22
Khi Servaz đọc xong thì đã là 8 giờ sáng, nền trời đang nhạt dần phía trên rặng núi. Anh gấp cuốn sổ tay cuối cùng lại và ra ngoài ban công hít thở làn không khí buổi sớm lạnh cắt da cắt thịt. Anh mệt mỏi, ốm yếu về mặt thể chất. Gần tới cực hạn. Đầu tiên là thằng bé tên Clément, và giờ là chuyện này.
Tuyết ngừng rơi. Nhiệt độ thậm chí đã nhích lên một chút. Từng lớp mây chồng chất trên vòm trời thị trấn. Trên đỉnh những con dốc, rặng lãnh sam chỉ vừa mới hiện ra từ bóng đêm giờ lại hòa lẫn vào sương mù. Các mái nhà và đường phố bắt đầu tỏa sáng rực rỡ như dát bạc, Servaz có thể cảm nhận được làn mưa đầu tiên chạm vào mặt mình. Mưa đâm lỗ chỗ xuống lớp tuyết đọng trên một góc ban công, và anh quay trở vào. Tuy không đói, nhưng chí ít anh cần một cốc cà phê nóng. Anh xuống lầu và ra ngoài mái hiên được thiết kế theo phong cách Art Déco rộng lớn, trông ra thị trấn đang nhòe đi vì mưa. Cô bồi bàn mang tới cho anh mấy lát bánh mì tươi, cà phê, một ly nước cam, ít bơ và một hũ mứt nhỏ. Anh ngạc nhiên khi thấy mình ngấu nghiến hết mọi thứ. Ăn giống như một phép trừ tà. Ăn có nghĩa là anh đang sống, rằng những điều quái quỷ anh đọc được trong mấy quyển sổ tay không khiến anh bận tâm. Hoặc ít nhất anh có thể giữ khoảng cách với chúng thêm một lát nữa.
Tôi là Alice, 15 tuổi. Tôi không biết mình sẽ làm gì với những trang giấy này nữa, hay rồi đây có ai đọc được chúng không. Có lẽ tôi sẽ xé hoặc đốt chúng đi ngay khi viết xong. Mà cũng có thể không. Nhưng nếu bây giờ tôi không viết, mẹ kiếp, tôi sẽ phát điên. Tôi đã bị hãm hiếp. Không chỉ một thằng khốn, mà là mấy con lợn ghê tởm. Vào một đêm mùa hè. Hãm hiếp.
Nhật kí của Alice là một trong những nội dung khó nhằn nhất anh từng phải đọc. Nó lạnh lẽo đến kinh khủng. Nhật kí riêng tư của một thiếu niên, tạo nên từ những bức vẽ, thơ, và những mật ngữ khó hiểu. Khi bình minh dần ló dạng, rụt rè như một con thú sợ sệt, anh đã muốn ném thẳng chúng vào sọt rác. Không có nhiều thông tin cụ thể trong những cuốn sổ, đúng ra là nó thiên về những lời bóng gió và ám chỉ. Tuy vậy, một vài sự thực đã phơi bày trước mắt. Vào mùa hè năm 1992, Alice Ferrand tới nghỉ tại trại hè Les Isards nay đã thành hoang phế. Chính là mấy tòa nhà Servaz trông thấy trên đường đến Viện Wargnier, là trại hè Saint-Cyr từng nhắc tới, cũng là hình ảnh xuất hiện trong một bức ảnh ghim ở phòng cô bé. Trong quá trình hoạt động, cứ đến mùa hè là Les Isards lại tiếp nhận trẻ em ở Saint-Martin và các thung lũng lân cận đến nghỉ, phần nhiều là trẻ em của các gia đình quá nghèo không thể cho con đi chơi xa. Đây là một truyền thống địa phương. Mấy người bạn thân nhất của Alice dự định đến Les Isards vào hè năm ấy, và cô bé xin phép bố mẹ để được đi cùng. Ban đầu họ do dự, rồi cuối cùng cũng đồng ý. Alice chỉ ra rằng quyết định này không hoàn toàn là để chiều lòng cô, mà còn để duy trì lý tưởng của họ về bình đẳng xã hội. Cô nói thêm rằng đó là ‘quyết định bi thảm nhất của cuộc đời mình’. Alice không đổ lỗi cho bố mẹ. Hay bản thân. Cô buộc tội bọn cầm thú, bọn khốn kiếp, bọn Quốc xã viết chữ hoa bằng mực đỏ, những kẻ đã hủy hoại cuộc đời cô. Cô đã muốn ‘thiến chúng, hoạn chúng, tùng xẻo của nợ của chúng bằng một con dao han gỉ và bắt chúng ăn, rồi giết chúng’.
Đột nhiên Servaz nảy ra ý nghĩ rằng Alice có vài điểm chung với thằng bé Clément. Cả hai đều thông minh và lớn trước tuổi. Cả hai cũng bộc lộ khả năng ngôn ngữ khác thường về bạo lực. Và cả thể chất. Ngoại trừ việc thằng bé nhắm vào một người vô gia cư, còn cô bé nhắm vào chính mình.
May cho Servaz, nhật kí của Alice không mô tả chi tiết những gì cô bé đã chịu đựng. Nó không phải là một cuốn nhật kí theo đúng ý nghĩa nguyên thủy. Cô bé không ghi lại cuộc sống thường ngày. Đúng hơn, nó là một bản cáo trạng. Một tiếng kêu đau đớn. Dù vậy, vì Alice là một đứa trẻ thông minh với bộ óc thấu suốt, nên lời lẽ cô sử dụng đau buồn đến cùng cực. Những bức tranh còn tồi tệ hơn. Một số bức có thể sẽ rất tuyệt vời nếu đối tượng được phác họa không gớm ghiếc đến vậy. Servaz lập tức nhận ra một bức tranh miêu tả bốn người đàn ông trong chiếc áo choàng và ủng. Alice rất tài năng. Cô bé đã tỉ mỉ vẽ ra từng nếp gấp của những chiếc áo choàng chúng mặc và khuôn mặt của bốn kẻ tội đồ, bị che khuất dưới cái bóng quái ác của mũ trùm. Những bức vẽ khác mô tả bốn tên nằm ngửa, khỏa thân, mắt và miệng mở lớn, đã chết. Một hình ảnh tưởng tượng, Servaz nghĩ thầm.
