18
Khi Servaz dừng xe ở trụ sở sen đầm thì tuyết đang rơi rất dày. Một sĩ quan gà gật bên bàn trực. Cửa xếp đã hạ xuống và anh ta phải kéo nó lên lần nữa để Servaz đi vào. Anh bê cái hộp giấy nặng ở trước ngực, tiến về phía phòng điều tra. Hành lang im lặng và vắng ngắt. Đã gần nửa đêm.
“Trong này,” một giọng nói vang lên ngay khi anh băng qua một cánh cửa.
Anh dừng lại, nhìn qua khung cửa để mở. Irène Ziegler đang ngồi trước cái bàn nhỏ trong cảnh tranh tối tranh sáng. Chỉ có một chiếc đèn bàn bật sáng. Qua cửa sổ, anh thấy tuyết xoáy tít dưới quầng sáng của đèn đường. Ziegler ngáp và vươn vai. Anh nhận ra cô đã chợp mắt trong lúc đợi anh. Cô nhìn cái hộp, rồi cười. Và đột nhiên, vào giờ khắc đêm muộn này, anh cảm thấy nụ cười ấy thật cuốn hút.
“Cái gì thế?”
“Một cái hộp.”
“Nhìn là thấy rồi. Bên trong là gì?”
“Mọi thứ về vụ tự tử hàng loạt.”
Có một tia ngạc nhiên và hứng thú ánh lên trong mắt Ziegler. “Saint-Cyr đưa nó cho anh?”
“Muốn uống cà phê không?” Anh đặt cái hộp nặng trĩu xuống chiếc bàn gần nhất.
“Espresso, có đường. Cảm ơn.”
Servaz đi ra ngoài, tiến về máy pha cà phê đặt cuối hành lang và trở lại với hai chiếc cốc nhựa chịu nhiệt.
“Đây, Irène,” anh nói.
Cô ngạc nhiên nhìn anh.
“Tôi nghĩ đã đến lúc chúng ta gọi nhau bằng tên riêng rồi, không phải sao?” Servaz nói, giọng ôn tồn gần như lời xin lỗi, nhớ đến ông thẩm phán đã rất tự nhiên gọi thẳng tên anh. Vậy tại sao anh không thể làm như vậy? Vì đã muộn, hay vì nụ cười của cô xui khiến anh chủ động.
Anh thấy Ziegler cười lần nữa, “Được rồi. Vậy, buổi tối thế nào? Có vẻ thu được rất nhiều thông tin.”
“Cô nói trước đi.”
“Không, anh trước.”
Anh ngồi tựa vào cạnh bàn và thấy cô đang chơi dở ván bài trên màn hình. Anh bắt đầu câu chuyện của mình. Ziegler lắng nghe đầy hứng thú, không ngắt lời anh lần nào.
“Quả là một câu chuyện khó tin,” cô nói khi anh kết thúc.
“Tôi thấy ngạc nhiên khi cô chưa từng nghe chuyện ấy.”
Cô chau mày và chớp mắt, “Cũng có chút ấn tượng. Chắc vì mấy bài báo. Hoặc bố mẹ tôi từng kể trong bữa tối. Xin nhắc lại với anh, bấy giờ tôi vẫn chưa gia nhập lực lượng. Trên thực tế, thời điểm diễn ra mọi chuyện có lẽ tôi còn chưa bằng tuổi những thiếu niên ấy.”
Anh bỗng nhận ra mình chẳng biết gì về Ziegler. Ngay cả nơi cô sống. Và cô cũng không biết gì về anh. Trong vòng một tuần vừa rồi, toàn bộ những cuộc trò chuyện của họ chỉ xoay quanh vụ án.
“Nhưng cô sống không xa đây lắm,” anh nhắc nhở.
“Bố mẹ tôi sống cách Saint-Martin khoảng 15 kilomet, ở thung lũng bên cạnh. Tôi không đi học ở đây. Một đứa trẻ sẽ thấy thung lũng khác giống như một thế giới mới vậy. 15 kilomet đối với nó tương đương 1.000 kilomet với người lớn. Mỗi đứa trẻ đều có lãnh thổ riêng. Hồi ấy tôi thường đi xe buýt đến 20 kilomet về phía Tây. Tôi học trung học ở Lannemezan, cách đây 40 kilomet. Về sau học luật ở Pau. Giờ anh nhắc đến, tôi mới nhớ ra mình từng tán gẫu với bạn bè về những vụ tự tử này. Có lẽ tôi đã loại nó khỏi tâm trí.”
Servaz có cảm giác Ziegler không thích nói về tuổi trẻ của mình, và anh thắc mắc là tại sao.
“Sẽ rất thú vị nếu biết quan điểm của Propp,” anh nói.
“Quan điểm của anh ta về việc gì?”
“Về lý do khiến trí nhớ của cô loại bỏ những sự việc đó.”
Cô nhăn nhó nhìn anh. “Những vụ tự tử này có liên quan gì tới Grimm không?”
“Có thể là chẳng hề liên quan chút nào.”
“Tại sao anh lại hứng thú?”
“Kẻ giết Grimm có vẻ đang trả thù. Điều gì hoặc ai đó đã khiến lũ trẻ chấm dứt cuộc đời mình. Nhiều năm trước, Grimm, Perrault và Chaperon từng bị buộc tội liên quan đến tống tiền tình dục… Nếu đặt những mảnh ghép cạnh nhau, chúng ta có gì?”
Servaz đột nhiên cảm thấy có luồng điện chạy qua người mình. Bọn chúng đang mưu tính gì đó. Nó ở đây, ở rất gần rồi. Trọng tâm đen tối của câu chuyện, yếu tố cốt lõi nơi mọi thứ phát tán, nấp dưới một điểm mù… Anh cảm thấy adrenalin đang dồn qua các mạch máu.
“Tôi đề nghị chúng ta tiếp tục bằng việc xem trong hộp có những gì,” anh nói, giọng run run.
“Vậy thì bắt đầu thôi nhỉ?” Ziegler hỏi, nhưng không hẳn là một thắc mắc.
Servaz nhận thấy cùng một niềm hy vọng và phấn khích giống mình trên khuôn mặt của người đối diện. Anh nhìn đồng hồ đeo tay, đã gần 1 giờ sáng. Tuyết vẫn rơi bên ngoài.
“Được rồi. Thế còn máu,” anh đột ngột đổi đề tài. “Chính xác thì họ tìm thấy nó ở đâu?”
Cô băn khoăn nhìn anh, “Trên cầu, không xa nơi ông dược sĩ bị treo cổ.”
Họ ngồi im lặng trong khoảnh khắc.
“Máu,” anh lặp lại. “Dường như không thể.”
