Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 26

❊ ❊ ❊

26

Anh ngồi dậy. Chiếc giường gấp kêu kẽo kẹt. Anh hất chăn ra và đặt bàn chân trần xuống sàn nhà lát gạch lạnh lẽo. Một căn phòng bé xíu, không có đồ đạc. Servaz ngáp dài và bật đèn sàn. Anh nhớ lại giấc mơ về Charlène Espérandieu. Họ trần truồng, làm tình trên hành lang một bệnh viện, trong khi các bác sĩ và y tá đi qua đi lại, nhưng không ai để ý. Trên sàn bệnh viện? Anh nhìn xuống phần cương cứng vào buổi sáng của mình và phá lên cười vì sự lạ lùng của tình huống này. Anh nhặt đồng hồ đeo tay nhét dưới nệm lên, 6 giờ sáng. Anh đứng lên, vươn vai và với lấy quần áo sạch đặt sẵn trên ghế. Chiếc áo quá lớn nhưng quần thì vừa đúng chiều dài. Anh cầm đồ lót, khăn tắm và sữa tắm đã được sắp sẵn. Servaz chuẩn bị chỉnh tề rồi mới ra ngoài, dù khó mà bắt gặp ai vào lúc sáng sớm thế này. Anh tiến về nhà tắm ở cuối hành lang. Ziegler đã bị đặt dưới sự giám sát liên tục, và anh muốn ngủ ở trụ sở sen đầm để có thể theo sát việc này.

Khu nhà tắm hoàn toàn vắng vẻ. Có một chỗ gió lùa hiểm hóc, cướp đi những nỗ lực nhỏ bé của một chiếc máy sưởi. Servaz biết sen đầm ngủ ở khu nhà khác, họ được phân chỗ ở cố định nên tòa nhà này không được sử dụng thường xuyên lắm. Nhưng anh vẫn không khỏi chửi thề khi bật vòi nước nóng và chỉ thấy một tia nước âm ấm hạ cố nhỏ xuống từ vòi tắm.

Mỗi cử động trong lúc xoa xà phòng lên người đều khiến anh co rúm lại vì đau đớn. Anh bắt đầu suy nghĩ, gần như đã chắc chắn về việc Irène Ziegler có tội, nhưng vẫn còn có một số điểm lẩn khuất, một số cánh cửa mở ra những hành lang dài dẫn tới sự thật. Ziegler đã bị bốn tên kia cưỡng hiếp, cùng với những cô gái khác trong vùng.

Mấy cuốn sách anh nhìn thấy trong căn hộ của cô là bằng chứng cho thấy chấn thương tâm lý vẫn còn rỉ máu. Grimm và Perrault bị giết vì những vụ cưỡng hiếp mà họ gây ra, nhưng tại sao lại là treo cổ? Bởi đây là cách các nạn nhân đã tự sát? Hay có lý do nào khác? Một chi tiết khiến anh ám ảnh, Chaperon bỏ lại căn nhà và tháo chạy như thể cái chết đã cận kề. Phải chăng ông ta biết sát thủ là ai? Servaz cố trấn an bản thân, Ziegler đang bị theo dõi, họ biết nơi Chaperon đang lẩn trốn, họ nắm mọi quân cờ trong tay.

Có thể do gió lùa, nước đang lạnh dần từng giây, hoặc tâm trí bị ám ảnh vì chiếc túi nhựa mà anh cứ run lẩy bẩy. Tất cả những gì anh cảm nhận được trong phòng tắm vắng vẻ là nỗi sợ hãi.

Khi những người khác lần lượt kéo đến, Servaz đã ngồi bên một chiếc bàn trong phòng điều tra với cốc cà phê trong tay. Maillard, Confiant, Cathy d’Humières, Espérandieu và hai thành viên khác của tổ hình sự là Pujol và Simeoni. Hai tay to con hẹp hòi, có định kiến với Espérandieu. Mọi người ngồi xuống và kiểm tra lại ghi chép của mình trước khi bắt đầu, căn phòng chỉ có tiếng sột soạt của giấy tờ. Servaz quan sát những khuôn mặt tái xám, mệt mỏi của họ. Sự căng thẳng khủng khiếp đến nỗi gần như chạm vào được. Anh viết vài từ lên tập giấy của mình trong lúc đợi mọi người sẵn sàng, rồi anh ngẩng lên và bắt đầu.

