Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 28

❊ ❊ ❊

28

“Chị đang đợi tôi à?”

Cathy d’Humières nhảy dựng lên khi nghe thấy giọng anh. Bà ngoảnh ra cửa, chằm chằm nhìn Servaz một hồi lâu rồi quay lại Ziegler và Maillard, xong lại ngoảnh ra Servaz.

“Lạy Chúa lòng lành! Chuyện gì xảy ra với cậu thế?”

Servaz ngạc nhiên trước hình phản chiếu của chính mình trong tấm kính cửa, dưới đôi mắt trũng sâu và đỏ ngầu của anh là hai vết thâm đen.

“Kể cho họ đi,” anh nói với Ziegler và ngồi sụp xuống ghế, cảm giác sàn nhà vẫn đang chao đảo.

Irène Ziegler thuật lại những gì đã xảy ra. D’Humières, Confiant và hai cái mặt nạ sáp của lực lượng sen đầm lắng nghe trong im lặng. Chính bà trưởng công tố là người đã quyết định thả Ziegler ngay sau cú điện thoại của Espérandieu. Và đến lượt trực giác của Ziegler đã mách bảo cô rằng Servaz đang ở cùng với người cố vấn, nên cô đã kịp thời đến cứu anh. May mắn thay, trụ sở sen đầm chỉ cách cối xay có năm phút lái xe.

“Saint-Cyr!” D’Humières kêu lên, lắc đầu. “Không thể tin được!”

Servaz bỏ một viên aspirin sủi vào cốc nước. Màn sương trong não anh gần như đã tiêu tan và anh có thể hình dung lại toàn bộ cảnh tượng ở cối xay nước một lần nữa. Anh mở to cặp mắt đỏ ngầu của mình và nhìn những người khác.

“Mẹ kiếp!” Anh rống lên. “Khi tôi bắt đầu chóng mặt, Saint-Cyr đã gọi cho cái ả… Lisa ở Viện… để nói với ả rằng cô bác sĩ vẫn chưa kể với ai ngoài tôi, rằng ông ta đã kiểm soát được tình hình… sau đó ông ta có…”

Bà trưởng công tố tái mặt.

“Điều này có nghĩa là cô gái đang gặp nguy hiểm! Maillard, chúng ta còn chốt giám sát ở Viện không? Bảo người của cậu lập tức vào trong!”

Cathy d’Humières lấy điện thoại ra và bấm gọi, rồi bà tắt máy sau vài giây.

“Bác sĩ Xavier không trả lời.”

“Chúng ta phải thẩm vấn Lombard,” Servaz khó nhọc nói. “Và bắt giữ y. Nhưng thực hiện bằng cách nào? Y có thể ở bất cứ đâu, Paris, New York, trên một hòn đảo thuộc sở hữu cá nhân, hay ngay tại đây, nhưng tôi ngờ là đám người đó sẽ không tự nguyện cung cấp thông tin đâu.”

“Y đang ở đây,” Confiant nói.

Mọi người quay ra nhìn cậu ta.

“Trước khi đến trụ sở, tôi đã tới tòa lâu đài theo yêu cầu của Lombard, để cập nhật với y diễn biến cuộc điều tra. Sau đó trợ lý của anh gọi điện đến,” cậu ta nói với Servaz. “Tôi chưa kịp, hừm, nói với ai. Có quá nhiều chuyện xảy ra…”

Servaz thắc mắc, không biết từ đầu đến giờ, tay thẩm phán trẻ này đã tới lâu đài bao nhiêu lần.

“Chúng ta sẽ giải quyết việc đó sau,” d’Humières nói với giọng nghiêm khắc. “Mọi con đường dẫn vào thung lũng đã được phong tỏa hết rồi, đúng không? Tốt. Chúng ta sẽ liên lạc với sở chỉ huy cảnh sát. Tôi muốn đồng thời tiến hành lục soát nơi ở của Lombard ở Paris và khám xét lâu đài. Quá trình này phải được phối hợp hoàn hảo và kín đáo. Chỉ những người thực sự cần thiết mới được tham gia. Y đã sai lầm khi nhắm vào người của tôi,” bà nhìn Servaz. “Y mang cái họ Lombard thật đấy, nhưng y đã vượt quá giới hạn. Và những kẻ như thế sẽ phải đối đầu với tôi.”

Bà đứng lên, “Tôi phải gọi cho Chancery. Chúng ta không còn nhiều thời gian để bài binh bố trận và xử lý tiểu tiết nữa. Chúng ta sẽ hành động. Một phút cũng không được lãng phí.”

Mọi người ngồi quanh bàn liền bắt đầu ngay. Không phải ai cũng đồng ý với bà trưởng công tố. Hai sĩ quan của lực lượng sen đầm cho rằng, Lombard là một nhân vật có máu mặt, nên sẽ có nguy cơ mất việc, đối đầu với chính quyền, rồi các nguy cơ ngoài dự kiến…

“Sao Vincent lại phát hiện ra Lombard không ở Mỹ?” Servaz hỏi.

Ziegler giải thích. Bọn họ đã rất may mắn. Vì một đơn tố cáo nặc danh, đội điều tra tội phạm kinh tế Paris đã tiến hành kiểm toán sổ sách của một số công ty con của tập đoàn. Có vẻ họ sắp khui ra một vụ bê bối lớn. Vài ngày trước, khi đang xem xét sổ sách của Truyền thông Lombard, họ đã phát hiện một chi tiết bất thường, Một khoản tiền 135.000 đô la được chuyển từ Truyền thông Lombard tới một công ty chuyên sản xuất phóng sự truyền hình. Sau khi kiểm tra chéo với công ty kia thì hóa ra chẳng có phóng sự nào như thế và các hóa đơn đều là giả. Tổ điều tra bắt đầu đặt ra nghi vấn về việc số tiền ấy có thể tương ứng với cái gì khác, và hơn hết, tại sao người ta lại cố giấu giếm nó? Phải chăng là tiền hối lộ? Hay biển thủ công quỹ? Họ xin được lệnh thẩm tra mới, lần này là với ngân hàng đã thực hiện lệnh chuyển khoản, và họ yêu cầu được biết danh tính của người nhận thực sự. Nhưng thật không may, chủ thể của những giao dịch này cực kì thận trọng, chỉ trong khoảng thời gian vài giờ, số tiền đã được chuyển tới một tài khoản ở London, rồi tới một tài khoản ở Bahamas, và tới tài khoản thứ ba ở vùng biển Caribe. Tổ điều tra hoàn toàn mất dấu. Mục đích là gì? 135.000 đô la có thể là một khoản tiền không nhỏ, nhưng chỉ là một giọt nước giữa biển khơi so với đế chế Lombard. Họ triệu tập giám đốc điều hành của Truyền thông Lombard và đe dọa sẽ cáo buộc ông ta tội gian lận tài chính. Người đàn ông này hoàng sợ và rốt cuộc cũng khai ra. Anh ta thực hiện giao dịch giả theo yêu cầu của Éric Lombard, vì một việc khẩn cấp, nhưng thề rằng không biết số tiền được sử dụng vào việc gì. Vì Espérandieu đã đề nghị được biết mọi yếu tố bất thường xảy ra trong giai đoạn gần đây đối với Éric Lombard, nên người quen của cậu đã cung cấp thông tin này, mặc dù thoạt nhìn nó không liên quan gì tới cái chết của con ngựa.

“Vậy thực ra nó liên quan tới cái gì?” Một trong hai vị quan lớn của lực lượng sen đầm hỏi.

“Là thế này,” Ziegler nói, “Trung úy Espérandieu có một ý tưởng khác. Anh ấy đã gọi tới một hãng hàng không chuyên cho các doanh nhân giàu có thuê máy bay và phát hiện ra đây chính xác là chi phí cho một chuyến bay khứ hồi vượt Đại Tây Dương bằng phi cơ riêng.”

“Éric Lombard có máy bay và phi công riêng,” viên sĩ quan phản đối. “Tại sao hắn phải sử dụng một hãng khác?”

“Để không để lại chứng cớ, để chuyến bay không hiển thị trong bất kì sổ sách kế toán nào của công ty,” Ziegler trả lời. “Và tất cả những gì họ phải làm là giấu khoản chi phí đi.”

“Nguyên nhân của cái phóng sự ma kia,” d’Humières xen vào.

“Chính xác.”

“Thú vị thật,” viên sĩ quan nói. “Nhưng tất cả đơn thuần chỉ là giả thuyết.”

“Không hẳn. Trung úy Espérandieu đã đoán ra nếu Éric Lombard bí mật từ Mỹ về vào cái đêm con ngựa bị giết, chắc hẳn y phải hạ cánh cách đây không xa. Vì thế anh ấy gọi cho một loạt các sân bay trong vùng, bắt đầu từ cái gần nhất và dịch ra xa dần, Tarbes, Pau, Biarritz… Đến cái thứ ba, trúng phóc. Một chiếc máy bay riêng thuộc một hãng vận tải của Mỹ đã hạ cánh tại Biarritz- Bayonne vào tối thứ Ba, mùng 9 tháng Mười hai. Theo như chúng ta tìm hiếu được, Éric Lombard đã về nước, sử dụng tên và giấy tờ giả. Không ai nhận ra y. Máy bay đỗ lại chừng mười hai tiếng và cất cánh trở về Mỹ vào sáng sớm. Thừa thời gian để đi ô tô từ Bayonne tới Saint-Martin, vào trường luyện ngựa, giết con Tự Do, treo nó lên đỉnh cáp và rời đi.”

Mọi người chăm chú nhìn cô sen đầm.

“Và chưa phải là tất cả,” cô nói. “Sân bay tại Biarritz đã lưu thông tin chiếc máy bay Mỹ trong hồ sơ hoạt động của sân bay. Vincent Espérandieu đã gọi cho người quen của anh ấy ở Interpol, người này liên lạc với FBI. Hôm nay họ đã tới gặp viên phi công. Anh ta đã xác nhận Éric Lombard chính là vị khách hôm ấy. Và sẵn sàng đứng ra làm chứng.”

Ziegler quay sang nhìn Servaz.

“Lombard có thể đã biết dự tính của chúng ta,” cô nói. “Hẳn y cũng có vài mối quan hệ ở FBI hoặc trong Bộ Nội vụ.”

Servaz giơ tay, “Tôi đã bố trí hai người của mình bên ngoài lâu đài từ đầu buổi tối. Từ lúc tôi bắt đầu nghi ngờ những gì đã xảy ra. Nếu thông tin của ngài thẩm phán đây là chính xác, thì Lombard vẫn còn ở lâu đài. Nhân tiện, Vincent đâu rồi?”

“Anh ấy đang đến. Anh ấy sẽ có mặt ở đây sau vài phút nữa,” Ziegler trả lời.

