đồ đường bộ. Hẳn là nó đã rơi xuống sàn. Mọt lần nữa điện thoại của anh lại rung lên trong túi áo.
“Cô ta đi rồi!”
“Được. Đi theo cô ta. Và gọi cho tôi khi cậu cách đây một kilomet.”
“Anh đang làm gì thế?” Espérandieu hỏi. “Biến ra khỏi chỗ đấy ngay, vì Chúa.”
“Có thể tôi đã tìm thấy gì đó.”
“Cô ta đã đi rồi! Cô ta đang trên đường!”
“Đuổi theo cô ta. Nhanh lên! Tôi cần năm phút.”
Anh cúp máy. Anh bật đèn bàn lên và cúi xuống nhặt tấm bản đồ.
Đó là lúc 2 giờ 2 phút, khi Espérandieu thấy Irène Ziegler ra khỏi Chuối Hồng cùng một phụ nữ khác. Trong khi Ziegler với bộ đồ lái xe liền thân và bốt da màu đen trông như một nữ tướng quyến rũ, thì bạn đồng hành của cô mặc áo khoác bóng màu trắng có phần cổ lông bên trên quần bò bó sát và đôi bốt cao cổ trắng buộc dây từ đầu đến cuối. Cô ta như thể bước thẳng ra từ tạp chí. Tóc của Ziegler vàng bao nhiêu thì tóc cô ta đen bấy nhiêu, mái tóc dài buông xõa xuống phần cổ lông. Hai phụ nữ trẻ đi tới xe của Ziegler, và cô sen đầm cưỡi lên nó. Họ trao đổi thêm vài lời nữa. Cô tóc đen ngả về phía cô tóc vàng. Espérandieu nuốt nước bọt khi thấy họ hôn nhau đắm đuối.
Ôi mẹ ơi, cậu nghĩ, cổ họng bỗng dưng khô khốc.
Ziegler rồ ga, nàng nữ tướng mặc đồ da dán mình vào bộ khung thép của chiếc xe máy. Người đàn bà có thể là một kẻ giết người, cậu nghĩ, dội một gáo nước lạnh xuống ham muốn vừa nảy mầm trong mình. Đột nhiên, một suy nghĩ nảy ra trong đầu cậu. Cần đến hai người để giết con ngựa của Éric Lombard. Với chiếc máy ảnh số nhỏ bé, cậu chụp một bức ảnh của người phụ nữ tóc đen ngay trước khi cô ta biến vào trong sàn nhảy. Cô ta là ai? Liệu kẻ ám sát có thể là hai người đàn bà không? Anh lấy điện thoại ra và gọi cho Servaz.
Chết tiệt! Cậu chửi thề sau khi cúp máy. Martin cần năm phút nữa! Anh ta mất trí rồi! Anh ta nên ra khỏi đó ngay lập tức. Espérandieu phóng đi hết tốc lực, vượt qua người gác cửa quán bar. Cậu rẽ ở lối ra của bãi đỗ xe hơi đột ngột và một lần nữa bánh xe bị trượt trên tuyết trước khi xe tăng tốc trên con đường dài thẳng băng. Cậu chỉ thôi đạp chân ga khi lại trông thấy đèn hậu của cô, và tự động liếc đồng hồ trên bằng điều khiển. 2:07.
Martin, vì Chúa, ra khỏi đó ngay!
Servaz đang xoay bản đồ theo đủ mọi hướng.
Một tấm bản đồ chi tiết vùng cao nguyên Comminges. Tỉ lệ 1/50.000. Dù cố gắng đến mấy, anh vẫn không tài nào phát hiện ra điều gì. Thế nhưng, gần đây Ziegler đã xem tấm bản đồ này. Nó ở đây, chỗ nào đấy, nhưng mình không thấy. Thấy cái gì cơ? Đúng hơn, anh phải tìm kiếm cái gì? Đột nhiên anh nghĩ ra, nơi trú ẩn của Chaperon!
Nó phải ở… đương nhiên, ở đâu đó trên tấm bản đồ này.
Sau một quãng dài thẳng tắp, luôn đến một đoạn mà lái xe phải đi chậm lại để cua vào lối rẽ. Một đoạn mọc đầy lãnh sam và những cây bu lô nặng trĩu tuyết, với con đường ngoằn ngoèo giữa những quả đồi thấp và một dòng suối uốn lượn. Hẳn vào ban ngày, phong cảnh này sẽ đẹp như một bức tranh trên bưu thiếp, nhưng nó lại trở nên kì dị vào ban đêm dưới ánh sáng đèn pha.