Anh tóm tắt lại tình hình. Khi anh kể với họ vụ việc mình gặp phải ở trại hè, một sự im lặng nặng nề bao trùm. Pujol và Simeoni chăm chú quan sát anh. Cả hai dường như đều đang nghĩ rằng, một việc như thế sẽ không bao giờ xảy ra với họ. Có lẽ đúng. Họ có thể đại diện cho những bộ mặt xấu xa nhất của nghề này, nhưng dù thế nào họ vẫn là những cảnh sát dạn dày kinh nghiệm mà người ta có thể trông cậy nếu gặp tình huống cam go.

Servaz bắt đầu trình bày tội lỗi của Ziegler, và lần này, Maillard là người tái mặt và nghiến chặt răng. Bầu không khí nặng nề. Cảnh sát nghi ngờ một sen đầm vì tội giết người, đây rõ ràng là công thức cho mọi xung đột.

“Tôi không thích chuyện này chút nào,” d’Humières điềm tĩnh nói.

Anh hiếm khi thấy bà hốc hác như thế. Những nét âu lo phờ phạc khiến gương mặt bà nhợt nhạt như bị bệnh. Anh liếc nhìn đồng hồ đeo tay. 8 giờ. Có lẽ Ziegler cũng sắp ngủ dậy. Như để chứng thực suy nghĩ của Servaz, di động của anh reo lên.

“Chúng tôi đã sẵn sàng, cô ta đang dậy rồi,” Samira Cheung nói qua điện thoại.

Anh lập tức ra lệnh, “Pujol, tới với Samira đi. Ziegler vừa ngủ dậy. Đồng thời, tôi muốn một xe thứ ba dự phòng. Cô ta cũng thuộc tổ điều tra nên tôi không muốn các cậu bị phát hiện. Simeoni, cậu đi xe thứ ba. Không cần bám sát quá. Ngoài ra, chúng ta biết nơi cô ta sẽ đến. Thà mất dấu cô ta còn hơn để cô ta phát hiện ra mình đang bị theo dõi.”

Pujol và Simeoni im lặng rời khỏi phòng. Servaz đứng lên, đi tới bức tường treo một tấm bản đồ khu vực khổ lớn. Anh nhìn qua nhìn lại giữa tập giấy của mình và tấm bản đồ một lúc, rồi ấn ngón tay lên chính xác một điểm. Tay vẫn giữ trên bản đồ, anh quay lại nhìn các đồng nghiệp.

“Đây.”

Một cuộn khói bốc lên từ ống khói trên phần mái phủ rêu của ngôi nhà gỗ. Servaz nhìn ra xung quanh. Những cụm mây xám phủ lên triền rừng. Không khí có mùi sương giá, mùi mùn và khói củi. Họ đang đứng giữa rừng cây. Bên dưới là ngôi nhà gỗ nằm trong lòng chảo của một thung lũng nhỏ phủ đầy tuyết, giữa một bãi đất trống với rừng cây bao bọc khắp xung quanh và chỉ có một đường mòn dẫn vào. Khuất khỏi tầm nhìn, ba viên sen đầm và một người kiểm lâm đang canh gác lối vào. Servaz quay sang Espérandieu cùng Maillard và họ trả lời anh bằng một cái gật đầu. Cùng với hơn mười người hộ tống, họ chậm rãi tiến vào thung lũng nhỏ.

Đột nhiên, họ dừng lại. Một người đàn ông vừa ra khỏi căn lều. Ông ta vươn vai trong ánh nắng buổi sớm, hít khí trời và nhổ nước bọt xuống đất. Từ nơi đang đứng, họ nghe thấy ông ta đánh rắm, âm thanh to như tiếng tù và của một người chăn cừu. Kì lạ thay, một con chim trong rừng bỗng kêu quang quác như để giễu cợt ông ta. Người đàn ông nhìn quanh lần cuối rồi trở vào trong.

Servaz lập tức nhận ra ông ta, dù có thêm bộ râu.

Chaperon.

Họ đến bãi đất trống phía sau căn lều. Ẩm ướt như trong một cái nhà tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng lạnh lẽo chứ không nóng như thế. Servaz nhìn những người khác. Bọn họ ngầm trao đổi và chia làm hai nhóm. Họ chậm rãi di chuyển về phía trước, tuyết ngập tới tận đầu gối. Họ cúi rạp xuống để vòng lên cửa chính. Servaz dẫn đầu nhóm tiên phong, anh đang vòng qua góc nhà để ra phía trước thì cánh cửa đột nhiên bật mở. Servaz bước lùi lại, giữ chắc súng trong tay. Anh thấy Chaperon tiến tới ba bước, tụt quần xuống và tiểu xuống tuyết với vẻ khoan khoái, miệng khẽ ngâm nga.

“Đái xong đi rồi giơ tay lên, Pavarotti,” Servaz nói vọng lên.

