14
Bác sĩ Xavier có vẻ vui mừng khi có khách tới. Anh ta đi theo lối nhỏ phủ tuyết trước cổng, dang rộng hai tay.
“Các anh đến vào thời điểm bất tiện quá. Chúng tôi đang họp giao ban. Thứ Hai hằng tuần tôi lại triệu tập cuộc họp, lần lượt với các nhóm điều trị khác nhau ở mỗi đơn vị chăm sóc, tất cả bác sĩ, y tá, hộ lý và nhân viên công tác xã hội.”
Nhưng nụ cười toe toét kia lại như ám chỉ rằng, anh ta chẳng tiếc chút nào khi phải đột ngột kết thúc buổi họp tẻ ngắt của mình. Anh ta nồng nhiệt bắt tay vị thẩm phán.
“Cuối cùng lại phải nhân vụ việc kinh khủng này thì cậu mới đến thăm chỗ tôi làm việc.”
Bác sĩ Xavier là một người đàn ông nhỏ thó, vẫn còn trẻ, vẻ ngoài không chê vào đâu được. Servaz nhận thấy chiếc cà vạt hợp thời bên dưới cổ áo blu của anh ta. Viên bác sĩ cười luôn miệng, thân thiện nhìn hai nhân viên điều tra. Biểu hiện của anh ta vừa ân cần, vừa linh lợi hài hước. Servaz ngay lập tức cảnh giác. Theo bản năng, anh luôn đề phòng những người dễ dàng tỏ ra lịch thiệp và tươi cười.
Anh nhìn lên những bức tường cao ngất. Viện bao gồm hai tòa nhà năm tầng đồ sộ kề nhau thành hình chữ T với thanh ngang dài gấp ba lần thanh dọc. Anh quan sát những ô cửa sổ hẹp trên các bức tường đá xám. Tường dày đến mức tưởng như chúng có thể chịu được đòn tấn công của một quả tên lửa. Chắc chắn một điều, chuyện trốn ra ngoài bằng cách đào tường gần như là không tưởng.
“Chúng tôi đến để xác định liệu có khả năng một bệnh nhân của anh trốn ra ngoài hay không,” Confiant nói với tay bác sĩ tâm thần.
“Hoàn toàn không thể,” Xavier trả lời không chút do dự. “Và bên cạnh đó, không có ai biến mất cả.”
“Chúng tôi biết,” Servaz nói.
“Tôi không hiểu,” anh ta lúng túng. “Nếu thế thì vì sao các vị lại tới đây?”
“Chúng tôi nghi ngờ một trong những bệnh nhân của anh có khả năng ra ngoài, giết con ngựa của Éric Lombard rồi quay trở lại phòng giam,” Ziegler nói.
Mắt viên bác sĩ nheo lại. “Cô không đùa đấy chứ?”
“Tôi cũng nghĩ thế đấy,” Confiant vội nói, ném ánh mắt khó chịu sang hai điều tra viên. “Nghe hoàn toàn vô lý. Nhưng họ vẫn muốn đảm bảo chắc chắn.”
Servaz cảm thấy như thể mình vừa bị sốc điện. Tay thẩm phán trẻ tuổi không những tự ý báo trước với Xavier, giờ lại còn chỉ trích công việc của họ trước mặt người khác.
“Các anh có nghĩ tới một đối tượng cụ thể nào không?” Xavier hỏi.
“Julian Hirtmann,” Servaz trả lời, không chút nao núng.
Viên bác sĩ tâm thần nhìn anh, nhưng lần này không nói gì cả. Anh ta chỉ nhún vai và quay bước. “Đi theo tôi.”
Lối vào là ba lớp cửa kính trên cùng bậc tam cấp, ngay gần một góc ở phần giao nhau của chữ T.
“Tất cả khách viếng thăm và mọi nhân viên đều đi qua lối này,” Xavier giải thích khi bước lên bậc thang. “Có bốn lối thoát hiểm ở tầng trệt và một ở tầng hầm, hai cái đặt bên hông cuối hai hành lang trung tâm, một ở cạnh bếp, một cái nữa bên tòa nhà phụ, phía sau phòng tập gym,” anh ta nói và chỉ về phía thanh nhỏ hơn của chữ T. “Nhưng chúng tuyệt đối không thể mở ra từ bên ngoài, và cần một chìa khóa đặc biệt mới mở được từ bên trong. Chúng có chức năng mở khóa tự động, tuy nhiên, chỉ khi có cháy lớn. Đó là trường hợp duy nhất.”