Servaz cố đứng lên, nhưng đôi chân anh vẫn không đỡ nổi thân thể.

“Anh nên đến trung tâm y tế để giải độc,” Ziegler khuyên. “Anh không đủ sức khỏe để tham gia tấn công đâu. Anh phải đi rửa ruột và ở lại theo dõi tình hình. Chúng ta thậm chí còn không biết Saint-Cyr nhét vào họng anh những loại thuốc gì nữa.”

“Tôi sẽ đi bệnh viện khi xong xuôi hết mọi việc. Đây cũng là cuộc điều tra của tôi. Tôi sẽ ở vòng ngoài vậy,” anh nói. “Trừ phi Lombard để chúng ta vào mà không gây khó dễ, mà như thế thì tôi rất bất ngờ đấy.”

“Nếu y còn ở đó thì dễ,” d’Humières nói.

“Linh cảm mách bảo tôi rằng y vẫn còn ở đó.”

Hirtmann lắng nghe gió quất vào cửa sổ, mang theo những bông tuyết li ti buốt giá. Một trận bão tuyết thực sự, hắn nghĩ thầm và mỉm cười. Tối nay, ngồi trên giường, hắn tự hỏi mình sẽ làm gì đầu tiên nếu lại được tự do, một giả thuyết mà hắn vẫn thường xuyên tính đến. Và mỗi lần như vậy, hắn lại chìm trong chuỗi mộng tưởng kéo dài.

Ở một trong những viễn cảnh yêu thích của mình, hắn lấy lại được số tiền và những giấy tờ được giấu trong một nghĩa trang ở Savoie, gần biên giới Thụy Sĩ. 100.000 franc Thụy Sĩ, toàn đồng mệnh giá 100 và 200 franc, cùng thẻ căn cước giả đựng trong một chiếc hộp chống thấm cách điện, giấu trong cỗ quan tài chứa di hài bà mẹ của một trong những nạn nhân của hắn. Chính cô ả đã nói với hắn về ngôi mộ và nghĩa trang ấy ngay trước khi bị giết. Với số tiền này, hắn sẽ thuê bác sĩ phẫu thuật thẩm mỹ ở Var, người từng được vinh dự tham gia những buổi ‘dạ hội Geneva’ của hắn. Và ở một nơi cất giấu khác, Hirtmann đã lưu trữ vài cuộn băng ghi hình, đủ để hủy hoại thanh danh của một thầy thuốc, người mà hắn đã sáng suốt không khai ra tên tuổi trong vụ xét xử. Trong khi chờ đợi tháo băng sau ca phẫu thuật, hắn sẽ ở lại bệnh viện của người bác sĩ tốt bụng ấy, trong một căn phòng có giá 1.000 euro một đêm với tầm nhìn trông ra Địa Trung Hải. Hắn sẽ thu xếp một hệ thống âm thanh hàng đầu để thưởng thức nhạc của Mahler yêu dấu, với sự thăm viếng hằng đêm của một ả gái gọi chuyên nghiệp.

Nụ cười mơ màng vụt tắt. Hirtmann đặt tay lên lông mày và nhăn mặt. Phương pháp điều trị khốn kiếp này gây ra những cơn đau đầu khủng khiếp. Thằng đần Xavier và tất cả bọn chuyên gia tâm lý ngu ngốc chó chết… Aaa! Như nhau hết, với cái tín ngưỡng lang băm của chúng!

Hắn cảm thấy cơn giận sục sôi. Một cơn thịnh nộ len lỏi trong não, dần dần cắt đứt mọi suy nghĩ của lý trí, cuối cùng đầu óc hắn không còn gì ngoài một đám mây đen như mực. Cơn cáu giận như một con lươn chui ra khỏi hang và cắn nuốt toàn bộ sự minh mẫn của hắn. Hắn muốn đánh đập ai đó, hoặc thụi một cú đấm vào tường. Hắn nghiến răng và lắc đầu quầy quậy, rên rỉ như một con mèo bị luộc sống cho đến lúc bình tĩnh lại. Đôi lúc hắn gần như không thể kiểm soát nổi bản thân, nhưng hắn vẫn còn khả năng kiềm chế. Trong quá trình bị giam giữ tại vô số bệnh viện tâm thần, hắn đã dành hàng tháng trời để đọc đống sách do lũ bác sĩ tâm thần ngu đần viết ra. Hắn đã biết được những luận thuyết ảo tưởng, và cả những mánh lới nho nhỏ của bọn chúng. Tất cả chỉ là diễn trò, giống như ảo thuật. Và trong ngục sâu, hắn đã nhẩm đi nhẩm lại mớ luận thuyết kia không biết bao lần, giống như bị ám. Hắn biết điểm yếu lớn nhất của chúng, không một bác sĩ tâm thần nào trên đời này lại không có tính tự phụ. Tuy nhiên, một trong số đó đã đoán ra mục đích của hắn và lấy đi những quyển sách.

Thình lình, một âm thanh the thé đâm xuyên qua tai hắn. Hắn ngồi thẳng dậy, bực mình. Tiếng còi báo động bên ngoài hành lang. Âm thanh bỏng rát, nhức nhối, khiến màng nhĩ hắn đau đớn và cơn nhức đầu càng lúc càng dữ dội.

Hiếm khi nào hắn thắc mắc chuyện gì đang xảy ra. Nhưng rồi đèn phụt tắt, hắn ngồi trong cảnh tranh tối tranh sáng. Chỉ còn ánh trăng xam xám chiếu tới khung cửa sổ và một luồng sáng rực rỡ màu cam nháng lên từng hồi. Còi báo cháy!

Trái tim hắn bắt đầu đập rộn lên, 160 nhịpphút. Một vụ cháy trong Viện! Có thể đây chính là cơ hội…

Đột nhiên, cửa phòng giam bật mở, Lisa Ferney sải bước vào trong, hình dáng của cô ta nổi trên nền sáng màu cam đang khẩn thiết nhấp nháy ngoài cửa, trông chẳng khác nào kịch bóng. Một tay cô ta đang cầm áo khoác lông cừu, áo blu trắng, quần và giày. Và cô ta quẳng đống đồ ấy về phía hắn.

“Mặc vào, nhanh lên!” Cô ta đặt lên bàn một cặp kính bảo hộ bằng thủy tinh hữu cơ và chiếc mặt nạ phòng độc. “Đeo cả cái này vào. Mau lên!”

“Chuyện gì bên ngoài thế?” Hắn vừa hỏi vừa nhanh chóng mặc quần áo. “Mọi việc không diễn ra suôn sẻ sao? Cô cần ai đánh lạc hướng phải không?”

“Anh không bao giờ tin tưởng kế hoạch ấy, đúng không?” Cô ta quay sang hắn, mỉm miệng cười. “Anh chỉ làm thế vì anh thấy thích thú. Anh không bao giờ tin tôi sẽ giữ lời.” Ánh nhìn kiên định dõi vào hắn. “Kế hoạch anh dành cho tôi là gì, Julian? Anh có định trừng phạt tôi không?”

Cô ta liếc ra ngoài cửa sổ.

“Đi thôi!” Cô ta nói. “Chúng ta không có cả đêm đâu.”

“Bảo vệ đâu hết rồi?”

“Tôi đã xử lý Ngài Atlas rồi. Những người khác đang chạy tán loạn, cố ngăn các bệnh nhân đào thoát. Ngọn lửa đã vô hiệu hóa hệ thống báo động. Tối nay mở cửa tự do. Nhanh lên! Có một đội sen đầm dưới nhà, ngọn lửa và các bệnh nhân khác sẽ giữ chân họ được một lúc.”

Hirtmann đeo mặt nạ vào và kéo dây ra sau đầu. Lisa có vẻ thỏa mãn. Với chiếc áo blu trắng và mặt nạ phòng độc, cộng với ánh đèn lờ mờ, gần như không thể nhận ra Hirtmann nữa, ngoại trừ chiều cao.

“Đi xuống tầng hầm.” Cô ta đưa cho hắn một chiếc chìa khóa nhỏ. “Xuống tới nơi, anh chỉ cần đi theo những mũi tên sơn trên tường, chúng sẽ dẫn tới một lối ra bí mật. Tôi đã thực hiện phần giao kèo của mình. Giờ đến lượt anh.”

“Phần giao kèo của tôi thì sao?” Giọng Hirtmann méo mó đằng sau lớp mặt nạ.

Lisa rút một khẩu súng trong túi ra và đưa cho hắn, “Anh sẽ tìm thấy Diane Berg bị trói dưới tầng hầm. Dẫn cô ta theo. Giết cô ta và vứt xác ở đâu đó rồi biến đi.”

Hirtmann ngửi thấy mùi khói ra đến hành lang. Ánh sáng chói lòa của đèn báo cháy khiến mắt hắn nhức nhối, và tiếng còi báo động làm màng nhĩ hắn đau buốt. Hành lang hoàn toàn vắng vẻ, tất cả các cửa mở toang. Khi đi qua, Hirtmann trông thấy những phòng giam trống trơn.

Ngài Atlas đang nằm trên sàn phòng kính với một vết thương ghê rợn sau gáy. Có máu trên sàn nhà. Lênh láng. Họ đi qua cánh cửa an ninh để mở và thấy khói bốc lên từ cầu thang.

“Nhanh!” Lisa Ferney kêu lên, lần đầu tiên cô ta có vẻ hoảng sợ.

Luồng sáng từ đèn báo cháy khiến mái tóc dài màu hạt dẻ của Lisa sáng lóa, quét lên khuôn mặt cô ta một màu cam kì dị, đồng thời nhấn đậm quầng tối quanh mắt và dọc mũi, làm nổi bật quai hàm vuông vức, khiến cô ta càng thêm phần nam tính.

Họ lao xuống cầu thang. Khói đặc hơn bao giờ hết. Lisa bật ho. Khi họ đặt chân đến tầng trệt, cô ta dừng lại và chỉ vào đoạn cầu thang cuối cùng dẫn xuống tầng hầm.

“Đánh tôi đi,” cô ta nói.

“Gì?”

“Đánh tôi đi! Đấm! Vào mũi. Nhanh lên!”

Hirtmann chỉ ngập ngừng một thoáng. Khi nắm đấm của hắn giáng xuống, cô ta bật ngửa, kêu rú một tiếng và lấy tay ôm mặt. Mắt Hirtmann ánh lên thỏa mãn trước cảnh tượng máu phụt ra, rồi hắn chạy đi.

Lisa nhìn Hirtmann biến mất trong làn khói. Cơn đau dữ dội, nhưng hơn hết, cô ta thấy lo lắng. Trước khi châm lửa đốt, cô ta trông thấy số sen đầm ẩn nấp trên núi đang di chuyển về phía Viện. Bọn họ làm gì ở đây khi tên cớm đã chết, còn Diane vẫn đang bị trói, bất động, dưới hầm?

