20
Họ đi vào căn phòng lần trước. Ziegler, Servaz, Maillard, Simon Propp, Martial Confiant và Cathy d’Humières. Như Servaz đề nghị, Ziegler đã tóm tắt sơ qua những sự kiện chính. Anh nhận thấy cô đang trình bày chúng với khuynh hướng sẽ miễn cho anh khỏi mọi phán xét sai lệch, và cô đang tự nhận trách nhiệm về mình vì đã đi xe máy vào sáng nay bất chấp dự báo thời tiết xấu. Cô hướng sự chú ý vào chi tiết liên hệ cái chết lần này với vụ trước, treo cổ. Cô không nhắc tới những vụ tự tử, nhưng có chỉ ra Grimm và Perrault, cùng với Chaperon và người đàn ông đã chết được hai năm, từng bị buộc tội tống tiền tình dục.
“Chaperon?” Cathy d’Humières ngờ vực nói. “Đây là lần đầu tiên tôi nghe có chuyện như thế.”
“Theo Saint-Cyr, vụ việc xảy ra chừng ba mươi năm trước,” Servaz bổ sung. “Rất lâu trước khi Chaperon ứng cử cho chức vụ hiện tại. Hơn nữa, đơn kiện đã được rút lại gần như ngay lập tức.”
Anh nhắc lại những điều Saint-Cyr đã kể. Bà trưởng công tố nhìn anh bằng ánh mắt hoài nghi.
“Cậu thực sự tin là có sự liên quan giữa hai vụ việc à? Một cô gái say, mấy chàng trai trẻ cũng say, vài tấm hình dại dột… Tôi không muốn biện hộ cho hành vi như vậy, nhưng nó không hẳn là thứ khiến chúng ta phải nhặng xị lên.”
“Theo Saint-Cyr, còn nhiều tin đồn khác xoay quanh bốn người đàn ông này,” Servaz nói.
“Tin đồn kiểu gì?”
“Vẫn là những hành vi tương tự, lạm dụng tình dục, hành động đồi bại và bạo lực với phụ nữ mỗi khi say xỉn. Tuy nhiên, không có đơn kiện chính thức nào khác ngoại trừ vụ khởi kiện nói trên mà, tôi xin nhắc lại, đơn kiện đã được rút về rất nhanh. Chúng tôi cũng tìm được một số thứ trong ngôi nhà gỗ của Grimm. Áo choàng và đôi ủng gần giống áo và ủng tìm thấy trên cái xác.”
Dựa vào kinh nghiệm cá nhân, Servaz biết không nên nói quá nhiều với công tố viên và thẩm phán điều tra nếu không có bằng chứng xác thực, vì về mặt nguyên tắc họ có xu hướng đưa ra ý kiến phản đối. Tuy nhiên, anh không thể kìm được thôi thúc muốn đẩy vụ việc đi xa hơn.
“Theo Saint-Cyr, Grimm, Perrault, Chaperon và người bạn Mourrenx của họ thân thiết đến mức gần như không thể tách rời kể từ thời trung học. Chúng tôi phát hiện ra rằng cả bốn người đàn ông này đều đeo cùng một chiếc nhẫn triện, trên ngón tay bị chặt của Grimm hắn cũng từng đeo một chiếc như thế.”
Confiant nhìn họ bằng ánh mắt khó xử.
“Tôi không thấy chiếc nhẫn này liên quan gì,” cậu ta nói.
“Chúng ta có thể giả sử nó chứa đựng một mật hiệu nào đó,” Ziegler gợi ý.
“Một mật hiệu? Tượng trưng cho cái gì?”
“Rất khó kết luận ở thời điểm này,” Ziegler thừa nhận, lạnh lùng nhìn tay thẩm phán.
“Ngón tay của Perrault không bị chặt,” d’Humières phản đối, vẻ nghi ngờ thấy rõ.
“Chính xác. Nhưng bức ảnh mà sĩ quan chỉ huy Servaz tìm thấy chứng tỏ rằng có một giai đoạn nhất định, ông ta đã đeo chiếc nhẫn triện. Nếu tên sát nhân thấy không cần phải chặt ngón tay của Perrault, có lẽ là vì ông ta không còn đeo nó nữa.”
Servaz nhìn họ. Sâu tận trong lòng, anh biết mình đang đi đúng hướng. Một thứ gì đang trồi lên bề mặt, giống như đám rễ cây đâm lên từ lòng đất. Một thứ tối tăm và lạnh lẽo.
Và trên bề mặt rùng rợn ấy, áo choàng, nhẫn cùng những ngón tay bị chặt hoặc còn nguyên, giống như những viên đá cuội nhỏ bé mà tên sát nhân đã bỏ lại trên đường.
“Rõ ràng chúng ta chưa đào đủ sâu về cuộc sống của những người đàn ông này,” Confiant đột nhiên nói. “Nếu chúng ta làm việc thay vì tập trung vào Viện, hẳn chúng ta đã tìm thấy manh mối nào đó để kịp cứu Perrault.”
Họ đều hiểu rằng từ ‘chúng ta’ đơn thuần chỉ là bóng gió. Chữ cậu ta thực sự muốn dùng là ‘các người’, cụ thể là ám chỉ Servaz và Ziegler. Cùng lúc, Servaz cũng tự hỏi Confiant không thể tỏ ra có lý được một lần hay sao.
“Dù sao, cả hai nạn nhân đều bị buộc tội trong vụ đâm đơn kia, và bọn họ đều từng đeo nhẫn,” anh nhấn mạnh. “Chúng ta không thể bỏ qua những việc trùng hợp. Và người thứ ba dính líu tới vụ kiện mà vẫn còn sống chính là Roland Chaperon.”
Anh thấy bà trưởng công tố tái mặt.
“Nếu thế thì việc này phải được ưu tiên,” bà nói.
“Đúng vậy. Chúng ta phải làm mọi cách để tìm ra thị trưởng và đảm bảo an toàn cho ông ta. Không còn thời gian mà lãng phí.” Anh xem đồng hồ đeo tay. “Tôi đề nghị dừng cuộc họp ở đây thôi.”
Phó thị trưởng thường trực của Saint-Martin nhìn họ, nỗi sợ hãi trong mắt ánh lên nhọn hoắt như cây kim. Ông ta ngồi bên bàn làm việc ở tầng hai, người tái mét, tay bồn chồn mân mê chiếc bút.
“Tôi vẫn chưa liên lạc được với anh ấy từ sáng hôm qua,” ông ta nói ngay. “Chúng tôi rất lo lắng. Đặc biệt là sau tất cả những gì vừa xảy ra.”
Ziegler gật đầu đồng tình, “Ông không biết ông ta có thể ở đâu sao?”
Phó thị trưởng lộ vẻ tuyệt vọng, “Tôi không biết gì hết.”