“Phòng thí nghiệm đã khẳng định.”
“Máu… như thể…”
“… Như thể Hirtmann đã tự làm mình bị thương khi treo xác Grimm lên.”
Ziegler tiếp lời. Cô lục lọi cái hộp đầy hồ sơ, kẹp tài liệu, ghi chú và thư từ trao đổi hành chính cho đến khi tìm được một tập tài liệu với tiêu đề ‘Tóm tắt’. Hiển nhiên là do chính tay Saint-Cyr soạn thảo. Chữ viết tay của ông thẩm phán rõ ràng và khá đẹp, chính là kiểu đối lập với chữ viết nguệch ngoạc của các bác sĩ. Servaz thấy ông đã tóm tắt lại rất nhiều giai đoạn của cuộc điều tra một cách đặc biệt mạch lạc và súc tích. Ziegler dùng bản tóm tắt tìm đường giữa mớ bòng bong trong hộp. Cô bắt đầu bằng việc dỡ từng phần của tập tài liệu và trải ra thành những xấp nhỏ, báo cáo pháp y, bản tóm tắt các phiên tòa, các cuộc thẩm vấn bố mẹ nạn nhân, danh sách vật phẩm, thư từ tìm thấy trong nhà bọn trẻ. Saint-Cyr cũng sao chép lại toàn bộ các tài liệu liên quan đến vụ án để lưu trữ cá nhân. Ngoài các bản sao còn có các mẩu báo được cắt ra, giấy nhớ, các trang giấy rời… Với mỗi thiếu niên lại có một bản đồ chỉ ra địa điểm tự tử, đánh dấu bằng hình chữ thập màu đen và những hành trình bí ẩn thể hiện bằng mũi tên hoặc vòng tròn đỏ: nào là báo cáo học tập ở trường, ảnh kỉ yếu, những dòng ghi chú nguệch ngoạc trên mấy mẩu giấy, hóa đơn cầu đường…
Servaz chết lặng. Rõ ràng, ông thẩm phán già đã biến vụ án thành cuộc viễn chinh của riêng mình. Giống như các điều tra viên đi trước, ông để mặc mình bị ám ảnh bởi bí ẩn này. Ông ta có thực sự hy vọng sẽ khám phá ra sự thật lúc về hưu không, khi chẳng còn việc gì khác để làm và có thể dành hết thời gian cho cuộc điều tra?
Sau đó, họ tìm thấy một tài liệu còn đáng lưu tâm hơn. Danh sách bảy nạn nhân, cùng với ảnh chân dung và ngày tự sát.
1993.5.2, Alice Ferrand, 16
1993.6.17, Michael Lehmann, 17
1993.6.29, Ludovic Asselin, 16
1993.9.5, Marion Dutileul, 15
1993.12.24, Séverine Guérin, 18
1994.4.16, Damien Llaume, 16
1994.7.9, Florian Vanloot, 17
“Lạy Chúa!”
Servaz run tay khi trải chúng trên bàn, dưới ánh sáng đèn. Bảy bức ảnh ghim vào bảy thẻ mục Ziegler đã đưa cho anh. Bảy khuôn mặt cười. Một số nhìn thẳng vào ống kính máy ảnh, còn lại đang ngó đi chỗ khác. Servaz liếc mắt sang đồng nghiệp. Đứng bên cạnh anh, cô có vẻ quẫn trí. Servaz tiếp tục tập trung vào những khuôn mặt trước mắt, cảm thấy cổ họng mình nghẹn lại.
Ziegler đưa cho anh một nửa xấp báo cáo pháp y và cắm cúi xem nửa còn lại. Họ yên lặng đọc hồi lâu. Không có gì đáng ngạc nhiên, các báo cáo kết luận rằng nguyên nhân dẫn đến cái chết là treo cổ, ngoại trừ trường hợp một cô bé gieo mình từ trên đỉnh núi xuống và cậu bé mặc dù bị giám sát nhưng vẫn tự làm mình giật điện trong bồn tắm. Các giám định viên pháp y không tìm thấy bất cứ điều gì bất thường, không có vùng xám, các hiện trường hoàn toàn minh bạch, tất cả đều xác nhận rằng các thiếu niên đi một mình tới địa điểm đã định và hành động đơn độc. Bốn cuộc giải phẫu do Delmas thực hiện, còn lại là do một giám định viên khác phụ trách, một người mà Servaz biết cũng có trình độ tương đương Delmas. Sau báo cáo pháp y, họ tiếp tục với bản thẩm vấn từng nhà dân trong khu vực nạn nhân sinh sống. Mục đích để tìm hiểu thêm về tính cách các em, tách biệt với lời khai của các phụ huynh. Như thường lệ, có những lời đồn thổi hiềm thù hay ác ý về một vài trường hợp, nhưng nhìn chung, đám trẻ đều được mô tả là những thiếu niên ngoan ngoãn, ngoại trừ trường hợp một cậu bé nổi loạn, Ludovic Asselin, hung bạo với bạn bè và chống đối chính quyền. Những lời khai cảm động nhất là về Alice Ferrand, nạn nhân đầu tiên. Cô bé có vẻ được yêu mến. Servaz xem bức ảnh. Tóc xoăn màu rơm óng vàng, làn da trắng sứ, cô bé nhìn vào máy ảnh bằng đôi mắt đáng yêu, nghiêm túc. Một khuôn mặt xinh đẹp với các chi tiết như vẽ qua bàn tay tài hoa của một họa sĩ, mang nét dễ thương của một cô bé ở tuổi 16, nhưng thần thái lại chững chạc hơn nhiều. Ánh mắt thông minh sắc sảo. Và còn có điều gì khác nữa… hay chỉ là do anh tưởng tượng?
3 giờ sáng, họ bắt đầu kiệt sức. Servaz quyết định tạm nghỉ. Anh đi xuống hành lang để vào nhà vệ sinh và vã nước lạnh lên mặt, rồi đứng thẳng dậy và nhìn mình trong gương. Một trong các bóng đèn nhấp nháy và kêu tanh tách, hắt ánh sáng ảm đạm xuống dãy cửa sau lưng anh. Anh đã ăn và uống quá nhiều ở chỗ Saint-Cyr nên giờ thấy khá mệt mỏi. Anh đi vào một buồng vệ sinh, giải phóng bản thân cho đỡ nặng bụng, rửa tay và hong khô bằng máy sấy. Trên đường trở ra, anh dừng ở chỗ máy pha đồ uống.
“Cà phê không?” Anh hét vào hành lang trống trải.
Tiếng anh vọng lại trong thinh lặng. Câu trả lời vang tới chỗ anh qua khung cửa đang mở ở phía cuối hành lang. “Espresso! Có đường, cảm ơn!”