Thị trưởng bật chửi thề, nước bắn tóe vào giày.

Diane đã trải qua một đêm kinh khủng. Không dưới bốn lần, cô choàng tỉnh, người đẫm mồ hôi với cảm giác ngạt thở như thể bị chiếc áo lót thắt ngực lại. Mấy lớp ga trải giường cũng ướt đẫm mồ hôi. Cô tự hỏi liệu có phải mình bị sốt không.

Cô nhớ mình đã gặp ác mộng. Cô bị buộc chặt vào giường của một buồng giam ở Viện trong chiếc áo trói thân và bị một đám bệnh nhân bao vây. Họ nhìn cô và chạm vào mặt cô bằng những bàn tay ướt đẫm mồ hôi vì thuốc. Cô lắc đầu quầy quậy và gào thét cho tới khi cửa phòng mở ra, Julian Hirtmann đi vào cùng nụ cười ghê tởm trên môi. Giây lát sau, cô đã không còn trong buồng giam nữa mà ở trong một không gian rộng lớn hơn nhiều. Cô ở ngoài trời. Là buổi đêm, có một cái hồ và lửa cháy bập bùng, hàng nghìn con côn trùng khổng lồ đầu chim đang trườn bò dưới mặt đất tối tăm và hàng trăm cơ thể đàn ông đàn bà trần truồng đang làm tình dưới ánh lửa đỏ rực. Hirtmann là một trong số đó, và Diane hiểu rằng hắn ta chính là người đã tổ chức cuộc giao hoan kinh khủng này. Cô hoảng sợ khi nhận ra mình cũng trần truồng, trên giường, vẫn bị trói nhưng không còn chiếc áo trói thân nữa, và cô vùng vẫy cho tới khi tỉnh lại.

Cô đứng dưới vòi tắm rất lâu, cố gắng tống khứ cảm giác nhầy nhụa do giấc mơ để lại. Cô tự hỏi giờ mình sẽ phải cư xử thế nào. Mỗi lần nghĩ tới việc nói chuyện với Xavier, cô lại nhớ đến đơn đặt hàng thuốc gây mê dành cho thú y và cảm thấy phát bệnh. Phải chăng cô đang tự đưa mình vào miệng cọp? Giống như những bức tranh 3D mà hình ảnh sẽ thay đổi tùy theo cách ta cầm. Cô không thể giữ cho nó ổn định. Vai trò của Xavier trong toàn bộ chuyện này là gì?

Dựa vào những yếu tố đã biết, Xavier có vẻ cũng như cô. Qua cảnh sát, anh ta biết ở Viện có kẻ dính líu tới những vụ giết người, và đang cố tìm ra kẻ đó. Tuy nhiên, anh ta đang dẫn trước cô và nắm được một loạt thông tin mà cô không có. Thế nhưng, chỉ vài ngày trước cái chết của con ngựa, anh ta đã nhận một đơn hàng với những chế phẩm có tác dụng đánh thuốc mê một con ngựa. Điều này dẫn cô trở lại một điểm, hai giả thuyết hoàn toàn trái ngược, tuy nhiên đều có cơ sở thực tế chứng minh. Có thể nào Xavier chỉ vô tình chuyển thuốc mê cho một người khác mà không hề biết chuyện gì sẽ xảy ra? Trong trường hợp đó, tên của người này phải xuất hiện trong cuộc tìm kiếm của anh ta mới đúng. Diane hoàn toàn không hiểu nổi.

Ai là Irène Ziegler và Gaspard Ferrand? Trông qua thì có vẻ hai người này liên quan đến trại hè Les Isards. Lisa Ferney cũng vậy…

Đây là nơi cô nên bắt đầu. Manh mối vững chắc duy nhất cô có lúc này là: y tá trưởng.

Servaz vào nhà. Mái nhà dốc thấp tè, đỉnh đầu chạm tới trần. Ở cuối căn nhà là một chiếc giường nhỏ bề bộn ga trắng, chăn nâu và một chiếc gối dơ bẩn. Một bếp lò bằng gỗ rất lớn có ống khói biến mất trên mái nhà, bên cạnh là một chồng củi. Dưới cửa sổ là bồn rửa và bàn bếp nhỏ, cùng một chiếc đầu đốt hẳn là nối với bình gas. Một quyển trò chơi ô chữ đang mở trên bàn, cạnh chai bia và cái gạt tàn đầy đầu mẩu thuốc lá, một chiếc đèn bão treo ngay phía trên. Có mùi của khói củi đốt, thuốc lá, bia, và hơn hết, mùi mồ hôi lâu ngày. Không có nhà tắm. Anh thắc mắc không biết Chaperon tắm rửa thế nào.