“Liệu có người nào mà ông ta biết và có thể đã đến chỗ họ không?”
“Cô em gái ở Bordeaux. Tôi đã gọi. Nhưng cô ấy không hay biết gì cả. Vợ cũ của anh Roland cũng không.”
Phó thị trưởng nhìn hết người này đến người kia, hoang mang và sợ hãi, như thể ông ta mới là người tiếp theo trong danh sách. Ziegler đưa cho ông ta một tấm danh thiếp. “Nếu ông biết được bất cứ điều gì, gọi ngay cho chúng tôi. Kể cả việc nhìn qua không có gì quan trọng.”
Mười sáu phút sau, bọn họ ra khỏi chiếc xe đỗ bên ngoài nhà máy nước khoáng đóng chai mà Servaz đã ghé thăm hai ngày trước, nơi Roland Chaperon vừa là chủ đầu tư vừa là người điều hành. Một tòa nhà thấp và hiện đại, được bao quanh bởi một hàng rào cao có những vòng dây thép gai trên đỉnh. Những chiếc xe tải ngoài bãi đỗ đợi chất nước lên để chở đi. Bên trong nhà máy huyên náo khủng khiếp. Lần trước tới đây, Servaz đã thấy một dây chuyền lắp ráp nơi vỏ chai được sục sạch bằng vòi phun, rồi nước được rót đầy vào vỏ, máy móc sẽ đóng nắp và dán nhãn. Hoàn toàn tự động, không có sự can thiệp của con người. Tất cả những gì công nhân phải làm là kiểm tra từng giai đoạn vận hành. Servaz và Ziegler đi lên cầu thang kim loại dẫn đến văn phòng lắp kính cách âm của quản lý. Vẫn người đàn ông to lớn râu ria lởm chởm mà Servaz gặp lần trước. Anh ta đang nạy vỏ hạt dẻ cười, và cảnh giác quan sát họ đi vào.
“Có chuyện gì đang xảy ra,” anh ta phun một cái vỏ vào giỏ rác. “Roland vẫn chưa tới nhà máy, cả hôm qua và hôm nay. Ông ấy không phải kiểu người nghỉ mà không thông báo. Với những chuyện diễn ra gần đây, tôi không hiểu tại sao không bố trí thêm chốt kiểm tra trên đường. Các anh đang đợi cái gì thế? Nếu tôi mà là cảnh sát hay sen đầm…”
Ziegler đã phải bịt mũi vì mùi mồ hôi nồng nặc trong văn phòng. Giờ cô thấy rõ mảng sẫm màu lam quanh phần nách của chiếc áo sơ mi xanh dương anh ta đang mặc.
“Nhưng anh không phải cảnh sát hay sen đầm,” cô trả lời bén gọn. “Vậy là anh hoàn toàn không biết ông ấy có thể ở đâu sao?”
Người đàn ông mập ú nhìn cô bằng ánh mắt thô tục. Servaz không thể nhịn được cười. Cũng giống như anh ta, có vài người quanh đây nghĩ rằng người thành phố không có khả năng hành xử khôn khéo.
“Không. Roland không phải kiểu người ba hoa về đời sống cá nhân. Vài tháng trước chúng tôi biết được rằng ông ấy ly hôn, cũng sát ngày ra tòa thôi. Ông ấy chưa từng hé miệng về mối quan hệ có vấn đề của mình.”
“‘Mối quan hệ có vấn đề’,” Ziegler nhắc lại, giọng mỉa mai thấy rõ. “Nói hay lắm.”
“Đi thẳng tới chỗ ở của ông ta nhé,” Servaz nói rồi trèo vào xe. “Nếu không thấy, chúng ta sẽ phải lục soát kĩ lưỡng toàn bộ ngôi nhà. Gọi Confiant và xin lệnh lục soát.”
Ziegler nhấc điện thoại trong xe và quay số, “Không trả lời.”
Servaz rời mắt khỏi con đường trong giây lát. Những đám mây phình lên vì mưa hoặc tuyết đang cuốn qua bầu trời tăm tối như một điềm báo tai ương, và ánh sáng tắt dần.
“Quên đi. Chúng ta không có thời gian. Cứ tiền trảm hậu tấu.”
Khi Margot Servaz đi ra khỏi cổng trường trung học, thì tai nghe của Espérandieu đang vang lên bài The Stations của The Gutter Twins. Ngồi trong chiếc xe không dán nhãn cảnh sát, cậu quan sát đám thiếu niên tán loạn ùa ra khỏi trường. Mất không đến mười giây để nhìn ra cô bé. Hôm nay, ngoài chiếc áo vét da và quần soóc sọc, con gái Servaz còn đeo một dải tóc nối màu tím trên nền tóc đen, xỏ quần tất lưới và đi đôi tất gắn lông to tướng ở cổ chân khiến cô bé trông như thể đang trên đường đến dự một bữa tiệc ở khu trượt tuyết vậy. Espérandieu nghĩ tới Samira. Cậu liếc nhìn để chắc chắn chiếc máy ảnh kĩ thuật số đã đặt trên ghế hành khách, mở ứng dụng ghi âm trên chiếc iPhone đang chạy album Satumalia ở chế độ lặp lại.
“5 giờ chiều. Đang ra khỏi trường trung học. Nói chuyện với bạn học.”
Cách đó 10 mét, Margot đang tán gẫu và cười đùa, rồi rút một bao thuốc lá từ túi áo vét. Cái đó không tốt đâu, Espérandieu nghĩ thầm. Cô bé bắt đầu cuốn một điếu thuốc trong khi nghe các bạn nói chuyện. Cháu có vẻ biết mình đang làm gì đấy nhỉ, cậu nhận xét. Chắc là thói quen rồi. Đột nhiên cậu cảm thấy mình như một tên dê già đang nhòm ngó mấy cô bé xinh xắn đi học về. Chết tiệt, Martin, thật không công bằng! Hai mươi giây sau, một thằng bé đi scooter dừng lại trước nhóm bạn. Espérandieu lập tức cảnh giác.
Thằng bé tháo mũ bảo hiểm ra và nói chuyện với con gái Servaz. Cô bé quẳng điếu thuốc xuống vỉa hè và nghiền nát nó bằng gót giày, rồi trèo lên ghế sau của chiếc scooter.
Chà chà. “Rời đi bằng xe scooter với một thằng bé tầm 17-18 tuổi. Tóc đen. Học khác trường.”