Anh tự hỏi không biết còn ai trong tòa nhà không, ngoại trừ hai người bọn họ và viên sĩ quan ở bàn trực. Anh biết sen đầm có chỗ tạm trú ở một khu nhà khác. Anh mang cà phê băng qua căng tin tối tăm, len qua những chiếc bàn tròn sơn màu vàng, đỏ và xanh biển. Bên ngoài khung cửa sổ lớn được che chắn bằng một tấm lưới mắt cáo, tuyết lặng lẽ rơi xuống khu vườn nhỏ. Những bờ giậu được cắt tỉa gọn gàng, một bồn cát và một cái cầu trượt bằng nhựa dành cho con cái của các sen đầm sống ở đây. Phía bên ngoài khu vườn là những cánh đồng trắng, và xa hơn, nổi bật trên nền trời đen là những dãy núi. Một lần nữa, anh nghĩ tới Viện cùng bệnh nhân của họ. Và Hirtmann… Máu của hắn trên cầu. Điều có nghĩa là gì? “Luôn có một mảnh ghép không ăn khớp,” Saint-Cyr đã nói như vậy.
Đôi lúc nó quan trọng, đôi lúc không…
5 giờ 30 phút sáng, Servaz ngả người ra lưng ghế và tuyên bố rằng đã quá đủ. Ziegler kiệt sức thấy rõ. Khuôn mặt in nét tuyệt vọng. Không có gì cả. Hoàn toàn chẳng có gì để họ bám víu vào giả thuyết lạm dụng tình dục. Không một chút manh mối nào, dù chỉ là manh nha. Trong bản báo cáo cuối cùng, Saint-Cyr đã đi đến kết luận tương tự. Bên lề, ông viết bằng bút chì: Lạm dụng tình dục? Không có bằng chứng. Tuy vậy ông đã gạch chân câu hỏi, hai lần. Trong khoảnh khắc, Servaz những muốn nhắc đến trại hè với Ziegler, nhưng rồi anh từ bỏ ý định. Anh quá mệt, đơn giản là không còn chút hơi sức nào.
Ziegler xem đồng hồ đeo tay.
“Tôi không nghĩ chúng ta có thể đạt được tiến triển gì trong đêm nay. Chúng ta nên ra về và chợp mắt một chút.”
“Cũng được. Tôi sẽ về khách sạn. Hẹn gặp cô ở phòng điều tra lúc 10 giờ. Cô ở đâu?”
“Ở đây. Bọn họ đã cho tôi thuê căn hộ của một viên sen đầm đang nghỉ phép, để tiết kiệm chi phí hành chính.”
Servaz gật đầu. “Thời nay người ta không nên quá tằn tiện như vậy chứ?”
“Tôi chưa từng tham gia cuộc điều tra nào thế này,” Ziegler đứng dậy. “Trước thì một con ngựa chết, sau thì một ông dược sĩ treo cổ dưới cầu. Và chỉ có một điểm liên kết hai vụ án, DNA của một tên giết người hàng loạt… Giờ lại đến những thiếu niên thi nhau tự tử. Giống như một cơn ác mộng. Không có logic, không có manh mối trọng yếu nào. Có lẽ tôi sẽ tỉnh dậy và phát hiện ra tất cả những chuyện này không tồn tại.”
“Sẽ thức tỉnh,” Servaz kiên định nói. “Nhưng không phải với chúng ta, mà là với hung thủ. Và sẽ sớm thôi.”
Anh nhanh chóng sải bước ra ngoài và đi mất.
Đêm, anh mơ thấy bố mình. Trong mơ, Servaz là một cậu bé 10 tuổi. Mọi thứ chìm trong ánh sáng ấm áp, dễ chịu của một buổi tối mùa hè, và bố anh chỉ là một bóng hình, cũng giống như hai người đang nói chuyện cùng ông ngoài hiên nhà. Tiến lại gần hơn, Servaz nhỏ tuổi thấy hai người đàn ông rất già đang mặc áo choàng dài màu trắng. Cả hai đều để râu. Servaz len vào giữa bọn họ và nhìn lên, nhưng bọn họ không hề chú ý tới cậu. Chăm chú lắng nghe, cậu bé phát hiện ra họ đang nói tiếng La tinh. Một cuộc thảo luận sôi nổi và thân thiện. Có lúc bố anh cười lớn, rồi nghiêm túc trở lại. Tiếng nhạc phát ra từ trong nhà, giai điệu quen thuộc nhưng bấy giờ Servaz không thể nhận ra.
Sau đó, màn đêm tĩnh lặng bị phá vỡ bởi một âm thanh từ ngoài đường vọng vào, là tiếng động cơ ô tô. Ba người đàn ông đột ngột rơi vào im lặng.
“Họ đang đến,” rốt cuộc một trong hai ông già lên tiếng.
Giọng ông ta buồn thảm, và trong mơ, Servaz bắt đầu run lên.
Servaz tới trụ sở sen đầm muộn mười phút. Anh phải viện đến một cốc lớn đựng đầy cà phê đen, hai điếu thuốc và tắm bằng nước nóng hết cỡ để xua đi cơn mệt mỏi đã hăm dọa sẽ hạ gục anh. Cổ họng vẫn còn nóng cháy. Ziegler đã có mặt. Một lần nữa, cô lại mặc bộ đồ bó sát bằng da khiến anh nghĩ tới một bộ áo giáp thời hiện đại. Anh nhớ ra đã nhìn thấy chiếc xe máy của cô bên ngoài trụ sở sen đầm. Họ thu xếp ghé thăm bố mẹ của các nạn nhân tự tử và chia nhau địa chỉ. Ba cho Servaz, bốn cho Ziegler. Servaz quyết định bắt đầu bằng người đầu tiên trong danh sách, Alice Ferrand. Địa chỉ không ở Saint-Martin mà ở một ngôi làng bên cạnh. Anh tưởng tượng ra một ngôi nhà giản dị, hai phụ huynh già cả suy sụp vì đau buồn. Cho nên anh kinh ngạc khi đối diện với một người đàn ông tươi cười, rắn rỏi, vẫn còn trong thời kì sung mãn của cuộc đời. Ông ta cởi trần và đi chân đất ra chào Servaz, chỉ mặc độc một chiếc quần lanh màu trắng nhờ, với dải dây rút thắt hờ ở eo.
Servaz bối rối đến mức chỉ có thể lúng búng giới thiệu về bản thân và giải thích lý do viếng thăm.
Bố Alice lập tức sinh nghi. “Anh có thẻ ngành không?”
“Đây.”
Người đàn ông kiểm tra kĩ càng, rồi dịu đi và trả thẻ lại.
