17
Ngày hôm sau, Servaz và Ziegler tham dự tang lễ của Grimm giữa những cây lãnh sam và hàng trăm bia mộ nơi nghĩa trang nhỏ trên đỉnh ngọn đồi.
Đằng sau đám người tiễn đưa đứng quanh mộ phần, những hàng cây đen đúa dường như cũng đang khoác đồ tang. Cơn gió khiến cành cây xào xạc thì thầm cầu nguyện. Vòng hoa và ngôi mộ nổi bật lên trên nền tuyết. Thị trấn trải dài suốt thung lũng bên dưới. Servaz thầm nghĩ, ở nơi đây, họ thực sự đến gần hơn với bầu trời.
Anh đã có một đêm tồi tệ. Mấy lần giật mình tỉnh giấc, trán đẫm mồ hôi. Anh không thể ngăn mình nghiền ngẫm lại những gì đã xảy ra tối qua. Anh vẫn chưa kể với Ziegler về việc đó, vì suy nghĩ kì quặc rằng nếu nói ra, có thể họ sẽ gạt anh ra ngoài và giao cuộc điều tra cho người khác. Liệu họ có đang gặp nguy hiểm không? Có một điều chắc chắn, bọn chúng không thích những kẻ lạ mặt lảng vảng xung quanh thung lũng này.
Anh nhìn ngắm sườn đồi quanh mình để cố lấy lại bình tĩnh. Mùa hè ở đây hẳn là rất dễ chịu. Sườn đồi xanh um dường như trải ra bạt ngàn tựa một mũi thuyền bên trên thung lũng. Một quả đồi tròn, thoai thoải như cơ thể một người đàn bà. Ngay cả những ngọn núi cũng mất đi vẻ hăm dọa nếu nhìn từ đây. Tiết trời dễ chịu chiều lòng người.
Trên đường ra khỏi nghĩa trang, Ziegler lấy khuỷu tay thọc anh. Anh nhìn theo hướng cô chỉ. Chaperon đã xuất hiện. Ông ta đang nói chuyện với Cathy d’Humières và vài nhân vật quyền cao chức trọng khác. Bỗng nhiên, điện thoại của Servaz rung trong túi áo.
Anh trả lời. Ai đó từ trụ sở cảnh sát quốc gia ở Paris. Servaz lập tức nhận ra giọng điệu quý tộc, từng trải, như thể người nói chuyện với anh súc miệng bằng mật mía mỗi sáng.
“Anh giải quyết vụ con ngựa thế nào rồi?”
“Ai muốn biết vậy?”
“Sở chỉ huy của Lực lượng Cảnh sát Quốc gia đang theo sát vụ việc này đấy, thưa ngài sĩ quan.”
“Họ có biết một người đàn ông đã bị giết không?”
“Có, một dược sĩ tên là Grimm, chúng tôi đã biết việc đó,” quan chức nọ trả lời, như thể biết rõ vụ án từ trong ra ngoài, và đương nhiên điều đó là không thể.
“Vậy hẳn ông cũng phải biết rằng con ngựa của anh Lombard không phải ưu tiên của tôi.”
“Sĩ quan chỉ huy, Catherine d’Humières đã đảm bảo với tôi rằng anh là nòng cốt của lực lượng.”
Servaz cảm thấy cơn tức giận đang bùng lên. Rõ ràng tôi là nòng cốt hơn ông, anh nghĩ. Tôi không dành thời gian bắt tay trong hành lang, gièm pha những người bạn nhỏ của mình, hay ngồi trong cuộc họp làm ra vẻ theo sát tất cả các vụ án.
“Anh có manh mối nào không?”
“Hoàn toàn không.”
“Còn hai gã bảo vệ?”
À à, ông ta thực sự có bỏ công bỏ sức ra đọc báo cáo. Hẳn là đọc vội đọc vàng, ngay trước khi gọi cho anh, giống như một sinh viên cuống cuồng làm nốt bài tập về nhà trước khi lên lớp.
“Không phải họ.”
“Sao anh có thể chắc chắn như vậy?”
Vì tôi dành thời gian tiếp xúc với nạn nhân và bọn sát nhân trong khi ông ngồi đó ấm bàn tọa cả ngày, anh nghĩ.
“Họ không đủ khả năng làm việc đó. Nhưng nếu ông muốn chắc chắn, thì rất hoan nghênh ông tới đây tham gia cùng chúng tôi.”
“Thôi nào, sĩ quan, bình tĩnh lại đi. Không ai nghi ngờ năng lực của anh cả,” người đàn ông dỗ dành. “Cứ tiến hành cuộc điều tra theo cách của anh, nhưng đừng quên rằng chúng ta cũng muốn tìm ra kẻ đã giết con ngựa nữa.”
Một thông điệp rõ ràng, hoàn toàn không sao hết nếu giết một dược sĩ và treo ông ta trần truồng trên cầu, nhưng việc chặt đầu một con ngựa thuộc sở hữu một trong những người đàn ông quyền lực nhất nước Pháp, là chuyện không thể chấp nhận được.
“Tốt thôi,” Servaz nói.
“Chúng ta sẽ nói chuyện sau, sĩ quan chỉ huy,” người đàn ông nói rồi cúp máy.
Servaz có thể hình dung ra cảnh ông ta ngồi ở bàn làm việc, trong bộ vét và cà vạt đặt may riêng, xức nước hoa cao cấp, nở nụ cười hằn học với những cấp dưới nhỏ bé nơi tỉnh lẻ, lôi ra mấy bản báo cáo vô thưởng vô phạt nhưng toàn những lời lẽ đao to búa lớn, rồi đi tới đi lui để phô trương thanh thế và tự thán phục bản thân trong gương trước khi xuống căng tin chém gió về việc thay đổi thế giới với đám bề tôi.
“Một nghi lễ xinh đẹp ở một nơi xinh đẹp,” ai đó nói bên tai anh.
Anh quay đầu. Gabriel Saint-Cyr đang cười với anh. Servaz bắt lấy bàn tay ông cựu thẩm phán đang chìa ra. Một cái bắt tay chắc nịch, không kiểu cách, không chút đe dọa, như bản thân người đàn ông đó.
“Tôi chỉ đang nghĩ, đây quả là một nơi xinh đẹp để yên nghỉ mãi mãi,” Servaz nở nụ cười.
Ông cựu thẩm phán gật đầu đồng ý.
“Và đó chính xác là việc tôi định làm. Chắc tôi sẽ tới đây trước anh, nhưng nếu thích, hẳn anh sẽ là một người bạn đồng hành rất tuyệt dưới suối vàng. Chỗ của tôi ở đằng kia.”
Saint-Cyr chỉ về một góc nghĩa trang, Servaz bật cười và châm một điếu thuốc, “Sao ông biết?”
“Biết gì?”
“Rằng tôi sẽ là một người bạn đồng hành tốt dưới suối vàng.”
“Ở tuổi này, với kinh nghiệm đã tích lũy được, tôi có thể nhìn thấu người khác khá nhanh chóng.”
“Và ông không bao giờ phạm sai lầm sao?”
“Hiếm lắm. Hơn nữa, tôi tin tưởng đánh giá của Catherine.”
“Bà ấy có hỏi ông cung nào không?”
Giờ đến lượt Saint-Cyr cười lớn, “Cung hoàng đạo hả? Đó là việc đầu tiên bà ấy làm khi chúng tôi được giới thiệu với nhau! Gia đình tôi đều được chôn cất ở đây,” ông nói thêm. “Ba năm trước tôi đã mua một khoảnh ở đầu bên kia của nghĩa trang, xa nhất có thể.”
“Tại sao?”
“Tôi thấy sợ mỗi khi nghĩ tới việc phải vĩnh viễn ở bên cạnh vài người hàng xóm.”
“Ông có quen Grimm không?”
“Vậy là anh đã quyết định sẽ sử dụng dịch vụ của tôi?”
“Có lẽ.”
“Anh ta là loại người giữ kẽ lắm. Anh nên hỏi Chaperon,” Saint-Cyr nói, chỉ vào ông thị trưởng càng lúc càng đi xa khỏi chỗ họ. “Họ biết nhau rất rõ.”
Servaz nhớ lại lời Hirtmann.
“Tôi cũng nghĩ thế,” anh nói. “Grimm, Chaperon và Perrault, đúng không? Chơi poker tối thứ Bảy hằng tuần…”
“Phải. Và Mourrenx. Bốn người đó trong bốn mươi năm. Không thể tách rời, từ những ngày ở trường trung học.”
Servaz nhớ lại bức ảnh trong túi áo khoác. Anh cho ông thẩm phán xem. “Đây có phải là họ không?”
Gabriel Saint-Cyr rút ra một cặp kính và đeo lên mắt trước khi ghé nhìn bức ảnh. Servaz nhận thấy ngón trỏ bị biến dạng vì viêm khớp của ông ta khẽ run rẩy khi rê trên bốn người đàn ông. Bệnh Parkinson.
“Phải. Đây là Grimm… Và đó là Chaperon…” Ngón tay của ông di chuyển. “Còn ở đây là Perrault. Người đàn ông cao gầy với mái tóc dày, đeo cặp kính lớn. Anh ta có một cửa hàng bán đồ thể thao ở Saint-Martin. Anh ta còn là một hướng dẫn viên leo núi.”
Rồi ngón tay ông dừng ở người khổng lồ râu ria đang giơ bình nước kim loại về phía ống kính máy ảnh, cười lớn trong ánh sáng mùa thu.
“Gilbert Mourrenx. Anh ta từng làm việc trong một nhà máy xenlulo ở Saint-Gaudens. Đã chết hai năm trước, vì ung thư dạ dày.”
“Ông nói rằng bốn người họ không thể tách rời?”
“Bọn họ từng như vậy,” Saint-Cyr trả lời, tháo kính ra. “Không thể tách rời, phải… có thể nói thế…”
Servaz nhìn chằm chằm vào vị thẩm phán. Có gì đó trong giọng Saint-Cyr… Người đàn ông lớn tuổi không rời mắt khỏi anh. Ông đang gửi cho anh một thông điệp, theo cách tế nhị nhất có thể.
“Bọn họ từng dính vào rắc rối nào chăng?”
Quý ông hưu trí đáp lại ánh mắt của Servaz. Anh nín thở.
“Chỉ là đồn thổi… Một lần, khoảng ba mươi năm trước, có một vụ đâm đơn… từ một gia đình ở Saint-Martin. Một gia đình giản dị, người bố là công nhân nhà máy điện, người mẹ không đi làm.”
Nhà máy điện! Các giác quan của Servaz lập tức đề cao cảnh giác.
“Họ đâm đơn kiện?”
“Phải. Vì bị tống tiền. Đại loại thế…”
Người đàn ông già nhíu mày, cố nhớ lại. “Nếu tôi nhớ không lầm, thì có một vài bức ảnh Polaroid[1]. Con gái của đôi vợ chồng khốn khổ, một đứa trẻ 17 tuổi. Trong ảnh, cô bé khỏa thân và rõ ràng là đang say rượu. Ở một bức khác, cô bé đang… cùng với vài gã thanh niên, tôi nghĩ thế. Có vẻ như mấy gã đó đã dọa sẽ công khai những bức ảnh nếu cô bé không chịu làm theo lời chúng. Nhưng cô bé đã hoảng sợ và nói cho bố mẹ biết tất cả.”
“Chuyện gì xảy ra sau đó?”
“Chẳng có gì. Hai vị phụ huynh rút lại đơn kiện trước khi sen đầm kịp thẩm vấn bốn thằng khốn. Hẳn là họ đã âm thầm giải quyết với nhau, bên thôi kiện và bên thôi tống tiền. Chắc vợ chồng nhà đó cũng không muốn những bức ảnh truyền ra ngoài…”
Servaz nhíu mày.
“Lạ thật. Maillard không hề nhắc đến chuyện này với tôi.”
“Có lẽ cậu ấy không biết gì đâu. Lúc đó cậu ấy chưa vào làm.”
“Bấy giờ ông còn đang công tác.”
“Phải.”
“Thế ông có tin không?”
Saint-Cyr tỏ vẻ ngờ vực. “Anh là cảnh sát. Cũng như tôi, anh biết rõ ràng mọi người đều có bí mật. Và thường thì không phải bí mật hay ho gì. Vì sao gia đình nọ phải nói dối?”