Có gì đó không đúng.

Lisa trở dậy. Máu chảy xuống cằm và chiếc áo blu. Cô ta loạng choạng đi ra cổng Viện.

Servaz đang đứng bên ngoài cánh cổng lâu đài. Cùng với anh là Maillard, Ziegler, Confiant, Cathy d’Humières, Espérandieu, Samira, Pujol và Simeoni. Đằng sau họ là ba chiếc xe tải nhỏ của lực lượng sen đầm, những người trong xe đều được trang bị vũ trang. Servaz đã bấm chuông cổng hai lần nhưng vô ích.

“Thế nào?” Cathy d’Humières nói, đập hai bàn tay đeo găng vào nhau để giữ ấm.

“Không ai trả lời.”

Họ giẫm lên lớp tuyết bên ngoài cổng, tạo ra những dấu chân chồng chéo lên nhau.

“Không thể không có ai được,” Ziegler nói. “Ngay cả khi Lombard không ở đây, thì lâu đài luôn luôn có người canh gác và người làm. Nghĩa là họ cố tình không trả lời.”

Hơi thở của họ biến thành làn hơi nước trắng, cuốn đi trong gió.

Bà trưởng công tố nhìn chiếc đồng hồ vàng đeo ở tay. 12:36.

“Mọi người đã vào vị trí chưa?” Bà hỏi.

Chưa đầy năm phút nữa, cảnh sát sẽ bắt đầu lục soát căn hộ tại Paris ở quận 8, cách ga Étoile không xa. Hai dân thường rét cóng đang đi đi lại lại trước nhà, bác sĩ Castaing và công chứng viên Maitre Gamelin, được yêu cầu làm nhân chứng trung lập trong trường hợp chủ nhà vắng mặt. Vì cuộc khám xét diễn ra về đêm, bà trưởng công tố phải viện đến lý do rằng đây là trường hợp khẩn cấp, đề phòng bằng chứng quan trọng bị thủ tiêu. Bà cũng cho rằng cuộc khám xét của bọn họ là hoàn toàn hợp lệ, dựa trên mưu toan sát hại Servaz của Saint-Cyr.

“Maillard, hỏi bên Paris xem họ đã sẵn sàng chưa. Martin, cậu cảm thấy thế nào? Trông cậu kiệt quệ lắm. Có lẽ sẽ tốt hơn nếu cậu đợi ngoài này? Cứ để Ziegler phụ trách. Cô ấy có thể làm tốt.”

Maillard vội vàng đi tới một trong những chiếc xe tải. Servaz nhìn Cathy d’Humières và gượng cười. Bà đã để mặc chiếc khăn quàng cổ và mái tóc nhuộm vàng bay tứ tung trong cơn bão, có vẻ cơn giận dữ và phẫn nộ đã lấn át cả việc giữ hình tượng.

“Tôi sẽ ổn thôi,” anh nói.

Họ nghe thấy tiếng la hét trong chiếc xe tải. Maillard đang mất bình tĩnh, “Vì tôi đã nói là chúng ta không thể! Cái gì? Ở đâu?… Được, tôi sẽ báo với họ ngay lập tức!”

“Chuyện gì thế?” D’Humières hỏi khi anh ta lao ra ngoài.

“Có cháy ở Viện, tình hình rối ren! Người của chúng ta cùng với các nhân viên bảo vệ đang cố hết sức để ngăn bệnh nhân trốn thoát. Hệ thống an ninh đã bị vô hiệu hóa. Chúng ta phải đưa toàn bộ người sang càng sớm càng tốt.”

Servaz tập trung suy nghĩ. Đây không thể là chuyện trùng hợp.

“Là đánh lạc hướng,” anh nói.

Cathy d’Humières nhìn anh với ánh mắt nghiêm nghị.

“Tôi biết.” Bà quay sang Maillard. “Chính xác thì bọn họ nói gì?”

“Nói rằng Viện đang cháy. Tất cả các bệnh nhân đều đã trốn ra ngoài, chỉ có rất ít nhân viên bảo vệ và các thành viên trong đội chúng ta ở trên đó để trông chừng họ. Tình huống có thể xấu đi bất cứ lúc nào. Hình như vài bệnh nhân đã tẩu thoát thành công. Họ đang cố bắt những người đó lại.”

Servaz tái mặt. “Bệnh nhân ở Khu A thì sao?”

“Tôi không biết.”

“Họ không thể đi xa trong thời tiết này đâu.”

“Tôi xin lỗi, Martin, nhưng đây là trường hợp khẩn cấp,” d’Humières quả quyết. “Nhóm của cậu hãy ở lại đây, nhưng tôi phải huy động nhiều người nhất có thể để đến đó. Tôi sẽ xin thêm tiếp viện.

Servaz nhìn Ziegler.

“Để đại úy lại cho tôi,” anh nói.

“Cậu muốn vào mà không cần hỗ trợ sao? Bọn chúng có thể có vũ khí đấy.”

“Hoặc có thể chẳng có ai hết.”

“Tôi sẽ đi cùng sĩ quan chỉ huy Servaz,” Ziegler nói. “Tôi không nghĩ rằng tình huống này sẽ quá nguy hiểm. Lombard là một kẻ sát nhân, nhưng không phải xã hội đen.”

D’Humières lần lượt nhìn các thành viên của tổ cảnh sát.

“Được. Confiant, cậu ở lại đây với họ. Nhưng đừng hành động thiếu suy nghĩ. Ngộ nhỡ gặp chuyện bất trắc, các cô cậu phải đợi tiếp viện, rõ chưa?”

“Cậu cứ ở ngoài,” Servaz nói với Confiant. “Tôi sẽ gọi cậu vào lục soát khi chắc chắn khu vực đã được phong tỏa.”

Confiant ủ rũ gật đầu. Cathy d’Humières kiểm tra đồng hồ lần nữa.

“Được rồi, xuất phát tới Viện thôi,” bà nói, đi về phía xe của mình.

Họ nhìn Maillard và những sen đầm khác trèo lại vào xe tải. Chốc lát sau, tất cả đi hết.

Viên sen đầm đang canh gác lối thoát hiểm tầng hầm vội đặt tay lên súng khi cánh cửa kim loạt bật tung ra. Anh thấy một người đàn ông cao lớn đang bước lên cầu thang với một phụ nữ bất tỉnh trong tay, anh ta mặc áo blu trắng và đeo mặt nạ phòng độc trên mặt.

“Cô ấy bị ngất,” người đàn ông nói qua lớp mặt nạ. “Khói… Anh có phương tiện nào không? Xe cứu thương chẳng hạn? Cô ấy cần đi gặp bác sĩ. Nhanh lên!”

Viên sen đầm do dự. Hầu hết các bệnh nhân và bảo vệ đều đã tập trung lại ở phía bên kia tòa nhà. Anh không biết có bác sĩ nào trong số đó không. Nhiệm vụ của anh là canh giữ lối ra này.

“Chúng ta phải nhanh lên,” người đàn ông quả quyết. “Tôi đã cố hô hấp nhân tạo cho cô ấy nhưng không có tác dụng. Mỗi phút đều là sống còn! Anh có xe không? Có hay không?”

Đằng sau chiếc mặt nạ là chất giọng trầm thấp, âm vang và đầy uy quyền.

“Tôi sẽ tìm ai đó,” viên sen đầm nói, rồi chạy đi mất.

Một phút sau, một chiếc xe tấp vào bên ngoài cửa. Viên sen đầm ra khỏi ghế hành khách, và người lái xe, một sen đầm khác, ra hiệu cho Hirtmann lên ghế sau. Diane được đặt yên vị trên ghế, chiếc xe lao đi. Họ vòng qua tòa nhà chính và Hirtmann thấy những khuôn mặt quen thuộc, bệnh nhân và cán bộ, co cụm lại ngoài đám cháy. Một phần không nhỏ của Viện đã bị ngọn lửa nhấn chìm. Lính cứu hỏa đang gỡ vòi phun từ một chiếc xe tải đỏ trông mới cứng. Một chiếc vòi khác đang phun nước vào tòa nhà, nhưng đã quá muộn, không đủ để dập tắt ngọn lửa. Bên ngoài lối vào, các nhân viên y tế đang mở một chiếc cáng vừa được lấy ra từ sau xe cứu thương.

Khi những tòa nhà đang cháy lùi xa về phía sau, Hirtmann nhìn chằm chằm vào gáy của người lái xe qua lớp mặt nạ, và cảm nhận lớp kim loại lạnh lẽo của khẩu súng trong túi áo.

“Chúng ta qua cổng bằng cách nào?”

Servaz xem xét nó. Những thanh sắt uốn trông kiên cố và chỉ có xe tăng mới công phá được. Anh quay sang nhìn Ziegler. Cô chỉ vào dây thường xuân đang uốn mình quanh một trong những cột trụ.

“Dùng cách này.”

Nằm gọn trong tầm ngắm của camera, anh nghĩ.

“Cô biết bao nhiêu người ở bên trong không?” Samira hỏi. Cô đang kiểm tra ổ đạn.

“Có thể không có ai cả, có thể họ đã trốn hết rồi,” Ziegler nói.

“Hoặc có thể là mười, hai mươi hay ba mươi người,” Espérandieu nói, và rút ra một khẩu Sig Sauer cùng ổ đạn mới tinh.

“Trong trường hợp đó, đành phải hy vọng bọn họ sẽ tôn trọng pháp luật,” Samira đùa. “Trong truyện trinh thám luôn có nút thắt như thế này, những tên giết người cùng lúc trèo tường ra hai hướng khác nhau…”

“Không có bằng chứng nào cho thấy Lombard đủ thời gian trèo tường,” Servaz trả lời. “Tôi chắc chắn y ở trong ấy. Bởi thế y muốn chúng ta nhanh chóng đến Viện.”

Confiant không nói gì. Cậu ta đang quan sát Servaz với vẻ hoang mang. Ziegler nắm lấy dây thường xuân và nhẹ nhàng trèo lên trên cột trụ. Cô bám vào chiếc camera giám sát trên đỉnh, lấy lại thăng bằng và nhảy xuống phía bên kia. Servaz ra hiệu cho Pujol và Simeoni đứng ngoài canh phòng cùng tay thẩm phán trẻ. Anh hít một hơi thật sâu và làm theo Ziegler, mặc dù khó khăn hơn nhiều, đặc biệt là với lớp áo chống đạn bên dưới áo len. Espérandieu trèo cuối cùng.