Espérandieu do dự, cuối cùng quyết định không chụp ảnh. Quá gần. Ai đó có thể trông thấy cậu. Thằng bé khá đẹp trai, tóc vuốt dựng lên thành chóp nhọn bằng loại keo siêu cứng. Nó đeo lại mũ bảo hiểm và đưa một cái cho Margot. Đây có phải thằng khốn đã đánh Margot và làm tan vỡ trái tim cô bé không? Chiếc scooter phóng đi. Espérandieu sang số để bám theo. Thằng bé lái xe rất nhanh và ẩu, liên tục đánh võng qua những chiếc ô tô, khiến chiếc scooter chạy ngoằn ngoèo lách vào những nơi không nên vào, trong lúc đó lại còn ngoái đầu và hét lên trò chuyện với người ngồi đằng sau. Sớm muộn gì cậu cũng sẽ phải đối mặt với sự thật phũ phàng thôi, anh bạn trẻ ạ…
Espérandieu hai lần tưởng mình đã mất dấu thằng bé, nhưng được một đoạn lại bắt kịp. Cậu không dùng còi hụ. Cậu không muốn lần đầu tiên đi theo dõi đã bị phát hiện, thêm nữa, nhiệm vụ này không mang tính chính thức, và cậu cũng không coi mình đang làm nhiệm vụ.
Cuối cùng, chiếc scooter dừng lại bên ngoài một biệt thự có khu vườn với hàng rào cao và dày bao quanh. Espérandieu lập tức nhận ra nơi này. Cậu đã từng đến đây cùng Servaz. Đây là nơi Alexandra vợ cũ của Servaz sống cùng tay phi công chết bầm của cô ta. Cả Margot cũng sống ở đây.
Cô bé tụt xuống khỏi chiếc scooter và tháo mũ bảo hiểm ra. Hai đứa trẻ bình tĩnh nói chuyện trong chốc lát, cô bé đứng trên lề đường, thằng bé ngồi trên yên scooter. Espérandieu đâm lo bọn chúng phát hiện ra mình, cậu đang đỗ cách hai đứa chưa đầy 5 mét, trên con phố khá trống trải. May thay chúng trò chuyện quá đỗi say sưa. Theo Espérandieu quan sát, hai đứa rất thoải mái với nhau. Không la hét, không dọa nạt. Trái lại, chúng đang cười phá lên và đồng tình gật đầu với nhau. Nếu Servaz nhầm thì sao? Có lẽ nghề cảnh sát rốt cuộc đã khiến anh hoang tưởng. Margot ngả tới trước và hôn vào hai má thằng bé. Thằng này vít ga cho động cơ gầm lên dữ dội, đến nỗi Espérandieu những muốn ra khỏi xe và bước tới đuổi nó biến đi. Rồi thằng bé rồ ga và phóng mất tăm.
Chết tiệt! Không phải rồi! Espérandieu càu nhàu vì vừa lãng phí mất một giờ của cuộc đời. Cậu rủa thầm ông sếp, vòng xe lại và trở về theo đường cũ.
Servaz quan sát mặt tiền tối tăm khuất bóng giữa những hàng cây. Trắng, oai vệ, cao đến bất ngờ, với những ban công và cửa chớp bằng gỗ chạm khắc ở mỗi tầng theo kiểu nhà miền núi Thụy Sĩ. Mái nhà dốc và nhọn với phần trán tường bằng gỗ hình tam giác. Một công trình kiến trúc miền núi điển hình. Ngôi nhà được xây dựng ở cuối một khu vườn dốc, dưới bóng những cây cao, nằm ngoài tầm ánh đèn đường. Có gì như đe dọa phảng phất ở nơi này, hay chỉ là do anh tưởng tượng? Anh nhớ lại một đoạn trong Sự sụp đổ của dòng họ Usher[1]: “Tôi không biết bằng cách nào, nhưng chỉ mới thoáng nhìn tòa nhà lần đầu tiên, một nỗi sầu bi không thể chịu đựng nổi đã choán lấy linh hồn tôi.”
Anh quay sang Ziegler, “Confiant vẫn chưa trả lời sao?”
Ziegler bỏ lại điện thoại vào túi và lắc đầu. Servaz mở cánh cổng gỉ sét kẽo kẹt. Họ đi bộ vào con đường chạy xe. Có những dấu chân trên tuyết, không ai buồn quét chúng đi. Servaz bước lên những bậc tam cấp. Bên dưới mái hiên bằng kính, anh xoay tay nắm cửa. Khóa. Bên trong tối om. Anh quay lại. Thị trấn trải ra phía dưới họ, được trang hoàng lộng lẫy, rộn lên sức sống như một trái tim đang đập trong lòng thung lũng. Xa xa có tiếng ô tô và còi xe, nhưng nơi đây mọi thứ đều yên ắng. Trên sườn đồi này ngự trị nỗi buồn không thể đong đếm và sự tĩnh lặng đến nghẹt thở của đời sống tư sản ngột ngạt.
Ziegler cũng bước lên cùng anh, “Chúng ta làm gì đây?”
Servaz nhìn xung quanh. Ngôi nhà trải rộng sang hai bên bậc thềm, tầng hầm được xây dựng bằng đá cối xay có trổ vài ô cửa sổ. Không có đường vào qua tầng hầm, cửa sổ lắp khung sắt bên ngoài. Cửa chớp của những ô cửa sổ lớn ở tầng trệt đang mở. Trong một góc đằng sau một bụi cây, anh nhìn thấy một túp lều nhỏ trông như một ngôi nhà gỗ vùng cao Thụy Sĩ. Anh đi xuống những bậc thềm và tiến về túp lều. Không khóa. Anh mở cửa. Có mùi đất mới xới lên. Trong ánh sáng lờ mờ, anh thấy một chiếc cào, xẻng, hộp đựng hoa, một ca tưới nước, một chiếc xe rùa, và một cái thang… Servaz trở lại nhà chính cùng một cái thang nhôm kẹp dưới cánh tay. Anh đặt nó dựa vào mặt tiền và trèo lên ngang cửa sổ.
“Anh đang làm gì vậy?”
Không trả lời, anh kéo ống tay áo xuống và đấm vỡ kính cửa sổ. Phải mất hai lần.
Vẫn bằng nắm đấm bọc trong tay áo, anh gạt những mảnh kính vỡ ra, và mở chốt cửa sổ. Anh nghĩ sẽ nghe thấy tiếng còi báo động ré lên inh ỏi, nhưng không có gì cả.
“Anh có biết luật sư có thể vô hiệu hóa toàn bộ quá trình điều tra vì những gì anh vừa làm không?” Ziegler nói với lên từ bên dưới chiếc thang.
“Thời điểm này, việc cấp bách là tìm được Chaperon còn sống. Chúng ta có thể nói rằng đã thấy cửa sổ thế này từ trước và lợi dụng…”
“Tất cả đứng yên!”
Cả hai bọn họ cùng quay lại. Dưới đường chạy xe, giữa hai cây lãnh sam, một cái bóng đang chĩa khẩu súng trường vào họ, “Giơ tay lên! Không được động đậy!”