“Tôi chỉ muốn đảm bảo anh không phải một trong những tay nhà báo viết thuê thỉnh thoảng lại cố bới móc câu chuyện khi đã hết thứ để cóp nhặt,” ông ta tỏ ý xin lỗi. “Mời vào.”
Gaspard Ferrand đứng sang một bên để Servaz đi qua. Ông ta cao và thon gọn. Anh không thể không để ý đến phần thân trên rám nắng không một chút mỡ thừa, chỉ có vài sợi lông bạc trên xương ức, làn da láng bóng và căng chặt chỗ xương sườn như một tấm bạt phủ mái hiên, với núm vú màu nâu như của một người già.
“Thứ lỗi cho bộ dạng của tôi lúc này, tôi vừa tập yoga. Yoga đã giúp tôi rất nhiều kể từ khi Alice mất, đạo Phật cũng vậy.”
Ban đầu Servaz rất ngạc nhiên, anh nhớ ra rằng bố của Alice không phải một người làm thuê hay công nhân như các phụ huynh khác, mà là một giảng viên. Anh lập tức hình dung ra một người đàn ông hưởng thụ những kì nghỉ dài, và ưa thích những điểm đến xa xôi và rực rỡ, Bali, Phuket, biển Caribe, Rio de Janeiro, hoặc Maldives.
“Tôi ngạc nhiên khi thấy cảnh sát vẫn còn hứng thú với vụ án này đấy.”
“Thực ra tôi đang điều tra vụ án mạng của dược sĩ Grimm.”
Ferrand quay lại. Servaz thấy ông ta có vẻ băn khoăn.
“Anh nghĩ có sự liên quan giữa cái chết của Grimm và vụ tự tử của con gái tôi hoặc của những đứa trẻ khác sao?”
“Đó là điều tôi đang muốn tìm ra.”
Gaspard Ferrand cảnh giác thăm dò anh, “Thoạt nhìn thì không thấy mối liên hệ rõ ràng nào. Tại sao anh lại nghĩ là có điều gì đó?”
Một nhận xét sắc sảo. Servaz do dự. Gaspard Ferrand nhận ra sự ngượng ngập của vị khách. Họ vẫn đứng đối diện nhau ở hành lang hẹp, ông ta để ngực trần trong khi khách thì áo trong áo ngoài vì tiết trời lạnh giá. Ferrand trỏ cánh cửa đang mở dần vào phòng khách.
“Anh uống trà, hay cà phê?”
“Cà phê, nếu ông không phiền.”
“Không hề. Tôi cũng sẽ pha trà cho mình. Mời anh ngồi trong lúc tôi chuẩn bị,” ông ta nói rồi biến mất trong bếp ở phía bên kia hành lang. “Cứ tự nhiên như ở nhà.”
Servaz không hề mong đợi sẽ được chào đón nồng nhiệt như vậy. Rõ ràng, bố Alice thích có khách đến thăm, ngay cả khi đó là cảnh sát, đến hỏi về cô con gái tự tử mười lăm năm trước. Servaz nhìn quanh. Phòng khách là một đống hỗn độn. Cũng giống như nhà anh, sách và tạp chí chồng chất khắp nơi, trên bàn cà phê, ghế bành, đồ đạc… Và bụi… Phải chăng ông ta sống một mình? Chẳng lẽ Gaspard Ferrand đã góa vợ, hay ly hôn? Nguyên nhân cho thái độ hiếu khách này? Có một phong bì từ Quỹ Hành động Chống đói nằm trên mặt tủ, Servaz nhận ra biểu tượng màu xanh và xám của giấy tái chế, bản thân anh cũng quyên góp cho tổ chức phi chính phủ ấy. Trong một khung hình có vài bức ảnh bố Alice xuất hiện cùng những người trông có vẻ là dân Mỹ La tinh hay nông dân châu Á, hậu cảnh là rừng nhiệt đới hoặc đồng lúa. Servaz nghĩ, những chuyến du lịch của Gaspard Ferrand không phải là lặn biển, cocktail lạnh, hay tắm nắng trên những bãi biển ở Caribe.
Anh thả lỏng trên chiếc ghế bành. Gần đấy là một chồng sách xếp trên chiếc ghế đẩu làm bằng gỗ sẫm màu. Servaz cố nhớ tên tiếng châu Phi của chiếc ghế, esono dwa…
Mùi cà phê thoang thoảng. Ferrand trở ra, tay cầm một cái khay với hai chiếc cốc nghi ngút khói, đường, kẹp gắp đường, và một cuốn album ảnh. Ông ta đưa cuốn album cho Servaz sau khi đặt chiếc khay xuống bàn. “Đây.”
Servaz mở ra xem. Đúng như anh nghĩ, tất cả đều là ảnh của Alice. Alice năm 4 tuổi trên chiếc ô tô trẻ em, Alice đang xách một cái thùng to gần bằng người để tưới hoa. Alice và mẹ, một người đàn bà gầy guộc mơ màng với cái mũi lớn như Virginia Woolf. Alice năm 10 tuổi, mặc quần soóc, đang chơi bóng với những cậu bé cùng tuổi, cô bé tiến về phía cầu môn đối phương cùng quả bóng dưới chân và ánh mắt dũng cảm quyết tâm… Một cô bé hiếu động, nghịch ngợm không khác gì con trai. Và là một cô bé đáng yêu, rạng rỡ.
Gaspard Ferrand buông mình xuống chiếc ghế bành ngay cạnh Servaz. Ông ta mặc một chiếc áo cổ tàu, có màu trắng nhờ như quần. “Alice là một đứa bé tuyệt vời. Rất dễ làm thân, lúc nào cũng vui vẻ và thích giúp đỡ người khác. Con bé là tia nắng của chúng tôi.”
Ferrand tiếp tục mỉm cười, như thể hồi tưởng về Alice là việc vô cùng dễ chịu chứ không hề đau đớn.
“Con bé cũng là một đứa trẻ rất thông minh, có nhiều tài lẻ, vẽ, âm nhạc, ngôn ngữ, thể thao, viết lách… Con bé luôn ngấu nghiến đọc sách. Ở tuổi 12, nó đã biết mình muốn làm gì sau này, trở thành một triệu phú rồi phân phát tiền cho những người cần giúp đỡ.” Gaspard Ferrand bật ra một tiếng cười the thé kì quặc. “Chúng tôi chưa bao giờ hiểu được tại sao con bé hành động như thế.”
Lần này có thể thấy được vết rạn nứt trong giọng nói. Nhưng Ferrand mau chóng bình tĩnh lại.