Khi nhìn sát lại, anh thất vọng nhận ra rằng trong khi những chiếc áo choàng và những cơ thể trần truồng gần như được sao chép hoàn toàn trung thực, thì những khuôn mặt kia lại không hề giống bất cứ người đàn ông nào anh biết. Không phải Grimm, Perrault hay Chaperon. Chỉ là những gương mặt sưng phồng, quái dị, những hình biếm họa sự đồi bại và tàn nhẫn, gợi nhớ lũ ác quỷ nhăn nhó được điêu khắc thành tượng để tô điểm cho nhà thờ. Phải chăng Alice đã cố tình làm biến dạng diện mạo? Hay anh nên kết luận rằng cô bé và các bạn chưa bao giờ nhìn thấy khuôn mặt của những kẻ đã tra tấn mình? Rằng những tên này chưa bao giờ cởi mũ trùm của chúng? Tuy nhiên, anh có thể phỏng đoán một số điều nhất định từ những bức vẽ và đoạn trích trong nhật kí. Trước tiên, luôn có bốn gã đàn ông trong những bức vẽ. Rõ ràng là bộ tứ hiếp dâm. Cuốn nhật kí đã trả lời cho câu hỏi về đôi ủng trong cái chết của Grimm. Servaz tìm thấy nó ở vài trang tiếp theo:
Bọn chúng luôn đến vào đêm mưa bão, lũ cặn bã ấy. Rõ ràng là để đảm bảo không ai tới trại hè trong khi chúng có mặt. Bởi ai lại nghĩ đến việc tới cái thung lũng này sau nửa đêm khi trời đang mưa như trút nước?
Chúng lội bùn tung tóe bằng những đôi ủng ghê tởm, để lại những vết bùn dọc hành lang và vấy bẩn mọi thứ chúng chạm vào, đàn lợn dơ dáy.
Chúng nói to và cười lỗ mãng. Tôi đã nhận ra giọng của ít nhất một tên trong số chúng.
Servaz rùng mình khi đọc dòng cuối cùng. Anh xem xét kĩ lưỡng từng cuốn sổ tay, cuống cuồng lật từng trang, nhưng không tìm thấy ám chỉ nào khác về nhân dạng của những tên hung đồ. Có những đoạn, từ ngữ khiến anh tê liệt, không thể đọc tiếp được nữa: Chúng lần lượt thay phiên nhau… Anh chợp mắt vài tiếng, rồi tiếp tục đọc. Sau khi xem qua một số đoạn nhất định, anh kết luận rằng Alice chỉ bị cưỡng hiếp một lần, hay nói đúng hơn, một đêm, nhưng cô bé không phải người duy nhất bị cưỡng hiếp đêm đó. Suốt mùa hè năm ấy, những gã đàn ông kia đã đến trại hơn sáu lần. Tại sao cô bé không nói gì cả? Tại sao không một đứa trẻ nào lên tiếng? Có một ám chỉ mơ hồ về đứa trẻ chết vào mùa hè, do ngã xuống một hẻm núi. Phải chăng cậu bé bị giết để làm gương, nhằm cảnh cáo những đứa trẻ khác? Đây có phải lý do khiến chúng giữ im lặng? Bởi chúng bị đe dọa bằng cái chết? Hay vì chúng thấy xấu hổ và nghĩ rằng sẽ không có ai tin chúng? Vào thời đó, việc tố cáo là rất hiếm. Nhật kí của Alice không hề đưa ra câu trả lời nào cho những câu hỏi này.
Còn có cả những bài thơ cho thấy trong lĩnh vực thi ca, tài năng của cô bé tỏa sáng không kém gì lĩnh vực hội họa, ngay cả khi mục đích sáng tác không phải để thể hiện nét đẹp văn chương, mà chỉ để khắc họa sự khủng khiếp của những trải nghiệm.
Ta HÌNH HÀI nhỏ bé đẫm NƯỚC MẮT?
Thứ dơ dáy, vết nhơ trên mặt đất,
vết bầm dập, phải chăng là ta thật?
và ta nhìn nền đất kề sát mặt…
Bóng kẻ bạo hành vẫn nằm đó,
Bất kể những gì chúng làm hay nói,
đều chẳng thể chạm tới lòng ta.
Cái tâm cứng rắn, mạnh mẽ thanh sạch
“Bố ơi, từ ấy nghĩa gì, CON ĐIẾM?”
Ta rõ từ khi ta lên sáu.
Chúng muốn ở ngay đây.
LŨ LỢN LŨ LỢN LỮ LỢN!
Một chi tiết, quỷ quái nhất trong tất cả, khiến Servaz chú ý. Theo lời mô tả của cô bé, Alice đã vài lần nhắc đến âm thanh của áo choàng, tiếng loạt soạt của thứ vải chống thấm màu đen khi những tên cầm thú di chuyển. “Tiếng động,” cô bé viết, “tôi sẽ không bao giờ quên. Mãi mãi chỉ mang một ý nghĩa, rằng cái ác có tồn tại, và nó có âm thanh.”
Những lời này khiến Servaz chìm sâu vào suy tưởng. Khi đọc tiếp, anh hiểu ra tại sao mình không tìm thấy bất cứ cuốn nhật kí hay ghi chép nào trong phòng Alice.
Tôi từng giữ một quyển nhật kí. Tôi viết về cuộc sống nhỏ bé yên bình của mình trước đây, ngày này qua ngày khác. Nhưng tôi đã xé và vứt nó đi. Giữ một quyển nhật kí để làm gì sau tất cả CHUYỆN NÀY? Bọn vô lại không những hủy hoại tương lai của tôi, chúng còn vĩnh viễn làm vấy bẩn quá khứ.