“Để moi tiền của bố mẹ bốn cậu bé còn lại.”
“Và để con gái họ mang tiếng suốt đời sao? Không. Tôi biết bố của cô bé, ông ta đã làm mấy việc lặt vặt ở chỗ tôi khi còn thất nghiệp. Một tay trung thực, gia giáo. Tôi dám cá đó không phải phong cách của họ.”
Servaz nghĩ tới ngôi nhà gỗ và thứ mình tìm được ở đó, “Ông vừa nói ai cũng có bí mật.”
Saint-Cyr chăm chú nhìn anh, “Phải. Bí mật của anh là gì, sĩ quan?”
Servaz mỉm cười bí hiểm.
“Những vụ tự tử,” anh nói. “Có ý nghĩa gì với ông không?”
Lần này anh thấy sự ngạc nhiên hiện lên trong mắt ông thẩm phán.
“Ai kể với anh?”
“Tôi có nói ông cũng không tin đâu.”
“Thử xem.”
“Julian Hirtmann.”
Gabriel Saint-Cyr trân trối nhìn anh một lúc lâu, ánh mắt đầy vẻ khó hiểu, “Anh không đùa đấy chứ?”
“Hoàn toàn không.”
Trong một tích tắc, ông thẩm phán già lặng đi. Cuối cùng ông nói, “Tối nay khoảng 8 giờ anh làm gì?”
“Tôi chưa có kế hoạch nào cả.”
“Được, hãy đến nhà tôi ăn tối. Nếu lời các thực khách của tôi đáng tin, thì tôi là một đầu bếp thứ thiệt đấy. Số 6 Impasse du Torrent. Đừng lo không tìm thấy, nó là một cối xay nước cũ, ở tận cuối con đường, ngay trước khu rừng. Hẹn gặp anh tối nay.”
“Tôi hy vọng mọi chuyện vẫn ổn,” Servaz nói.
Chaperon quay lại với một cử chỉ kì quặc. Một bàn tay ông ta đã đặt lên cửa xe. Bộ dạng căng thẳng và âu lo. Khi nhận ra Servaz, ông ta đỏ mặt, “Sao anh lại nói thế?”
“Tôi đã cố tìm ông cả ngày hôm qua,” Servaz nở nụ cười thân thiện. “Nhưng vô ích.”
Trong khoảnh khắc, thị trưởng của Saint-Martin trông đầy bối rối. Rõ ràng ông ta đang cố giữ điềm tĩnh, nhưng không thể.
“Tôi bàng hoàng vì cái chết của Gilles. Một án mạng khủng khiếp… ra tay đến mức mất nhân tính như vậy… thật khủng khiếp… Tôi cần phải đi nơi khác, để được ở một mình. Tôi đi leo núi.”
“Một mình trên núi? Ông không sợ sao?”
Thị trưởng rùng mình trước câu hỏi của anh, “Vì sao tôi phải sợ?”
Nhìn thật kĩ người đàn ông nhỏ bé rám nắng, Servaz chắc chắn ông ta không chỉ sợ hãi đơn thuần, mà phải gọi là khiếp đảm. Servaz băn khoăn không biết có nên hỏi luôn ông ta về những vụ tự tử không, nhưng rồi quyết định là nên kiềm chế, không ngửa hết bài một lúc. Tối nay, anh sẽ biết thêm về sự việc sau bữa ăn tối với Saint-Cyr. Tuy vậy, anh vẫn lấy bức ảnh trong túi ra, “Bức ảnh này có gợi lại cho ông điều gì không?”
“Anh lấy nó ở đâu?”
“Chỗ của Grimm.”
“Đó là một bức ảnh cũ,” Chaperon lảng tránh ánh mắt anh.
“Phải, tháng Mười năm 1993,” Servaz nói.
Chaperon vẫy vẫy tay phải, như thể muốn nói chuyện đã lâu quá rồi. Bàn tay bóng nhờn đầy nốt đồi mồi của ông ta dập dờn trước mắt Servaz, khiến anh đông cứng lại vì ngỡ ngàng. Ông thị trưởng không còn đeo chiếc nhẫn triện nữa, nhưng chắc hẳn ông ta mới tháo ra, vì vẫn nhìn rõ một dải da hẹp, sáng màu hơn chạy vòng quanh ngón áp út.
Rất nhanh, tâm trí Servaz bị những câu hỏi dồn dập tấn công.
Ngón tay của Grimm đã bị cắt, Chaperon tháo chiếc nhẫn triện mà cả bốn người đàn ông trong ảnh đều đeo. Điều đó có nghĩa là gì? Kẻ giết người rõ ràng biết câu trả lời. Phải chăng hai người còn lại trong tấm ảnh có liên quan tới cái chết của ông dược sĩ? Và nếu có, Hirtmann biết được bằng cách nào?
“Ông có biết rõ về họ không?” Servaz hỏi.
“Có, khá rõ. Mặc dù Perrault và tôi giờ không còn gặp nhau thường xuyên như trước.”
“Họ cũng từng là bạn chơi poker của ông.”
“Phải. Chúng tôi còn thường xuyên đi leo núi với nhau. Nhưng tôi không thấy…”
“Cảm ơn ông.” Servaz ngắt lời. “Hiện tại tôi không còn câu hỏi nào khác.”
“Ai thế?” Ziegler hỏi khi hai người đã vào xe, chỉ về phía người đàn ông đang rón rén đi tới một chiếc Peugeot 405 trông cổ lỗ già nua y hệt chủ nhân.
“Gabriel Saint-Cyr, thẩm phán điều tra danh dự, đã về hưu. Hôm qua tôi gặp ông ta ở trụ sở tòa án.”
“Hai người đã nói chuyện gì?”
“Grimm, Chaperon, Perrault, và một Mourrenx nào đó.”
“Ba người chơi poker… và Mourrenx là ai?”
“Thành viên thứ tư trong nhóm. Ông ta đã chết hai năm trước vì ung thư. Theo lời Saint-Cyr, ba mươi năm trước bọn họ đã bị buộc tội tống tiền. Họ chuốc rượu một cô gái, lột trần cô ta để chụp ảnh. Rồi họ dọa sẽ công khai bức ảnh nếu…”
“… nếu cô ấy không chịu nghe lời…”
“Chính xác.”
Servaz thoáng thấy một tia sáng trong mắt Ziegler.
“Đó có thể là một manh mối,” cô nói.
“Liên quan thế nào với con ngựa của Lombard? Và Hirtmann?”
“Tôi không biết.”
“Đã từ ba mươi năm trước. Bốn chàng trai trẻ say khướt và một cô gái cũng say khướt. Thì sao chứ? Họ còn trẻ, họ làm điều dại dột. Nó dẫn chúng ta đến đâu?”
“Có lẽ đó chỉ là phần chóp của tảng băng trôi.”
Servaz nhìn cô. “Ý cô là gì?”
“Thì, có thể có những chuyện ‘dại dột’ hơn, kiểu kiểu đó. Có thể bọn họ không chỉ dừng ở đấy. Có thể một trong những chuyện dại dột đã để lại hậu quả tồi tệ.”
“Nhiều có thể quá đấy,” Servaz nói. “Và còn một việc nữa, Chaperon đã tháo nhẫn triện.”
“Gì cơ?”
Servaz tả lại những gì anh thấy. Ziegler chau mày.
“Cô nghĩ hành động này có nghĩa là gì?”
“Tôi không biết. Trong lúc đó, tôi có thứ cho anh xem đây.”
“Căn nhà gỗ?”
“Phải. Chúng ta đi chứ?”
5 giờ, chuông báo thức trên tủ đầu giường rung lên và Diane run rẩy lết vào nhà tắm. Như mọi buổi sáng khác, vòi hoa sen bắt đầu bằng những tia nước nóng rẫy rồi kết thúc bằng từng dòng nhỏ giọt lạnh buốt. Cô vội vã lau người, mặc quần áo, và dành một giờ tiếp theo để đọc lại ghi chú của mình trước khi xuống căng tin ở tầng trệt.
Căng tin rất vắng vẻ, không một bóng người. Nhưng giờ cô đã biết nơi đặt chiếc máy pha cà phê dạng viên nén, và cô bước ra sau quầy để tự pha một cốc espresso. Cô trở lại tiếp tục đọc ghi chú cho tới khi nghe thấy những tiếng bước chân trong hành lang. Bác sĩ Xavier vào phòng, gật đầu với cô rồi đi thẳng ra sau quầy để tự pha cà phê. Cầm cái cốc trong tay, anh ta đi qua chỗ cô.
“Chào buổi sáng, Diane. Cô dậy sớm nhỉ.”
“Chào buổi sáng, bác sĩ. Là thói quen cũ thôi…”
Cô nhận thấy tâm trạng anh ta có vẻ tốt. Anh ta nhấp cà phê, vẫn nhìn cô với vẻ cười cười.
“Cô đã sẵn sàng chưa, Diane? Tôi có tin tốt đây. Sáng nay chúng ta sẽ tới thăm các bệnh nhân ở Khu A.”
Cô cố che giấu sự phấn khích và giữ cho giọng mình thật chuyên nghiệp, “Thật tốt quá, thưa bác sĩ.”
“Cứ gọi tôi là Francis.”
“Được thôi, Francis.”
“Tôi hy vọng lần trước không làm cô quá hoảng sợ. Tôi chỉ muốn cảnh báo cô thôi. Rồi cô sẽ thấy, mọi chuyện sẽ ổn.”
“Tôi đã rất sẵn sàng.”
Ánh mắt anh ta nhìn cô rõ ràng biểu lộ sự nghi ngờ.
“Chúng ta sẽ gặp ai?”
“Julian Hirtmann.”
Cánh cửa văn phòng mở ra khi Seven Nation Army của The White Stripes đang vang vang trong tai nghe, Espérandieu ngước lên khỏi màn hình.
“Này,” Samira nói. “Khám nghiệm tử thi thế nào?”
“Rất kinh khủng,” Espérandieu kéo tuột tai nghe ra.
Samira đi vòng qua bàn Espérandieu để tới chỗ ngồi của mình. Khi cô bước qua, cậu ngửi thấy thoang thoảng mùi nước hoa tươi mát và dễ chịu trên nền hương sữa tắm. Thời điểm cô đặt chân vào tổ hình sự, cậu nhận ra sự đồng điệu giữa họ. Giống như cậu, Samira Cheung cũng là mục tiêu của những lời châm biếm và sự chế nhạo công khai của một số thành viên khác. Nhưng cô gái trẻ biết cách chứng tỏ bản thân. Cô đã chỉnh đốn những thằng khốn đó không chỉ một lần. Và chỉ càng khiến bọn họ ghét cô hơn.
Samira Cheung chộp lấy chai nước khoáng và uống luôn. Sáng nay cô mặc một chiếc áo da ngắn bên ngoài áo khoác bò và áo nỉ có mũ, quần rằn ri, bốt cao chín phân và đội mũ len trượt tuyết có lưỡi trai.
Cô chăm chú nhìn màn hình máy tính với khuôn mặt xấu lạ thường của mình. Trang điểm cũng không giúp cô khá hơn. Ngay cả Espérandieu cũng muốn cười phá lên khi lần đầu thấy cô, nhưng cuối cùng cậu cũng quen dần. Giờ cậu thậm chí còn cho rằng cô có một sức hút kì lạ đến ngược đời.
“Vừa ở đâu thế?” Cậu hỏi.
“Ở trụ sở tòa án.”
Cậu biết điều đó có nghĩa là cô vừa nói chuyện với thẩm phán phụ trách vụ án ba thằng bé. Cậu mỉm cười, tự hỏi không biết cô đã tạo ra ấn tượng như thế nào ở trụ sở tòa án.
“Có tiến triển gì không?”
“Hình như bên kháng cáo đã rót mớ lý luận vào một cái tai biết cảm thông và lắng nghe của đấng tối cao…”
“Ý cô là gì?”
“Là giả thuyết chết đuối đang ngày một vững chắc.”
“Chết tiệt!”
“Anh có để ý thấy gì khi đến đây không?” Cô hỏi.
“Thấy gì?”
“Pujol và Simeoni.”