“Ai giữ những chiếc chìa khóa này?” Servaz hỏi.
“Khoảng hai mươi người,” Xavier nói khi đi qua những cánh cửa kính. “Các trưởng nhóm chăm sóc, ba giám sát viên ở tầng trệt, y tá trưởng, bếp trưởng, và tôi… Nhưng trong mọi tình huống, nếu một trong những cánh cửa đó bị mở, nó sẽ ngay lập tức kích hoạt chuông báo động trong phòng điều khiển.”
“Chúng tôi cần danh sách những người giữ chìa khóa,” Ziegler nói.
“Có người trực thường xuyên trong phòng điều khiển không?” Servaz hỏi.
“Có. Anh sẽ thấy, phòng ở ngay đây thôi.”
Họ vừa đi vào một tiền sảnh rộng lớn. Phía bên phải là một nơi giống phòng chờ, với những chậu cây xanh và dãy ghế nhựa cố định vào một thanh ngang. Đối diện là một phòng kính hình bán nguyệt, loại hay thấy ở ngân hàng hoặc khu vực tiếp tân. Không có ai ở đó. Phía bên trái là một không gian rộng lớn có những bức tường trắng bóng được trang hoàng bằng tranh vẽ. Những khuôn mặt bị hành hạ nhe hàm răng sắc nhọn như dao, những cơ thể méo mó, màu sắc chói mắt. Servaz đoán ra ngay, đây là các tác phẩm nghệ thuật của người bệnh.
Anh chuyển hướng nhìn qua một cánh cửa thép có ô thoáng tròn nhỏ. Phòng điều khiển. Xavier băng qua tiền sảnh để đi vào căn phòng đó. Anh ta lấy ra một trong những chiếc chìa được móc vào sợi xích ở thắt lưng, tra vào ổ và mở cánh cửa bọc thép. Có hai bảo vệ bên trong đang theo dõi mấy chục màn hình. Họ mặc bộ áo liền quần màu cam, cúc chưa đóng kín lộ ra áo thun trắng bên trong. Còng tay và những cái vòng xỏ đầy chìa khóa đeo bên thắt lưng kêu xủng xẻng chói tai theo mỗi cử động. Có những hộp xịt hơi cay treo trên tường nhưng không có súng.
Những chiếc màn hình chiếu hình ảnh hành lang dài, cầu thang, tiền sảnh, và căng tin. Tất cả đều vắng hoe. Hai người đàn ông hờ hững nhìn vào chúng với biểu cảm trống rỗng hệt như hai gã bảo vệ.
“Viện được trang bị bốn mươi tám chiếc camera,” Xavier giải thích. “Bốn mươi hai cái bên trong, sáu cái bên ngoài, và dĩ nhiên toàn bộ đều được đặt ở những vị trí chiến lược.”
Anh ta chỉ vào hai người đàn ông.
“Luôn luôn có ít nhất một người trực đêm. Hai người vào ban ngày.”
“Một người mà phải chú ý tới hơn bốn mươi màn hình,” Servaz nhấn mạnh.
“Chúng tôi không chỉ có camera,” Xavier trả lời. “Cơ sở này được chia thành vài khu vực riêng biệt, mỗi khu có cấp độ an ninh khác nhau tùy thuộc mức độ nguy hiểm của các bệnh nhân ở đó. Nếu phát hiện xâm nhập trái phép từ khu vực này sang khu vực khác, hệ thống báo động sẽ tự động kích hoạt.”
Anh ta chỉ vào một hàng đèn nhỏ màu đỏ phía trên những chiếc màn hình.
“Các biện pháp sinh trắc thích hợp cũng được áp dụng tương ứng với mỗi cấp độ an ninh. Để tiếp cận Khu A là khu điều trị những bệnh nhân nguy hiểm nhất, bắt buộc phải đi qua một cửa an ninh kép được canh gác 24/24.”
“Có phải tất cả các nhân viên đều được đi vào Khu A không?” Ziegler hỏi.