Anh hiểu rằng Alice không nỡ vứt những cuốn sổ này đi. Đây có lẽ là nơi duy nhất sự thật được phơi bày. Đồng thời cô bé cũng muốn đảm bảo bố mẹ mình sẽ không tìm thấy chúng. Vì thế cô tìm một nơi cất giấu. Có lẽ cô biết rằng sau cái chết của mình, bố mẹ cô sẽ không động tới căn phòng. Hoặc ít nhất cô bé đã hy vọng như vậy. Ngoài ra, chắc hẳn cô bé cũng thầm hy vọng rằng một ngày kia sẽ có người tìm thấy những quyển sổ. Nhưng cô bé đã không thể ngờ phải mất chừng ấy năm và người đàn ông phát hiện ra chúng lại là một người hoàn toàn xa lạ. Dù sao thì cô bé đã không chọn cách ‘thiến bọn khốn nạn đó’, cô bé đã không lựa chọn trả thù. Có người đã làm thay cô… Là ai? Là bố cô, người đau buồn vì cả cái chết của mẹ cô? Hay các bậc phụ huynh khác? Hay một đứa trẻ đã bị lạm dụng nhưng không tự tử, và giờ trở thành một người lớn đầy oán hận, đau đáu một nỗi khát khao trả thù không cách nào khuây khỏa?
Sau khi đọc đến hết, Servaz đặt những cuốn sổ sang một bên và ra ban công. Anh đang nghẹt thở. Căn phòng này, thị trấn này, những ngọn núi này… Anh muốn tránh xa khỏi đây.
Ăn xong bữa sáng, anh trở lại phòng. Trong buồng tắm, anh đổ một ít nước vào cốc đánh răng và uống hai viên thuốc Xavier đã đưa cho. Anh cảm thấy ngây ngấy sốt và buồn nôn. Từng giọt mồ hôi lớn đang đọng trên trán. Cà phê vừa uống vẫn còn trong bụng. Anh tắm nước nóng hồi lâu, mặc quần áo, cầm điện thoại và ra ngoài.
Chiếc Cherokee đỗ cách khách sạn một đoạn, trước một tiệm bán rượu và đồ lưu niệm. Mưa giá buốt và nặng hạt, đâm lỗ chỗ trên tuyết, phố xá bị nhấn chìm trong tiếng nước dội ào ào xuống cống. Anh ngồi vào sau tay lái và gọi cho Ziegler.
Sáng hôm sau, vừa đến văn phòng, Espérandieu liền nhấc điện thoại gọi ngay. Cuộc gọi của cậu đổ chuông ở tòa nhà mười tầng hình bán nguyệt tọa lạc tại số 122 phố Château-des-Rentiers, quận 13, Paris. Một giọng lơ lớ nghe máy.
“Chị khỏe không, Marissa?” Cậu hỏi.
Sĩ quan chỉ huy Marissa Pearl thuộc BRDE, đội điều tra tội phạm kinh tế, phó ban tài chính và kinh tế. Chuyên môn của cô là những vụ lừa đảo công nghệ cao. Marissa chưa từng bại trận trên chiến trường chống phá các thiên đường trốn thuế,[1] rửa tiền, tham nhũng, thư ma mời thầu, tham ô, lạm dụng quyền lực, các mạng lưới, các tập đoàn đa quốc gia hoạt động như mafia… Cô cũng là một giảng viên xuất sắc, và Espérandieu đã mê mệt khóa học cô dạy ở học viện cảnh sát. Cậu đã đặt ra vô số câu hỏi. Sau giờ học, họ còn đi uống vài ly và phát hiện cùng có chung sở thích, Nhật Bản, tiểu thuyết đồ họa, nhạc Indie rock. Espérandieu đã bổ sung Marissa vào danh sách các mối quan hệ của cậu và cô cũng làm điều tương tự. Đối với công việc của họ, một mạng lưới giao thiệp tốt có thể giúp một cuộc điều tra được tiến hành suôn sẻ. Thỉnh thoảng họ lại hỏi thăm nhau qua thư điện tử hoặc điện thoại, có lẽ để đợi đến ngày mà một trong hai người sẽ cần tới sự giúp đỡ của người kia.
“Tôi đang đau đầu với một ông trùm lớn trong danh sách chỉ số chứng khoán CAC 40,” cô nói. “Vụ lớn nhất tôi từng nhận. Chắc không cần nói cậu cũng đoán ra, bọn chúng đang thọc gậy bánh xe dữ lắm. Nhưng nhớ phải kín miệng đấy!”
“Chị sẽ là nỗi khiếp sợ đối với CAC 40 đấy, Marissa ạ,” cậu cam đoan với cô.
“Tôi có thể giúp gì cho cậu, Vincent?”
“Chị có thông tin gì về Éric Lombard không?”
Đầu dây bên kia thoáng im lặng. Rồi… “Thế đấy! Ai tuồn cho cậu?”
“Về cái gì?”
“Đừng nói với tôi chỉ là trùng hợp nhé. Chính là cái tên tôi đang điều tra, Éric Lombard. Làm sao cậu biết được?”
Cậu có thể nhận ra sự nghi ngờ trong giọng nói của cô. 380 cảnh sát thuộc đội điều tra tội phạm kinh tế hoạt động trong một thế giới có chút khuynh hướng hoang tưởng, dưới cái bóng của những tập đoàn khổng lồ vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia.
“Con ngựa yêu thích của Lombard bị giết khoảng một tuần trước. Ở đây, trên dãy Pyrenees. Khi Lombard đang đi công tác ở Mỹ. Tiếp theo là hai án mạng xảy ra ở địa phương. Chúng tôi liên hệ những sự việc này với nhau. Có thể là trả thù. Vì thế chúng tôi đang cố tìm hiểu càng nhiều càng tốt về Éric Lombard. Hơn hết là liệu anh ta có kẻ thù nào không.”
Giọng Marissa nghe thoải mái hơn.