Espérandieu rụt lại. Đó là chuyện cậu không muốn nói tới.
“Chắc chắn rồi, họ có vẻ phấn chấn lắm,” cậu nói vẻ bi thảm.
“Bọn họ đã như thế từ hôm qua,” Samira nói. “Tôi cảm giác vì Martin không có ở đây nên họ như gà mọc đuôi tôm. Anh nên đề phòng.”
“Sao lại là tôi?”
“Anh biết rõ mà.”
“Không, tôi không biết, giải thích đi.”
“Họ ghét anh. Họ nghĩ anh đồng tính. Mà đối với họ, việc ấy cũng không khác gì ấu dâm hay giao cấu với dê cả.”
“Họ cũng ghét cô mà,” Espérandieu nói thẳng, cố không tập trung vào cách dùng từ của Samira.
“Ít hơn anh. Họ không thích tôi vì tôi nửa Tàu nửa Ả Rập. Chỉ thiếu mỗi dòng máu da màu nữa thôi. Về cơ bản, tôi là kẻ thù. Còn với anh thì khác. Họ có hàng nghìn lý do để ghét anh, kiểu cách của anh, quần áo của anh, được Martin hậu thuẫn, vợ anh…”
“Vợ tôi?”
Samira không thể nén cười, “Dễ hiểu thôi. Họ không thể hiểu tại sao một người như anh có thể lấy được một người như cô ấy.”
Giờ thì đến lượt Espérandieu mỉm cười. Cậu đánh giá cao tính bộc trực của Samira nhưng đôi lúc ngoại giao một chút có lẽ tốt hơn.
“Bọn người tối cổ,” anh nói.
“Động vật linh trưởng,” Samira đồng tình. “Nhưng tôi sẽ để ý giúp anh. Tôi dám chắc họ đang mưu tính gì đó.”
Khi họ bước ra khỏi xe đậu bên ngoài căn nhà gỗ của Grimm, Servaz băn khoăn phải chăng đêm qua mình bị ảo giác. Thung lũng không còn vẻ tăm tối và ma quái. Khi đóng cửa xe, anh bỗng thấy cổ họng lại bỏng rát khó chịu. Sáng nay anh quên uống thuốc.
“Cô có nước ở đây không?” Anh hỏi.
“Có một chai nước khoáng trong hộc đựng đồ,” Ziegler nói.
Họ bắt đầu đi về phía ngôi nhà bên bờ suối. Dòng nước đang chảy lấp lánh qua những thân cây, dệt nên một tấm mạng âm thanh trong trẻo tựa pha lê. Vài cây sồi đứng sừng sững trên con dốc xám, giữa những cây vân sam và lãnh sam. Có gì đó trông như một đống rác trái phép nằm bên cạnh nước. Servaz có thể thấy mấy cái hộp gỉ sét, mấy túi rác đen, một cái nệm dơ dáy, một cái tủ lạnh, và thậm chí một chiếc máy tính cũ kéo theo đống dây cáp đằng sau, như một con bạch tuộc chết với mớ xúc tu. Ngay cả trong thung lũng hoang sơ này cũng có rác, dấu hiệu rành rành cho thấy con người không thể nào ngừng hủy hoại mọi thứ.
Anh tiến về những bậc thang dẫn lên hiên. Một dải băng dày in chữ LỰC LƯỢNG SEN ĐẦM QUỐC GIA. KHÔNG PHẬN SỰ MIỄN VÀO chắn chéo trên cánh cửa. Servaz nhấc dải băng lên, mở khóa cửa và đẩy mạnh. Anh đứng sang một bên cho Ziegler bước qua.
“Thứ hay ho ở bên trái,” anh nói.
Cô bước vào trong một bước, và lập tức dừng lại. “Chết tiệt!”
Servaz theo sau cô. Quầy bếp và chạn bát, giường kiêm ghế bành chất đầy đệm tựa vào một cái tủ ngăn kéo, giá sách, đồ câu, cần, giỏ lưới đựng cá, ủng, vợt bắt cá, dồn trong một góc. Mọi thứ đều đã được phủ vô số loại bột chọn lọc, nhôm, chì cacbonat, bột nam châm đen, bột phát quang màu hồng… Tất cả đều được sử dụng để tìm ra dấu vân chìm. Những khu vực màu xanh nước biển lớn rải rác ở một số chỗ cho thấy các nhân viên khám nghiệm đã sử dụng Blue Star, họ tìm kiếm dấu máu nhưng có vẻ vô ích. Những tấm thẻ đánh số vẫn được găm đây đó. Họ thậm chí đã cắt vài mẫu thảm.
Anh lén liếc nhìn Ziegler.
Trông cô có vẻ kinh ngạc. Cô đang chăm chăm nhìn vào bức tường bên trái. Chiếc áo choàng lớn màu đen với những nếp gấp óng ánh tương phản sắc nét với tường gỗ nhợt nhạt, phần mũ treo trên một cái móc, giống như con dơi đang ngủ. Phía dưới, trên nền nhà gỗ thông xù xì là một đôi ủng. Những dấu bột cũng tỏa sáng trên tấm vải đen và đôi ủng.
“Tôi không biết tại sao nhưng thứ đó khiến tôi sởn gai ốc,” Ziegler nói. “Dù suy đến cũng chỉ là một cái áo choàng đi mưa và một đôi ủng.”
Servaz liếc ra ngoài ô cửa đang mở. Bên ngoài, mọi thứ đều tĩnh lặng. Nhưng hình ảnh cặp đèn pha chớp lên qua gương chiếu hậu đã ăn sâu vào tiềm thức của anh. Anh cố dỏng tai xem có tiếng động cơ nào không. Tất cả những gì anh nghe thấy là âm thanh của dòng nước. Nỗi sợ hãi bản năng như khi đèn pha của chiếc xe đêm qua nhấn chìm anh lại ùa về. Một nỗi sợ hãi cực độ.
“Anh sao thế?” Ziegler hỏi khi nhận thấy biểu cảm của anh.
“Tôi bị theo dõi, hôm qua, trên con đường này… Một chiếc ô tô đã đợi sẵn khi tôi ra khỏi đường rừng…”
Ziegler quan sát Servaz. Vẻ lo lắng lướt qua gương mặt cô, “Anh chắc không?”
“Chắc.”
Khoảnh khắc im lặng đến ngột ngạt, “Anh phải nói với d’Humières.”
“Không. Tôi muốn chúng ta biết với nhau thôi. Dù sao, cũng chỉ trong khoảng thời gian này.”
“Tại sao?”
“Tôi không biết… Confiant hoàn toàn có khả năng viện cớ đẩy tôi ra khỏi vụ án. Hiển nhiên là lấy lý do đảm bảo an toàn cho tôi,” anh gượng cười mỏi mệt.
“Anh nghĩ đó là ai?”
“Có thể là tay chân của Éric Lombard.”
“Hay những tên sát nhân?”
Cô chăm chú nhìn anh, mắt mở to kinh ngạc. Anh hiểu rằng cô đang tự hỏi bản thân sẽ phản ứng thế nào nếu việc đó xảy ra với mình. Nỗi sợ hãi là một dịch bệnh, anh nghĩ. Có một yếu tố vô cùng đen tối trong cuộc điều tra này, một khối tai ác và bí hiểm đã hình thành nên trọng tâm của vấn đề. Và giờ họ đang bị hút tới gần nguy hiểm. Lần thứ hai anh băn khoăn có phải họ đang mạo hiểm chính mạng sống của mình hay không?
“Đã đến lúc tán gẫu một chút với ông thị trưởng,” đột nhiên anh nói.
“Đừng lo, mọi sự sẽ ổn thôi.”
Diane nhìn hình thể cao lớn của Ngài Atlas, mường tượng những múi cơ mạnh mẽ bên dưới bộ áo liền quần của anh ta. Anh ta chắc phải dành hàng giờ luyện tập trên máy và nhấc những thanh tạ lấp đầy đĩa sắt. Anh ta nháy mắt thân thiện với Diane và cô gật đầu.
Trái ngược với suy nghĩ của hai người đàn ông này, Diane không thực sự sợ hãi. Đúng hơn, cô thấy mình bị thôi thúc bởi sự hiếu kì mang tính nghề nghiệp.
Họ đến một hành lang được chiếu sáng bằng đèn nê ông. Tấm thảm xanh như hút lấy tiếng bước chân của họ. Những bức tường trắng…
Nền nhạc dìu dịu, giống như trong siêu thị. Một bản nhạc New Age[2] nào đó, có tiếng đàn hạc và dương cầm, nhẹ bẫng như một lời thì thầm.
Những cánh cửa…
Cô đi qua chúng mà không dừng lại. Xavier sải bước phía trước. Cô ngoan ngoãn đi theo.
Không một tiếng động. Chắc hẳn họ đang ngủ. Nơi này giống như một khách sạn năm sao, loại hiện đại, tối giản, với những đường nét gọn gàng. Cô nhớ lại tiếng thét dài và quỷ quái từng nghe thấy qua cánh cửa an ninh trong lần đầu tiên tới gần nơi này. Phải chăng lần đó họ bị dùng thuốc quá liều? Không, Alex đã nói rất rõ ràng về điểm này, hầu hết bọn họ đều kháng thuốc.
Ở cánh cửa cuối cùng, Xavier dừng lại trước mặt cô, anh ta bấm mật mã lên cái hộp an ninh rồi vặn tay nắm cửa. “Chào buổi sáng, Julian.”
“Chào buổi sáng, bác sĩ.”
Một giọng nói trầm, đĩnh đạc và khôn ngoan. Diane nghe thấy tiếng hắn trước khi gặp mặt.
“Tôi giới thiệu với anh một vị khách, nhà tâm lý học mới của chúng ta, Diane Berg. Cô ấy cũng là người Thụy Sĩ, giống anh.”
Cô bước lên phía trước. Julian Hirtmann đang đứng cạnh khung cửa sổ trông ra một ngọn cây lãnh sam phủ tuyết. Hắn rời mắt khỏi phong cảnh bên ngoài và quan sát cô. Hắn cao hơn 1m80, khiến bác sĩ Xavier trông như một đứa trẻ khi đứng bên cạnh. Tầm 40 tuổi, tóc nâu ngắn, đường nét khuôn mặt cân đối mạnh mẽ. Tự tin. Khá đẹp trai, cô nghĩ thầm, nếu thích kiểu người cứng nhắc. Vầng trán cao, môi mím lại, mặt chữ điền. Nhưng đôi mắt mới là chi tiết khiến cô ấn tượng. Sắc. Đen. Và dữ dội. Đôi tròng đen rực sáng, ánh lên vẻ quỷ quyệt. Hắn nheo mắt lại và cô cảm nhận được ánh nhìn của hắn đang vây lấy mình.
“Chào buổi sáng, Julian,” cô nói.
“Chào buổi sáng, bác sĩ tâm lý,” hắn nói.
Cô thấy Xavier cười. Đôi môi của Hirtmann cũng tạo thành một nụ cười mơ hồ.
“Cô sống ở chỗ nào Geneva?”
“Cologny,” cô trả lời.
Hắn gật đầu và đi khỏi cửa sổ, “Tôi có một ngôi nhà rất đẹp bên hồ. Giờ thì mấy tên nhà giàu mới nổi đang sống ở đó. Cái loại chỉ toàn xài máy tính và điện thoại mà không có một quyển sách trong nhà. Lạy Chúa lòng lành! Percy Bysshe Shelly[3] đã sống trong chính căn nhà đó khi ông ấy ở Thụy Sĩ, cô có tưởng tượng được không?”
Hắn nhìn cô bằng đôi mắt sẫm sáng ngời. Hắn đợi cô trả lời.
“Anh thích đọc sách à?” Cô ngượng ngập nói.
Hắn nhún vai, thất vọng thấy rõ.
“Bác sĩ Berg muốn thường xuyên trao đổi với anh,” Xavier cắt ngang.
Hắn quay ra nhìn cô lần nữa, “Thật sao? Tôi được gì? Ngoài niềm vui được bầu bạn cùng cô?”