Đây là những gì còn lại của những tên khốn, hai cái xác và một thằng cha thảm hại sống chui rúc như một con chuột thối tha.

Anh mở tủ. Luồn tay xuống dưới đệm. Lục túi chiếc áo khoác treo sau cửa. Bên trong, anh tìm thấy mấy chiếc chìa khóa, một túi đựng tiền xu và một cái ví. Trong ví có một tấm thẻ căn cước, một tập chi phiếu, thẻ bảo hiểm quốc gia, thẻ Visa và một thẻ American Express. Trong túi đựng tiền xu, anh thấy 800 Euro tiền mặt mệnh giá 20 và 50. Anh mở ngăn kéo, tìm thấy súng và đạn.

Anh đi trở ra.

Trong chưa đầy năm phút, nhóm người đã vào vị trí. Mười người xung quanh căn lều và trong rừng, sáu người khác tại những vị trí chiến lược bên trên thung lũng và bao quát đường mòn để có thể thấy cô ta đi đến. Khoác chiếc áo hỏa lực phòng không bằng sợi Kevlar, tất cả bọn họ đều đứng vững hệt như những con búp bê Playmobil. Servaz và Espérandieu đợi bên ngoài căn lều cùng với Chaperon.

“Cái mẹ gì thế,” lão thị trưởng nói. “Nếu các anh không tìm được gì ở chỗ tôi thì tôi sẽ đi khỏi đây. Các anh không thể giữ tôi lại khi tôi không đồng ý.”

“Tùy ông thôi,” Servaz nói. “Nếu ông muốn có kết cục như các bạn ông thì tùy. Nhưng chúng tôi sẽ tịch thu khẩu súng. Và thời điểm bước chân ra khỏi đây, ông sẽ không có gì bảo vệ hết, những điệp viên bị mất đi lớp vỏ bọc gọi là ‘ngoài vùng đất lạnh’ đấy.”

Chaperon nhìn anh bằng ánh mắt nanh nọc, căm phẫn. Sau khi cân nhắc được mất, lão nhún vai và ngồi sụp trở lại chiếc giường nhỏ.

9:54. Samira gọi để báo cho anh biết Ziegler đang rời khỏi nhà. Cô ta đủng đỉnh thật đấy, anh nghĩ. Cô ta biết mình còn cả ngày dài. Anh với lấy bộ đàm và cảnh báo tất cả các đơn vị rằng mục tiêu đang trên đường hành động. Anh rót cho mình một cốc cà phê.

10:32. Servaz rót cốc cà phê thứ ba của buổi sáng và hút điếu thuốc thứ năm, mặc Espérandieu can ngăn. Chaperon im lặng ngồi bên bàn tỏ vẻ kiên nhẫn.

10:43. Samira gọi để thông báo Ziegler đã ghé qua một tiệm tạp hóa, còn mua một ít thuốc lá, tem thư và hoa.

“Hoa? Ở tiệm bán hoa sao?”

“Vâng, chắc chắn không thể nào ở hàng thịt rồi.”

Chắc chắn cô ta đã phát hiện ra họ…

10:52. Servaz được biết cuối cùng Ziegler cũng đi về phía Saint-Martin. Để tới thung lũng nhỏ có căn nhà này, từ thị trấn nơi cô ta đang sống, phải đi theo một con đường lớn cũng dẫn tới Saint-Martin, rẽ vào con đường tiếp theo, tiến thắng về phía Nam, tới một vùng toàn đèo núi, vách đá và rừng sâu, cuối cùng là đến con đường xuyên rừng dẫn tới lối mòn vào thung lũng nhỏ.

“Cô ta đang làm cái quái gì thế?” Espérandieu hỏi, khi đã quá 11 giờ. Họ không nói với nhau quá ba từ trong hơn một tiếng đồng hồ, ngoại trừ cuộc trao đổi giữa Samira và Servaz trên điện thoại.

Hỏi hay lắm, Servaz nghĩ.

11:09. Samira gọi để báo rằng Ziegler đã đi hết con đường dẫn tới thung lũng mà không hề giảm tốc, và giờ đang hướng vào Saint-Martin. Cô ta không tới đây. Servaz chửi thề và ra ngoài hít khí trời. Maillard hiện ra từ rừng cây và đi về phía anh.

“Giờ chúng ta làm gì?”

“Đợi.”

“Cô ta đang ở nghĩa trang,” Samira nói, lúc 11 giờ 45 phút.