“Được rồi, cậu biết gì không? Cậu may mắn đấy!” (Cậu có thể hình dung ra cô đang mỉm cười.) “Chúng tôi vừa bươi móc đủ loại rác rưởi. Ai đó đã tố giác y. Cậu không thể tưởng tượng được những thứ vừa trồi lên bề mặt đâu.”
“Tôi tưởng là tuyệt mật?”
“Chính xác. Nhưng nếu tôi bắt gặp thứ gì có thể liên quan tới vụ án của cậu, tôi sẽ cho cậu biết. Hai vụ án mạng và một con ngựa? Quả là câu chuyện lạ kì! Tôi e là mình không còn nhiều thời gian. Tôi phải đi đây.”
“Tôi sẽ trông mong vào chị đấy nhé!”
“Yên tâm. Chỉ cần tìm thấy thứ gì phù hợp, tôi sẽ đẩy qua. Đương nhiên là cậu cũng phải giúp tôi như vậy. Nhưng phải nói rõ, hãy coi như tôi chưa nói gì với cậu cả, và cậu không biết tôi đang làm vụ gì. Nhân tiện, đây là tin tốt nhất hiện giờ. Năm 2008, Lombard nộp thuế ít hơn cả ông lão bán bánh mì ở tầng dưới chỗ tôi.”
“Sao có thể như thế?”
“Rất đơn giản, y có những luật sư thuế giỏi nhất. Và họ nắm rõ từng kẽ hở trong số 486 lỗ hổng thuế tồn tại ở đất nước tuyệt vời này, về cơ bản là dưới hình thức tín dụng thuế. Đương nhiên, chủ yếu là kẽ hở đối với đầu tư nước ngoài. Nghĩa là ít nhiều việc đầu tư ra nước ngoài cho phép giảm thuế lên đến 60% với khối công nghiệp, thậm chí 70% cho hình thức cải tiến khách sạn và du thuyền. Hơn nữa, không có giới hạn số tiền đầu tư nên không có mức tối đa cho việc giảm thuế. Hiển nhiên là chúng ta đang nói tới đầu tư ưu tiên thu lời ngắn hạn, hoàn toàn không quan tâm tới tính khả thi về mặt kinh tế của dự án. Đương nhiên, Lombard không đầu tư thua lỗ, y có thể rút chân ra bằng cách này hay cách khác nếu buộc phải làm thế. Thêm nữa, những khoản tín dụng thuế y có được là kết quả của việc dựa vào các hiệp định quốc tế về đánh thuế hai lần, sắm sanh các tác phẩm nghệ thuật và áp dụng một lô thủ thuật kế toán như vay ngân hàng để mua cổ phiếu trong chính tập đoàn mình, y không cần phải đi mở cửa hàng ở Thụy Sĩ hay quần đảo Cayman. Vì thế đến cuối cùng, Lombard chỉ cần trả một khoản thuế ít hơn kẻ thu nhập bằng 1/1000 mình. Không tệ phải không, đối với một trong số mười người giàu nhất nước Pháp?”
Espérandieu nhớ lại thông tin của kleim162. Khẩu hiệu của các chính phủ và các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế là ‘tạo ra một môi trường thuận lợi cho đầu tư’, nói cách khác là để chuyển dịch gánh nặng thuế từ người giàu sang tầng lớp trung lưu. Hoặc, như một tỉ phú Mỹ bị bỏ tù vì gian lận thuế đã cay độc nói, “Chỉ những người tầm thường mới nộp thuế.” Có lẽ cậu nên giới thiệu Marissa cho anh ta, họ sẽ tạo thành một cặp tâm đầu ý hợp.
“Cảm ơn, Marissa, chị đã giúp tôi rất nhiều.”
Espérandieu ngồi một lúc, nhìn chằm chằm vào màn hình chờ. Một vụ bê bối sắp vỡ lở, liên quan đến Lombard và tập đoàn của anh ta. Liệu nó có liên quan tới cuộc điều tra của họ không?
Ziegler, Propp, Maillard, Confiant và d’Humières ngồi bất động, lắng nghe Servaz nói. Trước mặt mỗi người đều có bánh sừng bò và bánh mì mà một viên sen đầm đã mua ở hiệu bánh gần nhất về. Ngoài ra là trà, cà phê, nước ngọt và nước lọc. Và mỗi người đều có thêm một thứ nữa: sự mỏi mệt.
“Nhật kí của Alice Ferrand đã mở ra một hướng đi mới,” Servaz kết luận. “Hay đúng hơn là nó xác nhận một giả thuyết của chúng ta. Là trả thù. Theo Gabriel Saint-Cyr, một trong mấy hướng điều tra ông ấy đã từng vạch ra là lạm dụng tình dục, nhưng sau phải từ bỏ vì thiếu bằng chứng. Nếu chúng ta tin tưởng nhật kí này, thì các thiếu niên tại trại hè Les Isards quả thực đã bị cưỡng hiếp và tra tấn nhiều lần, dẫn đến việc một số đứa tự tử.”
“Tuy nhiên, anh là người duy nhất đã đọc nhật kí cho tới lúc này…” Confiant nhận xét.
Servaz quay sang Maillard, anh ta liền đứng lên, phân phát mấy xấp bản sao quanh bàn, đặt chúng giữa những ly, tách và bánh sừng bò. Vài người đã ăn và để vụn bánh rơi vãi khắp nơi, những người khác thì vẫn chưa đụng đến.
“Hiển nhiên. Vì một lý do đơn giản là người viết cuốn nhật kí này chưa bao giờ muốn người khác đọc. Nó được giấu rất kĩ. Tôi chỉ vừa mới phát hiện ra nó đêm qua, như tôi đã nói. Nhờ nhiều yếu tố kết hợp.”
“Nếu cô gái bịa đặt toàn bộ thì sao?”
Servaz xòe hai tay, “Tôi không nghĩ vậy. Cậu có thể tự đánh giá. Nó quá thật, quá… cụ thể. Và cứ cho là bịa đặt đi, tại sao cô bé lại phải dày công giấu giếm nó như thế?”