“Đương nhiên không. Chỉ có nhóm điều trị phụ trách Khu A cùng với y tá trưởng, hai bảo vệ ở tầng năm, bác sĩ điều trị, giáo sĩ, và tôi. Và mới đây có thêm một bác sĩ tâm lý ở Thụy Sĩ sang.”
“Chúng tôi cũng cần danh sách những người đó,” Ziegler nói. “Cùng với mô tả công việc của từng người và các kĩ năng tương ứng.”
“Tất cả đều lưu trong máy tính chứ?” Servaz hỏi.
“Phải.”
“Ai là người cài đặt hệ thống máy tính?”
“Một công ty bảo vệ tư nhân.”
“Và ai bảo trì hệ thống?”
“Cũng công ty đó.”
“Anh có sơ đồ ở đây không?”
Tay bác sĩ tâm thần có vẻ bối rối. “Sơ đồ gì?”
“Sơ đồ lắp đặt, dây cáp, các thiết bị sinh trắc… của tòa nhà.”
“Chắc là ở chỗ công ty bảo vệ đó.”
“Chúng tôi cần cả địa chỉ, tên doanh nghiệp và số điện thoại của họ. Họ có cử người đến kiểm tra thiết bị định kì không?”
“Họ kiểm tra mọi thứ từ xa. Nếu có gì hỏng hóc hay trục trặc, máy tính của họ sẽ ngay lập tức nhận được thông báo.”
“Anh không nghĩ như thế khá nguy hiểm sao? Các khóa an ninh có thể bị kiểm soát từ bên ngoài.”
Xavier cau mày. “Bọn họ không có khả năng mở chốt cửa. Hay vô hiệu hóa hệ thống an ninh. Tất cả những gì họ có thể làm là quan sát tình hình đang diễn ra, và kiểm tra xem mọi thứ có hoạt động chính xác hay không.”
“Những người bảo vệ thì sao?” Servaz nhìn hai người đàn ông. “Bọn họ có phải người của công ty đó không?”
“Phải,” Xavier nói và rời khỏi phòng điều khiển. “Nhưng bọn họ không được phép can thiệp trong trường hợp có bất cứ bệnh nhân nào lên cơn, vì đó là công việc của các hộ lý. Như các anh biết đấy, xu hướng ‘thuê ngoài’ giờ phổ biến ở khắp nơi, như các bộ ngành trong chính phủ vẫn nói.”
Anh ta dừng lại giữa sảnh nhìn họ.
“Như tất cả những nơi khác, chúng tôi tận dụng các thứ có sẵn, và dường như càng ngày càng ít đi. Trong hai mươi năm qua, mỗi bộ máy kế nhiệm của đất nước này lại kín đáo xóa sổ hơn 50.000 giường bệnh tại các cơ sở tâm thần, cắt giảm hàng nghìn công ăn việc làm. Thế nhưng cứ trông mà xem, dưới danh nghĩa của nhu cầu cấp bách về kinh tế và thị trường tự do, áp lực mà con người phải chịu đựng chưa bao giờ lớn đến thế. Những người điên, loạn tinh thần, hoang tưởng, tâm thần phân liệt đang lang thang ngoài kia nhiều hơn bao giờ hết.”
Anh ta tiến về phía một hành lang dài ở cuối sảnh. Xem ra nó chạy suốt chiều dài của tòa nhà, nhưng thỉnh thoảng họ lại đi qua một cánh cổng kim loại mà Servaz chắc mẩm sẽ được khóa lại khi đêm xuống. Anh còn thấy cả những cánh cửa gắn biển đồng đề tên các cán bộ, có một chiếc ghi tên Xavier, và một cái đề: Élisabeth Ferney, y tá trưởng.