Thay vì tuân theo, Servaz thọc tay vào túi áo khoác và vung cái thẻ ngành lên trước khi trèo xuống thang.
“Bình tĩnh nào ông bạn. Cảnh sát đây.”
“Từ khi nào cảnh sát lại đi lung tung, phá cửa và đột nhập như vậy?” Người đàn ông hỏi và hạ thấp súng xuống.
“Khi chúng tôi thấy khẩn cấp,” Servaz trả lời.
“Hai người đang tìm Chaperon? Ông ta không ở đây. Chúng tôi không gặp ông ta hai ngày nay rồi.”
Servaz biết kiểu người này, ‘người giữ cửa tự phong’ mà Saint-Cyr vẫn rất thích. Mỗi phố có một hai người như vậy. Thích chõ mũi vào cuộc sống của những người hàng xóm, chỉ đơn giản bởi họ vừa chuyển tới bên cạnh. Nghĩ rằng mình có quyền để mắt tới họ, rình rập họ qua hàng rào, đặc biệt là nếu thấy họ có điều đáng ngờ. Trong mắt mấy gã, đáng ngờ bao gồm dân đồng tính, bà mẹ đơn thân, người già cô đơn sống ẩn dật, nhút nhát, và nhìn chung, bất cứ ai trông có vẻ khôi hài hoặc không chung quan điểm cứng nhắc với mấy gã. Rất hữu dụng đối với nghiệp vụ thẩm vấn từng nhà. Mặc dù Servaz vô cùng coi thường loại người này.
“Ông không biết ông ta đi đâu sao?”
“Không.”
“Ông ta là người thế nào?”
“Chaperon? Ông ấy là một thị trưởng tốt. Một người đúng mực. Lịch sự, luôn tươi cười, lúc nào cũng thân thiện. Luôn sẵn sàng dừng lại tán gẫu một hai câu. Không phải hạng làm càn. Không giống tên đỏ dưới kia.”
Gã chỉ vào một ngôi nhà phía dưới đường. Servaz cho rằng ‘tên đỏ dưới kia’ đã trở thành mục tiêu ưa thích của tay ‘gác cổng tự phong’ này. Không thể có người này mà không có người kia. Anh suýt thì buột miệng nói rằng ‘tên đỏ dưới kia’ chắc chắn chưa từng bị buộc tội tống tiền tình dục. Đó là vấn đề với những tay ‘gác cổng tự phong’. Bọn họ trông mặt mà bắt hình dong, và thường chọn nhầm mục tiêu. Họ thường đi theo cặp, vợ và chồng, một bộ đôi kinh khủng.
“Chuyện gì xảy ra thế?” Người đàn ông không giấu nổi tò mò. “Trước những gì đang xảy ra gần đây, mọi người đều ru rú ở trong nhà và cẩn thận cửa nẻo. Ngoại trừ tôi. Cứ để hắn tới đây, thằng điên, tôi sẵn sàng sống mái với hắn.”
“Cảm ơn,” Servaz nói. “Ông về nhà đi.”
Người đàn ông càm ràm và quay đi.
“Nếu anh cần thêm bất cứ thông tin gì khác, thì tôi sống ở nhà số 5!” Gã đàn ông nói với qua vai. “Tên là Laneonneur!”
“Tôi sẽ không thích làm hàng xóm với gã ta đâu,” Ziegler nói khi nhìn ông ta đi khỏi.
“Cô nên chú ý hơn tới hàng xóm của mình,” Servaz nói. “Tôi cá rằng cô cũng có hàng xóm như con người này. Ở đâu cũng có thể loại như vậy. Đi thôi.”
Anh trèo lại lên thang và vào trong nhà.
Những mảnh kính vỡ vụn dưới chân anh. Trong cảnh tranh tối tranh sáng, anh nhìn thấy một chiếc ghế bành bằng da, thảm trên sàn gỗ, những bức tường ốp ván, một cái bàn làm việc. Servaz tìm thấy công tắc và bật đèn trần. Ziegler xuất hiện ở cửa sổ trên đỉnh thang, và trèo vào. Đằng sau cô là ánh sáng giữa những rặng cây. Cô nhìn quanh. Có vẻ bọn họ đang ở phòng làm việc của Chaperon hoặc của vợ cũ ông ta. Có giá sách, nhiều ảnh trên tường chụp phong cảnh núi non hay những ngôi làng nhỏ của thế kỉ trước trên dãy Pyrenees, phố phường với rất nhiều xe ngựa, khách bộ hành đội mũ. Servaz nhớ lại rằng từng có một thời, những suối nước khoáng trên dãy Pyrenees được giới tinh hoa Paris vô cùng ưa chuộng. Họ thích tới lấy nước. Chẳng mấy chốc, làng mạc trên núi biến thành những khu nghỉ dưỡng tao nhã, sánh ngang với Chamonix, Saint-Moritz hay Davos.
“Trước hết, đi tìm Chaperon đã,” Servaz nói. “Hy vọng ông ta không bị treo cổ ở đâu đó. Chúng ta sẽ lục soát nơi này.”
“Chính xác thì phải tìm cái gì?”
“Tìm thấy sẽ biết.”
Anh rời khỏi phòng làm việc.
Một hành lang. Ở cuối có một cầu thang.
Anh mở cửa, từng cái một. Phòng khách. Bếp. Phòng tắm. Phòng ăn.
Giẫm lên tấm thảm cũ được cố định bằng ghim kim loại dọc hành lang, bước chân anh không gây ra một tiếng động nào. Tường cầu thang cũng được ốp gỗ sáng màu như ở phòng làm việc. Trên tường treo những chiếc búa phá băng xưa cũ, những chiếc đế có gai bằng kim loại buộc vào giày để đi đường tuyết, ủng da và ván trượt tuyết thô sơ, những dụng cụ leo núi cổ xưa từ thời kì của các nhà thám hiểm tiên phong. Servaz dừng lại để nhìn kĩ hơn những bức hình. Một người leo núi đang đứng trên mỏm đá thẳng đứng như cột của các ẩn sĩ[2]. Servaz lập tức thấy bụng mình quặn lại. Sao người đàn ông lại không thấy chóng mặt? Anh ta đứng, ngay sát khoảng không, vô tư cười với người chụp ảnh chắc hẳn cũng đang đứng đấy có độ cao tương đương, anh nhận ra người leo núi thách thức những đỉnh cao kia không phải ai khác mà chính là Chaperon. Ở một bức ảnh khác, ông ta đang treo mình vào một rìa đá nhô ra, điềm tĩnh ngồi trong bộ dây bảo hộ như con chim đậu trên cành, chỉ trông vào những sợi thừng mỏng manh hòng thoát khỏi cú ngã chí tử. Servaz nhận thấy một thung lũng với dòng sông nằm hun hút bên dưới, cách xa ông ta phải vài trăm mét.