“Tất cả dẫn tới đâu đây?” Tay thẩm phán hỏi. “Tới một đứa trẻ đã trưởng thành và đang trả thù? Hay một trong các phụ huynh? Trong trường hợp đó, tại sao DNA của Hirtmann lại có ở hiện trường? Và con ngựa của Lombard khớp vào đâu? Tôi chưa từng thấy một cuộc điều tra nào rối rắm thế này!”
“Không phải là cuộc điều tra rối rắm,” Ziegler đáp lại bằng giọng sắc bén, “mà các sự kiện rối rắm.”
Cathy d’Humières nhìn chằm chằm vào Servaz một lúc lâu, tay vẫn cầm cái tách rỗng.
“Gaspard Ferrand là người có động cơ tốt để gây ra những án mạng này,” bà chỉ ra.
“Cũng ngang ngửa các phụ huynh khác có con tự sát,” Servaz trả lời. “Đương nhiên là cả những đứa trẻ từng bị bộ tứ cưỡng hiếp và hiện tại đã thành người lớn.”
“Đây là một khám phá rất quan trọng,” bà trưởng công tố nói. “Đề nghị của cậu là gì, Martin?”
“Không có gì thay đổi, việc cấp bách nhất vẫn là tìm Chaperon. Đây là ưu tiên của chúng ta. Trước khi hung thủ tóm được ông ta. Giờ đây, vì đã biết bộ tứ từng làm những chuyện bẩn thỉu ở Les Isards, chúng ta phải tập trung vào trại hè, và vào những đứa bé tự tử. Bởi ta đã biết có mối quan hệ giữa lũ trẻ ấy và hai nạn nhân, mắt xích chính là trại hè.”
“Ngay cả khi hai trong số những đứa trẻ tự tử chưa bao giờ đến đó?” Confiant phản đối.
“Với tôi thì rõ ràng mấy cuốn sổ tay này kể lại những chuyện đã xảy ra ở Les Isards. Hai thiếu niên còn lại bị cưỡng hiếp ở một nơi khác, không phải trại hè chăng? Và chúng ta nên kiểm tra xem bộ tứ có xu hướng ấu dâm không? Tôi không rõ lắm… Không dấu hiệu nào cho thấy họ nhắm vào trẻ em, mà là thanh thiếu niên. Có gì khác biệt không? Tôi không đủ chuyên môn để phân định.”
“Số nam và nữ cân bằng, dựa vào danh sách nạn nhân tự tử,” Propp nói. “Nhưng anh nói đúng, mấy người này không hẳn có đặc tính của những tên ấu dâm, mà là những kẻ săn mồi tình dục có thiên hướng cực đoan với bạo dâm và những trò đồi trụy nhất. Và không còn nghi ngờ gì nữa, bọn họ bị sự trẻ trung của con mồi hấp dẫn.”
“Sa đọa quá mức,” Cathy d’Humières lạnh lùng nói. “Cậu định tìm Chaperon như thế nào?”
“Tôi không biết,” Servaz thừa nhận.
“Chúng ta chưa gặp trường hợp thế này bao giờ,” bà nói. “Tôi đang cân nhắc đến chuyện xin tiếp viện.”
Câu trả lời của Servaz khiến mọi người ngạc nhiên, “Tôi không phản đối. Chúng ta phải tìm toàn bộ số trẻ từng ở trại hè và hiện giờ đã thành người lớn, rồi thẩm vấn họ. Cả những phụ huynh còn sống nữa. Tập hợp thành một danh sách. Đây sẽ là một việc tốn công sức, thời gian. Nhưng chúng ta không có thời gian. Như vậy là cần thêm nguồn lực.”
“Được,” d’Humières nói. “Theo tôi hiểu thì tổ hình sự ở Toulouse đang ngập trong các vụ án rồi, vì thế tôi sẽ điều động bên sen đầm,” bà nhìn Ziegler và Maillard. “Còn gì nữa không?”
“Những chiếc đai được dùng để treo Grimm lên cầu,” Ziegler nói. “Nhà máy sản xuất chúng đã liên hệ với tôi. Chúng được bán qua một cửa hàng ở Tarbes… vài tháng trước.”
“Nói cách khác, chúng ta không mong đợi sẽ tìm thấy băng ghi hình,” d’Humières nói. “Họ có bán được nhiều không?”
“Đó là một siêu thị lớn chuyên về đồ thể thao. Thu ngân gặp hàng tá khách hàng mỗi ngày, đặc biệt là vào cuối tuần. Vì vậy, chúng ta không thể trông đợi gì ở hướng này.”
“Rồi. Còn gì nữa không?”
“Công ty phụ trách an ninh ở Viện,” cô sen đầm tiếp tục. “Họ cung cấp cho chúng ta một danh sách nhân viên. Tôi đã bắt đầu xem xét. Cho tới thời điểm này thì không có gì để báo cáo.”
“Giải phẫu tử thi Perrault diễn ra vào chiều nay,” d’Humières nói. “Ai có thể có mặt?”
Servaz giơ tay.
“Sau đó tôi sẽ tới Viện gặp Xavier,” anh bổ sung. “Chúng ta cần biết chính xác tất cả những người tiếp xúc với Hirtmann. Và phải gọi cho tòa thị chính Saint-Martin xem họ có thể cung cấp danh sách học sinh từng tham gia Les Isards không, vì hẳn là trại hè được cấp kinh phí và vận hành dưới sự chỉ đạo của chính quyền thị trấn. Viện và trại hè là hai ưu tiên hàng đầu lúc này. Ngoài ra phải tiếp tục đào sâu, tìm hiểu xem có mối quan hệ nào giữa hai nơi không.”
“Mối quan hệ kiểu gì?” Confiant hỏi.
“Giả sử chúng ta tìm thấy một trong số trẻ em ở trại hè, một trong số các nạn nhân, hiện tại lại là cán bộ của Viện chẳng hạn?”
Cathy d’Humières nhìn anh sắc lẻm.