Espérandieu thấy Ziegler giảm tốc và phanh lại, rất cẩn thận men theo khúc quanh đầu tiên trước khi biến mất sau những cây lãnh sam cao vút. Cậu nhấc chân khỏi chân ga và cũng đi vào khúc quanh với sự cẩn trọng tương tự, vòng qua quả đồi đầu tiên ở tốc độ vừa phải. Cậu tưởng như mình đang ở trong một cảnh phim quay chậm khi tới chỗ dòng suối chảy qua.
Nhưng chưa hết.
Lúc ấy, có lẽ cậu không thể nhận ra là cái gì. Một bóng đen. Nó lao ra từ phía bên kia con đường và nhảy vào luồng sáng của cặp đèn pha. Theo bản năng, Espérandieu đạp chân phanh. Một phản xạ sai lầm. Chiếc xe chệch sang một bên, lao vào cái bóng, và gây ra một vụ va chạm dữ dội. Tay bám chặt vô lăng, cậu cố bẻ lái nhưng đã muộn. Xe dừng lại, cậu bật xi nhan báo sự cố, tháo dây an toàn, chụp lấy đèn pin trong hộc đựng đồ và vội vã ra ngoài.
Một con chó! Cậu đã đâm phải một con chó. Con vật nằm giữa đường trong tuyết lạnh, nhìn Espérandieu bằng ánh mắt van lơn. Nó thở gấp gáp, hai bên sườn phập phồng, một đám hơi nước phả ra trước mõm, và một chân đang run lên bần bật.
Đừng cử động, anh bạn nhỏ! Tao sẽ trở lại ngay! Espérandieu nghĩ, gần như nói ra miệng. Cậu thọc tay vào áo gió. Điện thoại! Nó không ở đây! Espérandieu tuyệt vọng nhìn con đường. Chiếc xe máy đã đi mất từ lâu. Chết tiệt! Chết tiệt! Chết tiệt! Cậu lao vào xe, cúi người, bật đèn và mò mẫm dưới chỗ ngồi. Không có gì! Không thấy tăm hơi chiếc điện thoại khốn kiếp ấy đâu. Không trên ghế, không dưới sàn. Nó ở đâu mới được cơ chứ?
Dù xoay tấm bản đồ theo hướng nào, Servaz cũng không tìm thấy bất cứ dấu hiệu hay kí hiệu nào gợi ý chỗ Chaperon có thể đang ẩn náu. Nhưng có lẽ cô không cần phải đánh dấu nó. Có lẽ tất cả những gì cô phải làm là liếc qua bản đồ để kiểm tra lại điều mình đã biết. Servaz nhìn chằm chằm vào Saint-Martin, với khu nghỉ dưỡng trượt tuyết, thung lũng bao quanh và những đỉnh núi, con đường anh đã đi đến đây và đường dẫn tới trạm thủy điện, trại hè, Viện Wargnier và toàn bộ làng mạc xung quanh.
Anh ngó nghiêng. Một tờ giấy trên bàn khiến anh chú ý. Một tờ giấy giữa đống giấy tờ lộn xộn.
Anh cầm lên và cúi người xuống. Chứng thư của một bất động sản nào đó. Tim anh lại đập rộn lên. Chứng thư dưới cái tên Roland Chaperon, công dân của Saint-Martin-de-Comminges. Có một địa chỉ. Đường 12, khu vực 4, thung lũng Aure, thành phố Hourcade. Servaz chửi thề. Anh không có thời gian đi tra cứu ở cục đăng kí sở hữu hay văn phòng thế chấp. Anh nhận thấy Ziegler đã viết một chữ cái và một chữ số bằng bút dạ đỏ ở cuối tờ giấy. D4. Là nó. Anh cầm tờ giấy bằng bàn tay nhớp nháp mồ hôi trong khi luýnh quýnh lướt ngón tay trên bản đồ.
Espérandieu quay lại tìm và thấy điện thoại rơi dưới đường. Cậu cuống cuồng nhặt lên. Nó đã vỡ thành hai mảnh, cái vỏ nhựa bật tung. Chết tiệt! Cậu vẫn cố gọi cho Servaz, nhưng vô ích. Đột nhiên, cậu bị nỗi sợ hãi choán lấy. Martin! Con chó rên lên một tiếng xé lòng. Espérandieu nhìn nó. Mẹ kiếp! Mình đang mắc kẹt trong cơn ác mộng gì thế này!