“Tại sao cuộc đời luôn lấy đi những điều tốt đẹp nhất mà ta có, rồi để mặc ta tiếp tục sống với sự mất mát đó? Tôi đã luôn tự hỏi mình câu hỏi ấy trong suốt mười lăm năm qua, giờ thì tôi đã tìm ra câu trả lời.”
Ferrand nhìn anh bằng ánh mắt kì lạ đến mức trong khoảnh khắc, Servaz tự hỏi có phải bố Alice đã mất trí rồi không.
“Nhưng là câu trả lời mà mỗi chúng ta phải tự tìm thấy trong tâm hồn mình. Ý tôi là, không ai có thể dạy anh hay thay anh trả lời được.”
Gaspard Ferrand chăm chăm nhìn Servaz xem anh có hiểu ý ông ta không. Servaz bỗng cảm thấy vô cùng khó chịu.
“Tôi làm anh khó xử thì phải,” người chủ nhà nói tiếp. “Thứ lỗi cho tôi. Khi sống một mình thì sẽ như thế đấy. Vợ tôi mất vì ung thư, rất đột ngột, hai năm sau khi Alice rời bỏ chúng tôi. Vậy là, anh hứng thú với vụ tự tử hàng loạt từ mười lăm năm trước, dù đang điều tra vụ án mạng của ông dược sĩ. Tại sao vậy?”
Servaz không trả lời mà hỏi lại. “Không đứa trẻ nào để lại thư giải thích à?”
“Phải. Nhưng không có nghĩa là không có lời giải thích nào, ý tôi là vậy. Phải có lý do cho toàn bộ những vụ tự tử ấy. Không thể đơn giản chỉ là chúng cho rằng cuộc đời này chẳng đáng sống.”
Ferrand nhìn Servaz chằm chằm. Servaz thắc mắc liệu ông ta có nghe được những lời đồn về Grimm, Perrault, Chaperon và Mourrenx không.
“Alice có gì thay đổi trong khoảng thời gian trước khi tự tử không?”
Ferrand gật đầu. “Có. Chúng tôi không nhận ra ngay lập tức. Nhưng đúng là dần dần đã có sự thay đổi. Con bé không cười nhiều như trước, nó tức giận thường xuyên hơn, rúc trong phòng riêng lâu hơn… Đại khái là thế. Một ngày nọ, con bé muốn bỏ chơi piano. Nó thôi tâm sự với chúng tôi về các kế hoạch của nó.”
Servaz tưởng như có dòng nước đá đang chảy trong mạch máu mình. Anh nhớ lại cuộc gọi của Alexandra và vết bầm trên má Margot. “Ông không xác định được những thay đổi bắt đầu từ khi nào sao?”
Ferrand ngập ngừng. Servaz có cảm giác kì lạ rằng bố Alice biết rất rõ câu trả lời, nhưng không sẵn lòng bộc bạch.
“Độ vài tháng trước vụ tự tử. Vợ tôi cho là thay đổi tuổi dậy thì.”
“Còn ông? Ông có nghĩ thế không? Rằng những thay đổi là tự nhiên?”
Ferrand nhìn anh bằng ánh mắt kì lạ. Một lát sau trả lời dứt khoát, “Không.”
“Theo ông thì chuyện gì đã xảy ra với cô bé?”
Bố Alice im lặng lâu tới mức Servaz suýt nữa phải nắm lấy cánh tay ông ta mà lắc.
“Tôi không biết,” Ferrand nói, vẫn không rời mắt khỏi Servaz. “Nhưng tôi chắc chắn đã có chuyện dị thường xảy ra. Ai đó trong thung lũng này biết rõ tại sao những đứa trẻ của chúng tôi lại hành động dại dột như thế.”
Có gì đó là lạ trong câu trả lời, giọng Ferrand cũng biến đổi kì lạ tới mức Servaz không ngăn nổi tò mò. Anh toan đề nghị ông chủ nhà nói rõ hơn thì điện thoại rung lên trong túi áo.
“Cảm phiền ông,” Servaz đứng lên.
Là Maillard. Anh ta có vẻ căng thẳng.
“Chúng tôi vừa nhận được một cuộc gọi rất kì lạ. Từ một tên đã bóp giọng. Hắn muốn trao đổi với anh. Nói rằng việc rất gấp, có thông tin về cái chết của Grimm. Nhưng hắn chỉ nói chuyện với anh. Thỉnh thoảng chúng tôi vẫn nhận được những cuộc gọi kiểu này, nhưng… tôi không biết. Lần này có vẻ khá nghiêm túc. Nghe giọng hắn như đang hoảng sợ.”
Servaz giật nảy mình.
“Hoảng sợ? Anh nói ‘hoảng sợ’ là ý gì? Anh chắc không?”
“Chắc. Tôi lấy tay mình ra cược với anh.”
“Anh có cho hắn số của tôi không?”
“Có. Tôi không nên à?”
“Không không, anh làm đúng rồi. Anh có số của hắn không?”
“Là số di động. Hắn cúp máy ngay khi chúng tôi cho số của anh. Chúng tôi đã cố gọi lại nhưng chỉ nhận được hộp thư thoại.”
“Các anh đã nhận diện được hắn chưa?”
“Vẫn chưa. Chúng tôi phải thông qua tổng đài.”
“Gọi cho Confiant và Ziegler! Giải thích tình huống cho họ. Chúng ta phải nhận diện được người đàn ông. Làm ngay đi!”
“Được. Hắn sẽ gọi cho anh đấy,” viên sĩ quan nhắc.
“Hắn gọi cho anh bao lâu rồi?”
“Chưa đầy năm phút trước.”
“Tốt. Chắc là tôi sắp nhận được điện thoại của hắn rồi. Trong lúc đó, hãy liên hệ với Confiant. Và Ziegler! Có lẽ tên này không cho tôi biết danh tính đâu, chưa kể có khi chỉ gọi để gây rối. Nhưng chúng ta phải tìm ra được hắn là ai!”
Servaz cúp máy, đầu căng như dây đàn. Chuyện gì đang xảy ra? Ai đang cố liên lạc với anh? Là Chaperon hay kẻ nào? Ai đang sợ hãi? Ai ngại sen đầm ở Saint-Martin sẽ nhận ra mình nên phải đổi giọng?
“Có rắc rối gì sao?” Ferrand hỏi.
“Chỉ là nghi vấn,” Servaz lơ đãng trả lời. “Đúng hơn, có lẽ là đáp án.”
“Công việc của anh khó khăn nhỉ!”
Servaz không thể không mỉm cười, “Lần đầu tiên tôi được nghe một giáo sư nói với mình điều ấy.”
“Tôi không nói là một công việc đáng tự hào.”
Servaz phân vân trước lời ám chỉ, “Tại sao không?”