Thật muốn biết Chaperon cảm thấy thế nào khi ngồi đu đưa ở đó. Và nhân tiện, cảm giác của ông ta thế nào khi trở thành mục tiêu của tên giết người bây giờ. Có cùng cảm giác hồi hộp đến choáng váng không? Toàn bộ nội thất của căn nhà là một thánh đường hiến dâng hết cho núi rừng và sự chinh phục các giới hạn của bản thân. Rõ ràng ông thị trưởng được rèn từ vật liệu cứng rắn hơn nhiều so với ông dược sĩ. Hay có thể nói, bọn họ được tạc từ hai cây gỗ khác nhau hoàn toàn. Bức hình này khẳng định ấn tượng đầu tiên của Servaz từ ngày gặp Chaperon ở nhà máy điện. Ông ta nhỏ thó, nhưng rắn như đá, là một người yêu thiên nhiên và các hoạt động thể lực, với cái bờm sư tử trắng và làn da rám nắng quanh năm.
Anh hình dung lại Chaperon khi ở trên cầu, chứng kiến cái chết của người bạn và sau đó trong xe. Khiếp đảm. Hoảng loạn. Servaz ngẫm nghĩ giây lát. Cái chết của con ngựa rùng rợn chẳng kém nhưng cũng không khiến ông ta sợ hãi như vậy. Tại sao? Có phải chỉ bởi nó là một con ngựa? Hay vào thời điểm đó ông ta chưa cảm thấy mình ở trong tầm ngắm? Servaz tiếp tục ngẫm nghĩ, bị giày vò bởi cảm giác cấp bách đã bóp nghẹt lấy anh từ lúc ở cáp treo du lịch. Lên tới tầng trên, anh thấy một nhà tắm, một nhà vệ sinh và hai phòng ngủ, trong đó có một phòng ngủ khá lớn. Servaz xem xét căn phòng ấy và ngay lập tức bị chế ngự bởi một xúc cảm kì lạ. Anh chau mày, có thứ gì đó bám chặt lấy tâm trí anh.
Một tủ búp phê, một tủ ngăn kéo. Một giường đôi. Nhưng xét hình dạng của tấm nệm thì từ rất lâu rồi chỉ có một người ngủ ở đây, và cũng chỉ có một cái ghế cùng một cái tủ đầu giường.
Đây là phòng ngủ của một người đàn ông đã ly hôn và sống một mình. Servaz mở tủ quần áo.
Váy áo của phụ nữ, váy liền, áo cánh, chân váy, áo chui cổ và áo khoác. Dưới cùng là một đôi giày cao gót.
Anh quệt ngón tay qua chiếc tủ đầu giường, một lớp bụi dày, y như căn phòng của Alice. Chaperon không ngủ trong phòng này. Đây từng là phòng ngủ của bà Chaperon trước khi họ ly hôn. Giống như nhà Grimm, vợ chồng Chaperon ngủ ở hai phòng tách biệt.
Có điều gì đó không đúng. Bản năng mách bảo Servaz, rằng anh sắp chạm được vào mấu chốt. Cảm giác căng thẳng trở lại và nhất định không rời đi. Nó dai dẳng cảnh báo về nguy hiểm, về một thảm họa lơ lửng trên đầu. Hình ảnh Perrault gào thét như bị đày đọa dưới địa ngục hiện lên. Đầu Servaz bắt đầu quay mòng mòng. Anh bám lấy một góc giường.
Đột nhiên anh nghe thấy tiếng hét, “Martin!”
Giọng Ziegler, phát ra từ dưới gác. Servaz lao ra khỏi phòng, chân lướt trên cầu thang như không chạm bậc nào. Cánh cửa dưới gầm cầu thang đang mở. Servaz vọt qua và thấy một tầng hầm khổng lồ với những bức tường đá trát vữa xù xì. Chỗ để nồi hơi và giặt là. Ngập trong bóng tối. Nhưng ở sâu hơn có ánh đèn… Anh vội vã đi tới gần. Gian phòng ngầm rộng rãi, giữa trần treo một bóng đèn. Quầng sáng mờ, không rọi được hết các góc. Có một cái bàn lớn dùng để gia công, dụng cụ leo núi treo lỉnh kỉnh trên chiếc bảng lớn đóng bằng ván gỗ ép. Ziegler đang đứng trước một cái tủ bằng kim loại mở toang.
“Cái gì…?”
Servaz tiến tới rồi sững lại. Trong tủ là một chiếc áo choàng có mũ bằng vải chống thấm màu đen, và một đôi ủng.
“Chưa hết,” Ziegler nói.
Cô đưa cho anh một hộp giày. Servaz mở ra và đưa vào vùng chiếu sáng của bóng đèn. Anh ngay lập tức nhận ra. Chiếc nhẫn. Khắc dấu “CS”. Và duy nhất một tấm ảnh ố vàng. Nước ảnh rất cũ. Trên đó là bốn người đàn ông đứng cạnh nhau, mặc chính những chiếc áo choàng này. Nửa trên khuôn mặt họ khuất trong vành mũ trùm, tuy vậy Servaz vẫn nhận ra cái cằm bèo nhèo của Grimm và quai hàm vuông vức của Chaperon. Mặt trời đang tỏa sáng bên trên bốn con người ấy, khiến những chiếc áo choàng trở nên tai ác và lạc điệu. Phong cảnh mùa hè, không khí thôn dã dâng tràn xung quanh, tưởng chừng nghe được cả tiếng chim hót. Nhưng cái ác cũng len lỏi ở đó, gần như có thể sờ thấy được, ngay giữa rừng cây ngập ánh mặt trời. Cái ác mang hình hài của bốn con người ấy. Chắc chắn cái ác có tồn tại, và bốn người đàn ông này là một trong hằng hà sa số hiện thân của nó.
Anh bắt đầu hiểu được điều đã gắn kết bọn họ.
Theo quan điểm của anh, bốn người đàn ông này có chung một đam mê, núi non, thiên nhiên, leo núi và cắm trại dã ngoại. Nhưng còn một thứ khác nữa, bí mật và quái ác hơn. Sâu trong những thung lũng này, họ biệt lập với thế giới, hoàn toàn không bị trừng phạt, họ cao hứng trước những đỉnh núi hùng vĩ quá đỗi thân thuộc và tin tưởng tuyệt đối rằng không ai có thể động đến mình. Servaz nhận ra anh đang tới gần ngọn nguồn của mọi việc. Qua nhiều năm, bọn họ đã tạo ra một dạng giáo phái, sống biệt lập ở khu vực hoang vắng này của dãy Pyrenees, nơi âm thanh của thế giới bên ngoài chỉ chạm tới qua tivi và báo chí. Họ bị cô lập hoàn toàn cả về mặt địa lý và tâm lý khỏi phần còn lại của nhân loại và thậm chí khỏi người bạn đời của mình, nguồn gốc của những cuộc ly hôn và thù ghét thâm căn cố đế.