Cậu giật mở cửa trước, trở lại chỗ con chó và luồn tay xuống bế nó lên. Nó rất nặng. Con chó gầm gừ, đe dọa, nhưng vẫn để cậu ẵm đi. Espérandieu đặt nó nằm ổn định ở ghế sau, sập cửa lại và ngồi vào ghế lái. Cậu liếc nhìn đồng hồ. 2:20! Ziegler có thể về tới nhà bất cứ lúc nào. Martin, ra khỏi đó, nhanh lên, ngay lập tức! Vì tất cả tình yêu của Chúa! Cậu phóng xe đi như tên bắn, bẻ thẳng lái ở phút cuối. Chiếc xe xé gió lao trên đường, mấy lần chệch đi ở những khúc quanh. Cậu bám lấy vô lăng như một tay đua địa hình. Tim cậu đang đập 160 nhịpphút.
Một hình chữ thập tí hon bằng mực đỏ mà ban đầu anh đã không nhìn ra. Ngay ở giữa chỗ D4. Servaz mừng rỡ. Trên bản đồ có một hình chữ nhật đen bé xíu ở giữa một khu vực rừng núi hoang vắng. Một căn nhà gỗ, hay một túp lều? Không quan trọng. Giờ Servaz đã biết Ziegler sẽ đi đâu sau khi cô rời khỏi quán bar.
Đột nhiên anh nhớ ra thời gian. 2:20. Có gì đó không đúng. Đáng lẽ Espérandieu phải gọi cho anh từ lâu rồi. Ziegler đã rời khỏi sàn nhảy mười sáu phút trước! Thừa cả thời gian để… Anh cảm thấy dòng mồ hôi lạnh chảy dọc sống lưng. Anh phải ra khỏi đây, ngay lập tức. Anh hoảng sợ nhìn về phía cửa, đặt tấm bản đồ lại chỗ cũ, tắt đèn bàn rồi đến công tắc trên tường và đi ra phòng khách. Anh nghe thấy tiếng động cơ bên ngoài. Servaz vội vã chạy ra cửa sổ, vừa kịp nhìn thấy xe máy của Ziegler ở góc tòa nhà. Anh rùng mình. Cô ta đã về tới!
Anh nhanh chóng tắt đèn phòng khách, hớt hải chạy ra cửa trước, rời khỏi căn hộ và nhẹ nhàng đóng cửa lại sau lưng. Tay anh run rẩy đến mức suýt nữa thì đánh rơi chùm chìa vạn năng. Anh đóng cửa và bắt đầu chạy xuống cầu thang, rồi đột ngột dừng lại sau vài bước. Anh đang đi đâu? Đường này sẽ không dẫn đi đâu hết. Nếu đi ra bằng đường này, anh sẽ đối mặt với cô ta. Anh sững người khi nghe thấy tiếng cổng trước lách cách mở ở hai tầng phía dưới. Anh đã mắc kẹt. Anh chạy hai bậc một lên cầu thang, nhẹ nhàng nhất có thể, và trở lại nơi mình xuất phát. Đầu cầu thang tầng ba. Anh nhìn khắp xung quanh. Không có chỗ thoát thân, không có chỗ ẩn náu, Ziegler sống ở tầng trên cùng.
Trái tim anh đập thình thịch như muốn nhảy ra khỏi ngực. Anh cố nghĩ. Cô có thể xuất hiện bất kì lúc nào và thấy anh ở đây. Cô sẽ phản ứng thế nào? Giờ đã gần 2 giờ rưỡi sáng, lẽ ra anh đang nằm bẹp trên giường mới phải. Nghĩ đi! Nhưng anh không thể nghĩ ra phương án nào. Anh không có lựa chọn. Một lần nữa anh lấy chìa khóa vạn năng ra, tra vào ổ, mở cửa và đóng nó lại sau lưng. Khóa lại! Anh vội vàng đi vào phòng khách. Căn hộ chết tiệt này quá trống trải, quá tối giản. Không có chỗ nào để ẩn nấp! Trong khoảnh khắc, anh nghĩ tới việc bật đèn lên, ngồi trên ghế xô pha và cứ thế chào hỏi cô, với vẻ tự nhiên nhất có thể. Anh sẽ nói với cô rằng anh đã tự vào bằng chìa khóa vạn năng. Rằng anh có việc quan trọng phải nói với cô. Không! Thật ngu ngốc! Anh đang toát mồ hôi, thở hổn hển, cô sẽ nhìn ra nỗi sợ hãi trong mắt anh ngay lập tức. Đáng ra anh nên đợi cô ở đầu cầu thang. Đúng là đồ ngu! Giờ thì đã quá muộn! Liệu cô có giết anh không?