“Nhưng dù sao, tôi nghĩ rằng có thể xem như chúng tôi may mắn,” Xavier nói thêm khi dẫn họ qua một cánh cửa kim loại khác. “Để bù đắp cho tình trạng thiếu người, chúng tôi may mắn được trang bị hệ thống an ninh và giám sát hiện đại bậc nhất. Hơn hẳn những nơi khác. Ở Pháp, khi cấp trên muốn che đậy việc thiếu thốn ngân sách và lực lượng lao động bị cắt giảm, họ nghĩ ra những khái niệm phi lý nhất, thuần túy chỉ là trò chơi chữ, như ai đó đã chỉ ra gần đây, kiểu như ‘tiến bộ chất lượng’, hay ‘các dự án thực hiện thường niên’, hay ‘chẩn đoán điều dưỡng’. Anh biết chẩn đoán điều dưỡng là gì không? Nó cho phép y tá nghĩ rằng họ có khả năng đưa ra chẩn đoán thay cho bác sĩ, và rõ ràng điều đó đồng nghĩa với việc cắt giảm một số lượng lớn các bác sĩ. Đơn cử như, một trong các đồng nghiệp của tôi đã chứng kiến y tá đưa một bệnh nhân vào khoa tâm thần sau khi cho rằng anh ta mắc chứng ‘hoang tưởng nguy hiểm’, chỉ bởi anh ta rất cáu kỉnh, công khai xung đột với ông chủ của mình, đồng thời đe dọa sẽ kiện ông này ra tòa! May cho người đàn ông khốn khổ ấy là đồng nghiệp của tôi lại tình cờ có mặt đúng lúc, ngay lập tức bác bỏ chẩn đoán kia và cho anh ta về nhà.”
Bác sĩ Xavier dừng lại ngay giữa hành lang và nhìn họ bằng ánh mắt nghiêm nghị đến bất ngờ.
“Chúng ta sống giữa thời đại mà xuyên tạc chính trị và bạo lực thể chế đang tác động lên những đối tượng dễ tổn thương nhất trong xã hội.” Anh ta lo ngại nói. “Các chính phủ hiện thời và tay sai của họ đều đang đồng thời theo đuổi cả hai mục đích: Kiểm soát xã hội và biến con người thành hàng hóa.”
Servaz nhìn viên bác sĩ. Kết luận của chính anh cũng tương tự như vậy. Nhưng anh tự hỏi, nếu trở về thời mà các bác sĩ tâm thần vẫn còn quyền lực, hẳn họ cũng chẳng đời nào tự chặn đường kiếm cơm của mình, nói cách khác là chịu dừng việc tạo ra đủ loại thí nghiệm vốn dựa vào ý tưởng nhất thời nhiều hơn là thực tế khoa học, và thường để lại hậu quả khủng khiếp khi dùng con người làm chuột bạch.
Đi thêm một đoạn, Servaz nhận thấy có thêm hai nhân viên bảo vệ cũng mặc quần áo màu cam đang ở trong một phòng kính khác. Bên phải là căng tin mà họ vừa xem qua trên màn hình.
“Căng tin cho nhân viên,” Xavier giải thích.
Những ô cửa sổ cao rộng trông ra cảnh quan ngập tuyết, tường được sơn bằng những gam màu ấm áp. Một đám người đang ngồi tán gẫu và uống cà phê. Họ đi vào một căn phòng có trần cao và tường màu đỏ hồng như thịt cá hồi, trang trí bằng những bức ảnh phong cảnh lớn. Ghế bành rẻ tiền nhưng thoải mái được đặt rải rác, tạo ra một nơi nương náu yên tĩnh và ấm cúng.
“Đây là phòng thăm bệnh,” bác sĩ tâm thần nói. “Nơi gia đình bệnh nhân có thể nói chuyện riêng với người thân đang cư trú tại Viện. Đương nhiên, chỗ này chỉ dành cho những bệnh nhân ít nguy hiểm nhất, số lượng cũng không nhiều. Có một camera giám sát toàn thời gian, và các hộ lý luôn trực bên cạnh.”
“Còn những người khác thì sao?” Propp mở lời.
Xavier cẩn trọng nhìn tay bác sĩ tâm lý.
“Đa số bọn họ không bao giờ có người tới thăm,” anh ta đáp. “Đây không phải là một bệnh viện tâm thần hay nhà tù bình thường. Đây là cơ sở thí điểm đặc biệt ở châu Âu. Chúng tôi có bệnh nhân đến từ khắp mọi nơi. Tất cả bệnh nhân đều là những đối tượng cực kì tàn bạo, ngược đãi, cưỡng hiếp, tra tấn, giết người. Gây ra tội ác với người thân hoặc người lạ. Tất cả đều tái phạm. Tất cả đều bất định và nguy hiểm. Ở đây, chúng tôi có những kẻ nguy hiểm nhất trong những kẻ nguy hiểm,” Xavier nở một nụ cười kì dị. “Chẳng mấy ai buồn nhớ tới sự tồn tại của những bệnh nhân này. Có lẽ đó là lý do tại sao Viện lại đặt ở một nơi biệt lập như vậy. Chúng tôi là gia đình cuối cùng của họ.”