“Các anh phụng sự những người quyền lực.”
Servaz cảm thấy cơn giận dữ của mình lại bùng lên, “Có rất nhiều đàn ông và phụ nữ không hứng thú với quyền lực, như từ dùng của ông, và có những người chọn hy sinh đời sống gia đình, kì nghỉ cuối tuần và giấc ngủ để làm phòng tuyến cuối cùng, tường thành cuối cùng trước…”
“Sự tàn bạo?” Ferrand gợi ý.
“Phải. Ông có thể khinh miệt, chỉ trích và coi thường họ, nhưng ông không thể sống thiếu họ.”
“Tương tự như, chúng ta không thể sống thiếu những thầy cô mà chúng ta đã chỉ trích, khinh miệt hay coi thường,” Ferrand mỉm cười trả lời. “Đã hiểu.”
“Tôi muốn ghé thăm phòng cô bé.”
Ferrand duỗi thẳng cơ thể cao lớn, rám nắng dưới lớp vải lanh. “Đi theo tôi.”
Servaz nhận thấy những nùi bông rải rác trên cầu thang, tay vịn đã lâu không được đánh sáp. Một người đàn ông cô độc. Giống như anh. Hay Gabriel Saint-Cyr. Chaperon. Perrault… Phòng của Alice không nằm ở đầu cầu thang tầng hai mà tít trên tầng thượng, bên dưới phần mái chìa ra.
“Ở đây!” Ferrand chỉ vào cánh cửa trắng với tay nắm bằng đồng thau.
“Ông đã… Ông có bỏ đồ đạc nào của cô bé, hay tu sửa lại căn phòng kể từ đó không?”
Lần này, nụ cười của Gaspard Ferrand được thay thế bằng vẻ mặt nhăn nhó tuyệt vọng, “Chúng tôi không động vào bất cứ cái gì.”
Ông ta quay lưng đi xuống nhà. Servaz đứng yên một lúc lâu. Anh nghe thấy tiếng bát đĩa va loảng xoảng dưới bếp. Đầu cầu thang chật hẹp được chiếu sáng nhờ một ô cửa trên trần nhà. Khi nhìn lên, anh thấy một mảng tuyết mỏng trong mờ đang bám lấy lớp kính. Anh hít một hơi thật sâu rồi bước vào.
Điều đầu tiên gây ấn tượng với anh là sự thinh lặng. Nó càng tăng thêm khi mọi âm thanh đều chìm vào màn tuyết, đồng thời ẩn chứa điều gì thật đặc biệt. Thứ hai là sự giá lạnh. Hệ thống sưởi đã tắt. Anh không khỏi run lên trong căn phòng lặng im và băng giá chẳng khác nào hầm mộ này. Bởi có người đã từng sống ở đây. Một cô bé, như bao cô bé khác.
Những bức ảnh treo trên tường. Một chiếc bàn học, giá kệ, tủ quần áo. Một chiếc tủ ngăn kéo với tấm gương to. Giường và hai tủ đầu giường. Đồ nội thất trông như thể được mua về từ chợ đồ cũ rồi sơn lại bằng màu tươi sáng, chủ yếu là tông cam và vàng, tương phản với tường màu tím và thảm trắng.
Những chiếc chụp đèn nhỏ cùng tủ đầu giường màu cam, giường và bàn học cũng màu cam, tủ ngăn kéo và viền gương màu vàng. Trên một bức tường là tấm áp phích khổ lớn in hình một ca sĩ tóc vàng với chữ KURT bự chảng. Một chiếc khăn quàng cổ, bốt, tạp chí, sách và đĩa CD rải rác khắp tấm thảm trắng. Một lúc lâu, tất cả những gì người ta có thể làm là đắm chìm trong đống hỗn độn ấy. Cảm giác kì lạ này là từ đâu mà ra? Hẳn là bởi mọi thứ vẫn y chang như cũ, tựa hồ thời gian ngừng lại. Mọi thứ, ngoại trừ bụi. Không ai vứt bỏ đi dù chỉ một đồ vật nhỏ nhất, như thể bố mẹ cô đã muốn thời gian dừng trôi. Họ biến căn phòng thành một bảo tàng, một lăng tẩm. Ngay cả sau từng ấy năm, căn phòng của Alice vẫn mang đến cảm giác rằng, cô bé có thể sẽ trở về, mở cửa bước vào bất cứ lúc nào và hỏi Servaz, anh đang làm gì ở đây. Liệu bố Alice có thường lên phòng này và cảm thấy thế trong suốt những năm qua hay không? Servaz nghĩ mình sẽ phát điên khi ở trong hoàn cảnh của ông. Hằng ngày phải đối mặt với cám dỗ sẽ đi lên gác và mở cánh cửa một lần nữa, một lần cuối cùng… Anh tới bên cửa sổ và nhìn ra ngoài. Con phố đang chuyển thành màu trắng. Anh hít thêm một hơi, quay lại và bắt đầu tìm kiếm.
Trên bàn học là một đống lộn xộn, sách giáo khoa, chun buộc tóc, kéo, bút chì, giấy ăn, những gói kẹo và một tệp giấy nhớ màu hồng mà trên cùng vẫn còn ghi lời nhắn: Thư viện, 12:30. Mực đã phai qua thời gian. Một cuốn sổ lịch chằng dây chun, một máy tính bỏ túi, và một chiếc đèn bàn. Anh mở sổ lịch. Vào ngày 25 tháng Tư, một tuần trước khi tự tử, Alice đã viết: Trả sách cho Emma. Ngày 29: Charlotte. Ngày 30, hai ngày trước khi chết: Kiểm tra toán. Chữ viết gọn gàng tròn trịa. Tay cô bé không hề run. Servaz lật thêm vài trang. Ngày 11 tháng Tám, cô bé viết: Sinh nhật Emma, lúc mà cô đã mất được hơn ba tháng. Một ngày viết trước rất lâu… Emma hiện giờ ở đâu? Đã trở thành người thế nào? Anh tưởng tượng hình ảnh cô bé ở tuổi 30. Mặc dù đã bao nhiêu năm trôi qua, chắc cô bé vẫn thi thoảng nhớ lại cái năm 1993 kinh khủng. Cùng những cái chết kia. Phía trên bàn học, ghim trên tường là thời gian biểu tuần và một tờ lịch. Các ngày nghỉ lễ được đánh dấu bằng bút dạ vàng. Ánh mắt Servaz ngừng lại ngay cái ngày định mệnh, mùng 2 tháng Năm. Không có gì đặc biệt so với những ngày khác. Bên trên nữa là chiếc kệ gỗ để sách, đài cát xét, những chiếc cúp judo chứng minh sự xuất sắc của cô bé trong thể thao.