“Giả thuyết thú vị đấy,” bà nói.
“Tôi sẽ làm việc với tòa thị chính,” Ziegler nói.
Servaz ngạc nhiên. Ziegler đã lên tiếng. Không giống tác phong của cô lắm. Anh gật đầu, “Tốt. Nhưng hướng hành động quan trọng vẫn là tìm Chaperon, bất kể ông ta đang trốn ở đâu. Chúng ta phải thẩm vấn bà vợ cũ. May ra bà ta biết đôi điều. Xem xét giấy tờ của Chaperon nữa. Ngộ nhỡ có gì trong các hóa đơn, biên lai thuê nhà, dẫn chúng ta tới nơi ông ta ẩn náu. Cô đã có kế hoạch gặp vợ cũ của Chaperon vào sáng nay, cứ tiếp tục đi. Tòa thị chính đến sau cũng được.”
“Được. Còn gì nữa?” D’Humières hỏi.
“Hồ sơ tâm lý,” Propp nói. “Tôi đã lắp ghép được một chân dung khá chính xác, dựa vào những yếu tố tìm thấy ở hiện trường vụ án: treo cổ, đôi ủng, khỏa thân, vân vân. Nhưng những cuốn nhật kí đã thay đổi tất cả. Tôi phải quay trở lại bảng vẽ.”
“Cậu cần bao lâu?”
“Giờ chúng ta có đủ tài liệu nên sẽ khá nhanh. Tôi sẽ đưa kết luận của mình cho mọi người vào thứ Hai.”
“Vào thứ Hai? Hãy hy vọng là tên giết người cũng nghỉ ngơi vào cuối tuần,” d’Humières xẵng giọng.
Câu nói mỉa mai của bà khiến anh ta đỏ mặt.
“Điều cuối cùng. Làm tốt lắm, Martin! Tôi luôn biết mình đã quyết định đúng khi giao cho cậu vụ này.”
Nói đến đây, ánh mắt bà chuyển từ Servaz sang Confiant, nhưng có lẽ cậu ta thích ngắm móng tay mình hơn.
Khi điện thoại reo, Espérandieu đang nghe The Raconteurs hát Many Shades of Black. Cậu ngoáy ngoáy tai khi nhận ra Marissa, cô gọi lại từ tổ điều tra tội phạm kinh tế.
“Cậu đã nói cậu muốn biết có gì kì lạ xảy ra gần đây liên quan tới Éric Lombard phải không?”
“Về cơ bản, đúng là như vậy,” cậu xác nhận, mặc dù cậu nhớ mình đã diễn đạt có phần hơi khác.
“Tôi có thông tin đấy. Chẳng biết ích lợi gì không, vì thoạt nhìn nó không liên quan tới vụ của cậu. Nhưng nó mới xảy ra gần đây và đã gây đôi chút xôn xao.”
“Cứ nói tôi nghe xem.”
Và cô kể cho cậu nghe. Mất một lúc lâu cô mới giải thích hết. Mà Espérandieu cũng không dễ dàng nắm bắt ngay được. Đại khái là có điều khuất tất liên quan tới một số tiền là 135.000 đô la trên sổ kế toán của công ty Truyền thông Lombard. Mục chỉ là sản xuất phóng sự, người hưởng là một công ty truyền thông và dịch vụ truyền hình. Nhưng khi đối chiếu với công ty nêu trên, họ không tìm thấy bất cứ phóng sự nào tương ứng hết. Rõ ràng, bút toán dùng để che đậy một vụ biển thủ công quỹ. Nghe xong, Espérandieu hơi thất vọng. Cậu không hiểu lắm, và cảm thấy thông tin này chẳng giúp gì được cho bọn họ. Nhưng vẫn cẩn thận ghi chú vài dòng vào tập giấy của mình.
“Thế nào, có tác dụng gì với cậu không?”
“Không hẳn,” cậu trả lời. “Nhưng dù sao vẫn cảm ơn chị.”
Có điều gì khác lạ trong bầu không khí của Viện. Diane đã quan sát Xavier suốt cả buổi sáng, để ý kĩ từng biểu hiện cử chỉ của anh ta. Xavier lộ vẻ lo lắng và căng thẳng, trên thực tế, gần như là kiệt sức. Có vài lần, ánh mắt họ gặp nhau. Anh ta biết… Hoặc chính xác hơn, anh ta biết là cô biết. Hoặc có lẽ chỉ là tưởng tượng của cô. Phỏng chiếu, chuyển dịch[2], cô biết ý nghĩa của những từ này.
Cô có nên báo cảnh sát không? Suốt buổi sáng nay câu hỏi cứ ám ảnh tâm trí cô. Cô không tin cảnh sát sẽ nhận ra mối liên hệ trực tiếp giữa vụ đặt hàng thuốc mê và cái chết của con ngựa. Cô đã hỏi Alex xem có ai nuôi con gì trong Viện không. Anh ta lộ vẻ ngạc nhiên, và đưa ra câu trả lời phủ định. Cô cũng nhớ lại buổi sáng hôm mới đến, chính là buổi sáng người ta tìm thấy con ngựa. Xavier tiếp đón cô, trông không hề giống một người đã chật vật thức cả đêm để chặt đầu một con vật, vận chuyển nó rồi treo lên độ cao 2.000 mét dưới thời tiết -10°C. Trái lại, anh ta có vẻ sảng khoái, thư thái, và hơn hết là ngạo mạn trịch thượng đến khó ưa. Dù gì thì cũng không phải kiệt sức và căng thẳng.
Đột nhiên, Diane lo lắng tự hỏi lẽ nào mình đã kết luận vội vàng. Phải chăng sự tách biệt với thế giới bên ngoài và trạng thái kì lạ bao trùm nơi này khiến cô hoang tưởng. Nói cách khác, liệu có phải cô tưởng tượng ra tất cả? Nếu thế, thật vô cùng nực cười khi liên hệ với cảnh sát chỉ để yêu cầu họ tìm ra lý do thực sự của việc đặt hàng những liều thuốc kia. Và chắc chắn cô sẽ đánh mất mọi cơ hội tạo dựng niềm tin ở Xavier và các đồng nghiệp khác. Chưa kể tới thanh danh của cô khi trở lại Thụy Sĩ.