“Gì? Cô ta làm gì ở nghĩa trang? Cô ta đang lừa mấy người đấy. Cô ta đã phát hiện ra mấy người rồi!”

“Có lẽ không đâu. Cô ta đã làm một việc kì lạ.”

“Ý cô là gì?”

“Cô ta đi vào một khu mộ và ở trong đó ít nhất năm phút. Để hoa lại. Cô ta ra ngoài mà không đem theo chúng.”

“Một khu mộ gia đình?”

“Phải, nhưng không phải của gia đình cô ta. Tôi đã tới kiểm tra. Là khu mộ của gia đình Lombard.”

Servaz giật mình. Anh không biết người nhà Lombard được chôn ở đây. Đột nhiên anh cảm thấy tình hình đang vuột khỏi tầm kiểm soát. Có một điểm mù mà anh không nhìn thấy. Tất cả bắt đầu với con ngựa của Éric Lombard, cuộc điều tra tạm thời gạt Lombard sang một bên để tập trung vào bộ ba Grimm-Perrault-Chaperon và những nạn nhân tự tử. Và giờ quân bài Lombard lại bất ngờ xuất hiện một lần nữa. Nó có ý nghĩa gì? Irène Ziegler đang làm gì trong khu mộ? Anh thật sự không thể hiểu nổi.

“Cô đang ở đâu?” Anh hỏi.

“Tôi vẫn đang ở nghĩa trang. Cô ta đã trông thấy tôi nên Pujol và Simeoni thay tôi tiếp tục theo dõi.”

“Tôi đến đây.”

Servaz ra khỏi nhà gỗ, đi xuống lối mòn dẫn vào rừng, hướng tới bụi cây ở bên tay phải. Anh vén những cành cây nặng trĩu tuyết đang ngụy trang cho chiếc xe và lách vào sau vô lăng.

Khi Servaz đỗ xe lại bên nghĩa trang thì đã là 12 giờ 12 phút. Samira Cheung đợi anh trước cổng. Bất chấp giá lạnh, cô mặc một chiếc áo khoác da đơn giản, quần soóc siêu ngắn ngoài quần tất dày và một đôi giày leo núi bằng da nâu sờn. Nhạc trong tai nghe của cô lớn đến mức Servaz cũng nghe được. Bên dưới chiếc mũ bê rê, khuôn mặt ửng hồng của cô khiến anh nghĩ tới sinh vật kì lạ trong bộ phim Margot đã lôi anh đi xem, toàn người già, pháp sư và mấy chiếc nhẫn ma thuật. Anh cau mày khi thấy cái đầu lâu trên chiếc áo chui cổ của Samira. Khá thích hợp, anh nghĩ. Trông cô giống một kẻ báng bổ người chết hơn là một viên cảnh sát.

Họ trèo lên một quả đồi nhỏ, đi xuyên qua những cây lãnh sam và bia mộ, hướng về phía một bụi cây thường xuân đánh dấu điểm cuối của nghĩa trang. Một bà già nghiêm nghị nhìn họ. Khu mộ nhà Lombard nổi bật giữa nghĩa trang. Chỉ riêng kích thước thôi đã gần bằng một lăng mộ, hoặc một nhà nguyện. Hai bên là hàng cây thủy tùng được cắt tỉa cẩn thận. Ba bậc thềm đá dẫn lên lối vào được canh giữ bằng một hàng rào có hoa văn rất đẹp. Samira quẳng điếu thuốc sang một bên, đi vòng quanh mộ, lùng tìm một lúc rồi trở lại với một chiếc chìa khóa.

“Tôi thấy Ziegler đã làm như vậy,” cô nói. “Nó được giấu bên dưới một hòn đá bị kênh.”

“Cô ta không chú ý tới cô sao?” Servaz nghi ngờ hỏi, quan sát bộ đồ của cô.

Người phụ nữ Pháp lai Trung Quốc-Ma rốc này nhíu mày.

“Tôi biết ứng biến chứ. Khi cô ta nhìn thấy tôi, tôi đang đặt một bó hoa lên mộ một người đàn ông tên là Graves[1]. Thật buồn cười phải không?”