Anh chuyển sang tủ đầu giường. Ngoài hai chiếc đèn bàn có chụp màu cam, anh thấy một chiếc đồng hồ báo thức, giấy ăn, một máy điện tử cầm tay Game Boy, một chiếc cặp tóc, sơn móng tay và một quyển tiểu thuyết bìa mềm kèm kẹp sách. Anh mở ngăn kéo. Đồ văn phòng phẩm đẹp đẽ, một chiếc hộp nhỏ đựng trang sức, một gói kẹo cao su, một chai nước hoa, một thanh sáp khử mùi và những cục pin. Anh mò tận đáy ngăn kéo. Không có gì.
Trong ngăn kéo bàn học là các kẹp tài liệu, sổ tay, sách giáo khoa, một đống bút viết, bút đánh dấu và kẹp giấy. Trong ngăn kéo ở giữa là một cuốn sổ gáy xoắn đầy những hình phác họa. Servaz mở ra xem. Alice thực sự rất có tài. Những bức vẽ bằng chì hay bút dạ cho thấy cô bé có bàn tay khéo léo và con mắt tinh tường, dù vẫn chịu ảnh hưởng nhất định từ trường lớp. Ở ngăn kéo cuối cùng, lại có chun buộc tóc, bấm móng tay, vài thỏi son và một chiếc lược vẫn còn vương vài sợi tóc vàng, nhưng còn có cả một lọ thuốc aspirin, thuốc lá vị bạc hà và một chiếc bật lửa trong suốt. Servaz mở đống kẹp tài liệu và sổ tay ở ngăn kéo đầu tiên, bài tập về nhà, tiểu luận, bản nháp. Anh để chúng sang một bên và bước tới nhặt chiếc đài nhỏ nằm lăn lóc trên thảm ở một góc phòng. Nó vừa là đầu chơi CD vừa là radio và cũng phủ một lớp bụi dày. Servaz thổi bụi đi rồi mở lần lượt từng chức năng. Không có gì. Anh tới chỗ tấm gương và bức tường treo ảnh. Một vài tấm được chụp gần khiến người trong ảnh trông như thể đang gí mũi vào ống kính. Một vài tấm khác có cả phong cảnh đằng sau, núi, bãi biển, thậm chí là những cột trụ ở đền thờ Panthenon. Hầu hết các cô bé trong ảnh cùng tuổi với Alice. Luôn là ngần ấy gương mặt. Thi thoảng có thêm một hoặc hai cậu bé gia nhập nhóm. Nhưng người chụp ảnh dường như không tập trung vào một khuôn mặt bất kì nào. Liệu đây có phải là những chuyến tham quan của trường? Servaz xem xét mấy tấm ảnh. Chúng đều đã ngả vàng và quăn lại theo thời gian.
Chính xác thì anh đang tìm kiếm thứ gì? Ánh mắt anh nán lại trên một trong những tấm ảnh. Khoảng một tá thiếu niên, bao gồm cả Alice, đứng cạnh tấm biển gỉ sét. Trại hè Les Isards… Alice là một trong những đứa trẻ đã đến trại hè. Anh cũng nhận thấy trong những bức ảnh có cô bé xuất hiện, Alice luôn luôn ở trung tâm. Cô gái xinh đẹp nhất, sáng chói nhất, trung tâm của sự chú ý.
Tấm gương. Đã bị nứt. Ai đã ném thứ gì vào nó, tạo ra một vết nứt chéo dài. Là Alice? Hay bố cô bé, trong lúc tuyệt vọng? Có vài tấm bưu thiếp đã ngả vàng cài ở khe hở giữa khung gương và tấm kính, được gửi đến từ những địa chỉ như Venice, Hy Lạp hay Barcelona. Qua thời gian, một số đã rơi xuống chiếc tủ ngăn kéo bên dưới hoặc xuống thảm. Có một tấm khiến anh chú ý. Thời tiết khó chịu, tớ nhớ cậu. Sau đó kí tên: Emma. Một chiếc khăn quàng cổ Palestine đặt trên tủ ngăn kéo cùng đồ nữ trang mỹ kí, mấy miếng bông tẩy trang, và một hộp giày màu xanh dương. Servaz mở nó ra. Những lá thư… Một cơn chấn động chạy qua người anh khi nhớ lại thư từ của các nạn nhân tự tử trong chiếc hộp của Saint-Cyr. Anh kiểm tra từng bức một. Những bức thư ngây ngô hoặc khôi hài viết bằng mực tím hoặc đỏ tía. Luôn là những chữ kí đó. Anh không thể tìm được một lời ám chỉ dù là nhỏ nhất về bi kịch sắp xảy ra. Anh sẽ phải đối chiếu chữ viết với tệp thư trong cái hộp kia, rồi anh lại tự nhủ hẳn năm xưa người ta đã tiến hành rồi. Giờ đến ngăn kéo của chiếc tủ dưới gương. Anh nhấc những chồng áo thun, đồ lót, ga trải giường và chăn lên, quỳ xuống thảm và nhìn dưới gầm giường. Đám nùi bông khổng lồ đủ để nhồi cả một tấm chăn, và một chiếc hộp đàn guitar.
Servaz kéo chiếc hộp ra ngoài sáng và mở xem. Mặt đàn có vài vết xước, dây Si bị đứt. Anh liếc nhìn bên trong thùng đàn, không còn gì khác. Giường trải tấm ga in họa tiết hình thoi đủ màu sắc. Anh nhặt xem mấy chiếc CD rải rác trên giường, Guns ’N Roses, Nirvana, U2. Toàn các bài hát tiếng Anh. Căn phòng giống một bảo tàng về thập niên 1990. Không có Internet, không máy tính, không điện thoại di động. Thế giới hiện tại đang thay đổi quá nhanh với một đời người, anh nghĩ. Anh lật gối, ga giường, rồi rờ cả bên dưới tấm đệm. Không có mùi nước hoa hay mùi gì đặc biệt tỏa ra từ chiếc giường, ngoại trừ mùi của bụi bặm đang cuốn lên trần nhà.
Có một chiếc ghế bành nhỏ bên cạnh giường, cũng đã được sơn thành màu cam. Một chiếc áo khoác quân đội cũ mắc trên lưng ghế. Anh gõ nhẹ phần bên dưới chỗ ngồi nhưng không phát hiện được gì ngoài việc tạo ra một đám mây bụi khác. Anh ngồi xuống và nhìn ra xung quanh, để mặc suy nghĩ của mình đi lang thang.