Servaz cảm thấy đau nhói khi nhảy xuống, không khỏi buột miệng kêu lên. Khi cất bước, anh lại thấy đau ứa nước mắt. Anh đã bị trẹo mắt cá chân.

“Có sao không?”

“Không sao,” anh xẵng giọng.

Để chứng minh, anh khập khiễng bước đi, mặc cơn đau nhói lên tận óc. Anh nghiến răng, ít nhất lần này anh đã nhớ mang theo súng.

“Đã nạp đạn chưa?” Ziegler cất tiếng hỏi. “Anh lên đạn sẵn đi. Ngay bây giờ. Và cầm sẵn trên tay.”

Anh nuốt nước bọt. Lời phê bình của cô khiến thần kinh anh căng thẳng.

1:05. Servaz châm một điếu thuốc và chăm chú nhìn tòa lâu đài nằm cuối con đường lớn lát gạch kéo dài với hai hàng sồi vài trăm tuổi nằm dọc hai bên. Mặt tiền và thảm cỏ trắng xóa tuyết được thắp sáng rực rỡ. Những bóng đèn nhỏ chiếu tỏ từng cây cảnh tạo hình con vật. Vài khung cửa sổ sáng rực lên ở trung tâm tòa nhà. Như thể có người đang chờ đợi họ.

Ngoài ra, tất cả đều lặng yên. Không hề có dấu hiệu của sự sống bên trong những ô cửa sổ. Họ đã đi đến cuối con đường. Một tòa lâu đài. Như trong cổ tích. Một câu chuyện cổ tích dành cho người lớn.

Y đang ở bên trong. Y vẫn chưa rời đi, mọi chuyện sẽ được quyết định tại đây.

Tất cả đã được sắp đặt sẵn. Ngay từ đầu.

Có gì hư ảo dưới thứ ánh sáng nhân tạo kia, với mặt tiền màu trắng, trông tòa lâu đài vô cùng lộng lẫy. Một lần nữa, Servaz lại nghĩ tới lời dặn của Propp, “Tìm màu trắng…”

Sao anh không nghĩ ra sớm hơn?

“Dừng lại.”

Người lái xe hơi quay đầu về sau, mắt vẫn cố nhìn đường.

“Sao cơ?”

Hirtmann áp phần kim loại lạnh lẽo của ống giảm thanh lên cổ viên sen đầm.

“Dừng lại,” hắn quát.

Chiếc xe giảm tốc. Hirtmann đợi đến lúc người lái xe tấp vào lề đường và dừng hẳn lại mới bóp cò. Sọ não của anh ta nổ tung thành một thứ hỗn hợp đặc sệt trộn giữa máu, xương và óc, bắn tóe lên mặt bên trái của kính chắn gió. Mùi thuốc súng dâng khét tràn ngập trong xe. Những vệt dài màu nâu chảy thành dòng xuống kính chắn gió và Hirtmann tự nhủ phải lau rửa sạch rồi mới tiếp tục lên đường được.

Hắn quay lại nhìn Diane, cô vẫn đang ngủ. Hắn gỡ mặt nạ, mở cửa và bước ra ngoài cơn bão tuyết, mở cửa bên ghế lái và kéo viên sen đầm ra ngoài. Hắn bỏ lại thi thể trên tuyết và lục lọi để tìm giẻ lau. Hắn chùi vết máu bắn tung tóe cho sạch nhất có thể, rồi ra sau xe và luồn tay dưới nách Diane để nhấc cô lên. Người cô vẫn rũ xuống, nhưng hắn cảm giác không lâu nữa cô sẽ tỉnh dậy khỏi hơi gây mê chloroform. Hắn đặt cô lên ghế phụ lái, thắt chặt dây an toàn cho cô và ngồi vào ghế lái với khẩu súng kẹp giữa hai đùi. Giữa bão tuyết và trời đêm giá rét, cơ thể vẫn còn ấm của viên sen đầm bắt đầu bốc hơi, như thể bị cái lạnh hấp thụ.

Ziegler dừng lại ở cuối con đường dài trồng sồi hai bên, ngay sát con đường đi dạo hình bán nguyệt bên ngoài lâu đài. Gió thổi từng cơn buốt giá. Bọn họ đều lạnh cóng. Những con thú bằng cây cảnh to lớn và những đường bao xung quanh khu vườn được rắc tuyết như đường bột phủ lên bánh ngọt, mặt tiền màu trắng… Vạn vật đều có vẻ hư ảo.

Và êm đềm. Êm đềm tới mức giả tạo, Servaz nghĩ thầm, mọi giác quan của anh đều căng lên cảnh giác.

Núp đằng sau thân cây sồi cuối cùng để tránh gió, Ziegler đưa một chiếc bộ đàm cho Servaz và một chiếc nữa cho Espérandieu. Cô nắm quyền chỉ huy, “Chúng ta sẽ chia ra. Hai đội. Một sang phải, một sang trái. Đợi hai người vào vị trí yểm trợ, cô và tôi sẽ đột nhập,” cô trỏ Samira. “Nếu bọn họ kháng cự, chúng ta sẽ rút lui và đợi tiếp viện can thiệp.”

Samira gật đầu. Hai người phụ nữ nhanh chóng băng qua con đường ở giữa để tiến về phía hàng cây bên kia, rồi biến mất trước khi Servaz kịp phản ứng. Anh nhìn Espérandieu, cậu nhún vai. Họ cũng luồn vào giữa đám cây, theo hướng ngược lại, đi vòng theo con đường hình bán nguyệt. Servaz vẫn không hề rời mắt khỏi tòa lâu đài.

Đột nhiên anh rùng mình. Có gì đó chuyển động. Anh nghĩ mình đã nhìn thấy một cái bóng vụt qua cửa sổ.

Chiếc bộ đàm phát ra tiếng nói, “Các anh đã vào vị trí chưa?”

Giọng Ziegler. Servaz ngập ngừng. Có phải anh đã nhìn thấy gì đó không nhỉ?

“Tôi nghĩ mình vừa nhìn thấy một người ở tầng hai,” anh nói. “Tôi không chắc.”

“Được rồi, dù sao bọn tôi vẫn sẽ vào. Yểm trợ cho chúng tôi.”

Trong tích tắc, anh đã định bảo cô đợi đã.

Quá muộn! Hai người phụ nữ đã nhanh chóng băng qua con đường phủ đầy tuyết, chạy theo lối đi rải sỏi. Họ lách vào giữa hai cây cảnh hình sư tử, Servaz cảm thấy máu mình đông lại, một cửa sổ ở tầng hai vừa mở ra. Anh thấy một nòng súng ló ra! Không chút do dự, anh ngắm bắn và bóp cò. Một tấm kính vỡ tan, nhưng không phải ở cửa sổ ấy! Cái bóng biến mất.

“Chuyện gì thế?” Ziegler nói qua bộ đàm.

Anh thấy cô trốn đằng sau một trong những con thú khổng lồ. Gần như không có gì che chắn. Chỉ cần một loạt đạn bắn qua bụi cây là tất cả sẽ chấm hết.

“Cẩn thận!” Anh hét lên. “Có ít nhất một kẻ mang vũ khí ở trong! Hắn đã định bắn cô!”

Ziegler ra hiệu cho Samira và họ cùng lao về phía mặt tiền. Rồi biến vào bên trong. Chúa ơi! Cả hai cô gái đều có nhiều testosterone[1] hơn cả anh và Espérandieu cộng lại!

“Đến lượt các anh,” Ziegler nhắc nhở.

Servaz càu nhàu. Họ nên quay trở ra theo cách họ đã đi vào. Để đợi tiếp viện. Tuy vậy, anh vẫn chạy về phía cửa vào của lâu đài, Espérandieu theo sau. Vài tiếng súng vang lên bên trong. Họ vội vàng nhảy từng ba bậc lên thềm, lao qua khung cửa mở rộng. Ziegler đang nhả đạn từ đằng sau một bức tượng ở cuối căn phòng. Samira bò trên mặt sàn.

“Chuyện gì xảy ra vậy?” Servaz hét.

“Họ bắn chúng tôi!”

Servaz nhìn loạt phòng khách tối tăm nối tiếp nhau. Ziegler cúi xuống xem xét. Samira bị thương ở chân, máu chảy ào ạt. Một vệt máu dài kéo qua sàn nhà cẩm thạch. Viên đạn đã xé toác đùi cô, nhưng không ảnh hưởng tới động mạch chính. Nằm trên sàn, Samira đặt bàn tay đang đeo găng của mình lên vết thương để cầm máu. Họ sẽ án binh bất động ở đây chờ cứu viện tới. Ziegler lôi bộ đàm ra gọi xe cứu thương.

“Kể từ giờ, chúng ta sẽ ở lại đây!” Servaz ra lệnh khi cô kết thúc cuộc gọi. “Chúng ta sẽ đợi tiếp viện.”

“Họ sẽ không đến kịp trong một tiếng nữa!”

“Không sao hết!”

Ziegler gật đầu.

“Để tôi băng bó cho cô,” cô nói với Samira. “Ta không thể nói trước được điều gì. Vũ khí phải luôn luôn sẵn sàng.”

Trong vài giây, với một cuộn băng gạc và một tập khăn giấy lấy ra từ túi áo, cô đã băng bó đủ chặt để cầm máu cho Samira. Servaz biết rằng khi máu ngừng chảy, người bị thương có thể tạm thời ở yên trong tình trạng ấy mà không cần quá lo ngại. Anh với lấy bộ đàm.

“Pujol, Simeoni, vào đây!”

“Có chuyện gì thế?” Pujol hỏi.

“Bọn chúng nã súng vào chúng tôi. Samira bị thương. Cần hỗ trợ. Chúng tôi đang ở tiền sảnh lâu đài. Đường vào đã hết trở ngại.”

“Rõ.”

Anh quay đầu lại và giật mình.

Vài cái đầu thú nhồi bông treo trên những bức tường tiền sảnh đang cúi xuống nhìn anh. Một con gấu. Một con sơn dương Pyrenees. Một con hươu đực. Một trong những cái đầu trông rất quen. Tự Do… Con ngựa đang chằm chằm nhìn anh với đôi mắt vàng kim.

Đột nhiên anh thấy Irène bật dậy và bắt đầu chạy vào sâu trong tòa nhà. Chết tiệt!

“Ở lại với Samira!” Anh hét về phía trợ lý của mình và lao theo Ziegler.

Diane cảm giác như thể mình đã ngủ nhiều giờ liền. Khi cô mở mắt, thứ đầu tiên cô nhìn thấy là con đường đang uốn lượn qua kính chắn, và ngàn vạn bông tuyết đang ào tới chào đón họ. Cô nghe thấy tiếng tách tách phát ra từ bảng điều khiển, hơi chệch về phía bên trái.