“Không gì cả,” cô trả lời thẳng thắn. “Hoàn toàn không gì cả. Dù sao đi nữa, tôi cũng không định giải thoát anh khỏi nỗi khổ. Nhưng anh cũng không phải chịu đau đớn giày vò đâu. Tôi không có gì để cho anh, ngoại trừ như anh nói, niềm vui được bầu bạn cùng tôi. Nhưng tôi sẽ rất biết ơn nếu anh đồng ý gặp tôi.”
Không xun xoe, không dối trá, cô nghĩ mình đang xoay xở khá tốt. Cô nhìn thẳng vào hắn.
“Hừm, cô thẳng thắn đấy.” Ánh mắt hắn chuyển từ Diane sang Xavier. “Một đức tính hiếm có ở nơi này. Và nếu tôi đồng ý, vậy những cuộc… gặp mặt của chúng ta sẽ bao gồm những gì? Tôi hy vọng cô không định thực hành mấy buổi phân tích nực cười. Để tôi nói luôn, vô ích thôi. Không phải với tôi.”
“Không, ý tôi là trò chuyện thực sự. Chúng ta có thể nói về mọi chủ đề, bất cứ điều gì anh thích.”
“Còn phải xem chúng ta có điểm chung nào không đã,” hắn mỉa mai.
Cô không phản ứng.
“Nói cho tôi nghe về cô xem,” hắn nói. “Về sự nghiệp của cô cho tới giờ.”
Cô kể cho hắn nghe. Cô nhắc tới khoa Tâm lý học và Khoa học Giáo dục tại Geneva, Viện Pháp lý, phòng khám tư nơi cô từng làm việc, và nhà tù Champ-Dollon, nơi cô từng thực tập.
Hắn trang trọng gật đầu, một ngón tay đặt ở môi dưới, như thể một giám thị. Cô cố nhịn không bật cười trước cử chỉ đó. Cô nhắc nhở bản thân những gì hắn đã làm với những cô gái trẻ ở tuổi cô, và cảm giác buồn cười tan biến.
“Tôi nghĩ kể từ khi cô đến đây, trong môi trường mới mẻ và khác biệt này, chắc cô phải cảm thấy có chút e sợ.”
Hắn đang thử cô. Hắn muốn xem có sự tương tác giữa hai bên không. Hắn không muốn bất cứ cuộc gặp gỡ nào mà chỉ có hắn là người nói còn cô đơn thuần lắng nghe.
“Có, nỗi e sợ khi đảm nhiệm một vị trí mới, ở một nơi công tác mới, với những trách nhiệm mới, áp lực công việc. Tôi cho đó là những điều tích cực cho phép tôi tiến bộ.”
Hắn gật đầu, “Nếu cô đã nói như vậy, thì như cô biết đấy, những nhóm người bị nhốt lại với nhau có xu hướng tụt lùi. Tụt lùi ở đây không chỉ là bệnh nhân, mà còn cán bộ và ngay cả các bác sĩ. Cô sẽ thấy. Có ba tầng giam giữ, cái lồng này ở trong cái lồng khác lớn hơn, nhà thương điên nhốt lũ tâm thần, rồi đến thung lũng, và cuối cùng là thị trấn bên dưới, với toàn bộ những tên súc vật thối nát sau hàng thế kỉ phối ngẫu cận huyết, loạn luân và bạo lực gia đình. Cô sẽ thấy. Sau vài ngày, hoặc vài tuần, cô sẽ bắt đầu thấy mình trẻ con, như trở lại thành một cô bé, và cô sẽ lại muốn mút tay…”
Trong đôi mắt lạnh lẽo của Hirtmann, Diane nhận ra khao khát muốn nói những điều tục tĩu, nhưng hắn cố gắng kiềm chế. Dù sao hắn cũng từng được nuôi dạy trong gia đình gia giáo. Đột nhiên, cô nhận ra Hirtmann khiến cô nghĩ về bố mình, với tính khắc kỉ của ông, những sợi bạc trên mái tóc nâu, và diện mạo của một người đàn ông có tuổi nhưng vẫn chỉn chu, chải chuốt.
Cũng đường cằm và khóe môi góc cạnh, cũng cái mũi hơi dài, cũng ánh mắt sắc lạnh như đang đánh giá, phán xét cô. Cô nhận ra rằng nếu không giũ bỏ những ý nghĩ này, cô sẽ mất kiểm soát.
Về sau có lúc cô tự hỏi, làm sao cùng là một người đàn ông này mà có thể tổ chức những cuộc giao hoan đồi trụy đó. Hirtmann là một người đàn ông có vô số nhân cách.
“Cô đang nghĩ gì?” Hirtmann hỏi.
Hắn không bỏ lỡ bất cứ điều gì. Cô phải ghi nhớ điều này. Cô quyết định sẽ thẳng thắn, nhưng phải luôn duy trì khoảng cách nhất định.
“Tôi đang nghĩ rằng anh có nét gợi nhớ đến bố tôi,” cô nói.
Lần đầu tiên, Hirtmann có vẻ bối rối. Cô thấy hắn cười. Cô nhận ra nụ cười làm thay đổi hoàn toàn diện mạo của hắn.
“Thật sao?” Hắn nói với vẻ ngạc nhiên thực sự.
“Tôi có thể cảm nhận được anh đã từng chịu ảnh hưởng từ môi trường giáo dục đặc thù của tầng lớp tư sản Thụy Sĩ. Hệt như bố tôi, cùng một sự kín đáo, cùng một vẻ nghiêm nghị. Giống như người ta vẫn có nét đặc thù của một tín đồ đạo Tin lành ngay cả khi tưởng rằng mình đã giũ bỏ được nó. Tất cả những người thuộc tầng lớp thượng lưu của Thụy Sĩ đều như một cái két sắt có hai lớp khóa. Tôi đang tự hỏi không biết bố tôi có bí mật đáng hổ thẹn nào không, như anh chẳng hạn.”
Xavier nhìn cô bằng ánh mắt kinh ngạc và giận dữ. Khóe miệng đang cười của Hirtmann có vẻ ngoác rộng hơn.
“Xét đến cùng, tôi nghĩ chúng ta có thể hòa hợp đấy,” hắn nói. “Khi nào thì ta bắt đầu? Tôi rất háo hức được tiếp tục cuộc trò chuyện của chúng ta.”
“Không tìm thấy ở bất cứ đâu,” Ziegler cúp điện thoại. “Ông ta không có ở tòa thị chính, không ở nhà, không đến nhà máy. Như thể ông ta đã cuốn gói ra đi rồi.”
Servaz quan sát cô sen đầm rồi nhìn chằm chằm xuống dòng suối qua kính chắn gió.
“Chúng ta phải để mắt tới thị trưởng nhiều hơn. Khi ông ta xuất hiện trở lại. Trong lúc đó, thử tìm Perrault xem.”
Người nhân viên, một cô gái trẻ tầm 20 tuổi, đang chóp chép nhai cục kẹo cao su như thể phải tính sổ với nó.
Trông cô ta không quá khỏe khoắn. Mà giống kiểu người ăn quá nhiều kẹo và ngồi hàng giờ trước tivi hoặc máy tính. Servaz lơ đãng nghĩ nếu là Perrault, hẳn anh sẽ cân nhắc về việc giao phó ngăn kéo tiền cho cô ta. Anh nhìn ra xung quanh, thấy la liệt những tấm ván trượt tuyết, ủng leo núi, áo liền quần bó sát phản quang, áo len lông cừu và các phụ kiện thời trang đặt trên giá gỗ nhạt màu hoặc được treo ngay ngắn thẳng hàng. Anh tự hỏi Perrault thuê cô ta dựa trên tiêu chí gì. Có lẽ cô ta là ứng viên duy nhất đồng ý làm việc với mức lương ông ta đưa ra.
“Ông ta có vẻ lo lắng không?” Anh hỏi.
“Có.”
Servaz quay sang nhìn Ziegler. Họ vừa bấm chuông ở cửa hàng của Perrault. Cô nhân viên nói với họ rằng đã không thấy ông ta từ hôm qua. Ông ta xuất hiện vào sáng thứ Hai và bảo với cô ông ta phải đi xa vài ngày với lý do việc gấp của gia đình. Cô ta nói ông chủ đừng lo, cô sẽ để ý cửa hàng trong thời gian đó.
“Lo lắng như thế nào?” Ziegler hỏi.
Cô nhân viên chóp chép nhai một lát rồi mới trả lời, “Trông đầu bù tóc rối lắm, giống như không ngủ được tí nào.” Lại nhai tiếp. “Với cả ông ấy đứng ngồi không yên.”
“Trông ông ta có vẻ hoảng sợ không?”
“Có. Tôi vừa nói đấy thôi.” Cô nhân viên định thổi một quả bong bóng nhưng rồi đổi ý.
“Cô có số điện thoại của ông ta không?”
Cô gái trẻ mở ngăn kéo và lục lọi đống giấy tờ, rút ra một tấm danh thiếp và đưa cho Ziegler. Cô sen đầm liếc qua logo có hình vẽ một người trượt tuyết lướt ngoằn ngoèo xuống núi được in rất đẹp, bên dưới là dòng chữ: THỂ THAO & THIÊN NHIÊN.
“Cô thấy làm việc cho ông ta thế nào?” Cô hỏi.
Cô nhân viên cảnh giác nhìn Ziegler.
“Keo kiệt vô cùng,” cuối cùng cô ta nói.
Đang lắng nghe giai điệu Come on Feel the Illinoise trong tai nghe, qua phần thể hiện của Sufian Stevens, Espérandieu bỗng liếc qua máy tính. Trên màn hình, phần mềm xử lý hình ảnh vừa hoàn thành tác vụ cậu yêu cầu trước đó.
“Đến xem cái này đi,” cậu gọi Samira.
Cô cảnh sát đứng lên. Cô mặc áo nỉ có mũ không kéo khóa. Khi cô nghiêng người về phía cậu, Espérandieu có thể thấy khe ngực lộ ra ngay bên dưới mũi mình.
“Cái gì thế?”
Đó là hình ảnh cận cảnh của chiếc nhẫn. Không hoàn toàn sắc nét, nhưng có thể thấy rõ chiếc nhẫn triện, được phóng to gấp hai nghìn lần, ở mặt nhẫn, trên nền màu đỏ là hai chữ vàng.
“Đây là chiếc nhẫn đeo trên ngón tay bị chặt của Grimm, ông dược sĩ bị giết ở Saint-Martin,” cậu nói, cổ họng khô khốc.
“Hả? Làm sao anh biết, ngón tay ông ta bị chặt mất rồi còn đâu?”
“Giải thích thì lâu lắm. Cô thấy gì?”
“Trông như hai kí tự, hai chữ cái,” Samira nhìn chằm chằm vào màn hình.
Espérandieu ép mình phải tập trung vào màn hình máy tính.
“Hai chữ C?” Anh nói.
“Hoặc một chữ C và một chữ E…”
“Hoặc một chữ C và một chữ D…”
“Hoặc một chữ O và một chữ C…”
“Đợi đã.”
Espérandieu mở vài cửa sổ bên phải màn hình, thay đổi một vài thông số, di chuyển trỏ chuột. Chạy thao tác một lần nữa. Họ im lặng đợi kết quả. Samira vẫn ghé qua vai cậu. Espérandieu mường tượng thấy hai bầu ngực đầy, mềm và chắc. Có một nốt ruồi son ở bên ngực trái.
“Theo anh, chúng nó đang làm gì trong đó?” Một giọng chế giễu vọng vào từ hành lang.
Máy tính báo tác vụ đã hoàn thành. Hình ảnh lập tức hiện ra. Sắc nét. Hai chữ cái nổi bật rõ ràng trên nền đỏ của chiếc nhẫn: CS.
Servaz tìm thấy chỗ cần tới, theo như chỉ dẫn, ở cuối một ngõ cụt dẫn ra dòng suối và một bãi cây nhỏ. Anh thấy ánh đèn trước khi nhìn ra hình thù đen kịt của cối xay. Cuối con phố, cách xa ngôi nhà cuối cùng vừa đi qua, ba cửa sổ hắt ánh đèn xuống dòng nước. Phía trên là dãy núi, những hàng lãnh sam đen, và một bầu trời đầy sao. Anh bước ra khỏi xe. Đêm đó trời rất lạnh, nhưng không lạnh bằng những đêm trước.