Servaz thấy câu cuối cùng có phần cường điệu quá mức, cũng giống như mọi thứ khác ở Xavier.
“Có bao nhiêu tầng an ninh tất cả?”
“Ba. Thấp, trung bình và cao. Phụ thuộc vào mức độ nguy hiểm của bệnh nhân. Nó không chỉ quyết định cường độ và hiệu suất của hệ thống an ninh, số lượng bảo vệ, mà còn cả tính chất của việc điều trị cùng mối quan hệ thích hợp giữa các nhóm chăm sóc và bệnh nhân.”
“Ai quyết định mức độ nguy hiểm của một bệnh nhân mới?”
“Các nhóm của chúng tôi. Chúng tôi kết hợp phỏng vấn lâm sàng, bằng câu hỏi trắc nghiệm và hồ sơ vụ án từ các đồng nghiệp, với một phương pháp đánh giá mới mang tính cách mạng tiếp thu từ đất nước của tôi. Trên thực tế, chúng tôi có một bệnh nhân mới đang được đánh giá ngay lúc này. Theo tôi.”
Anh ta dẫn họ đến một cầu thang với từng bậc lớn bằng bê tông tách rời nhau, có cảm giác rung lên theo mỗi bước chân đi. Đến tầng đầu tiên, họ thấy mình đang đứng bên ngoài một cánh cửa được gia cố bằng lưới kim loại chắc chắn.
Lần này, bên cạnh việc đánh mật mã lên một bàn phím nhỏ, Xavier còn phải đặt bàn tay lên bộ cảm biến nhận diện sinh trắc.
Một tấm biển trên cánh cửa cho họ biết: KHU VỰC C. MỨC ĐỘ NGUY HIỂM THẤP, CHỈ DÀNH CHO CÁN BỘ CẤP C, B VÀ A.
“Đây có phải lối vào duy nhất của khu vực này không?” Ziegler hỏi.
“Không, còn một cửa an ninh thứ hai nữa ở cuối hành lang cho phép đi từ khu vực này tới khu vực kế tiếp, khu vực an ninh tầng trung, dành riêng cho các cán bộ có quyền hạn đối với cấp B và A.”
Anh ta dẫn họ đi dọc theo một hành lang nữa rồi dừng lại trước một cánh cửa đề ‘Đánh giá’ và mở nó ra. Xavier đứng tránh sang một bên cho đoàn người đi qua.
Căn phòng không có cửa sổ, hẹp đến nỗi họ phải đứng nép vào nhau. Hai người đang ngồi trước một màn hình máy tính, một nam một nữ. Màn hình hiện lên hình ảnh từ một camera quan sát và một loạt cửa sổ trình duyệt thể hiện các biểu đồ với chỉ số đang thay đổi. Camera đang quay một người đàn ông còn khá trẻ, đang ngồi trên chiếc ghế đẩu trong một căn phòng không có cửa sổ, không lớn hơn gian buồng để đồ quét dọn là bao. Servaz thấy gã đó đang đeo một bộ kính thực tế ảo. Anh hướng ánh nhìn xuống dưới, khẽ rùng mình. Quần gã bị kéo tụt xuống đùi, một cái ống kì lạ nối với dây điện được quấn quanh dương vật của gã.
“Phương pháp đánh giá lệch lạc tình dục mới này dựa vào chương trình thực tế ảo, sử dụng một hệ thống quan sát vận động nhãn cầu và ghi thể tích dương vật,” bác sĩ tâm thần giải thích. “Đây là thiết bị gắn vào cơ quan sinh dục, như các vị có thể thấy. Nó cho phép chúng tôi đo tỉ lệ sinh lý ở trạng thái hưng phấn khi phản ứng trước các yếu tố kích thích khác nhau. Nói cách khác, đó là sự cương cứng của bệnh nhân. Kết hợp với phản ứng cương cứng, các phản ứng vận động nhãn cầu của bệnh nhân cũng được đo lường với sự hỗ trợ của một thiết bị theo dõi hồng ngoại, có tác dụng xác định khoảng thời gian anh ta quan sát các hình ảnh trong kính thực tế ảo, cũng như chính xác một điểm mà anh ta tập trung sự chú ý trong mỗi cảnh.”