Cô ngoảnh sang và thấy hắn, không hề thắc mắc có phải mình đang mơ không. Vì cô biết mình hoàn toàn tỉnh táo.

Thấy cô đã tỉnh, Hirtmann chụp lấy khẩu súng giữa hai đùi, chĩa vào cô, tay kia vẫn giữ chặt vô lăng. Hắn không nói gì, không cần thiết.

Diane không thể không thắc mắc rằng hắn sẽ giết cô ở đâu, bao giờ. Và bằng cách nào. Liệu có giống như hàng tá những cô gái khác, chết mà chưa được tìm thấy xác, kết cục của cô có phải là mục ruỗng dưới đáy một cái hố trong rừng không? Ý nghĩ này làm cô tê liệt vì khiếp sợ. Cô giống như một con thú nhỏ bị sa bẫy. Cô không thể chịu đựng nổi, rồi cảm giác giận dữ và quyết tâm dần dần thay thế nỗi sợ hãi. Một quyết tâm lạnh lùng, băng giá như không khí ngoài kia. Nếu phải chết cô sẽ không chết với tư cách nạn nhân. Cô sẽ chiến đấu, và hắn phải trả một cái giá xứng đáng. Tên khốn ấy không biết điều gì đang chờ đợi mình. Cô phải đợi đến đúng thời điểm. Chắc chắn sẽ có một cơ hội, điều quan trọng là phải sẵn sàng.

Maud, em gái bé bỏng thương yêu của anh. Ngủ đi, em gái nhỏ. Ngủ đi. Em thật xinh đẹp khi em ngủ. Thật bình yên, thật rạng rỡ.

Anh đã làm em thất vọng, Maud. Anh muốn bảo vệ em, em đã tín nhiệm anh, em đã tin tưởng anh. Anh đã làm em thất vọng. Anh đã không thể bảo vệ em khỏi thế giới, em gái nhỏ, anh đã không thể ngăn thế gian này làm tổn thương em, vấy bẩn em.

“Chúng ta phải đi ngay, thưa cậu! Đi thôi!”

Éric Lombard quay lại, với một bình xăng trong tay. Otto một tay cầm súng, tay kia buông thõng, và tay áo ướt đẫm máu.

“Đợi đã,” y nói. “Cho tôi thêm chút thời gian, Otto. Em gái tôi… chúng đã làm gì em ấy? Chúng đã làm gì em ấy hả, Otto?”

Y quay trở lại quan tài. Y đang ở trong một căn phòng hình tròn rộng mênh mông, được chiếu sáng rực rỡ. Mọi thứ trong căn phòng đều trắng, tường, sàn, đồ đạc. Ở giữa vòng tròn là một cái bục hình vuông. Hai bên là hai bậc thang. Một cỗ quan tài lớn màu trắng ngà được đặt trên bục. Còn có hai chiếc bàn thấp với hoa tươi cắm trong bình. Những bông hoa màu trắng, bình và bàn màu trắng.

Éric Lombard tưới xăng lên quan tài. Cỗ quan tài đang mở. Bên trong, nằm giữa tấm đệm lót màu ngà voi, Maud Lombard dường như đang say ngủ trong bộ váy trắng. Cô nhắm mắt. Mỉm cười. Tinh khiết. Bất tử. Nhựa hóa[2]. Toàn bộ dịch thể của người chết được thay thế bằng Silicon, giống như tiêu bản được bảo quản hoàn hảo và đem trưng bày trong triến lãm thi thể. Éric Lombard chăm chú nhìn khuôn mặt trẻ trung thiên thần giờ đã bị tưới đây xăng.

“Bạo lực đã trỗi dậy thành côn trượng của độc ác, không còn sống sót một mạng nào. Không còn tiếng gầm tiếng thét. Chúng chẳng còn được nghỉ ngơi yên hàn nữa. Giờ đã điểm, ngày đã tận… cơn thịnh nộ sẽ giáng xuống tất cả. Ai cũng sống theo tội lỗi của mình, nên sẽ không thể đứng vững. 7: 11-14, Ezekiel, Kinh Thánh.”

“Cậu có nghe tôi nói không? Đến lúc phải đi rồi!”

“Xem em ấy ngủ kìa. Trông bình yên biết bao. Chưa bao giờ em ấy lại xinh đẹp như lúc này.”

“Cô ấy chết rồi, vì Chúa! Chết rồi! Hãy bình tĩnh lại đi!”

“Bố đã đọc Kinh Thánh cho chúng tôi nghe, mỗi buổi tối, Otto ạ. Ông có nhớ không? Kinh Cựu ước. Có phải không, Maud? Bố đã dạy anh em mình những bài học, bố bảo chúng ta phải tự tay thực thi công lý, đừng bao giờ để bất kì lời sỉ nhục hay tội ác nào không bị trừng phạt.”

“Tỉnh táo lại đi, thưa cậu! Chúng ta phải đi thôi!”

“Nhưng ông ta là một người đàn ông bất công và tàn nhẫn. Và khi Maud bắt đầu có bạn trai, ông ta đã đối xử với em như cách ông ta đối xử với mẹ chúng ta. Những ai đi trốn sẽ thoát nạn, chúng sẽ lên núi như chim bồ câu trong thung lũng, tất cả sẽ than khóc, từng kẻ một, cho tội lỗi của chúng. Tay sẽ rã rời, và gối sẽ mỏi. Kinh hãi rồi sẽ phủ lấp chúng. 7:16-18, Ezekiel, Kinh Thánh.”

Những tiếng súng vang lên trên đầu họ. Otto quay lại và đi về phía cầu thang, vung khẩu súng trên tay. Ông ta nhăn nhó vì vết thương trên cánh tay trúng đạn.

Gã đàn ông vòng qua góc tường. Diễn biến xảy ra trong chớp mắt. Viên đạn sượt qua sát tới mức Servaz nghe thấy một tiếng viu như ong vỗ cánh. Anh không kịp phản ứng. Ziegler đã nã súng và anh thấy gã đàn ông gục xuống như một bức tượng cẩm thạch. Súng của gã nảy trên sàn, phát ra một âm thanh khô khốc.

Ziegler đi tới chỗ gã, tay vẫn giữ chắc khẩu súng ở tư thế sẵn sàng. Cô cúi người về phía gã. Một vết đỏ lớn đang loang ra khắp vai người đàn ông. Gã vẫn sống nhưng bị choáng. Ziegler thông báo qua bộ đàm rồi đứng thẳng dậy.

Servaz, Pujol và Simeoni đi qua chỗ cô. Và đằng sau bức tượng, họ tìm thấy một cánh cửa mở vào một cầu thang dẫn xuống dưới.

“Đường này,” Pujol nói.

Một cầu thang xoắn màu trắng. Những bức tường cẩm thạch trắng uốn lượn. Những bậc thang cuộn xuống phần trung tâm bên dưới tòa nhà đồ sộ. Ziegler dẫn đầu, súng chĩa về phía trước. Đột nhiên một tiếng súng vang lên và cô lao trở lại để nấp.

“Chết tiệt! Có kẻ nổ súng dưới kia!”

Ziegler tháo một vật đang móc trên thắt lưng. Servaz lập tức nhận ra cô định làm gì.

Otto nhìn thấy một vật màu đen nảy lên như một quả bóng quần vợt và lăn về phía ông ta. Tích-tích-tích… Ông ta nhận ra nó quá muộn. Lựu đạn gây lóa mắt. Khi nó phát nổ, một ánh sáng chói lòa có cường độ vài triệu candela gây tê liệt thị lực. Kéo theo là một tiếng nổ đinh tai, cả căn phòng rung chuyển, làm Otto có cảm giác mọi thử xung quanh đều quay tròn. Ông ta lảo đảo.

Thời điểm Otto hồi phục, hai bóng người đã xuất hiện trong tầm mắt. Cảm thấy ai đó đá vào quai hàm mình, súng rơi khỏi tay, người bị lật ngược lại và chất thép lạnh lẽo của chiếc còng khóa chặt hai cổ tay. Đúng lúc ấy, ông ta nhìn thấy ngọn lửa. Lửa đã bắt đầu liếm nuốt nhà táng. Cậu chủ của ông ta đã biến mất. Otto không chống cự. Vào thập niên 1960, khi còn trẻ, Otto từng làm lính đánh thuê ở châu Phi dưới trướng Bob Denard và David Smiley. Ông ta đã quá quen với sự tàn bạo của những cuộc xung đột hậu thuộc địa, đã tra tấn và bị tra tấn. Sau đó ông ta về làm cho Henri Lombard, một người đàn ông cứng rắn không kém gì ông ta, rồi cuối cùng chọn phụng sự cho con trai của người đó. Không dễ gì khiến Otto ấn tượng.

“Cút mẹ chúng mày đi,” ông ta nói một câu đơn giản.

Sức nóng tỏa ra từ vụ cháy thiêu rát mặt họ. Ngọn lửa choán hết phần trung tâm căn phòng, hun đen cả trần nhà cao tít bên trên. Chẳng mấy chốc sẽ chẳng còn không khí để thở.

“Pujol và Simeoni,” Ziegler hét lên, chỉ vào cầu thang. “Đưa ông ta ra xe tải!”

Cô quay sang Servaz, anh nhìn chằm chằm vào cái bục đang cháy hừng hực. Ngọn lửa nuốt lấy cơ thể bên trong quan tài, nhưng họ vẫn kịp nhìn thấy mái tóc vàng xõa dài và khuôn mặt tươi trẻ.

“Lạy Chúa!” Ziegler thở dài.

“Tôi thấy mộ của cô ấy ở nghĩa trang,” Servaz nói.

“Tôi đoán là nó trống không. Họ bảo quản cô ấy lâu như thế bằng cách nào? Cô ấy được ướp xác ư?”

“Không, như thế chưa đủ. Lombard có tiềm lực. Và cả các kĩ thuật hiện đại.”

Servaz nhìn vào khuôn mặt trẻ đẹp như thiên thần trước khi xác thịt, xương và Silicon dần dần cháy thành than. Một khung cảnh hư ảo.

“Lombard đâu rồi?” Ziegler hỏi.

Đột nhiên sực tỉnh khỏi trạng thái thất thần khi ngắm nhìn cảnh tượng cỗ quan tài rực cháy, anh hất cằm về phía một cánh cửa nhỏ đang mở ở phía bên kia. Họ đi vòng qua căn phòng, ôm sát lấy bức tường hình vòng cung để tránh khỏi sức nóng của ngọn lửa, rồi đi qua cánh cửa.

Một cầu thang khác dẫn lên trên. Hẹp hơn rất nhiều và không được bảo quản tốt như đoạn cầu thang hồi nãy. Màu xám, bằng đá ướt đẫm, và ố bẩn với những vệt sọc đen sì.