Servaz ngẩng đầu xem xét nhưng không có gì viết ở khoảng tường tam giác bên trên cánh cửa. Samira tra khóa vào ổ và mở cánh cổng. Servaz theo chân cô vào bóng tối bên trong khu mộ. Ánh sáng lờ mờ lọt qua khe hở ở phía bên phải, chẳng đủ để họ nhìn thấy bất cứ thứ gì ngoài những hình thù mơ hồ của ba bia mộ. Một lần nữa, Servaz tự hỏi tại sao mọi thứ lại phải nặng nề, buồn bã và chìm trong bóng tối, như thể cái chết còn chưa đủ vậy. Thế nhưng ở một số đất nước, cái chết gần như tươi sáng, gần như hân hoan, và họ tổ chức tiệc tùng, vui đùa thay vì đến những nhà thờ ảm đạm, thê lương cùng những lễ cầu hồn, kinh cầu siêu, những lời cầu nguyện chan chứa cả thung lũng nước mắt. Như thể ung thư, tai nạn giao thông, trụy tim, tự sát, và giết người vẫn còn chưa đủ vậy. Anh nhận thấy một bó hoa đặt trơ trọi trên một trong ba ngôi mộ. Một điểm sáng giữa cảnh u tối. Samira lấy chiếc iPhone của mình ra và bật đèn lên. Nó tỏa ra một chùm sáng nhợt nhạt. Cô giơ nó lên lần lượt từng bia mộ, Édouard Lombard… Henri Lombard… người ông và người bố. Servaz tự nhủ, bia mộ thứ ba hẳn là của mẹ Éric, vợ của Henri, người từng là diễn viên thất bại, gái gọi, con điếm, theo Henri Lombard… Vì cớ gì Irène lại đến đặt hoa lên bia mộ đó?

Servaz cúi xuống đọc dòng chữ khắc trên bia mộ. Và nhíu mày.

Anh từng nghĩ họ đã tiến gần đến sự thật. Nhưng giờ thì họ đang lạc lối.

Anh nhìn Samira, rồi lại nhìn dòng chữ khắc trên bia mộ, dưới ánh sáng của chiếc điện thoại: MAUD LOMBARD, 1976-1998.

“Ai thế?”

“Em gái của Éric Lombard, sinh sau anh ta bốn năm. Tôi không biết rằng cô ta đã chết.”

“Có quan trọng không?”

“Có thể.”

“Vậy anh nghĩ tại sao Ziegler lại đặt hoa trên mộ cô ta? Có đoán ra gì không?”

“Hoàn toàn không.”

“Ziegler có bao giờ kể với anh về chuyện này không? Hay hé lộ việc mình quen biết Maud?”

“Không.”

“Nó liên quan gì tới những vụ án mạng?”

“Tôi không biết.”

“Nhưng ít nhất lần này anh cũng có một sợi dây liên kết,” Samira nói.

“Ý cô là gì?”

“Một sợi dây liên kết Lombard với phần còn lại của vụ án.”

“Liên kết cái gì?” Anh băn khoăn.

“Không tự dưng mà Ziegler lại đến đây và đặt hoa lên bia mộ này. Chắc chắn có liên quan. Và cho dù anh không biết nó là cái gì, nhưng cô ta thì biết. Tất cả những gì anh phải làm là đưa ra câu hỏi khi thẩm vấn cô ta.”

Phải. Irène Ziegler rõ ràng biết nhiều hơn anh về toàn bộ vụ án. Servaz nhẩm tính, Maud Lombard cũng tầm tuổi Ziegler. Phải chăng họ từng là bạn bè? Vì cô ta từng ở trại hè, nên một đoạn quá khứ khác của cô ta vừa trở thành đối tượng của cuộc điều tra. Hiển nhiên, Irène Ziegler không chỉ có một bí mật. Không thấy dấu hiệu nào của vợ Henri Lombard, mẹ Éric. Không được thừa nhận ngay cả khi đã chết. Bà không được phép chung hưởng sự vĩnh hằng đáng sợ với gia tộc này. Khi họ quay trở ra, Servaz nghĩ về việc Maud Lombard đã chết ở tuổi 22. Anh lập tức cảm thấy đây là một điểm mấu chốt. Cô ta chết như thế nào? Tai nạn, bệnh? Hay lý do nào khác?

Samira nói đúng. Ziegler nắm giữ chìa khóa của vấn đề. Khi bị bắt, có thể cô ta sẽ thành thật khai báo, nhưng anh không nghĩ vậy. Anh đã hơn một lần được chứng kiến tính cách kiên cường của Irène Ziegler.

Bây giờ cô ta đang đi đâu?

Đột nhiên anh lo âu khủng khiếp và lập tức kiểm tra đồng hồ đeo tay. Họ không nhận được tin tức gì cũng mất một lúc rồi. Anh định gọi cho Pujol thì di động reo lên.

“Chúng tôi mất dấu cô ta rồi!” Simeoni hét.

“Gì?”

“Con giặc cái, tôi nghĩ ả đã phát hiện ra chúng tôi! Đi cái xe máy khốn kiếp, ả đã dễ dàng cắt đuôi chúng tôi!”