Rùng mình, anh nhớ lại rằng cô đã toan làm thế rồi. Ở trại hè hôm ấy! Ý nghĩ làm anh bừng tỉnh. Mình phải trốn! Anh sải chân bước vào phòng ngủ, luồn xuống gầm giường khi nghe tiếng khóa lách cách ngoài cửa chính.
Anh trườn vào sâu hơn, qua khung cửa mở, anh nhìn thấy một đôi bốt ngoài tiền sảnh. Cằm anh tựa trên sàn, mặt đầm đìa mồ hôi, như thể đang gặp ác mộng. Như thể anh đang trải nghiệm một điều không có thật, một điều không thể xảy ra.
Anh không thấy khuôn mặt cô, chỉ nghe được tiếng cô thả chìa khóa loảng xoảng vào cái tủ kê gần cửa. Trong thoáng chốc, tưởng cô đi vào phòng ngủ, một nỗi khiếp sợ trào lên trong lòng anh.
Nhưng rồi anh thấy đôi bốt biến mất trong phòng khách, đồng thời có tiếng sột soạt của bộ đồ da. Anh vừa định đưa tay áo lau mồ hôi trên mặt thì đột nhiên cứng người. Anh đã quên không tắt điện thoại.
Con chó rên rỉ ở ghế sau. Nhưng ít nhất nó cũng không động đậy. Espérandieu đi vào khúc quanh cuối cùng, gần như mất kiểm soát, giống hệt cách cậu đã vòng qua tất cả những khúc quanh từ đầu đến giờ. Đuôi xe như muốn văng ra, nhưng cậu nhả số, quay bánh xe về phía đối diện, nhanh chóng nhấn chân ga và cố lái về phía trước.
Ngôi nhà của Ziegler.
Cậu đỗ bên ngoài, với lấy khẩu súng và nhảy ra. Cậu nhìn lên, thấy có ánh sáng trong phòng khách. Xe máy của Ziegler cũng ở đây. Không có dấu hiệu nào của Servaz. Cậu cẩn thận lắng nghe. Chẳng có gì ngoài tiếng rền rĩ của gió.
Mẹ kiếp, Martin, xuất hiện đi!
Espérandieu đang tuyệt vọng đảo mắt tìm kiếm xung quanh thì đột nhiên một ý tưởng lóe lên trong óc. Cậu trở lại sau tay lái và khởi động xe. Con chó yếu ớt phản kháng.
“Tao biết, anh bạn nhỏ. Đừng lo, tao sẽ không bỏ mày lại đâu.”
Cậu lái trở lại triền đồi thoai thoải dẫn lên bãi đỗ xe có la bàn chỉ đường. Cậu lấy ống nhòm và len vào khoảng trống giữa bụi cây, vừa lúc nhìn thấy Ziegler đang ra khỏi bếp với hộp sữa trên tay. Cô đã quẳng áo khoác lên ghế xô pha. Cậu thấy cô uống trực tiếp từ cái hộp và tháo dây lưng khỏi chiếc quần da rồi kéo tuột đôi bốt. Cô rời khỏi phòng khách. Ánh đèn sáng lên trong khung cửa sổ nho nhỏ mờ sương bên trái. Nhà tắm. Cô ta đang tắm. Martin đã đi đâu? Liệu anh ấy có kịp trốn ra ngoài không? Nếu thế thì anh ấy đang nấp ở đâu, vì Chúa? Espérandieu nuốt nước bọt. Có một ô cửa sổ khác giữa phòng tắm và cửa sổ lớn ở phòng khách. Vì tấm rèm cửa sổ đã được kéo lên và cửa đang mở, nên cậu nhận ra, hẳn là phòng ngủ, nhờ ánh sáng ở lối vào. Đột nhiên, một bóng người nhô ra từ gầm giường. Cái bóng đứng lên, ngập ngừng trong giây lát rồi rời khỏi phòng ngủ và lén lút tiến về phía cửa chính. Martin! Espérandieu muốn hét lên sung sướng, đưa ống nhòm về phía lối vào ngôi nhà chờ Servaz xuất hiện. Một nụ cười thắp sáng khuôn mặt cậu. Servaz hết quay trái lại quay phải để tìm Espérandieu cho tới lúc cậu nhét hai ngón tay vào miệng và huýt gió.