Viên bác sĩ tâm thần cúi xuống và chỉ vào một trong số những cửa sổ trên màn hình. Servaz thấy những đường đủ màu sắc lên xuống. Bên dưới mỗi đường là từng loại kích thích được biểu thị, ‘nam trưởng thành’, ‘nữ trưởng thành’, ‘trẻ em’, vân… vân…
“Kích thích được truyền qua kính thực tế ảo sẽ thay đổi hình ảnh từ một người nam trưởng thành sang một người nữ trưởng thành, một bé gái 9 tuổi, tới một bé trai 9 tuổi, và cuối cùng là một nhân vật giả định vô tính. Mỗi phim ngắn kéo dài ba phút. Mỗi lần, chúng tôi đều đo phản ứng của mắt và cơ thể.” Anh ta đứng thẳng lên. “Phải nói rằng đa số đối tượng của chúng tôi là những người lạm dụng tình dục. Chúng tôi có tổng cộng 88 giường bệnh, 53 ở Khu C, 28 ở Khu B và 7 ở Khu A.”
Servaz dựa vào tường. Anh đang vã mồ hôi, từng cơn rùng mình lan khắp cơ thể. Cổ họng anh nóng cháy. Nhưng khủng khiếp hơn cả hình ảnh gã đàn ông đang ngồi ở tư thế vừa nhục nhã vừa siêu thực, trong lúc người ta cố tình khơi ra những huyễn tưởng lệch lạc trong trí óc gã, bằng cách đó tra tấn thể xác gã, chỉ với mục đích thuận tiện cho việc kiểm tra.
“Có bao nhiêu bệnh nhân ở đây từng giết người?” Anh hỏi bằng giọng run run.
Xavier nghiệt ngã nhìn anh, “Ba mươi lăm. Toàn bộ nhóm bệnh nhân ở khu vực B và A.”
Diane nhìn họ băng qua tiền sảnh rộng lớn đi vào hành lang dẫn tới cầu thang dành cho cán bộ. Ba người đàn ông và một phụ nữ. Xavier đang nói chuyện với họ, nhưng trông khá căng thẳng và phòng thủ. Người đàn ông và người phụ nữ đi hai bên dồn dập đặt câu hỏi. Cô đợi đến khi họ đi khuất mới rón rén bước ra cửa kính. Một chiếc 4x4 đang đỗ ngoài trời cách đó khoảng hơn chục mét. Trên cửa xe in dòng chữ SEN ĐẦM.
Diane nhớ lại cuộc trò chuyện giữa cô và Alex về ông dược sĩ bị sát hại. Có vẻ cảnh sát đã liên hệ vụ đó với Viện. Rồi một suy nghĩ khác nảy ra trong đầu cô. Lỗ thông gió trong văn phòng, cuộc hội thoại cô tình cờ nghe được giữa Lisa và Xavier. Và vụ việc kì lạ về con ngựa. Lisa Ferney từng nhắc đến khả năng cảnh sát sẽ gọi tới. Lẽ nào có sự liên quan giữa hai vụ việc? Cảnh sát chắc hẳn cũng đang băn khoăn về điều này. Cô lại nghĩ ngợi về cái lỗ thông gió.
Cô quay người khỏi cửa kính và vội vã băng qua tiền sảnh.
“Anh có thuốc cảm không?”
Tay bác sĩ tâm thần lại chăm chăm nhìn Servaz, rồi mở ngăn kéo bàn. “Dĩ nhiên.”
Anh ta đưa cho anh một cái lọ màu vàng. “Đây, anh uống đi, paracetamol và ephedrine. Tác dụng khá tốt đấy. Trông anh xanh lắm. Anh muốn tôi gọi bác sĩ cho anh không?”