Chết tiệt! Servaz cảm thấy adrenalin chảy dồn trong mạch máu, và bụng quặn thắt. Anh tìm số của Maillard.

“Pujol và Simeoni đã mất dấu mục tiêu!” Anh hét lên. “Cô ta có thể ở bất cứ đâu! Thông báo cho trung úy Espérandieu và tất cả vào vị trí sẵn sàng!”

“Được. Không vấn đề gì. Chúng tôi đang đợi đây.”

Servaz cúp máy. Anh ước mình có thể bình tĩnh như viên sen đầm. Đột nhiên một ý nghĩ khác nảy ra trong óc, anh lôi di động ra và gọi vào số của Saint-Cyr.

“Alô?”

“Maud Lombard, anh có biết gì về cô ta không?”

Một quãng ngập ngừng ở đầu dây bên kia, “Đương nhiên. Em gái Éric Lombard.”

“Cô ta chết năm 22 tuổi. Có phải là hơi trẻ không? Anh biết cô ta chết thế nào không?”

“Cô ấy tự tử,” ông thẩm phán trả lời, lần này không chút lưỡng lự.

Servaz nín thở. Chính là điều anh hy vọng sẽ nghe thấy. Tảng băng đang dần nổi lên bề mặt. Mỗi lúc một rõ ràng…

Tim anh đập dồn dập, “Chuyện gì đã xảy ra?”

Lại một khoảng ngập ngừng.

“Sự việc rất bi thương,” người ở đầu dây bên kia nói. “Maud là một cô gái mong manh, lý tưởng hóa mọi thứ. Hồi du học ở Mỹ, cô ấy đem lòng yêu say đắm một chàng trai. Vào cái ngày anh ta rời bỏ cô để đến với người khác, cô ấy đã không thể chịu đựng được. Cộng với cái chết của ông bố vào năm trước đó… Cô ấy trở lại đây và kết liễu đời mình.”

“Chỉ thế thôi sao?”

“Cậu đang trông đợi điều gì?”

“Những cây cảnh hình con vật trong vườn nhà Lombard, có phải để tưởng nhớ cô ấy không?”

Lại một khoảng ngập ngừng nữa.

“Phải. Henri Lombard là một người đàn ông bạo ngược, tàn nhẫn, nhưng đôi khi ông ta cũng thể hiện sự quan tâm đến con cái. Ông ta cho tỉa cây cảnh năm Maud 6 tuổi, nếu tôi nhớ không nhầm. Và Éric Lombard giữ chúng lại. Để tưởng nhớ em gái mình.”

“Cô ta chưa bao giờ tới trại hè đấy chứ?”

“Người nhà Lombard ở Les Isards! Cậu đùa đấy à! Les Isards chỉ dành cho những đứa trẻ con nhà nghèo không có tiền đi nghỉ ở nơi khác thôi.”

“Tôi biết.”

“Thế thì vì sao cậu lại nghĩ một đứa trẻ nhà Lombard có thể đặt chân đến đó chứ?”

“Lại một vụ tự tử. Anh không nghĩ tới việc liệt cô ta vào danh sách sao?”

“Năm năm sau? Loạt tự tử đã kết thúc từ lâu. Ngoài ra, Maud đã là một phụ nữ, không còn là thiếu niên nữa.”

“Câu hỏi cuối cùng. Cô ta tự tử thế nào?”

Saint-Cyr ngừng một lát.

“Cô ấy cắt cổ tay.”

Servaz thất vọng, không phải treo cổ.

12:30. Espérandieu nhận được một tin nhắn qua bộ đàm: Bữa trưa. Nhìn Chaperon nằm dài trên giường, cậu nhún vai và ra ngoài. Những người khác đang đợi ở ngoài bìa rừng. Là ‘khách’ của lực lượng an ninh và trật tự, cậu được lựa chọn giữa bánh sandwich Paris bao gồm bánh mì dài, thịt nguội và pho mát Thụy Sĩ, bánh mì kẹp pan-bagnat kiểu Pháp, hoặc sandwich kiểu Á với thịt nướng, cà chua, hồ tiêu và salad.

Cậu quyết định chọn kiểu Á.