Anh thấy nản lòng. Sau khi cố tìm kiếm Chaperon và Perrault trong vô vọng, anh còn không tìm được vợ cũ của Chaperon. Bà rời khỏi vùng này và chuyển đến đâu đó gần Bordeaux. Ngài thị trưởng đã ly hôn, có một cô con gái đang sống ở Paris. Về phần Serge Perrault, họ cũng kiểm tra và phát hiện ông ta chưa từng lấy vợ. Cộng với nền hòa bình kì quái ngự trị giữa Grimm và bà vợ sư tử kia, chỉ có thể kết luận rằng đời sống gia đình không phải thứ dành cho ba người đó.
Servaz đi dọc theo cây cầu nhỏ cong cong bắc từ con đường sang cối xay nước. Gần đó, một bánh xe nước đang quay tròn, anh nghe thấy tiếng nước chảy ì oạp giữa màn đêm.
Anh đập vòng gõ cửa. Một cánh cửa thấp, rất cũ và nặng. Cửa mở ra gần như ngay lập tức. Gabriel Saint-Cyr đứng đó, mặc một chiếc sơ mi trắng, áo khoác len mỏng và thắt nơ bướm không chê vào đâu được. Những khúc nhạc quen thuộc phát ra từ bên trong. Một bản tứ tấu đàn dây, Schubert, Thần chết và nàng trinh nữ.
“Martin, cậu vào đi.”
Servaz nhận thấy kiểu xưng hô đã đổi sang thân mật, nhưng anh không đáp lại. Một mùi hương thơm lừng từ bếp tỏa ra, kích thích khứu giác anh ngay khi bước vào, và bụng anh liền phản ứng. Anh nhận ra mình sắp chết đói, từ sáng tới giờ anh mới ăn một quả trứng trắng. Bước lên mấy bậc thang vào phòng khách ở phía bên phải, Servaz không thể không nhướng một bên lông mày, ông thẩm phán bày biện thật đẹp đẽ. Chiếc khăn trải bàn trắng đến mức gần như phát sáng, hai ngọn nến lung linh trên đài nến bạc.
“Tôi góa vợ,” Saint-Cyr giải thích khi thấy vẻ mặt của Servaz. “Công việc là cả cuộc đời tôi, tôi vẫn chưa chuẩn bị cho ngày ngừng lại. Dù sống thêm mười hay hai mươi, ba mươi năm nữa cũng thế. Tuổi già chỉ là một sự đợi chờ vô ích dài đằng đẵng. Vì vậy, trong lúc chờ đợi, tôi vẫn giữ cho mình bận rộn. Tôi đã cân nhắc mọi bề, và băn khoăn liệu có nên mở một nhà hàng hay không.”
Servaz phì cười. Rõ ràng, ông thẩm phán không phải kiểu người ăn không ngồi rồi.
“Nhưng có thể chắc chắn với cậu một điều… À, cậu không ngại tôi ở tuổi này mà còn xưng hô kiểu suồng sã với cậu chứ? Tôi không nghĩ về cái chết, và tận dụng thời gian ngắn ngủi còn lại để nấu ăn, chăm sóc khu vườn. Tôi làm mọi việc. Đọc sách. Du lịch…”
“Và thỉnh thoảng ghé qua trụ sở tòa án để cập nhật tình hình.”
“Chính xác!”
Saint-Cyr ra hiệu cho Servaz ngồi xuống, rồi đi ra sau bàn bếp quay mặt về gian phòng. Martin thấy ông buộc tạp dề quanh thắt lưng. Ngọn lửa đang nổ lép bép trong lò sưởi, hắt sáng lên xà nhà. Phòng khách bày toàn đồ cổ, hẳn đã được khai quật ở mấy chợ đồ cổ, có cả những bức tranh lớn nhỏ.
“‘Khi nấu ăn phải có một tâm trí thảnh thơi, một tâm hồn hào phóng và một trái tim ấm áp’, trích lời Paul Gauguin. Tôi hy vọng cậu không phiền khi chúng ta bỏ qua rượu khai vị?”
“Không hề,” Servaz trả lời. “Tôi đang chết đói đây.”
Saint-Cyr trở lại với hai chiếc đĩa và một chai rượu vang, biểu diễn sự điệu nghệ của một tay bồi bàn chuyên nghiệp.
“Bánh ngàn lớp với nấm truffle,” ông ta tuyên bố, đặt một đĩa lớn bốc hơi nghi ngút trước mặt Servaz.
Mùi hương thật tuyệt vời. Servaz xiên dĩa vào món ăn và đưa một miếng lớn lên miệng. Nóng bỏng lưỡi, nhưng hiếm khi anh được ăn món nào ngon đến thế.
“Sao?”
“Nếu ông làm thẩm phán cũng giỏi như đầu bếp, hẳn tòa án ở Saint-Martin đã phải chịu một mất mát lớn.”
Saint-Cyr bình thản đón nhận lời khen. Ông tự ý thức được tài năng đầu bếp hạng nhất của mình đủ để biết đằng sau câu ca tụng cường điệu đó là một lời khen chân thành. Người đàn ông nhỏ bé nghiêng chai vang trắng về phía ly của Servaz. “Nếm thử đi.”
Servaz nâng ly rượu lên ngang tầm mắt trước khi uống. Dưới ánh sáng của những ngọn nến, rượu có màu vàng kim nhàn nhạt, anh ánh màu ngọc lục bảo. Servaz không sành rượu, nhưng ngay khi nhấp ngụm đầu tiên, anh chắc chắn rằng mình vừa được thưởng thức một loại rượu ngon hiếm có.
“Rất tuyệt. Thật đấy. Mặc dù tôi không phải chuyên gia.”
Saint-Cyr gật đầu. “Bâtard-Montrachet 2001.” Ông ta nháy mắt với Servaz và tặc lưỡi.
Ngụm thứ hai, Servaz cảm thấy đầu mình quay cuồng. Đúng ra anh không nên đem bụng rỗng đến đây.
“Có phải ông đang hy vọng thứ này sẽ làm tôi không giữ được mồm miệng nữa phải không?” Anh mỉm cười hỏi người đàn ông đối diện.
Saint-Cyr cười lớn. “Rất vui được thấy cậu ăn ngon miệng như vậy. Trông cậu như thể bị bỏ đói mười ngày vậy.” Ông thẩm phán đột ngột đổi chủ đề. “Cậu nghĩ gì về Confiant?”
Câu hỏi khiến Servaz cảnh giác. Anh do dự. “Tôi không biết. Vẫn còn quá sớm để kết luận.”
Một lần nữa. Một tia nhìn ranh mãnh ánh lên trong mắt người đàn ông già. “Đương nhiên là không phải như vậy. Cậu đã có kết luận rồi. Và nó tiêu cực. Đó là lý do khiến cậu không muốn nói về cậu ta.”
Servaz cảm thấy bối rối trước nhận xét này. Lời lẽ của ông thẩm phán chưa bao giờ hết sắc sảo.
“Tên của Confiant không hợp với cậu ta[4],” Saint-Cyr tiếp tục, không đợi câu trả lời. “Cậu ta tỏ ra không tin tưởng bất cứ ai, và cũng không nên tin tưởng cậu ta. Như cậu có lẽ đã nhận thấy.”
Trúng phóc. Một lần nữa, Servaz nghĩ rằng quý ông này sẽ rất được việc. Khi họ ăn xong món đó, Saint-Cyr dọn đĩa.
“Thịt thỏ sốt mù tạt,” ông nói khi trở lại. “Mời dùng!”
Và mang ra một chai rượu khác. Lần này là vang đỏ. Nửa giờ sau, sau món táo tráng miệng đi kèm một ly vang Sautemes, họ ngồi trên hai chiếc ghế bành cạnh lò sưởi. Servaz cảm thấy no nê và ngà ngà say, đắm chìm trong cảm giác hưởng thụ và nhàn tản mà đã từ lâu anh không biết đến. Saint-Cyr mời anh ít rượu cognac và tự rót cho mình một ly Armagnac.
Rồi ông nhìn anh bằng ánh mắt sắc sảo, và Servaz hiểu rằng đã đến vấn đề chính.
“Cậu cũng phụ trách vụ con ngựa,” ông thẩm phán thẳng thắn vào đề, sau khi nhấp ngụm rượu đầu tiên. “Cậu nghĩ có liên quan tới vụ tay dược sĩ không?”
“Có thể.”
“Hai vụ án rùng rợn chỉ trong khoảng vài ngày và cách nhau có vài dặm.”
“Phải.”
“Cậu nghĩ gì về Éric Lombard?”
“Ngạo mạn.”
“Đừng tập trung vào mặt xấu của anh ta. Cánh tay anh ta rất dài và có thể sẽ có ích với cậu. Nhưng cũng đừng để anh ta tiến hành điều tra hộ cậu.”
Một lần nữa, Servaz mỉm cười. Ông già tuy đã về hưu nhưng vẫn không để mất đi sự tinh nhạy.
“Ông định nói với tôi về chuỗi tự tử.”
Ông thẩm phán đưa ly rượu lên môi.
“Ngày nay người ta trở thành cảnh sát vì lý do gì?” Ông hỏi thay vì trả lời. “Nạn tham nhũng đang hoành hành và tất cả những gì người ta nghĩ đến là làm sao để nhét cho đầy túi. Làm sao biết được điều gì mới là quan trọng? Không phải mọi việc đang trở nên vô cùng phức tạp hay sao?”
“Ồ, không, rất đơn giản là đằng khác,” Servaz nói. “Có hai loại người, bọn khốn và những người còn lại. Và người ta chỉ cần chọn phe. Nếu ai đó chưa lựa chọn, điều đó có nghĩa là anh ta đã ở phe của bọn khốn rồi.”
“Cậu nghĩ như vậy thật sao? Mọi thứ chỉ đơn giản là người tốt và người xấu? Cậu rất may mắn đấy. Lấy ví dụ, nếu cậu phải chọn giữa ba ứng cử viên trong đợt bầu cử. Người đầu tiên liệt nửa người vì viêm tủy xám, huyết áp cao, thiếu máu và vô số căn bệnh nghiêm trọng khác, đã từng dối trá, có cố vấn là một thầy chiêm tinh, ngoại tình, nghiện thuốc nặng, và uống quá nhiều martini. Người thứ hai béo phì, ba lần ứng cử thất bại, đang mắc bệnh trầm cảm, đã hai lần suy tim, hút xì gà và nốc champagne, bordeaux, brandy, whisky mỗi tối trước khi uống hai viên thuốc ngủ. Và người cuối cùng là một anh hùng chiến tranh được trao huy chương, tôn trọng phụ nữ, yêu động vật, thỉnh thoảng có thể uống một cốc bia và không hút thuốc. Cậu sẽ chọn người nào?”
Servaz mỉm cười, “Tôi cho rằng ông đang mong tôi sẽ chọn người thứ ba?”
“Làm tốt lắm, cậu vừa từ chối Roosevelt[5] và Churchill[6] để bầu cho Adolf Hitler[7]. Cậu thấy đấy, mọi chuyện nhiều khi không như người ta tưởng.”
Servaz cười phá lên. Anh thực sự rất thích ông thẩm phán này. Gần như chẳng lúc nào ông thiếu tỉnh táo. Tâm trí ông thông tỏ như dòng nước chảy qua chiếc cối xay nước kia vậy.
“Và đó là điều không ổn ở truyền thông hiện nay,” Saint-Cyr tiếp tục nói. “Bọn họ đeo đuổi những khía cạnh vặt vãnh vô nghĩa và thổi phồng chúng lên quá mức. Kết quả là nếu truyền thông ngày nay tồn tại vào thời điểm ấy, Roosevelt và Churchill sẽ không đắc cử. Tin vào trực giác của cậu đi, Martin. Đừng tin vào bề ngoài.”
“Những vụ tự tử,” Servaz nhắc lại lần nữa.
“Tôi sắp nói đến đây,” Ông thẩm phán rót cho mình một ly Armagnac nữa, ngước lên và chăm chăm nhìn Servaz.
“Tôi là thẩm phán điều tra vụ đó, vụ án khó nhất trong cả sự nghiệp của tôi. Nó kéo dài hơn một năm. Chính xác là kể từ tháng Năm năm 1993 đến tháng Bảy năm 1994. Bảy vụ tự tử. Thanh thiếu niên tuổi từ 15 đến 18. Và tôi vẫn nhớ rõ như thể chuyện mới xảy ra ngày hôm qua.”