Servaz nhìn lên và trông thấy cậu. Anh chỉ lên trên và Espérandieu hiểu ý. Cậu lia ống nhòm lên cửa sổ, Irène Ziegler vẫn đang trong nhà tắm. Cậu ra hiệu cho Servaz đi sang mặt bên của tòa nhà và trèo lại vào trong xe. Một phút sau anh đã mở cánh cửa bên ghế phụ lái.
“Mẹ kiếp, cậu ở đâu vậy?” Servaz nhổ một ngụm nước bọt ra khỏi miệng. “Tại sao cậu không…”
Anh sững lại khi thấy con chó nằm trên ghế sau, “Cái gì thế?”
“Một con chó.”
“Tôi thấy rồi. Nó làm gì ở đó?”
Espérandieu mô tả vắn tắt lại vụ tai nạn. Servaz ngồi vào ghế hành khách và đóng sập cửa.
“Cậu bỏ tôi, vì một… con chó?”
Espérandieu tỏ vẻ hối lỗi, “Em giống Brigitte Bardot[2] ở điểm ấy. Thêm nữa, điện thoại của em vỡ rồi. Anh làm em sợ chết khiếp! Lần này chúng ta thực sự đã làm loạn hết cả lên.”
Trong chiếc xe tối om, Servaz lắc đầu, “Tất cả là lỗi của tôi. Cậu nói đúng, không phải ý hay.”
Đây là điều mà Espérandieu thích ở Martin. Không giống như rất nhiều cấp trên khác, anh biết thừa nhận sai lầm, và chịu trách nhiệm cho những sai lầm ấy.
“Nhưng tôi tìm được một thứ không tồi,” anh nói thêm.
Anh kể với Espérandieu về tấm bản đồ và bản chứng thư bất động sản. Anh lôi ra tờ giấy chép tọa độ. Họ cùng im lặng một hồi.
“Chúng ta phải gọi cho Samira và những người khác. Chúng ta cần tiếp viện.”
“Anh có chắc mình không để lại chút dấu vết nào không?”
“Hơi chắc. Ngoại trừ một ít mồ hôi dưới gầm giường.”
“Được, thế thì tốt,” Espérandieu nói. “Nhưng có chuyện khẩn cấp hơn phải giải quyết.”
“Gì thế?”
“Con chó. Chúng ta phải tìm một bác sĩ thú y. Ngay lập tức.”
Servaz nhìn trợ lý của mình và tự hỏi phải chăng cậu đang đùa. Espérandieu trông không thể nghiêm túc hơn. Servaz quay đầu lại ngó con vật. Con chó trông rất yếu. Nó khẽ ngẩng lên nhìn anh bằng đôi mắt hiền lành, buồn bã và cam chịu.
“Ziegler đang tắm,” trợ lý của anh nói. “Cô ta sẽ không tiếp tục ra ngoài vào đêm nay đâu. Cô ta biết mình có nguyên cả ngày mai để bắt Chaperon, vì ngày mai anh sẽ ở nhà. Cô ta sẽ làm việc giữa thanh thiên bạch nhật.”
Servaz do dự.
“Được rồi,” anh nói. “Tôi sẽ gọi cho sen đầm và xem ở đâu có bác sĩ thú y. Trong lúc đó, cậu gọi Samira dậy, bảo cô ấy xuống đây với hai sĩ quan nữa.”
Espérandieu nhìn đồng hồ. 2:45. Cậu lấy điện thoại của Servaz, bấm số Samira và nói chuyện với cô phải đến mười phút. Sau đó, cậu cúp máy và quay sang sếp mình. Servaz đang tựa vào cửa, đã ngủ say tự lúc nào.
❀ ❀ ❀
[1] : Nguyên văn là Woman-identified Woman, Radical Feminism, A Documentary History. Woman-identify woman là khái niệm bắt nguồn từ một bản tuyên ngôn của một nhóm người đồng tính nữ cấp tiến trong phong trào nữ quyền vào năm 1970. Tuyên ngôn này đấu tranh cho quyền của người đồng tính nữ và quyền tự do yêu người nữ của họ.
[2] : Nữ diễn viên, ca sĩ và người mẫu nổi tiếng của Pháp những năm 1950 và 1960, người sau này trở thành một nhà hoạt động bảo vệ động vật.