Cho đến khi hiện thực bắt kịp họ. Cho đến khi giọt máu đầu tiên đổ xuống.
Khi việc xảy ra, cả nhóm rã đám, khiếp sợ, giống như đàn chim sáo đá vụt bay tán loạn. Và họ bị vạch trần bản chất, những tên thất bại, đớn hèn, đáng khinh và kinh tởm. Như những bạo chúa bị phế truất khỏi ngôi vương.
Không còn là chứng nhân vĩ đại của những tội ác không bị phát giác kia nữa, núi non đã trở thành sân khấu của sự trừng phạt. Giờ thì có người đang đòi lại công lý. Hắn là ai? Và đang trốn ở đâu?
Gilles Grimm.
Serge Perrault.
Gilbert Mourrenx.
Và Roland Chaperon.
‘Câu lạc bộ’ của Saint-Martin.
Có một câu hỏi đang xoáy sâu vào tâm trí anh. Chính xác thì bản chất tội ác của bọn họ là gì? Bởi không còn nghi ngờ nữa, Ziegler đã đúng, vụ tống tiền của họ với cô gái kia chỉ là bề nổi của tảng băng trôi, và giờ anh kinh hãi phát hiện ra những gì nằm bên dưới. Đồng thời, anh cũng cảm nhận được có khúc mắc ở đâu đó, có một chi tiết không khớp với toàn cảnh. Nó quá đơn giản, quá hiển nhiên. Có một tấm bình phong chưa lộ diện, mà sự thật được giấu đằng sau.
Servaz đi tới cửa sổ tầng hầm nhìn ra khu vườn tối tăm. Bên ngoài trời tối đen như mực.
Hung thủ ở ngoài, chờ thực thi công lý. Trong đêm, chúng đã sẵn sàng công kích. Rõ ràng chúng cũng đang tìm kiếm Chaperon, như anh và Ziegler. Ông thị trưởng đang trốn ở đâu? Rất xa xôi, hay chỉ ngay gần đây?
Đột nhiên, một câu hỏi khác tấn công anh. Câu lạc bộ những kẻ bất lương này chỉ bao gồm bốn người đàn ông trong bức ảnh, hay còn thành viên nào khác nữa?
Về tới nhà, Espérandieu gặp cô trông trẻ ở phòng khách. Cô ta đứng lên, vẻ miễn cưỡng, có lẽ hy vọng kiếm được nhiều tiền công hơn, hoặc đang xem dở phim House không bứt ra được. Sinh viên Luật năm đầu với một cái tên ngoại lai kiểu như Barbara, Marina hay có lẽ là Olga gì đó, cậu nhớ mang máng. Lyudmila? Stella? Vanessa? Cậu từ bỏ việc gọi tên riêng của cô ta và trả hai giờ tiền công. Cậu cũng thấy một lời nhắn của Charlène kẹp dưới miếng nam châm trên tủ lạnh: Triển lãm cá nhân. Em sẽ về muộn. Hôn anh. Cậu lấy một chiếc bánh kẹp pho mát ra khỏi tủ lạnh, bỏ vào lò vi sóng rồi cầm laptop trên bàn bếp. Có vài tin nhắn trong hộp thư, có cả của kleim162. Nhan đề thư là: Re: Nhiều nghi vấn về L. Espérandieu đóng cửa bếp, bật album The Age of the Understatement của The Last Shadow Puppets, kéo ghế ra và bắt đầu đọc.
“Này Vince,
Đây là những kết quả ban đầu anh điều tra được. Không có tin sốt dẻo, nhưng có vài điểm nho nhỏ khắc họa một chân dung khác về Éric Lombard, khá khác so với hình ảnh công chúng vẫn biết đến. Cách đây không lâu, trong một diễn đàn tỉ phú ở Davos, chàng trai của chúng ta đã nhận xét về toàn cầu hóa y như Percy Barnevik, cựu chủ tịch tập đoàn ABB Thụy Điển từng nhận định, ‘Tôi xin định nghĩa toàn cầu hóa là tập đoàn của tôi được tự do đầu tư ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, sản xuất bất cứ hàng hóa gì, mua và bán tại bất cứ thị trường nào, và chỉ tuân thủ ở mức tối thiểu sự hạn chế của các điều luật trong luật lao động và quy ước xã hộiĐây cũng là tín ngưỡng mà đa số CEO của các tập đoàn đa quốc gia tán thành.’
“Để hiểu được áp lực ngày càng lớn mà những tập đoàn này tạo ra đối với các chính phủ, chỉ cần biết rằng đầu thập niên 1980 có gần 7.000 tập đoàn đa quốc gia trên toàn thế giới, cho đến năm 1990 là 37.000, và hiện tại sau mười lăm năm, có hơn 70.000 tập đoàn, kiểm soát 800.000 công ty con và 70% dòng chảy thương mại của thế giới. Xu hướng này chỉ tăng lên chứ không giảm. Thế giới chưa bao giờ giàu có đến thế đồng thời sự giàu có chưa bao giờ lại được phân bố mất cân bằng đến thế. Số tiền CEO của Disney kiếm được nhiều gấp 300.000 lần so với một công nhân sản xuất áo thun cho một công ty ở Haiti. Mười ba thành viên hội đồng quản trị của AIR, trong có Éric Lombard, năm ngoái có mức thu nhập là 10 triệu euro mỗi người, nói cách khác, gấp đôi tổng tiền lương của 6.000 công nhân làm việc tại một trong những nhà máy của tập đoàn này ở châu Á.”
Espérandieu nhíu mày. Phải chăng kleim162 đang định cải tổ toàn bộ kiên thức về chủ nghĩa tự do trong đầu cậu? Cậu biết rằng người này theo bản năng sẽ nghi ngờ tất cả, từ cảnh sát, chính trị gia cho đến các tập đoàn đa quốc gia, và rằng anh ta không chỉ là một nhà báo mà còn là thành viên của Tổ chức Hòa bình Xanh và Tổ chức Theo dõi Nhân quyền, rằng anh ta đã đến Genoa và Seattle trong lúc người ta tiến hành những cuộc biểu tình phản đối toàn cầu hóa xung quanh hội nghị thượng đỉnh G8. Anh ta đã ở Genoa năm 2001 khi cảnh sát Ý xông vào trường Diaz, chỗ ngủ của những người biểu tình, đánh đập họ tàn nhẫn tới mức tường và sàn trường học lênh láng máu. Rốt cuộc khi xe cứu thương đến thì đã có 1 người chết, 600 người bị thương, và 281 người bị bắt.