Viễn cảnh u ám khiến cô vô cùng nản chí.
“Cô không hứng thú với những gì tôi nói sao?”
Diane trở về thực tại. Bệnh nhân ngồi đối diện đang lạnh lùng nhìn cô. Thậm chí cho tới giờ, đôi bàn tay ông ta vẫn to bè và chai sần thô ráp. Ông ta vốn là một công nhân, tấn công ông chủ bằng một cái tua vít sau khi bị đuổi việc không có lý do chính đáng. Đọc hồ sơ của ông ta, Diane tin rằng chỉ vài tuần trong bệnh viện tâm thần là đủ cho người đàn ông khốn khổ này. Nhưng ông ta đã rơi vào tay của một bác sĩ tâm thần quá nhiệt huyết, nên bị giam giữ mười năm. Thêm vào đó, họ bắt ông ta uống thuốc tâm thần liều cao và kéo dài. Khi mới đến, có lẽ người đàn ông này chỉ bị trầm cảm, nhưng giờ rốt cuộc đã hóa điên.
“Đương nhiên là có, Aaron. Tôi rất hứng thú.”
“Cô không hứng thú chút nào.”
“Tôi cam đoan với ông là có.”
“Tôi sẽ mách bác sĩ Xavier là cô không hứng thú với những gì tôi nói.
“Tại sao ông lại làm thế, Aaron? Nếu ông không phiền, chúng ta có thể quay lại…”
“Blah blah blah, cô chỉ đang cố câu giờ.”
“Câu giờ?”
“Cô đừng nhắc lại mọi điều tôi nói.”
“Ông làm sao thế, Aaron?”
“‘Ông làm sao thế, Aaron?’ Tôi đã nói chuyện cả tiếng đồng hồ với một bức tường.”
“Không hề! Tôi chỉ…”
“‘Không hề! Tôi chỉ…’ Cốc cốc cốc, chuyện gì đang xảy ra trong đầu cô, bác sĩ?”
“Gì cơ?”
“Cô có vấn đề gì?”
“Tại sao ông lại nói thế, Aaron?”
“‘Tại sao ông lại nói thế, Aaron?’ Câu hỏi, tất cả những gì tôi nhận được chỉ là câu hỏi!”
“Tôi nghĩ chúng ta nên hoãn buổi trò chuyện này tới khi khác…”
“Không, tôi không nghĩ vậy. Tôi sẽ báo lại bác sĩ Xavier rằng cô đang phí phạm thời gian của tôi. Tôi không muốn có thêm buổi nói chuyện nào với cô nữa.”
Cô đỏ mặt, dù không muốn, “Ôi thôi nào, Aaron! Đây mới chỉ là buổi trò chuyện thứ ba của chúng ta. Tôi…”
“Cô đang ở đâu ấy, bác sĩ ạ. Cô không quan tâm. Tâm trí cô lang thang chỗ khác.”
“Aaron, tôi…”
“Cô biết không, bác sĩ? Cô không thuộc về nơi này. Cô từng ở đâu thì trở về nơi ấy đi. Trở về Thụy Sĩ quê hương của cô đi.”
Cô giật mình, “Ai nói với ông tôi là người Thụy Sĩ? Chúng ta chưa bao giờ đề cập đến.”
Ông ta ngửa đầu ra sau và bật cười, một tiếng cười gian xảo. Ông ta nhìn thẳng vào cô với ánh mắt trơn tuột và mờ đục như một phiến đá xám.
“Cô nghĩ sao? Ở đây, chúng tôi biết tất cả. Mọi người đều biết cô là người Thụy Sĩ, giống như Julian.”
Delmas nói, “Chắc chắn anh ta đã bị đẩy xuống không trung với dây đai vòng quanh cổ. Phát hiện tổn thương nghiêm trọng ở hành não và hành tủy, không giống như trường hợp của dược sĩ. Còn cả tổn thương xung quanh đốt sống cổ vì cú giật mạnh.”
Servaz tránh nhìn vào cái xác đang sấp mặt xuống, gáy và sọ bị cắt mở của Perrault. Nếp cuộn não và tủy sống lấp lánh như thạch rau câu trong ánh sáng của phòng giải phẫu.
“Không có dấu hiệu của tụ máu hay tiêm chích,” Delmas nói tiếp. “Cậu đã thấy anh ta lúc còn sống trong cái cabin… Về cơ bản, anh ta đã hoàn toàn tự nguyện đi theo kẻ giết mình.”
“Hoặc đúng hơn, bị đe dọa bằng vũ khí gì đó,” Servaz nói.
“Tìm hiểu chuyện đó không phải là sở trường của tôi. Dù sao thì tôi cũng sẽ tiến hành kiểm tra mẫu máu. Vừa phát hiện ra trong máu Grimm có vết tích rất nhỏ của flunitrazepam, một dược chất chống trầm cảm mạnh gấp mười lần so với valium, được kê trong những trường hợp rối loạn giấc ngủ nghiêm trọng và được thương mại hóa dưới cái tên rohypnol. Nó còn được sử dụng như một loại thuốc gây mê. Grimm là dược sĩ, có lẽ anh ta sử dụng phương thuốc này để chữa trị chứng mất ngủ. Có khả năng… Hơn nữa, nó đã được phân loại vào một nhóm thuốc thường được gọi là thuốc xâm hại tình dục[3], bởi nó kích thích chứng quên và là một chất chống ức chế rất mạnh, đặc biệt khi dùng kết hợp với rượu. Nó không mùi, không màu và không vị, bài tiết rất nhanh qua nước tiểu và để lại cực kì ít dấu vết trong máu, gần như rất khó bị phát hiện, mọi dấu vết hóa học sẽ biến mất trong vòng hai mươi tư giờ.”