Họ đã ở bên ngoài, phía sau tòa lâu đài.

Gió. Tuyết. Bão. Bóng tối.

Ziegler dừng lại và nghe ngóng. Mọi thứ đều im lặng, ngoại trừ cơn gió. Vầng trăng tròn đến và đi đằng sau những đám mây. Servaz quét mắt qua những cái bóng đang chuyển động trong khu rừng.

“Ở kia,” cô nói.

Ba vệt dài của xe máy trượt tuyết hiện lên mờ mờ dưới ánh trăng. Chúng đi theo một lối nhỏ xuyên qua những hàng cây. Ở xa hơn, bầu trời đầy những gợn mây tối sầm lại và lối nhỏ ấy mất hút trong bóng đêm.

“Quá muộn. Y đã trốn mất.” Servaz nói.

“Tôi biết lối đó dẫn đi đâu, đầu tiên là tới một trường đua cách đây 2 kilomet, chạy lên núi, vắt qua một con đèo và trở xuống một thung lũng khác. Ở đó có một con đường đi đến biên giới Tây Ban Nha.”

“Chắc Pujol và Simeoni sẽ tới nhanh thôi.”

“Họ sẽ phải đi đường vòng dài 15 kilomet. Lombard sẽ tới trước bọn họ. Chắc chắn đã có xe đợi sẵn y ở phía bên kia.”

Ziegler đi qua một căn nhà nhỏ ở bìa rừng. Dấu vết của xe trượt tuyết bắt đầu từ đây. Cô mở cửa và bật công tắc. Bên trong lều là hai chiếc xe máy trượt tuyết khác, và một tấm bảng trên tường treo la liệt chìa khóa, ván trượt, ủng, mũ bảo hiểm và những bộ đồ liền thân màu đen có sọc vàng phản quang.

“Lạy Chúa!” Ziegler thốt lên. “Tôi thật muốn biết làm cách nào mà y được cấp phép!”

“Ý cô là gì?”

“Việc sử dụng những thứ này bị quản lý rất ngặt nghèo,” cô nói, lấy một bộ đồ liền thân khỏi móc.

Servaz nuốt nước bọt khi nhìn Irène mặc nó vào, “Cô đang làm gì vậy?”

“Mặc vào!”

Cô chỉ vào một bộ đồ liền thân và một đôi ủng. Servaz lưỡng lự. Chắc hẳn phải có cách nào khác… Ví dụ ngăn đường. Nhưng toàn bộ người của bọn họ đều đã được điều động đến Viện. Và Lombard hẳn đã có kế hoạch chạy trốn sang bên kia. Irène lục lọi trong đống chìa khóa và khởi động một trong những chiếc xe thon dài, trượt nó ra bên ngoài. Cô bật đèn pha, bước vào trong lấy hai chiếc mũ bảo hiểm cùng hai đôi găng tay. Servaz đang xoay xở với bộ đồ liền thân, nó quá rộng, và áo chống đạn của anh rất vướng víu.

“Anh đội cái này vào rồi trèo lên,” cô nói trên nền âm thanh động cơ bốn thì.

Servaz đội chiếc mũ bảo hiểm màu trắng pha đỏ và ngay lập tức cảm thấy ngộp thở. Anh trùm mũ của bộ đồ qua chiếc mũ bảo hiểm và đi ra ngoài. Đôi ủng làm anh đi lại như một nhà du hành vũ trụ, hoặc một con chim cánh cụt.

Bên ngoài, cơn bão tuyết đã hơi dịu đi. Gió lặng và những bông tuyết thưa dần dưới luồng sáng chiếu rọi từ đèn pha của chiếc xe máy trượt tuyết. Anh nhấn nút trên bộ đàm.

“Vincent? Samira thế nào rồi?”

“Cô ấy không sao. Nhưng gã còn lại thì đang rất tệ. Xe cứu thương sẽ tới đây trong vòng năm phút nữa. Còn anh?”

“Không có thời gian giải thích! Cứ ở lại với cô ấy.”

Servaz ngắt liên lạc, hạ kính che mặt trên mũ bảo hiểm xuống và vụng về giạng chân qua chỗ ngồi tôn cao đằng sau Ziegler. Anh dựa mình vào phần tựa lưng đằng sau. Cô lập tức lên đường. Trong luồng sáng đơn độc, những bông tuyết lao vào họ như mưa sao băng. Những thân cây trắng xóa ở một bên, lao qua họ với tốc độ rất nhanh. Chiếc xe dễ dàng trượt qua vệt tuyết đã bị nén xuống từ trước, nổ rầm rầm như một chiếc xe phân khối lớn. Những áng mây lại tách ra và qua lớp kính bảo hộ, anh nhìn thấy những ngọn núi ở ngay bên trên.

“Tôi biết cô đang nghĩ gì, Diane.”

Giọng nói trầm thấp, khàn khàn của hắn làm cô giật mình. Cô vừa suy nghĩ thất thần.

“Cô đang tự hỏi tôi sẽ giết cô như thế nào. Và cô đang tuyệt vọng tìm cách thoát thân. Cô đang đợi tôi phạm sai lầm. Rất tiếc phải báo cho cô biết là tôi sẽ không mắc sai lầm nào hết. Và do đó, phải, đêm nay cô sẽ chết.”

Khi nghe những lời hắn nói, một cơn ớn lạnh lan khắp người Diane, lan tỏa từ trên đầu xuống bụng và tới chân. Trong giây lát, cô nghĩ mình sắp ngất xỉu. Cô nuốt khan, nhưng cảm thấy họng tắc lại.

“Hoặc có thể tôi sẽ không làm thế. Có lẽ cuối cùng tôi sẽ để cô sống. Tôi không thích bị thao túng. Élisabeth Ferney sẽ phải hối hận vì đã lợi dụng tôi. Lúc nào ả cũng thích là người quyết định cuối cùng, thế nên có lẽ lần này ả sẽ thất vọng. Giết cô sẽ tước đi cái khoái cảm chiến thắng nhỏ bé của tôi. Đây có thể là cơ hội của cô đấy, Diane ạ. Thật lòng mà nói, tôi vẫn chưa quyết định đâu.”

Hắn nói dối… Hắn đã quyết định rồi. Toàn bộ kinh nghiệm về tâm lý học của cô đang gào lên như vậy. Đây chỉ là một trong những trò chơi biến thái nho nhỏ của hắn, một trong những mánh lới của hắn. Đầu tiên là cho nạn nhân một tia hy vọng, rồi đoạt đi tất cả. Hắn làm thế để hủy hoại cô. Phải, chính thế! Một thú vui biến thái khác của hắn. Hy vọng đến cuồng điên và rồi, phút cuối, tuyệt vọng đến cùng cực.

Đột nhiên Hirtmann nín lặng, chú ý lắng nghe tin tức phát ra từ radio. Diane cũng làm theo, nhưng tâm trí cô chỉ là một mớ rối rắm, hỗn loạn, nên chẳng thể tập trung được vào tiếng phát thanh rè rè.

“Có vẻ như các bạn sen đầm của cô đang bận ngập đầu ở trên kia,” hắn nói. “Bọn chúng hơi bị quá tải.”

Diane nhìn phong cảnh vụt qua cửa sổ. Con đường hẹp màu trắng, nhưng hắn lái rất nhanh. Chiếc xe chắc hẳn đã được bọc lốp để đi trên tuyết. Không có gì quấy nhiễu sắc trắng tinh khiết ngoài những thân cây đen đúa và vài tảng đá xám trồi lên đó đây. Ở đằng xa, những ngọn núi cao ngất đứng sừng sững trên nền trời đêm trước mặt. Diane thấy một khoảng trống giữa những đỉnh núi. Có lẽ con đường sẽ băng qua đó.

Diane nhìn tên đàn ông sắp sửa giết mình. Một ý nghĩ nháng qua tâm trí cô, sắc bén như nhũ băng dưới trăng. Hắn đã sai khi nói rằng sẽ không mắc sai lầm. Hắn chỉ muốn làm cô tin. Hắn muốn cô từ bỏ mọi hy vọng và giao phó bản thân cho hắn, với hy vọng hắn sẽ để cô sống.

Hắn đã nhầm. Cô không định làm như thế.

Họ đi ra khỏi khu rừng, tăng tốc qua hai cồn tuyết đóng băng. Servaz trông thấy lối vào trường đua, một cánh cửa khổng lồ. Anh nhớ lại công trình kiến trúc đồ sộ từng nhìn thấy vào lần đầu tiên tới thung lũng này. Mọi thứ ở đây đều mang tầm vóc quá khổ, từ phong cảnh đến xúc cảm, tội ác. Cơn bão tuyết bỗng nhiên mạnh trở lại, tuyết cuộn thành từng đám xung quanh họ. Ziegler bám vào tay lái, gập người trước cơn gió đằng sau lớp kính chắn mỏng manh bằng thủy tinh hữu cơ. Servaz thu mình lại để tận dụng triệt để sự che chắn khiêm nhường mà người đồng đội có thể cho anh. Đôi găng tay và bộ đồ liền thân không đủ để giữ ấm. Cơn gió xuyên qua quần áo anh, chỉ có áo chống đạn là giữ lại được chút hơi ấm. Thỉnh thoảng chiếc xe trượt tuyết lại nảy lên, nghiêng sang phải hoặc sang trái. Không chỉ một lần anh đã nghĩ họ sắp sửa lật úp.

Không lâu sau, bất chấp những đợt gió mạnh, anh thấy họ đang đến gần một vũ đài đồ sộ với những bậc thang sụt lở và bám đầy băng tuyết. Phía xa, vài thác nước đã đóng băng, trông chẳng khác nào những cây nến trắng cao ngất đang chảy sáp xuống mặt đá. Khi vầng trăng tròn hiện ra từ phía sau màn mây và thắp sáng xung quanh, vẻ đẹp của khung cảnh ấy khiến anh ngạt thở. Thời gian như ngừng lại nơi đây.

“Tôi thấy y rồi!” Anh hét lên.

Chiếc xe trượt tuyết thuôn dài đang leo lên con dốc phía bên kia trường đua. Servaz nghĩ anh có thể nhìn ra đường nét mơ hồ của đường mòn hướng về phía một lỗ hổng lớn trên bức tường đá. Chiếc xe đã lên được nửa đường. Đột nhiên những đám mây rẽ ra và mặt trăng một lần nữa xuất hiện, như thể đang treo lơ lửng giữa một lòng hồ tối tăm đảo ngược lên trời. Ánh trăng tràn ngập trường đua, đẽo tạc từng chi tiết trên đá và băng. Servaz nhìn lên. Bóng Lombard như thể vừa tan biến vào vách đá, rồi lại đột ngột hiện ra dưới ánh trăng ở phía bên kia. Anh vươn người về trước và giữ thật chắc khi chiếc xe của họ bám trên con dốc.