“Éric Lombard được chuẩn bị để tiếp quản sản nghiệp của gia đình từ một vị trí ở công ty kinh doanh đồ thể thao thuộc tập đoàn. Một thương hiệu mà tất cả lũ trẻ đều biết đến nhờ vô số nhà vô địch đã sử dụng. Anh ta đã thành công bằng việc tăng gấp đôi lợi nhuận của công ty trong vòng năm năm. Anh ta làm thế nào? Bằng cách phát triển một ‘nghệ thuật’ nhà thầu phụ đáng nể. Thời điểm ấy, giày dép, áo thun, quần soóc và các thiết bị thể thao khác vốn đang được sản xuất tại Ấn Độ, Indonesia và Bangladesh, chủ yếu sử dụng lao động nữ và trẻ em. Éric Lombard đi tới và thay đổi các hợp đồng sẵn có. Hiện tại, để duy trì được giấy phép sản xuất, nhà cung cấp phải tuân thủ những điều kiện hà khắc, không bãi công, chất lượng hoàn mỹ và chi phí sản xuất thấp tới mức các nhân công của họ chỉ nhận được một khoản rẻ mạt. Để duy trì áp lực, các điều kiện cấp phép này được kiểm tra định kì hàng tháng. Một thủ đoạn mà các đối thủ cạnh tranh của anh ta cũng đã sử dụng từ trước. Nhưng kể từ khi anh ta thi hành chính sách này, công ty đã trở nên thịnh vượng hơn bao giờ hết.”
Espérandieu cúi xuống. Cậu nhìn ngắm chiếc áo thun đang mặc, trang trí bằng dòng chữ ‘Cạnh tôi là một thằng ngốc’, với một mũi tên chỉ sang trái.
“Một ví dụ khác nhé? Năm 1996, công ty y dược của tập đoàn này mua lại một công ty từng phát triển eflornithine của Mỹ, loại thuốc duy nhất có hiệu quả đối với bệnh trùng mũi khoan châu Phi, thường được gọi là bệnh ngủ. Một dịch bệnh tấn công 450.000 người ở châu Phi và nếu không được điều trị, bệnh nhân có thể bị viêm não, hôn mê và tử vong. Tập đoàn Lombard ngay lập tức ngừng sản xuất loại thuốc này. Tại sao? Lợi nhuận thấp. Bệnh dịch mặc dù lây nhiễm cho hàng trăm nghìn người, nhưng họ không phải những khách hàng có sức mua thực tế. Những nước như Brazil, Nam Phi và Thái Lan quyết định sản xuất các loại thuốc chống AIDS hoặc viêm màng não trước sự cấp bách của việc cứu người vì mục đích nhân đạo, bất chấp thực tế các bằng sáng chế này thuộc về các công ty dược phẩm lớn, thế nên Lombard gia nhập lực lượng phát đơn kiện những quốc gia kia tại Tổ chức Thương mại Thế giới. Ở thời điểm ấy, Lombard bố đã gần đất xa trời, và ở tuổi 24, Éric chính là người cầm cương của tập đoàn. Như thế, cậu đã nắm bắt được anh chàng phiêu lưu đẹp trai của chúng ta ở một khía cạnh khác, cùng người tình truyền thông của chàng chưa?”
Bởi thế, Lombard hẳn là không thiếu kẻ thù, Espérandieu nghĩ, thật đáng buồn. Cậu bỏ qua vài trang ít nhiều vẫn là những việc tương tự, dự tính sẽ đọc lại sau. Tuy vậy, cậu ngừng lại để xem kĩ một đoạn ngay bên dưới.
“Với cậu thì khía cạnh thú vị nhất có thể là xung đột gay gắt giữa Tập đoàn Lombard và các công nhân ở nhà máy Polytex, gần biên giới Bỉ vào tháng Bảy năm 2000. Đầu thập niên 1950, Polytex chuyên sản xuất một trong những loại sợi tổng hợp đầu tiên tại Pháp, họ thuê 1.000 công nhân. Cuối thập niên 1990, chỉ còn 160 công nhân. Năm 1991, nhà máy được một tập đoàn đa quốc gia mua lại và gần như ngay lập tức bị chuyển giao cho một công ty giải cứu khác, vì Polytex không còn khả năng sinh lời trước sự cạnh tranh của các loại sợi có chi phí thấp hơn, mặc dù nó có chất lượng vượt trội, có thị trường tiêu thụ, có khả năng cung cấp những vật liệu hoàn hảo dùng trong phẫu thuật. Cuối cùng, sau một loạt các công ty giải cứu, một công ty con của Tập đoàn Lombard đã xung phong tiến lên.
Đối với các công nhân, việc một tập đoàn đa quốc gia quy mô lớn như Lombard gia nhập lĩnh vực dược phẩm, y tế và sản xuất dụng cụ phẫu thuật, dường như là giấc mơ thành hiện thực. Họ muốn tin tưởng. Họ vẫn thường bị đe dọa đóng cửa ở những lần giải cứu trước, đóng băng tiền lương, bắt buộc làm việc ngoài giờ bao gồm cả cuối tuần và ngày nghỉ. Nhưng hóa ra Lombard cũng không khác gì, ban đầu, anh ta còn yêu cầu họ phải nỗ lực nhiều hơn. Trên thực tế, tập đoàn này mua nhà máy vì một mục đích duy nhất, lấy được bằng sáng chế. Vào ngày mùng 5 tháng Bảy năm 2000, Tòa án Thương mại tại Charleville-Mézières đưa ra phán quyết bắt buộc nhà máy tuyên bố phá sản. Đối với các công nhân thì đây là một đòn đánh khủng khiếp. Điều này đồng nghĩa với việc sa thải nhân công, dừng mọi hoạt động sản xuất và thanh lý toàn bộ thiết bị. Các công nhân Polytex tức giận đến nỗi họ quyết định lấy nhà máy làm con tin, và tuyên bố sẵn sàng cho nó nổ tung cùng với mọi thứ bên trong và đổ 50.000 lít axit sulphuric xuống sông Meuse nếu các yêu sách của họ không được xem xét. Họ ý thức rất rõ vũ khí mình nắm giữ, nhà máy được xếp vào loại nguy hiểm theo ‘Hướng dẫn Seveso’[3]. Nó chứa một lượng lớn các hóa chất cực độc mà trong trường hợp cháy nổ, có thể gây ra một thảm họa còn tồi tệ hơn thảm họa AZF ở Toulouse[4] năm 2001.