Khi Servaz trèo vào xe, một ý nghĩ bỗng hiện lên từ đống hỗn độn những câu hỏi không lời đáp. Maud Lombard tự tử… con ngựa của Lombard đứng đầu tiên trong danh sách. Nếu đây mới là chìa khóa của cuộc điều tra, chứ không phải trại hè thì sao? Theo bản năng, anh cảm thấy điều này sẽ mở ra những hướng nhìn mới. Có một cánh cửa vẫn phong kín, trên đó viết cái tên ‘Lombard’. Tại sao Éric Lombard lại là một trong những mục tiêu của hung thủ? Anh nhận ra mình đã hơi lơ là khía cạnh này. Servaz nhớ Vilmer từng tái mặt khi anh đưa ra giả thuyết rằng Lombard có thể dính dáng đến mấy tên tội phạm tình dục. Lúc ấy nó chỉ là một câu nói đùa nhằm gây hoang mang cho lão giám đốc ngạo mạn của cục cảnh sát hình sự Toulouse, nhưng đằng sau câu đùa là một câu hỏi thực sự. Giờ thì chuyến viếng thăm của Ziegler tới khu mộ nhà Lombard đã cho thấy câu hỏi này có thể đóng vai trò then chốt đến mức nào. Chính xác thì bản chất mối liên hệ giữa Lombard và các nạn nhân khác là gì?

“Cô ta đang trên đường đến.”

“Đã rõ.”

Espérandieu bật dậy. Cậu nhả tay khỏi nút bấm bộ đàm và nhìn đồng hồ đeo tay. 13:46. Cậu lấy súng.

Một khoảng thời gian trôi qua.

“Chốt 3 đây, cô ta vẫn chưa đi qua. Tôi nhắc lại, mục tiêu chưa đi qua đây.”

“Chết tiệt, cô ta ở đâu?” Espérandieu quát vào bộ đàm. “Có ai thấy cô ta không? Trả lời!”

“Chốt 3 đây, không, không thấy dấu hiệu nào…”

“Chốt 4, tôi cũng không thấy gì cả.”

“Chốt 5, không có ai trong tầm ngắm.”

“Chúng ta đã mất dấu cô ta rồi, chỉ huy. Tôi nhắc lại, chúng ta đã mất dấu cô ta!”

Martin đâu rồi, mẹ kiếp! Ngón tay Espérandieu vẫn đang giữ trên nút bấm của bộ đàm khi cánh cửa ngôi nhà gỗ mở tung ra và bật vào tường. Cậu quay ngoắt lại, chĩa súng… và thấy mình đang nhìn vào nòng một khẩu súng ngắn. Đôi mắt đen nhìn thẳng vào cậu. Espérandieu nuốt nước bọt.

“Anh đang làm quái gì ở đây?” Ziegler hỏi.

“Cô đã bị bắt,” cậu trả lời, nhưng giọng run run, không có mấy sức thuyết phục.

“Irène! Bỏ vũ khí xuống!” Maillard từ bên ngoài hét lên.

Một giây căng thẳng kéo dài tưởng chừng vô tận. Cô ta làm theo và hạ súng xuống. “Đây là ý của Martin?”

Espérandieu nhận thấy một nỗi buồn sâu sắc trong mắt cô ta, cũng như sự nhẹ nhõm của chính bản thân mình.

16:35. Hoàng hôn lạnh giá trùm lên dãy núi, những bông tuyết lại xoáy tít trong gió. Diane rời khỏi phòng và bước ra hành lang vắng vẻ của tầng năm. Không một tiếng động. Vào thời điểm này, tất cả cán bộ đều tụ tập ở các tầng dưới. Bản thân Diane đáng ra cũng đang phải ở cùng bệnh nhân hoặc trong văn phòng của mình, nhưng cô đã lặng lẽ trốn lên mười lăm phút trước. Sau khi hé cửa nghe ngóng xem có tiếng động nào không, cô đã kết luận rằng khu vực nghỉ ngơi hoàn toàn vắng lặng.

Cô liếc nhìn sang hai bên và chỉ lưỡng lự trong tích tắc trước khi vặn tay nắm cửa. Lisa Ferney không khóa cửa phòng. Diane coi đây là một dấu hiệu xấu. Nếu y tá trưởng có điều giấu giếm, cô ta nhất định đã khóa cửa phòng. Căn phòng nhỏ, tắm trong ánh sáng lờ mờ, chẳng khác nào phòng của cô. Bên ngoài cửa sổ, dãy núi đang tối dần lại, những triền dốc như vẹt đi vì một cơn bão mới. Diane sờ công tắc đèn và một quầng sáng vàng mờ ảo trùm lên căn phòng. Hệt như một thám từ nhà nghề, cô sờ dưới đệm, mở các loại tủ, nhìn dưới giường, kiểm tra tủ thuốc trong phòng tắm. Không có quá nhiều chỗ để cất giấu, và trong chưa đầy mười phút, cô đã tay trắng rời khỏi.

❀ ❀ ❀

[1] : Mộ (tiếng Anh).

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.