Qua bên kia lỗ hổng, họ lại đi giữa những hàng lãnh sam. Lombard đã biến mất. Đường mòn tiếp tục hướng lên, uốn lượn qua cánh rừng. Gió đang thổi mạnh, tạo thành một màn trướng màu xám và trắng. Luồng sáng từ đèn pha dội lại phía họ. Servaz cảm thấy như thể một vị thần phẫn nộ đang phun hơi thở băng giá vào mặt họ. Trong bộ đồ liền thân, anh run lẩy bẩy vì lạnh, nhưng đồng thời cũng cảm thấy một dòng mồ hôi chảy giữa hai xương bả vai.

“Lombard đâu rồi?” Ziegler hét lên. “Mẹ kiếp! Tên khốn đi đâu mất rồi?”

Anh có thể cảm nhận được sự căng thẳng của cô. Ziegler đang phải gồng mình lên để điều khiển chiếc xe trượt tuyết. Và cả sự giận dữ nữa. Lombard đã lợi dụng họ, đã suýt tống được cô vào tù thay cho y. Trong giây lát, Servaz tự hỏi liệu Irène có hoàn toàn tỉnh táo không, liệu cô có dẫn cả hai người bọn họ vào một cái bẫy chết người hay không?

Rừng cây thưa thớt dần. Họ đi qua một con đèo nhỏ và bắt đầu lướt xuống một con dốc khác. Cơn bão bỗng dưng ngớt đi và những ngọn núi hiện ra khắp xung quanh như một đội quân người khổng lồ đang chờ đợi cuộc chiến lúc nửa đêm. Đột nhiên, họ nhìn thấy Lombard ở phía dưới, cách đó 100 mét. Y đã rời khỏi đường mòn, bỏ lại chiếc xe trượt tuyết, đang gập người chúi mặt đi.

“Y có ván trượt tuyết!” Ziegler hét lên. “Tên khốn! Y sắp tẩu thoát mất rồi!”

Lombard đang đứng trên đỉnh một triền dốc đứng, rải rác những tảng đá cuội rất lớn. Servaz nhớ lại những bài báo mình đã đọc về thành tích thể thao của y. Anh tự hỏi liệu chiếc xe trượt tuyết của họ có thể bám theo Lombard qua địa hình này không. Nhưng anh lập tức hiểu ra nếu được thì Lombard đã không bỏ lại xe trượt tuyết. Ziegler đang lao xuống dốc với một tốc độ nguy hiểm. Cô đột ngột tắt máy, và trong khoảnh khắc, Servaz tưởng họ đang bay lên. Anh nhìn thấy Lombard quay ngoắt lại và giơ tay về phía họ.

“Cẩn thận! Y có súng!”

Anh không thể mô tả chính xác Ziegler đã làm gì, nhưng chiếc xe trượt tuyết thình lình quay chín mươi độ và Servaz lộn nhào xuống tuyết. Một tia sáng lóe lên trước mặt họ, tiếng nổ lớn theo sau tức thì. Âm thanh dội vào dãy núi, bật trở về và khuếch đại thành những tiếng vang. Tiếng nổ thứ hai. Rồi thứ ba. Những phát súng và tiếng dội lại của chúng tạo thành một đợt sấm sét inh tai. Thứ tư… Không có tiếng thứ tư nữa. Servaz nằm im trong lớp tuyết trắng như bột phấn, kiên nhẫn chờ đợi. Tim anh đập thình thịch. Ziegler đang nằm cạnh anh. Cô đã rút súng ra, nhưng không hiểu sao cô quyết định không dùng đến nó. Tiếng vang cuối cùng còn chưa dứt hẳn, một âm thanh khác đã nổi lên. Một tiếng nứt vỡ khủng khiếp.

Có gì đó bất thường. Nhưng Servaz không biết là gì.

Vẫn đang nằm trên tuyết, anh cảm nhận một cơn rung chuyển bên dưới bụng. Trong khoảnh khắc, anh nghĩ mình sắp ngất. Anh chưa từng nghe hay cảm thấy thứ gì như thế.

Theo sau tiếng nứt là một tiếng trầm hơn, sâu hơn, rộng hơn, và âm hơn. Và vẫn bất thường như thế.

Đột nhiên, anh hiểu ra.

Anh nhìn theo ánh mắt khiếp sợ của Ziegler dõi về đỉnh núi ở phía bên phải họ. Cô chụp lấy tay anh và kéo anh đứng dậy.

“Nhanh lên! Chúng ta phải chạy đi! Nhanh!!!”

Cô dẫn anh về phía đường mòn. Chân họ ngập trong tuyết tới tận đầu gối. Servaz chạy theo, nặng nề và lúng túng trong bộ đồ liền thân và ủng. Anh bỗng dừng lại và quay nhìn về phía Lombard qua kính che mặt của chiếc mũ bảo hiểm. Y đã ngừng bắn và đang vật lộn với quai buộc trên ván trượt. Servaz thấy y lo lắng liếc về phía đỉnh dốc. Anh cũng nhìn theo và cảm thấy như bị một cú đấm thụi trúng bụng. Trên ấy, dưới ánh trăng, trận tuyết lở như một người khổng lồ say ngủ đột nhiên thức giấc và lao xuống phía họ. Sợ hãi cuống cuồng, Servaz đâm đầu về phía trước, nhảy lên và vung tay để chạy nhanh hơn. Nhưng anh vẫn không rời mắt khỏi dòng chảy của tuyết.

Khối tuyết khổng lồ đổ xuống thành dòng thác, tuôn ầm ầm qua những cây lãnh sam trên núi. Thế là hết, anh nghĩ. Thế là hết! Anh cố chạy thật nhanh. Anh thôi không nhìn những gì đang xảy ra trên ấy nữa. Tuyết ập lên đầu họ vài giây sau. Anh bị nhấc khỏi mặt đất và quẳng ra xa như một nắm rơm. Anh bật ra một tiếng kêu yếu ớt, tưởng như sắp ngạt thở vì tuyết. Cảm giác như đang lộn nhào trong một cái thùng máy giặt. Anh há miệng, ho ra tuyết, nấc lên, và cố vùng vẫy. Anh đang nghẹt thở. Đang chết chìm. Anh bắt gặp ánh mắt của Ziegler, đầu gục xuống tuyết. Cô đang nhìn ra phía sau anh với sự kinh hoàng tột độ trên gương mặt. Rồi cô biến khỏi tầm nhìn của anh. Anh bị nhấc lên, bị lắc mạnh, và bị lật ngửa ra.

Anh không nghe thấy gì cả.

Tai ù đặc.

Anh cố hớp lấy không khí.

Anh sắp chết vì ngạt thở, vì bị chôn sống.

Thế là hết.

Diane nhìn thấy vụ lở tuyết trước hắn.

“Coi chừng!” Cô gào lên, khiến Hirtmann hoảng sợ và đồng thời cũng cảnh báo cho hắn nguy hiểm trước mắt.

Hirtmann quay sang cô và Diane thấy mắt hắn trợn to với vẻ sững sờ. Con sóng đồ sộ của tuyết, mảnh vụn và đá chuẩn bị ập lèn con đường và chôn vùi họ, hắn đột ngột bẻ tay lái và chiếc xe loạng choạng mất kiểm soát. Đầu Diane đập vào cửa sổ, cô cảm thấy đuôi xe trượt sang một bên. Cùng khoảnh khắc, tuyết lở đánh thẳng vào đầu xe.

Trời đất đảo nghịch. Diane thấy con đường xoay tròn như một đu quay ở công viên. Người cô bị ném sang một bên, đầu cô đập vào kính và thanh kim loại trên cửa xe. Một đám sương trắng bao phủ lên họ cùng một tiếng gầm đáng sợ. Chiếc xe lăn vài vòng xuống triền dốc, những bụi cây chẳng thể cản lại nổi. Diane như ngất đi, nên toàn bộ chuỗi biến cố với cô chỉ là một loạt hình ảnh chớp nhoáng mơ hồ và những hố đen cứ vụt hiện lên rồi biến mất. Cuối cùng chiếc xe cũng dừng lại với một tiếng rền rỉ ghê rợn của kim loại, Diane đau điếng người nhưng vẫn còn tỉnh. Kính chắn gió đã vỡ tan, nắp ca pô của chiếc xe bị một ụ tuyết lấp mất. Từ bảng điều khiển, tuyết và đá cuội nhỏ đang chảy thành dòng xuống chân cô. Cô nhìn Hirtmann. Không đeo dây an toàn, hắn đã lịm đi. Mặt hắn đầy máu. Súng của hắn… Diane cố tháo dây an toàn và khó khăn lắm mới gỡ ra được. Cô rướn người qua tìm khấu súng. Cuối cùng, cô thấy nó ở dưới chân tên sát nhân, gần như kẹt bên dưới bàn đạp. Phải cúi xuống sâu hơn nữa. Cô rùng mình, cố luồn cánh tay vào giữa hai chân Hirtmann để với lấy khẩu súng. Cô nhìn nó hồi lâu, tự hỏi chốt an toàn có mở không. Có một cách rất dễ để biết… Cô nhắm khẩu súng vào Hirtmann, ngón tay đặt trên cò súng. Nhưng cô lập tức nhận ra mình không phải một kẻ giết người. Bất kể con quái vật này đã từng làm gì, cô cũng không có khả năng bóp cò. Cô hạ súng xuống.

Bấy giờ cô mới ý thức được một thứ. Sự im lặng. Ngoài cơn gió thổi qua những cành cây trụi lá, không còn gì chuyển động.

Cô tìm một phản ứng trên khuôn mặt của tên sát nhân, một dấu hiệu cho thấy hắn sắp tỉnh lại, nhưng hắn chỉ trơ ra. Có lẽ hắn đã chết. Cô không muốn chạm vào hắn để tìm hiểu. Nỗi sợ hãi của cô vẫn còn, và sẽ mãi tồn tại chừng nào cô còn bị nhốt trong cái hộp kim loại này với hắn. Cô moi móc các túi trên người, tìm điện thoại và phát hiện ra nó đã bị lấy mất. Có thể Hirtmann giữ nó trong người, nhưng cô không đủ can đảm lục túi của hắn.