Các cơ quan chức năng ngay lập tức quyết định di tản dân cư ở thị trấn gần đó, hàng trăm cảnh sát bố ráp quanh hiện trường và Tập đoàn Lombard được lệnh tiến hành đàm phán trực tiếp với sự giúp đỡ của các nghiệp đoàn. Sự việc kéo dài năm ngày. Khi không có tiến triển gì, vào ngày 17 tháng Bảy, các công nhân đã đổ 5.000 lít axit sulphuric, với màu đỏ đặc trưng, xuống một con suối dẫn vào dòng Meuse. Họ đe dọa sẽ tiếp tục làm thế cứ hai tiếng một lần.
Chính trị gia, lãnh đạo và thành viên các nghiệp đoàn đã lên án đây là hành động ‘khủng bố hệ sinh thái không thể bào chữa’. Một tờ báo buổi tối giật cái tít nguy hiểm chết người, ‘Sự Giáng thế của Chủ nghĩa Khủng bố Xã hội’ và nhắc tới cả ‘phiến quân cảm tử Taliban’. Còn mỉa mai hơn khi biết Polytex chính là một trong những nguồn gây ô nhiễm lớn nhất tới dòng Meuse và toàn vùng trong hàng thập kỉ. Cuối cùng, ba ngày sau, nhà máy bị phong tỏa bởi lực lượng đặc biệt GIGN và cảnh sát chống bạo động CRS. Các công nhân thất thểu về nhà, hoàn toàn trắng tay. Cậu có thể hình dung vài người trong số họ vẫn chưa thể chấp nhận nổi thực tế.
Đây là tất cả những gì anh tìm được cho đến lúc này. Anh sẽ tiếp tục đào xới. Chúc ngủ ngon, Vince.”
Espérandieu nhíu mày. Nếu quả thực liên quan đến vụ này, thì tại sao lại là bây giờ? Sau tám năm? Có công nhân nào bị vào tù không? Hay sau vài năm thất nghiệp, họ đã kết liễu cuộc đời, bỏ lại gia đình ngập trong uất hận? Cậu chú thích lại để lưu ý tìm câu trả lời.
Espérandieu xem giờ ở góc màn hình, 19:13. Cậu tắt laptop và duỗi người trên ghế rồi đứng dậy, lấy một chai sữa trong tủ lạnh. Ngôi nhà yên ắng. Megan đang chơi trong phòng, Charlène phải vài giờ nữa mới có mặt ở nhà, người trông trẻ đã về. Cậu tựa vào bồn rửa và uống một viên thuốc an thần. Cậu chiêu thuốc nhờ một ngụm sữa uống thẳng từ chai. Bất thần nhớ ra, cậu tìm tên nhà sản xuất trên hộp thuốc, và bắt gặp một thực tế phũ phàng. Để xoa dịu nỗi hoang mang chợt cồn lên trong lòng khi biết về những hành vi của Tập đoàn Lombard, cậu lại đi uống một trong chính những viên thuốc do họ sản xuất ra!
Cậu tự hỏi có thể tìm hiểu thêm về Lombard bằng cách nào, và bỗng dưng nhớ ra một người quen ở Paris, một cô gái trẻ thông minh mà cậu biết từ hồi học ở trường cảnh sát và là người chắc chắn có địa vị thích hợp để thu được những thông tin đáng giá.
“Martin, đến xem này.”
Họ đã quay lại lục soát từng tầng một. Servaz bắt đầu từ một căn phòng nhỏ, mà dựa vào lớp bụi dày, anh biết đã rất lâu không có người ở. Anh mở tủ và ngăn kéo, nhấc nệm và gối lên, thậm chí còn đang cố gỡ tấm kim loại chắn trước lò sưởi thì giọng Ziegler một lần nữa vọng tới chỗ anh qua cánh cửa mở.
Anh leo tới đầu cầu thang tầng trên cùng. Đối diện với anh, ở phía bên kia hành lang, là một cái thang có tay vịn giống như trên một con tàu. Và một cửa sập mở ra ngay bên trên. Một dải ánh sáng rơi xuống từ cái lỗ đang ngoác miệng và xuyên qua bóng tối trên hành lang.
Servaz trèo lên những thanh ngang của chiếc thang và thò đầu qua lỗ hống.
Ziegler đang đứng giữa một căn phòng và ra hiện cho anh lại gần.
Căn gác mái là một căn phòng rộng lớn bên dưới những thanh rầm, vừa là phòng ngủ vừa là phòng làm việc. Servaz rướn người và đặt chân lên sàn. Nội thất và thiết kế giống như những gì ta có thể thấy ở một căn nhà gỗ điển hình trên núi, gỗ thô, một cái tủ quần áo, một cái giường có ngăn kéo bên dưới cửa sổ, một cái bàn trà được dùng để làm việc. Trên một mặt tường treo bản đồ Pyrenees cỡ lớn, với thung lũng, làng mạc, đường sá và núi non. Ngay từ đầu, Servaz đã thắc mắc rằng Chaperon ngủ ở đâu, vì không phòng ngủ nào dưới nhà có vẻ có hơi người, giờ anh đã tìm thấy câu trả lời, chính tại đây, ngay trước mắt anh.
Ziegler nhìn khắp xung quanh, Servaz cũng vậy. Cái tủ đang mở. Mắc áo trống không lộn xộn bên trong, một chồng quần áo nằm vất vưởng trên sàn.
Trên bàn, giấy tờ bừa bãi, và dưới giường, một cái ngăn kéo để mở, lộ ra một mớ đồ lót nam.
“Tôi lên đã thấy như vậy rồi,” Ziegler lẩm bẩm. “Chuyện gì đã xảy ra vậy?”
Servaz nhận thấy một chi tiết mà lúc đầu anh không để ý, trên bàn, giữa đống giấy tờ, có một hộp đạn, đang mở… Trong lúc vội vã, Chaperon đã đánh rơi một viên đạn trên sàn.
Họ nhìn nhau.
Ông thị trưởng đã bỏ chạy, như thể bị ác quỷ bám gót.
Ông ta lo sợ cho mạng sống của mình.
❀ ❀ ❀
[1] : truyện ngắn của Edgar Allan Poe.
[2] : Rất nhiều ẩn sĩ theo đạo Thiên chúa giáo chọn giảng đạo, ăn chay, và cầu nguyện trên đỉnh các cây cột. Đối với họ, hình thức hành xác này đem lại sự thanh tĩnh cho tâm hồn.
[3] : Hướng dẫn của Liên minh châu Âu về phòng ngừa các nguy cơ tai nạn nghiêm trọng do các hóa chất nguy hiểm gây ra.
[4] : Vụ nổ Nhà máy phân bón hóa học AZF tại thành phố Toulouse khiến 31 người thiệt mạng và hơn 20.000 người bị thương. Đây được coi là thảm họa lớn nhất trong lịch sử công nghiệp của nước này kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.