Servaz nín thở. Giọng ông thẩm phán đã thay đổi, trang nghiêm và chất chứa nỗi buồn vô bờ bến.
“Đứa trẻ đầu tiên sống ở làng bên, Alice Ferrand, 16 tuổi rưỡi. Một cô bé thông minh, kết quả học tập dẫn đầu trường. Cô bé lớn lên trong môi trường giáo dục tốt, bố là giảng viên dạy văn học, mẹ là giáo viên. Alice được nhận xét là một đứa trẻ đáng yêu. Cô bé có bạn bè, thích hội họa và âm nhạc, được mọi người quý mến. Người ta tìm thấy cô bé treo cổ trong một kho thóc vào buổi sáng mùng 2 tháng Năm năm 1993.”
Treo cổ… Cổ họng Servaz thắt lại, nhưng khả năng tập trung của anh trở nên bén nhọn hơn.
“Tôi biết cậu đang nghĩ gì,” Saint-Cyr nói khi bắt gặp ánh mắt Servaz. “Nhưng tôi có thể đảm bảo với cậu là cô bé tự treo cổ, chắc chắn thế. Giám định pháp y đã khẳng định. Là Delmas, cậu biết anh ta đấy, một gã giàu năng lực. Có một manh mối trong ngăn kéo bàn học của cô bé. Bức kí họa cô bé vẽ kho thóc. Thậm chí còn bao gồm cả chiều dài chính xác của sợi dây từ xà nhà đến nút thắt, để đảm bảo đôi chân nhỏ của mình không chạm đất.”
Giọng Saint-Cyr nghẹn lại ở những từ cuối cùng. Servaz có thể thấy ông đã rơm rớm nước mắt.
“Vụ việc thật thương tâm. Alice là một đứa trẻ ngọt ngào. Năm tuần sau, vào mùng 7 tháng Sáu, một cậu bé 17 tuổi tự vẫn, mọi người chỉ nghĩ đó là sự trùng hợp kinh khủng. Nhưng đến vụ thứ ba, vào cuối tháng, người ta bắt đầu thắc mắc.”
Saint-Cyr uống nốt chỗ Armagnac và đặt chiếc ly xuống bàn trà. “Tôi cũng nhớ đó, như thể mới hôm qua. Có một đợt nắng nóng dữ dội vào tháng Sáu và tháng Bảy mùa hè năm ấy, thời tiết khắc nghiệt, những buổi tối hầm hập kéo dài vô tận. Người ta ngồi lì trong vườn nhà, bên hồ hoặc những quán cà phê ngoài trời chỉ để hưởng chút gió mát. Sẽ rất nóng nếu sống trong một căn hộ. Thời điểm đó chưa có điều hòa hay điện thoại di động như bây giờ. Tối hôm đó, ngày 29 tháng Sáu, tôi đang ngồi ở quán cà phê cùng với người tiền nhiệm của Cathy d’Humières và một phó công tố. Chủ quán cà phê ra tìm tôi. Ông ta chỉ vào chiếc điện thoại trên quầy tính tiền. Là cuộc gọi cho tôi. Từ sen đầm. ‘Vừa phát hiện thêm một vụ nữa,’ họ nói. Vì Chúa, ngay lập tức tôi hiểu câu nói nghĩa là gì.”
Servaz cảm thấy càng lúc càng lạnh.
“Thằng bé cũng treo cổ, như hai đứa trước. Trong một kho thóc đổ nát ở cuối một cánh đồng lúa mì. Tôi vẫn nhớ từng chi tiết một. Mùa hè, đồng lúa chín, một ngày dài đến vô tận, 10 giờ tối mà hơi nóng vẫn như thiêu như đốt, những con ruồi, xác thằng bé trong bóng đổ của kho thóc. Tôi đã ngất xỉu. Người ta đưa tôi tới bệnh viện. Sau đó tôi tiếp tục giải quyết vụ án. Như đã nói, tôi chưa gặp vấn đề nào phức tạp đến thế, một thử thách khủng khiếp. Nỗi đau buồn của các gia đình nạn nhân, sự thắc mắc trước tiến triển của vụ việc, cơn sợ hãi bi kịch sẽ tiếp diễn…”
“Có ai biết tại sao lũ trẻ lại làm thế không? Chúng có để lại bất kì lời giải thích nào không?”
Ông thẩm phán nhìn Servaz bằng vẻ mặt vẫn hết sức hoang mang. “Không một ý niệm nào dù là nhỏ nhất. Chúng tôi chưa bao giờ tìm ra tâm tư của chúng. Không đứa nào để lại lời giải thích. Hiển nhiên mọi người đều ám ảnh. Buổi sáng ai nấy thức dậy trong nỗi sợ hãi phải nghe tin một thiếu niên khác tự sát. Không ai hiểu được tại sao chuyện đó lại xảy ra ở đây, ở chính thị trấn này. Đương nhiên, các phụ huynh có con tầm tuổi đó mang cùng một nỗi sợ hãi, rằng con họ sẽ làm việc tương tự. Họ khiếp sợ. Họ cố gắng hết mức để trông nom con mình mà không để chúng biết, hoặc chỉ đơn giản là không cho chúng ra ngoài. Tình hình kéo dài trong hơn một năm. Bảy đứa trẻ tất cả. Bảy! Và rồi, một ngày đẹp trời, nó dừng lại.”
“Quả là một câu chuyện lạ thường,” Servaz nhận xét.
“Cũng không lạ thường lắm. Kể từ đó, tôi đã nghe tới những vụ việc tương tự ở các nước khác, xứ Wales, Québec, Nhật Bản. Những hiệp ước tự tử trong đám thanh thiếu niên. Ngày nay, nó còn tồi tệ hơn. Bọn chúng liên hệ với nhau qua Internet, gửi cho nhau những thông điệp qua diễn đàn, ‘Cuộc đời tôi thật vô nghĩa, muốn tìm một người đồng hành cùng chết.’ Tôi không phóng đại đâu. Với trường hợp tự tử ở Wales, trong số thư chia buồn, người ta tìm thấy những lời nhắn đại loại như ‘Mình sẽ sớm tới bên bạn’… Ai mà tưởng tượng được một chuyện như thế?”
“Tôi nghĩ ở thế giới chúng ta đang sống, mọi sự đều có thể,” Servaz nói. “Đặc biệt là những gì xấu nhất.”
Một hình ảnh xuất hiện trong tâm trí anh. Một cậu bé đi xuyên qua cánh đồng lúa mì, bước từng bước nặng nề, với mặt trời lặn sau lưng và một dây thừng nắm chặt trong tay. Khắp xung quanh là những con chim đang hót, đêm hè dài đằng đằng ngập tràn sức sống, nhưng trong tâm trí cậu trai trẻ chẳng có gì ngoài bóng tối.
Ông thẩm phán ảm đạm nhìn Servaz. “Phải, đó cũng là quan điểm của tôi. Về phần những đứa trẻ ấy, chúng đã không để lại bất kì lời giải thích nào cho hành động của mình, nhưng chúng tôi tìm được bằng chứng cho thấy chúng khuyến khích nhau trải nghiệm việc đó.”
“Ý ông là gì?”
“Trong nhà của vài đứa trẻ đã tự tử có mấy bức thư do những đứa khác gửi đến, bàn thảo về kế hoạch của mình, cách lan truyền hành động, và cả sự háo hức được trải nghiệm. Vấn đề là những bức thư không được gửi qua đường bưu điện, và bọn chúng đều sử dụng biệt danh. Khi tìm thấy xấp thư, chúng tôi quyết định lấy dấu vân tay của tất cả thanh thiếu niên trong vùng ở độ tuổi từ 13 đến 19, so sánh với những dấu vân tay tìm thấy trên thư. Chúng tôi cũng tiến hành giám định chữ viết. Một công việc dai dẳng, cần mẫn. Cả một tổ được cắt ra để lo việc đó 24/24. Một số thư là của những đứa đã chết. Nhưng nhờ đó, chúng tôi phát hiện ra ba ứng viên mới. Không thể tin nổi, tôi biết. Chúng tôi giám sát chúng liên tục và cho một nhóm bác sĩ tâm lý làm việc với chúng. Nhưng một trong số chúng vẫn tự tử thành công bằng cách cho điện giật trong nhà tắm, dụng cụ là máy sấy tóc. Cậu bé ấy là nạn nhân thứ bảy… Hai đứa còn lại không thực hiện được.”
“Xấp thư giờ ở đâu?”
“Tôi giữ chúng. Cậu thực sự nghĩ có mối quan hệ giữa việc này với cái chết của tay dược sĩ và con ngựa nhà Lombard sao?”
“Người ta tìm thấy Grimm bị treo cổ…” Servaz thận trọng suy đoán.
“Và con ngựa, cũng vậy, cùng một kiểu…”
Một cơn kích động quen thuộc trào dâng trong Servaz. Cảm giác đã đi được một bước quyết định. Nhưng đi đến điều gì mới được chứ?
Ông thẩm phán đứng dậy, vài phút sau quay lại cùng một chiếc hộp nặng trĩu, đựng đầy tài liệu và cặp hồ sơ.
“Tất cả đều trong này. Những bức thư, một bản sao hồ sơ vụ án, đánh giá của các chuyên gia. Đừng mở nó ra ở đây.”
Servaz gật đầu, nhìn vào trong. “Bọn trẻ còn điểm chung nào nữa không? Ngoại trừ việc tự tử và những bức thư? Bọn chúng có tham gia cùng một bang hội, hay một nhóm nào không?”
“Ồ, cậu có thể yên tâm rằng chúng tôi đã kiểm tra vấn đề đó, bám sát từng manh mối, đã khai thác tất cả những gì có thể. Hoàn toàn vô ích. Đứa nhỏ nhất 15 tuổi rưỡi, và đứa lớn nhất 18, chúng không học cùng lớp, không chung sở thích và cũng không cùng tham gia bất cứ hoạt động nào. Vài đứa trong số đó biết nhau khá rõ, còn lại thì gần như xa lạ. Điểm chung duy nhất là nền tảng xã hội. Chúng đều xuất thân từ những gia đình bình thường hoặc trung lưu. Không ai trong số chúng thuộc tầng lớp tư sản giàu có ở Saint-Martin.”
Servaz có thể thấy ông thẩm phán già thất vọng đến mức nào. Anh hiểu ông đã dành hàng trăm giờ làm việc chỉ để lần theo những manh mối dù vô nghĩa, mong manh nhất, cố gắng nắm bắt một điều không thể nắm bắt nổi. Vụ án vô cùng quan trọng với cuộc đời của Gabriel Saint-Cyr. Anh biết ông già sẽ mang theo những nghi vấn này xuống mồ. Không bao giờ hết băn khoăn.
“Còn giả thuyết nào khác mà anh có thể đã nghĩ tới không?”
Servaz cũng bắt đầu xưng hô thân mật với ông thẩm phán, như thể xúc cảm của câu chuyện đã mang họ lại gần với nhau hơn. “Một linh cảm nào đó mà anh đã từ bỏ vì thiếu chứng cứ?”
Saint-Cyr có vẻ lưỡng lự.
“Hiển nhiên chúng tôi đã kiếm tra vô số giả thuyết,” ông thận trọng nói. “Nhưng chẳng có lấy một bằng chứng dù là mơ hồ nhất để chứng minh. Không giả thuyết nào thực tế. Đó là bí ẩn lớn nhất trong toàn bộ sự nghiệp của tôi. Tôi cho rằng mọi thẩm phán và nhân viên điều tra đều sẽ có ít nhất một bí ẩn như thế, vụ án mà họ không lý giải nổi. Và nó sẽ ám ảnh họ đến cuối đời. Một vụ án để lại cho họ dư vị vĩnh cửu của tuyệt vọng, và hầu như bác bỏ tất cả những thành công khác.”