Tay vẫn cầm khẩu súng, Diane gắng sức trèo qua bảng điều khiển. Cô trườn qua kính chắn gió vỡ nát và ra tới nắp ca pô phủ tuyết. Cô thậm chí không cảm thấy lạnh. Luồng adrenaline đang giữ ấm cho cô. Cô trượt ra khỏi xe và lập tức lún sâu vào lớp tuyết xung quanh. Rất khó để di chuyển. Vượt qua nỗi hoảng sợ ban đầu, cô bắt đầu trèo dần về phía con đường. Khẩu súng trong tay khiến cô vững dạ. Cô nhìn chiếc xe một lần cuối. Hirtmann vẫn không động đậy. Có lẽ hắn đã chết.

Có veeeẻ như anh ấyyyy đaaang tỉnh lạiiii.

Anh có ngheeeeee thấy chúng tôi không?

Tiếng nói. Rất xa xôi. Họ đang gọi anh. Và rồi đau đớn. Rất đau đớn. Kiệt sức, khao khát được nghỉ ngơi, được uống thuốc… Một thoáng tỉnh táo khi anh nhìn thấy những khuôn mặt và bóng đèn, rồi lại là tuyết lở, núi, lạnh lẽo, và cuối cùng, bóng tối.

Maaartin, aaanh cooó ngheee thấyyy eeem nóiii khônggg?

Anh từ từ mở mắt, ban đầu bị chói lòa vì những quầng sáng trên trần nhà. Một dáng người xuất hiện trước mắt anh và cúi người qua. Servaz cố tập trung vào khuôn mặt đang dịu dàng nói chuyện với anh, nhưng quầng sáng phía trên cô chói lóa như một vầng hào quang, khiến mắt anh đau đớn. Khuôn mặt ghé lại và nhòe đi. Thế nhưng với anh, có vẻ là một khuôn mặt rất xinh đẹp.

Bàn tay người phụ nữ cầm lấy tay anh.

Martin, anh có nghe thấy em nói không?

Anh gật đầu. Charlène mỉm cười với anh. Cô cúi xuống và hôn lên má anh. Rất dễ chịu. Mùi nước hoa thoang thoảng. Cửa phòng mở ra và Espérandieu đi vào.

“Anh ấy tỉnh chưa?”

“Có vẻ tỉnh rồi. Anh ấy vẫn chưa nói gì cả.”

Cô quay sang và nháy mắt với anh vẻ láu cá, Servaz bổng nhiên cảm thấy tỉnh như sáo. Espérandieu băng qua căn phòng, cầm theo hai chiếc cốc lớn bốc hơi nghi ngút. Cậu đưa một cốc cho vợ. Servaz cố quay đầu, nhưng lập tức cảm thấy bị ngăn lại. Một cái nẹp cổ.

“Đúng là thảm họa, mẹ kiếp!” Espérandieu nói.

Servaz cố ngồi dậy, nhưng anh co rúm vì đau đớn và quyết định từ bỏ nỗ lực. Espérandieu nhận thấy điều đó.

“Bác sĩ nói anh không nên cử động. Anh bị gãy ba cái xương sườn, vài tổn thương nhỏ gần cổ và đầu, còn suýt chết cóng nữa. Và, ừm, họ phải cắt đi ba ngón chân.”

“Gì?”

“Đùa thôi.”

“Còn Irène?”

“Cô ấy sống sót. Đang ở phòng bên cạnh. Cô ấy bị thương nặng hơn anh một chút nhưng rồi sẽ ổn. Gãy xương vài chỗ, chỉ thế thôi.”

Servaz cảm thấy như trút bỏ được một gánh nặng. Anh mau chóng nghĩ tới một việc cấp bách khác.

“Lombard?”

“Vẫn chưa tìm thấy thi thể y, thời tiết trên ấy không cho phép tiến hành tìm kiếm. Phải đợi ngày mai. Chắc Lombard đã chết trong trận tuyết lở. Hai người may mắn đấy, nó chỉ sượt qua hai người thôi.”

Servaz co rúm lại lần nữa. Anh muốn biết Espérandieu sẽ ra sao nếu cũng bị sượt qua như thế.

“Khát,” anh nói.

Espérandieu gật đầu và đi ra. Cậu quay lại cùng y tá và bác sĩ. Hai vợ chồng rời khỏi phòng, bác sĩ hỏi han và kiểm tra Servaz một cách kĩ lưỡng. Y tá đưa cho anh một chiếc cốc và ống hút. Nước. Cổ họng anh khô khốc. Anh uống hết sạch và xin thêm. Cửa lại mở ra và Margot xuất hiện. Qua biểu cảm của con bé, anh biết trông mình rất kinh khủng.

“Bố đi đóng phim kinh dị được đấy! Trông bố khủng khiếp lắm!” Con bé cười lớn.

“Em mạn phép đưa cô bé tới,” Espérandieu nói, tay đặt trên nắm cửa. “Hai bố con ở lại nói chuyện nhé.”

Cậu đóng cửa.

“Một trận tuyết lở,” Margot không dám nhìn anh quá lâu. “Ừm, vô cùng đáng sợ.” Con bé ngượng ngập cười với anh, nụ cười tan biến. “Bố có nhận ra là có thể bố sẽ chết không? Mẹ kiếp, bố đừng bao giờ làm như thế nữa, chết tiệt!”

Thứ ngôn ngữ gì thế? Anh thắc mắc một lần nữa, rồi nhận ra con bé đang rơm rớm nước mắt. Chắc là nó đã ghé qua trước khi anh tỉnh lại, và rất buồn lo vì tình trạng của anh. Đột nhiên anh cảm thấy bồn chồn. Anh chỉ vào cạnh giường.

“Ngồi xuống đây,” anh nói.

Anh cầm lấy tay con bé. Lần này, con bé không phản đối. Một khoảng lặng dài, anh đang định mở lời thì một tiếng gõ cửa vang lên. Anh đưa mắt nhìn, thì thấy một phụ nữ trẻ khoảng 30 tuổi đi vào phòng. Anh chắc chắn mình chưa gặp cô ta bao giờ. Cô có vài vết thương trên mặt, ở má phải và lông mày, một vết rách dài trên trán, và đôi mắt cô đỏ ngầu với quầng thâm bên dưới. Phải chăng cô ta cũng gặp trận tuyết lở?

“Sĩ quan chỉ huy Servaz?”

Anh gật đầu.

“Tên tôi là Diane Berg, bác sĩ tâm lý của Viện Wargnier. Chúng ta đã nói chuyện qua điện thoại.”

“Chuyện gì xảy ra với cô vậy?”

“Tôi gặp tai nạn ô tô,” cô mỉm cười, cứ như đang nói gì vui vẻ. “Tôi có thể hỏi anh câu tương tự, nhưng tôi đã biết câu trả lời rồi.” Cô liếc qua Margot. “Tôi nói chuyện với anh một lát được không?”

Servaz nhìn Margot. Con bé nhăn mặt, nhìn từ đầu xuống chân người phụ nữ trẻ, rồi đứng lên và đi ra ngoài. Diane đi tới bên giường. Servaz chỉ vào chiếc ghế trống.

“Anh biết Hirtmann mất tích chưa?” Cô hỏi khi ngồi xuống.

Servaz chằm chằm nhìn cô một lúc. Anh lắc đầu, dù cổ đang bị nẹp chặt. Hirtmann tự do… Mặt anh đột nhiên tối sầm lại. Xét đến cùng, đêm ấy anh và đồng đội đã không thu hoạch được gì nhiều. Lombard có thể là kẻ sát nhân, nhưng y chỉ nguy hiểm với một nhóm những cá nhân độc ác. Động cơ của Hirtmann lại khác. Cơn thịnh nộ vô phương kiểm soát, thiêu đốt như một ngọn lửa đen sẽ cháy mãi trong trái tim hắn, vĩnh viễn tách biệt hắn với những người khác. Tàn nhẫn, khát máu và không mảy may hối lỗi. Servaz cảm thấy râm ran suốt dọc sống lưng. Chuyện gì sẽ xảy ra khi tên sát nhân người Thụy Sĩ lại được tự do lang thang khắp nơi? Ngoài ra, khi không có dược phẩm điều trị, hành vi thái nhân cách, những thôi thúc và bản năng săn mồi của hắn sẽ sống lại. Ý nghĩ khiến anh đông cứng. Những tên thái nhân cách nghiêm trọng như Hirtmann không có dù chỉ một chút nhân tính. Cơn khoái lạc mà chúng đã trải nghiệm khi tra tấn, hãm hiếp và giết người là quá lớn. Nếu có cơ hội, Hirtmann sẽ lại tiếp tục hành động.

“Chuyện gì đã xảy ra?” Anh hỏi.

Diane bèn kể với anh mọi chuyện kể từ khi bị Lisa Ferney bắt quả tang trong văn phòng cô ta cho tới lúc cô bắt đầu đi dọc con đường giá buốt, để lại Hirtmann bất động trong xe. Cô đã phải cuốc bộ gần hai tiếng đồng hồ mới gặp được một người còn sống khác. Và khi đến được ngôi nhà đầu tiên ở lối vào làng, cô gần như đóng băng và bị giảm thân nhiệt. Khi sen đầm tới hiện trường vụ tai nạn, chiếc xe trống không, có dấu chân và máu rớt trên đường, không còn gì khác.

“Ai đó đã cho hắn đi nhờ xe,” Servaz nói.

“Phải.”

“Chỉ là một chiếc xe đi ngang qua, hoặc… một kẻ đồng lõa.”

Anh quay đầu nhìn ra cửa sổ. Trời bên ngoài tối đen như mực.

“Từ khi nào cô phát hiện ra Lisa Ferney là đồng phạm của Lombard?” Anh hỏi.

“Chuyện rất dài, anh có muốn nghe kể luôn bây giờ không?”

Anh mỉm cười nhìn cô. Anh cảm giác mặc dù là một bác sĩ tâm lý, nhưng cô mới là người cần được giãi bày. Cô cần được giải tỏa. Ngay lúc này… Hiện tại là thời điểm tốt, cho cả hai người họ. Anh nhận ra cô cũng đang có cùng cảm giác mơ hồ giống như mình, một cảm giác không chỉ sinh ra từ cái đêm lạ lùng đầy sợ hãi và tàn bạo ấy, mà còn từ những ngày trước đó. Lúc này, dù chỉ có hai người với nhau trong sự im lặng của căn phòng bệnh viện cùng đêm đen ngoài cửa sổ, dù chỉ là những người xa lạ, họ đã trở nên rất gần gũi.

“Tôi có cả đêm,” anh nói.

Cô mỉm cười.

“Được,” cô bắt đầu. “Tôi đến Viện vào cái ngày họ tìm thấy con ngựa chết trên núi. Tôi còn nhớ rất rõ. Hôm ấy trời đổ tuyết, và…”

❀ ❀ ❀

[1] : Hoóc môn nội tiết tố nam.

[2] : Phương pháp ướp xác do nhà giải phẫu người Đức Gunther von Hagens phát triển từ năm 1977.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.