Servaz bật ra một tiếng huýt sáo nho nhỏ.
“Nguyên nhân khiến chúng tôi chỉ tìm thấy những dấu vết cực nhỏ trong máu là do nạn nhân đã dùng thuốc trước đó rất lâu rồi. Rohypnol có thể được hấp thu qua miệng hoặc qua tĩnh mạch, nuốt, nhai hoặc tan trong đồ uống. Kẻ hành hung có lẽ đã sử dụng nó để khiến nạn nhân nghe lời và dễ kiểm soát hơn. Đối tượng cậu cần tìm là một tên cuồng kiểm soát, Martin ạ. Và hắn vô cùng, vô cùng thông minh.”
Delmas lật cái thi thể nằm ngửa ra. Perrault không còn mang biểu cảm khiếp sợ mà Servaz đã thấy trong cabin nữa. Thay vào đó, ông ta đang lè lưỡi. Delmas cầm một chiếc cưa điện lên.
“Được rồi, tôi nghĩ tôi đã nhìn đủ rồi,” Servaz nói. “Dù sao chúng ta cũng đã biết chuyện gì xảy ra. Tôi sẽ đọc báo cáo của anh sau.”
“Martin,” Delmas gọi, ngay khi anh sắp rời khỏi phòng.
Anh quay lại.
“Trông cậu không khỏe đâu,” với chiếc cưa trong tay, trông ông ta như một thợ sửa chữa siêng năng vào ngày Chủ nhật. “Đừng để bị vụ án cuốn đi.”
Servaz gật đầu và đi ra ngoài. Anh nhìn cỗ quan tài lót đệm đang đợi Perrault sau khi rời khỏi nhà xác. Servaz rời khỏi tầng hầm bệnh viện, đi lên con dốc bê tông thoai thoải rồi hít một hơi đầy lồng ngực khí trời trong lành bên ngoài. Hẳn anh sẽ bị mùi formalin, thuốc khử trùng và xác chết trộn lẫn với nhau ám lại rất lâu. Điện thoại reo lên khi anh vừa mở khóa xe. Là Xavier.
“Tôi đã có danh sách,” anh ta tuyên bố. “Của những người đã tiếp xúc với Hirtmann. Anh có cần không?”
Servaz nhìn lên dãy núi.
“Tôi sẽ ghé qua và tiện lấy luôn,” anh trả lời. “Hẹn gặp lại anh.”
Trên đường đến Viện, bầu trời tối sầm nhưng mưa đã ngừng. Ở mỗi khúc quanh, những chiếc lá vàng và đỏ, vết tích cuối cùng của mùa thu, trồi lên khỏi tuyết lề đường và bị thổi bay khi chiếc xe lao vụt qua. Gió rét buốt rung lắc những cành cây trơ trụi đang vươn ra cào xước chiếc xe hệt như những ngón tay trơ xương kinh dị. Ngồi sau vô lăng, Servaz lại nghĩ tới Margot. Espérandieu đã theo dõi con bé theo lời anh bảo chưa? Anh nghĩ tới Charlène, tới thằng bé Clément, và Alice Ferrand… Mọi thứ xoay tít và quay mòng mòng trong đầu anh khi xe vòng qua những khúc quanh.
Điện thoại lại rung. Anh nhấc máy. Là Propp.
“Tôi quên mất không nói với anh một điều, màu trắng rất quan trọng, Martin. Những đỉnh núi phủ tuyết trắng cho con ngựa, sắc trắng của cơ thể trần truồng cho Grimm, và một lần nữa, tuyết trắng cho Perrault. Màu trắng dành cho kẻ giết người. Hắn coi đó là biểu tượng của sự thuần khiết và thanh tẩy. Hãy tìm màu trắng. Tôi nghĩ anh sẽ tìm thấy màu trắng xung quanh tên giết người.”
“Trắng như Viện?” Servaz nói.
“Tôi không biết. Tôi tưởng chúng ta đã loại bỏ hướng đó, không phải sao? Tôi xin lỗi, chỉ có thế thôi. Hãy tìm màu trắng.”
Servaz cảm ơn anh ta và cúp máy. Cổ họng anh thắt lại. Có điều gì đáng sợ đang lởn vởn trong không khí, anh đã lờ mờ cảm thấy.
Tất cả vẫn chưa kết thúc.
❀ ❀ ❀
[1] : một thuật ngữ kinh tế, chính trị chỉ các quốc gia và vùng lãnh thổ có chính sách bí mật để khuyến khích cá nhân hoặc doanh nghiệp nước ngoài đưa tiền mặt đến. Những nơi này thường có luật thuế nhẹ nhàng, ưu đãi và đội ngũ luật sư, kế toán chuyên nghiệp giúp những người nước ngoài giàu có che giấu tài sản. Những thiên đường trốn thuế nổi tiếng thế giới có thể kể đến là Thụy Sĩ, Luxembourg, quần đảo Cayman…
[2] : Hai cơ chế tâm lý học do Sigmund Freud đề ra. Phỏng chiếu là hành động vô thức gắn một cảm xúc tiêu cực hoặc thuộc tính không mong muốn ở bản thân chúng ta sang cho người khác. Ví dụ, một bà mẹ ám ảnh về cân nặng thường có xu hướng thấy con gái của mình thừa cân. Sự chuyển dịch xảy ra khi một người cảm nhận hoặc tin rằng người khác đang có những cảm xúc tiêu cực đối với mình, ngay cả khi cảm nhận ấy thường là của bản thân người ấy, chứ không đúng với những cảm xúc hoặc hành vi thực tế của người kia. Ví dụ, ông chồng nói với vợ rằng, “Em nhìn anh như một kẻ vô dụng,” thì trên thực tế, chính ông ta đang cảm thấy mình vô dụng và chuyển dịch cảm nhận đó sang bà vợ.
[3] : Thuốc thuộc nhóm này có tác dụng gây tê liệt hệ thần kinh trung ương, nếu bị lạm dụng thì nạn nhân mất khả năng chống cự về thể chất hay tình dục.