“Đúng vậy,” Servaz nói. “Mọi người đều có những bí ẩn không lời giải. Và trong trường hợp ấy, luôn có một manh mối quan trọng hơn những manh mối khác. Một ý niệm mơ hồ vẫn chưa triển khai. Nhưng chúng ta cứ có cảm giác nó sẽ dẫn tới đâu đó, chỉ cần chúng ta may mắn, hoặc nếu cuộc điều tra đã diễn ra khác đi. Không có gì như thế thật sao? Một thứ không có trong này?”
Saint-Cyr hít một hơi thật sâu và nhìn thẳng vào mắt Servaz. Một lần nữa, ông lộ vẻ do dự, hai hàng lông mày rậm cau lại, “Có, có một giả thuyết tôi đặc biệt lưu tâm. Nhưng tôi không tìm ra cách xác minh. Vì thế nó ở lại đây,” ông nói, ngón trỏ gõ gõ vào thái dương. “Trại hè Les Isards. Có lẽ cậu đã nghe đến?”
Servaz để cụm từ đó chạy loanh quanh trong óc cho tới khi một kí ức vụt đến như đồng xu rơi vào con lợn đất. Những tòa nhà bỏ hoang, tấm biển han gỉ trên con đường đến Viện. Anh hồi tưởng lại cảm giác của mình trước cảnh tượng kì quái nơi đó. “Chúng tôi có đi qua trên đường đến Viện. Nó bị đóng cửa rồi, không phải sao?”
“Chính xác,” Saint-Cyr nói. “Nhưng nó từng hoạt động trong vài thập kỉ. Nó mở cửa sau chiến tranh, và chỉ đóng cửa vào cuối thập niên 1990.”
Ông ngừng lại, “Les Isards được xây dựng dành cho trẻ em Saint-Martin và khu vực lân cận, những đứa không có cơ hội được đi nghỉ hè thực sự. Nó được điều hành dưới sự chỉ đạo của chính quyền thành phố, một giám đốc được bổ nhiệm, và họ nhận trẻ em từ 8 đến 15 tuổi. Một trại hè với những hoạt động thông thường, leo núi, các môn bóng, luyện tập thể chất, đi bơi ở các hồ gần đó…”
Saint-Cyr nhăn nhó, như thể bị đau răng, “Điều khiến tôi chú ý là năm đứa trong bọn đã từng đến trại hè, trong vòng hai năm trước vụ tự tử. Trên thực tế, đây gần như là điểm chung duy nhất. Khi xem xét kĩ hơn, tôi đã phát hiện ra rằng chúng đến trại liên tiếp trong hai mùa hè. Và giám đốc trại hè mới được bổ nhiệm vào năm trước khi chúng tham gia.”
Servaz chăm chú lắng nghe. Anh có thể đoán được ông thẩm phán già đang hướng tới điều gì.
“Vì thế tôi bắt đầu điều tra lai lịch của giám đốc, một gã trẻ tuổi, ngoài ba mươi, nhưng tôi không tìm thấy bất cứ điều gì khác thường. Anh ta đã cưới vợ, sinh một trai một gái, cuộc sống yên ổn…”
“Anh biết hiện giờ anh ta ở đâu không?” Servaz hỏi.
“Ở nghĩa trang. Anh ta bị tai nạn xe máy đâu như mười năm trước, đâm vào một tảng băng. Vấn đề là tôi không tìm thấy bất cứ điều gì gợi ra rằng mấy đứa bé từng bị lạm dụng tình dục. Bên cạnh đó, hai trong số bảy đứa chưa đến trại hè bao giờ. Hơn nữa, dựa vào tổng số thanh thiếu niên tham gia trại hè, không có gì ngạc nhiên khi vài đứa có chung thời gian ở đó. Cuối cùng tôi đành từ bỏ manh mối này…”
“Nhưng anh vẫn nghĩ rằng có thể mình đã phát hiện được điều gì đó?”
Saint-Cyr ngước lên. Đôi mắt ông lấp lánh, “Phải.”
“Anh đề cập đến vụ đâm đơn buộc tội Grimm và ba người còn lại, tôi cho rằng anh cũng đã thẩm vấn họ khi điều tra về những vụ tự sát, có phải không?”
“Tại sao tôi phải làm thế? Chẳng có mối liên hệ nào cả.”
“Anh chắc là mình chưa bao giờ nghĩ đến họ chứ?” Servaz hỏi.
Một lần nữa, Saint-Cyr lộ vẻ chần chừ, “Không, đương nhiên là tôi đã từng nghĩ…”
“Anh giải thích cụ thể được không?”
“Sự việc này, cùng với vụ tống tiền tình dục không phải tin đồn đầu tiên về bốn người đó. Còn những vụ khác nữa, cả trước và sau. Nhưng chưa có bất cứ vụ nào dẫn tới kiện cáo chính thức, ngoại trừ lần duy nhất ấy.”
“Tin đồn kiểu gì?”
“Tin đồn ám chỉ có những cô gái khác cũng bị đối xử tương tự, và rằng một vài cô đã đi đến kết cục tồi tệ. Mấy gã này thích uống rượu, hễ say xỉn là họ trở nên bạo lực, kiểu như thế. Nhưng những cô gái kể trên đều đã đủ tuổi, hoặc gần đủ. Trong khi các nạn nhân tự tử đều là thiếu niên. Vì thế tôi loại trừ giả thuyết về sự liên quan. Vả chăng, thời ấy không thiếu gì các thể loại đồn đại.”
“Và có thật vậy không? Vê Grimm và những người kia?”
“Có thể là thật… Nhưng tôi không quan tâm lắm. Ở đây hay bất cứ nơi nào khác đều thế. Không thể đếm hết tin đồn nhảm cùng những kẻ chõ mũi khắp nơi, thích giết thời gian bằng cách bịa đặt đủ chuyện tồi tệ về hàng xóm của mình. Và họ sẽ thêu dệt thêm nếu cần. Chẳng chứng minh được điều gì. Tôi tin rằng có một phần sự thật trong số tin đồn, nhưng nhìn chung chúng đều bị thổi phồng lên theo kiểu tam sao thất bản mỗi khi qua miệng một ai.”
Servaz gật đầu.
“Nhưng cậu đã đúng khi nghi ngờ rằng thủ phạm giết Grimm có mối liên hệ với chuyện quá khứ,” ông thẩm phán tiếp tục. “Mọi sự xảy ra ở thung lũng này đều bắt nguồn từ quá khứ. Nếu muốn tìm hiểu sự thật thì không được bỏ sót bất cứ chi tiết nào.”
“Hirtmann có thể đóng vai trò gì trong toàn bộ câu chuyện?”
Saint-Cyr trầm ngâm nhìn anh, “Một vai trò mà tôi thường gọi là ‘mảnh ghép không khớp’. Mỗi vụ án luôn có một yếu tố như thế, cứng đầu, không chịu khớp vào bức tranh toàn cảnh. Bỏ nó đi, mọi tình tiết đều có lý. Nhưng nó vẫn ở đấy. Không chịu biến mất. Nghĩa là một thứ gì đó, ở đâu đó, đã vuột khỏi tầm tay chúng ta. Đôi khi nó vô cùng quan trọng. Đôi khi lại không. Một số thẩm phán và điều tra viên đã quyết định tảng lờ, đây thường là nguyên nhân gây ra án oan. Về phần mình, tôi không bao giờ bỏ qua chi tiết kiểu như thế. Nhưng tôi cũng không cho phép mình bị nó ám ảnh.”
Servaz nhìn đồng hồ đeo tay và đứng dậy.
“Thật tiếc rằng anh và tôi không cùng điều tra vụ án này,” anh nói. “Tôi muốn được làm việc với anh hơn là Confiant.”
“Cảm ơn,” Saint-Cyr cũng đứng dậy. “Tôi cho rằng chúng ta có thể trở thành những đồng đội tốt.”
Ông chỉ vào bàn, bếp và những chiếc ly rỗng trên bàn trà cạnh lò sưởi. “Cho phép tôi đưa ra một đề nghị. Bất cứ khi nào cậu qua đêm ở Saint-Martin, tôi hoan nghênh cậu tới dùng bữa tối. Như thế cậu sẽ không phải ăn thứ đồ chán ngắt ở khách sạn hay đi ngủ với cái bụng rỗng.”
Servaz mỉm cười, “Nếu cứ được đối đãi hậu hĩ thế này, chắc chẳng mấy chốc tôi sẽ không thể tiến hành thêm cuộc điều tra nào nữa.”
Gabriel Saint-Cyr bật cười sảng khoái, làm vơi bớt sự căng thẳng vương lại từ câu chuyện vừa kể.
“Có thể gọi đây là bữa ra mắt. Tôi muốn gây ấn tượng với cậu bằng tài nấu ăn của tôi. Bữa tiếp theo sẽ thanh đạm hơn, tôi hứa đấy. Chúng ta phải giữ cho sĩ quan chỉ huy mạnh khỏe.”
“Nếu vậy thì tôi đồng ý.”
Ông thẩm phán nháy mắt, “Đồng thời, chúng ta có thể thảo luận về diễn tiến của cuộc điều tra. Đương nhiên là trong giới hạn cậu được phép tiết lộ. Hay nói cách khác, ở góc độ lý thuyết hơn là thực tế điều tra. Chẳng ảnh hưởng đến ai nếu cậu muốn biện hộ những giả thuyết và kết luận của riêng mình với một người khác.”
Servaz biết ông thẩm phán nói đúng. Tuy anh không định kể với ông mọi thứ, nhưng anh ý thức được rằng với đầu óc nhạy bén và khả năng lập luận chuyên nghiệp, Saint-Cyr có thể giúp ích rất nhiều. Hơn nữa, nếu án mạng lần này liên quan đến những vụ tự tử xưa kia, ông cựu thẩm phán sẽ có nhiều điều để nói với anh.
Họ nồng nhiệt bắt tay nhau, Servaz trở ra với màn đêm. Khi tới cây cầu nhỏ, anh phát hiện ra tuyết đã rơi. Hít một hơi thật sâu làn không khí ban đêm cho tỉnh táo, cảm nhận những bông tuyết ướt lạnh đang mơn trớn má mình. Ra tới gần xe, anh thấy điện thoại rung lên trong túi áo.
“Có chuyện rồi,” Ziegler thông báo.
Servaz cứng người. Anh nhìn sang phía bên kia dòng nước. Hình dáng ông thẩm phán lướt qua cửa sổ, mang theo đĩa và dao dĩa. Bên trên cối xay, tuyết đang rơi dày đặc.
“Chúng tôi tìm thấy máu ở hiện trường vụ án, của một người không phải Grimm. DNA đã được xác định.”
Servaz cảm thấy như thể một vực thẳm đang mở ra dưới chân. Anh nuốt nước bọt. Anh biết cô sắp nói gì.
“Là của Hirtmann.”
Khi Diane nghe thấy tiếng cửa kẽo kẹt thì đã quá nửa đêm. Cô không ngủ, nhưng nằm trên giường và nhìn chằm chằm vào bóng tối, vẫn mặc nguyên quần áo, chờ đợi. Cô quay mặt ra, trông thấy một tia sáng dưới chân cửa. Có tiếng bước chân khe khẽ.
Cô bật dậy.
Sao cô lại làm việc này? Không ai bắt buộc cô phải làm thế. Nhưng cô vẫn hé mở cánh cửa.
Hành lang đã tối trở lại, nhưng phía cầu thang vẫn sáng đèn. Cô liếc về hướng ngược lại rồi đi ra ngoài. Cô mặc quần bò, áo len chui cổ và dép lê. Cô biết biện hộ thế nào về sự hiện diện của minh trong hành lang vào lúc nửa đêm nếu chẳng may bị ai bắt gặp? Cô tiến về phía cầu thang. Tiếp tục nghe ngóng. Tiếng bước chân lén lút vọng lên từ bên dưới. Người nọ không dừng lại ở tầng bốn hay tầng ba. Cuối cùng, tiếng bước chân tắt lịm ở tầng hai. Diane bỗng đông cứng, không dám nghiêng người nhìn qua lan can.
Một tiếng cách.
Người cô đang bám theo vừa bấm mã mở cửa tầng hai trên hộp khóa an ninh. Mỗi tầng có một hộp như thế, ngoại trừ tầng trên cùng là khu vực phòng ngủ của cán bộ. Cô nghe thấy cửa khẽ khàng mở ra, rồi đóng lại. Cô thực sự đang làm việc này sao? Nửa đêm bám theo một người ở chỗ làm mới?