“Không, cảm ơn, tôi sẽ ổn thôi.”
Xavier đi tới một chiếc tủ lạnh nhỏ ở góc phòng và trở lại với chai nước suối và một cái cốc. Văn phòng của anh ta trông khiêm tốn, với dãy tủ kim loại đựng tài liệu, một tủ lạnh đựng đồ uống, một giá sách nhỏ đầy những tựa sách chuyên ngành, vài chậu cây trên bậu cửa sổ, và một cái bàn trống, không có gì ngoài điện thoại, máy tính và đèn.
“Uống mỗi lần một viên. Trong tối đa bốn ngày. Anh có thể cầm luôn cả lọ.”
“Cảm ơn.”
Trong khoảnh khắc, Servaz thẫn thờ ngắm viên thuốc tan ra trong cốc nước. Cơn đau đầu như thể đang khoan vào hộp sọ phía sau mắt anh. Nước lạnh khiến cổ họng anh thoải mái. Người anh ướt đẫm mồ hôi, áo sơ mi bên trong dán chặt vào lưng anh. Chắc hẳn anh đang bị sốt. Cũng là cảm lạnh, nhưng là một cơn lạnh từ bên trong. Điều hòa nhiệt độ ở cạnh cửa chỉ 23°C. Một lần nữa, anh như thấy lại hình ảnh trên màn hình máy tính. Tên hiếp dâm bị cưỡng hiếp lại bởi máy móc, thiết bị đo, các dụng cụ điện tử. Anh lại cảm thấy dịch mật đắng nghét đang dâng lên trong cổ họng.
“Chúng tôi sẽ tới thăm Khu A,” anh nói, sau khi bỏ cốc nước xuống.
Anh những muốn giọng mình nghe cứng cỏi rõ ràng, nhưng cơn bỏng rát trong cổ đã biến nó thành tiếng khàn khàn rin rít. Đối diện anh, biểu cảm linh lợi hài hước của tay bác sĩ tâm thần bỗng chốc trở nên cáu kỉnh. Servaz liên tưởng đến một đám mây lướt qua mặt trời và biến phong cảnh tươi mới thành thứ gì đó quỷ quyệt, u ám.
“Việc đó có thực sự cần thiết không?” Xavier dè dặt nhưng khẩn thiết nhìn sang tay thẩm phán đang ngồi phía bên trái hai điều tra viên.
“Phải,” Confiant ngay lập tức nói, quay về phía họ. “Chúng ta có thực sự cần phải…”
“Tôi tin là có,” Servaz cắt ngang. “Để tôi nói với các anh một điều mà chỉ chúng ta biết với nhau thôi nhé.” Anh ngả người về phía Xavier. “Nhưng có lẽ anh đã biết rồi.”
Anh quay sang tay thẩm phán trẻ. Trong khoảnh khắc ngắn ngủi, hai người đàn ông đánh giá nhau trong im lặng. Servaz chuyển ánh nhìn sang Ziegler và anh có thể đọc rõ ràng thông điệp trong ánh mắt cô: Đừng gây căng thẳng.
“Anh đang nói về cái gì vậy?” Xavier hỏi.
Servaz hắng giọng. Liều thuốc sẽ không có tác dụng ngay trong vài phút. Hai thái dương của anh như bị ép bằng một cái kẹp. “Chúng tôi tìm thấy DNA của một trong những bệnh nhân của anh… ở nơi con ngựa nhà Lombard bị giết. Trên đỉnh cáp treo. DNA của Julian Hirtmann.”
Xavier trợn mắt. “Lạy Chúa! Điều đó là không thể!”
“Anh hiểu điều này nghĩa là gì không?”
Xavier quẫn trí nhìn Confiant và cúi đầu xuống. Sự kinh ngạc của anh ta không phải giả tạo. Anh ta không hề biết.
“Điều này nghĩa là,” Servaz kiên quyết tiếp tục, “có hai khả năng. Một là bản thân Hirtmann ở trên nhà máy vào đêm hôm ấy. Hai là ai đó tiếp cận đủ gần để lấy nước bọt của hắn và đem lên. Như vậy là dù có phải Hirtmann hay không, thì cũng có người trong cơ sở này dính líu tới sự việc, bác sĩ Xavier ạ.”