Diane đi xuống cầu thang, tới cửa an ninh. Cô ngập ngừng, đếm đến mười, chuẩn bị nhập mật mã thì một ý nghĩ chợt thoáng qua tâm trí.
Những chiếc camera.
Camera giám sát được đặt ở bất cứ chỗ nào bệnh nhân ngủ hoặc được tự do di chuyển. Cả ở những vị trí chiến lược, tầng trệt cũng như tầng hai, ba và bốn. Tuy nhiên, không có camera ở cầu thang nội bộ, nơi bệnh nhân không được phép lui tới, và tầng năm, khu vực dành cho cán bộ. Nếu tiếp tục đi theo vị khách ban đêm, cô sẽ xuất hiện trong camera ở chỗ này hoặc chỗ khác…
Như thế có nghĩa người đi trước cô không sợ bị ghi hình. Nhưng nếu camera ghi lại hình ảnh Diane đi theo tuyến đường của người ta, thì hành vi của cô sẽ rất đáng ngờ.
Diane chưa suy tính được gì thêm thì nghe thấy tiếng bước chân ở bên kia cánh cửa. Cô chỉ kịp vội vàng chạy lên cầu thang và trốn đi trước khi khóa an ninh kêu cách một lần nữa.
Trong tích tắc, nỗi sợ hãi bóp nghẹn lấy cô. Nhưng thay vì trở lại khu vực cán bộ, nhân vật bí ẩn kia tiếp tục đi xuống tầng dưới. Diane chỉ do dự một giây.
Mày điên rồi!
Đến cánh cửa dưới tầng trệt, cô dừng lại. Không có bất cứ ai trong tầm mắt. Vị khách ban đêm đâu rồi? Nếu người ta đã đi vào tiền sảnh, chắc chắn tiếng cửa an ninh phải kêu một lần nữa. Suýt thì cô không nhận thấy cánh cửa xuống tầng hầm, nằm bên trái cuối đoạn cầu thang. Cánh cửa đang dần đóng lại… Chỉ có một tay nắm cửa ở phía bên này, vì thế, cánh cửa không thể mở được khi không có khóa. Diane vội vã hướng tới và lách bàn tay vào giữa khe cửa, ngay trước khi cánh cửa kim loại nặng trịch đóng lại.
Cô chật vật đẩy nó ra.
Tiếng bước chân vẫn tiếp tục, lần này là giẫm trên bê tông, dẫn sâu vào bóng tối của tầng hầm. Mười lăm bậc cầu thang tới một chiếu nghỉ rồi tiếp tục dẫn xuống theo hướng ngược lại. Câu thang dốc đứng, những bức tường tróc sơn.
Diane do dự.
Việc cô đi theo ai dọc theo hành lang Viện là một chuyện, nếu bị bắt gặp, cô có thể nói rằng cô ở văn phòng đến khuya và lạc đường. Nhưng sẽ là một chuyện hoàn toàn khác nếu cô đi theo người ta xuống tầng hầm.
Tiếng bước chân vẫn tiếp tục di chuyển.
Diane quyết đoán thả cho cánh cửa nặng nề đóng lại sau lưng. Cánh cửa kim loại có thể mở được từ bên trong tầng hầm nhờ một chốt ngang. Nó tạo ra một tiếng cách nhẹ khi khớp vào ngõng. Luồng khí lạnh và ẩm thấp lập tức vây lấy cô, cùng với thứ mùi ẩm mốc của tầng hầm. Diane bắt đầu đi xuống. Tới quãng cầu thang thứ hai, ánh đèn đột ngột sáng lên làm Diane giật mình bước hụt. Cô chúi tới trước, bật kêu khẽ khi vai đập mạnh vào bức tường phía dưới. Cô co mình lại vì đau đớn và đặt tay lên vai. Rồi nín thở. Tiếng bước chân đã dừng lại! Nỗi sợ hãi nãy giờ vẫn rất mơ hồ bỗng nhiên bùng lên choán lấy Diane. Tim đập thình thịch. Cô chuẩn bị quay trở ra thì tiếng bước chân lại tiếp tục. Kẻ kia đang đi xa dần… Diane nhìn xuống. Không phải bóng tối đen đặc. Có ánh sáng mờ nhạt hắt lên cầu thang, tràn qua những mặt tường như một lớp sơn màu vàng. Cô tiếp tục đi xuống, cẩn thận đặt từng bước chân và cuối cùng tới một hành lang dài trong ánh sáng mờ mờ.
Những đường ống nước và bó dây điện bên dưới trần, những vệt gỉ sét và vết mốc đen trên tường.
Tầng hầm… không phải là nơi nhiều cán bộ nhân viên sẽ lui tới. Không khí ngột ngạt, lạnh lẽo và ẩm thấp khiến Diane nghĩ tới một hầm mộ.
Âm thanh, tiếng bước chân xa dần, tiếng nước rỉ ra từ trần nhà, tiếng o o của hệ thống thông khí ở rất xa. Tất cả đều trở nên đáng kinh hãi.
Cô rùng mình, như thể một bàn tay lạnh buốt đang rờ dọc sống lưng. Có nên tiếp tục hay không? Nơi này giống như mê cung, đầy những giao lộ và hành lang. Cố gắng bình tĩnh lại, cô tập trung tinh thần định hướng tiếng bước chân. Âm vọng xa dần và ánh sáng cũng đang mờ đi. Cô phải nhanh lên. Ánh sáng và âm thanh đến từ cùng một hướng. Cô đi đến góc tiếp theo và ghé mắt nhìn. Có một bóng người ở cuối đường… Cô chỉ đủ thời gian nhìn thoáng qua trước khi nó biến mất ở bên phải. Diane nhận ra ánh sáng chập chờn, ngắt quãng trong hành lang bắt nguồn từ một chiếc đèn pin.
Cổ họng nghẹn lại, Diane vội vã tiến lên để không phải ở một mình trong bóng tối. Cô run rẩy, vì lạnh và vì sợ. Đúng là điên rồi! Mày đang làm gì thế này? Trong tay cô không có gì để tự vệ. Cô cẩn thận bước đi, hành lang dù rộng nhưng nhiều quãng gần như chật cứng bởi những chồng đồ cũ, dát giường, đệm, những chiếc giường sắt dựng vào tường, bồn rửa sứt mẻ, ghế gãy, thùng, hộp, máy tính và tivi hỏng. Hơn nữa, bóng người kia còn liên tục đối hướng, hết sang trái rồi sang phải, đi sâu vào trong lòng tòa nhà. Và chỉ nhờ luồng sáng le lói từ đèn pin của người đó, cô mới đoán được hướng đi. Diane những muốn từ bỏ và trở lại theo lối cũ, nhưng rồi nhận ra đã quá muộn. Không thể nào tìm được lối ra trong bóng tối này! Cô tự hỏi chuyện gì xảy ra nếu bật một công tắc đèn? Liệu toàn bộ tuyến đường dưới lòng đất này có lập tức sáng lên hay không? Kẻ kia sẽ biết mình bị bám đuôi. Kẻ kia sẽ phản ứng thế nào? Có quay lại hay không? Diane không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đi theo ánh sáng chập chờn. Xung quanh cô là bóng tối đen đặc, có tiếng móng vuốt cực nhỏ cào cạo dưới đất. Chuột! Chúng gấp gáp tránh khỏi đường đi của cô. Diane cảm thấy sức nặng của bóng tối trên vai mình. Ánh đèn trở nên mạnh hơn hoặc yếu đi phụ thuộc vào khoảng cách cô duy trì với người phía trước. Càng lúc cô càng hối hận cho sự bốc đồng liều lĩnh của mình. Tại sao cô không ở lại trong phòng cơ chứ?
Đột nhiên, cô nghe thấy tiếng một cánh cửa kim loại ken két mở ra, rồi đóng lại. Và cô thấy mình trong bóng tối đen đặc. Như thể bỗng nhiên mù lòa. Cô hoàn toàn mất phương hướng. Cô không thể thấy thân người, hay tay chân mình nữa… Không gì cả ngoài một màu đen tuyền. Bóng tối dày đặc và không thể xuyên thấu. Máu chảy rần rật qua mạch máu, cô cố nuốt nước bọt nhưng miệng khô khốc. Trong tuyệt vọng, cô hết quay bên này lại đến bên kia. Vẫn có tiếng o o trì trệ từ hệ thống thông gió và nước chảy ở đâu đó, nhưng những âm thanh này trở nên xa xôi và vô dụng với cô, hệt như còi báo hiệu hoàn toàn vô ích với một con tàu đang chìm dần giữa đêm giông tố. Diane nhớ ra chiếc di động nhét trong túi quần bò. Cô run rẩy lấy nó ra. Ánh sáng từ màn hình còn lờ mờ hơn so với những gì cô lo ngại. Nó gần như không thể chiếu sáng tới đầu ngón chân cô. Cô bắt đầu di chuyển cho tới khi quầng sáng đáng thương ấy tìm thấy một thứ khác ngoài bàn tay của cô để chiếu rọi, một bức tường. Hoặc ít nhất là một vài mét vuông bê tông. Cô chậm rãi lần theo bức tường trong vài phút, cho đến khi tìm thấy một công tắc đèn. Đèn điện nháy lên rồi lan tỏa ánh sáng trắng khắp căn hầm. Cô vội vã tiến về nơi đã nghe thấy tiếng cửa sập lại. Nó giống hệt cánh cửa cô vừa đi qua. Cô đẩy chốt cửa rồi ngừng lại để cân nhắc xem sự việc sẽ thế nào nếu cô bước chân sang bên kia, sẽ thế nào nếu cánh cửa sập lại sau lưng và cô không còn đường để trở ra nữa. Rồi cô quyết định quay ngược lại vài bước, tìm lấy một tấm bảng nằm giữa đống phế liệu. Cô chêm nó vào cánh cửa sau khi đã bước qua.
Một cầu thang và một cửa sổ lớn. Cô lập tức nhận ra nơi này. Cô đã đến đây. Cô đi lên vài bước rồi dừng lại. Không cần phải đi tiếp nữa. Trên đỉnh có một chiếc camera, cô biết thế. Và một cánh cửa an ninh bọc thép dày trổ một ô nhỏ hình chữ nhật.
Ai đó đã đến Khu A hằng đêm.
Ai đó đang sử dụng cầu thang phụ và tầng hầm để tránh camera giám sát. Ngoại trừ chiếc camera phía trên cánh cửa bọc thép… Hai bàn tay Diane ướt nhẹp, ruột gan thắt lại. Cô biết điều này có nghĩa là gì. Dù người đó là ai, cũng cần có sự đồng lõa của bảo vệ Khu A. Rồi cô tự nhủ, biết đâu cũng chẳng có nghĩa lý gì. Nhỡ một nhân viên thay vì đi ngủ lại đang bí mật chơi poker, hoặc ai đang ấp ủ chuyện tình bí mật với Ngài Atlas thì sao? Nhưng từ tận đáy lòng, cô biết là không phải. Cô đã nghe thấy quá nhiều. Cô đã đánh bạo lao mình vào nơi chỉ có cái chết và sự điên rồ ngự trị. Nhưng cả hai đều không nằm trong vòng kiểm soát như cô vẫn tưởng. Không biết tại sao, nhưng chúng đã tìm được cách trốn thoát khỏi lồng cũi của mình. Một trò chơi quái ác đang diễn ra ở đây, và dù thích hay không, đã đến nơi này, cô buộc phải tham gia.
❀ ❀ ❀
[1] : Loại ảnh được in từ máy chụp lấy ngay.
[2] : Nhạc mang âm hưởng chậm rãi, thường được sử dụng để tạo cảm hứng nghệ thuật, hoặc thư giãn.
[3] : Nhà thơ, nhà triết học nổi tiếng người Anh.
[4] : tiếng Pháp có nghĩa là tin tưởng.
[5] : tổng thống Hoa Kỳ đời thứ 32, được biết đến như một huyền thoại trong lịch sử nước này.
[6] : thủ tướng Anh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, một vị anh hùng dân tộc và danh nhân lịch sử thế giới.
[7] : trùm phát xít Đức phát động Chiến tranh thế giới thứ hai.