Anh thấy gì? Phòng ngủ của một cô bé, một cô bé điển hình trong thời đại của mình, nhưng cũng lớn trước tuổi. Trong số sách đọc, Servaz thấy có Lũ người quỷ ám và Tội ác và trừng phạt, cũng như Con người một chiều của Marcuse. Ai đã giới thiệu những cuốn sách này cho cô bé? Chắc chắn không phải đám bạn cùng lớp ngây thơ với khuôn mặt phúng phính. Rồi anh nhớ ra Ferrand là giảng viên văn học. Một lần nữa anh nhìn quanh căn phòng.
Đặc điểm nổi bật trong căn phòng này là những văn bản, là ngôn từ. Ngôn từ trong sách, trên bưu thiếp, trong thư… Tất cả đều do người khác viết. Vậy ngôn từ của Alice đâu? Phải chăng một cô gái ưa thể hiện bản thân qua guitar và những bản vẽ, say mê đọc sách, lại thực sự chưa từng có nhu cầu thể hiện mình qua cả từ ngữ hay sao? Cuộc đời của Alice chấm dứt vào ngày mùng 2 tháng Năm, và không có bất cứ dấu tích nào, ở bất cứ đâu về những ngày cuối cùng của cuộc đời cô. Không thể nào. Không nhật kí, không gì cả. Có gì đó không hợp lý. Tại sao một cô bé ham hiểu biết và thông minh đến vậy, trong đầu hẳn phải có vô số câu hỏi về sự tự khẳng định bản thân, lại không viết ra một dạng bút kí nào, nhất là khi đã tuyệt vọng đến mức muốn kết liễu đời mình? Chắc hẳn cô bé phải ghi lại tâm trạng và suy nghĩ trong một cuốn sổ hoặc một tờ giấy chứ? Bọn trẻ hiện nay sử dụng blog và trang cá nhân trên các mạng xã hội, nhưng trước đây, chỉ có giấy và mực để giãi bày những hồ nghi và bí mật của chúng.
Anh đứng lên, xem qua toàn bộ sổ ghi chép của Alice và cả các ngăn kéo. Nhưng không có gì ngoài sách vở ở trường. Anh lướt qua những bài tiểu luận của cô bé. Điểm số cao ngất, 15 đến 19 trên thang điểm 20. Những lời phê của giáo viên cũng đều là từ ngữ ca ngợi. Nhưng không có ghi chép cá nhân. Phải chăng bố Alice đã vào kiểm tra và dọn dẹp?
Ferrand đã cởi mở chào đón Servaz, nói với anh rằng ông ta tin lũ trẻ đã kết liễu đời mình vì một lý do cụ thể. Nhưng tại sao ông ta lại giấu đi những yếu tố có thể sẽ giúp họ tìm ra sự thật? Servaz cũng không thấy giấy tờ chính thức nhắc tới bất kì cuốn nhật kí nào. Thậm chí không có gì để chỉ ra Alice đã từng viết nhật kí. Mặc dù vậy, anh có cảm giác rõ ràng hơn bao giờ hết, rằng căn phòng này thiếu mất một thứ gì đó.
Một nơi cất giấu bí mật… Mọi cô bé đều có một nơi như thế, không phải sao? Của Alice là ở đâu?
Servaz đứng dậy và mở tủ quần áo. Trên các móc treo là áo khoác, váy, áo vét, quần bò và một chiếc kimono trắng với dây lưng nâu. Anh gỡ từng chiếc một, kiểm tra tất cả túi quần, túi áo. Một dãy giày và bốt xếp dọc phía dưới, Servaz tìm kiếm bên trong bằng một chiếc đèn pin bỏ túi. Phía trên móc treo là một cái kệ với vài chiếc vali và một cái ba lô. Anh bỏ chúng xuống thảm, để mặc một cơn bão bụi hoành hành, cẩn thận lục soát.
Không có gì. Anh dừng lại để suy nghĩ.
Căn phòng chắc hẳn đã được các nhân viên khám nghiệm lành nghề xem xét, có lẽ cả chính bố mẹ của Alice nữa. Chẳng lẽ họ không tìm thấy một nơi cất giấu nào sao? Thậm chí, liệu họ có chủ đích tìm một nơi như thế không? Mọi người đều nhất trí rằng Alice là một cô bé tuyệt vời. Phải chăng cô bé đã sáng tạo ra một nơi cất giấu bí mật không ai có thể đoán ra được? Hay anh đã đi nhầm hướng?
Thực sự thì anh biết gì về suy nghĩ và ước mơ của một cô bé 16 tuổi? Con gái anh cũng vừa tròn 17 được vài tháng, và anh sẽ rất lúng túng nếu phải miêu tả phòng riêng của cô bé, lý do đơn giản là vì anh chưa từng đặt chân vào. Suy nghĩ khiến anh cảm thấy buồn nôn. Tâm trí bứt rứt như có một vết ngứa. Anh đã bỏ sót thứ gì khi kiểm tra căn phòng? Hoặc có thứ gì đáng ra phải ở đây nhưng giờ không còn nữa? Nghĩ đi! Nó ở đâu đó rất gần rồi, anh có thể cảm thấy nó. Bản năng mách bảo anh, ở đây thiếu mất một thứ. Là thứ gì? Là gì? Anh nhìn khắp xung quanh một lần nữa. Anh xem xét từng khả năng một. Anh đã kiểm tra mọi thứ, kể cả phần chân tường và các tấm ván gỗ lát sàn bên dưới tấm thảm trắng. Không có gì cả. Tuy vậy, trong vô thức, anh vẫn cảm thấy phải có thứ gì đó. Anh có thể chắc chắn nó tồn tại ngay cả khi không ai chạm được tay vào.
Servaz hắt hơi vì đám bụi trong không khí, và rút một tờ khăn giấy. Đột nhiên anh nhớ ra điện thoại của mình. Không có cuộc gọi nào cả! Một giờ đã trôi qua và không có cuộc gọi nào. Anh cảm thấy ruột gan quặn lại. Mẹ kiếp, cái tên quái đản kia đang làm gì không biết? Tại sao vẫn chưa gọi?
Servaz lấy điện thoại ra khỏi túi. Và gần như ngạt thở vì hoảng sợ, của nợ này đã tắt nguồn. Anh cố bật nó lên, hết pin! Chết tiệt!
Anh lao ra khỏi phòng và chạy rầm rầm xuống cầu thang. Gaspard Ferrand ngó đầu ra khỏi bếp khi Servaz vọt qua chỗ ông ta.
“Tôi sẽ trở lại!” Anh hét lên, trong khi lao thẳng ra mở cửa chính.
Bên ngoài, một trận bão tuyết đang hoành hành dữ dội. Gió cuồn cuộn thổi. Vỉa hè trắng xóa và những bông tuyết đang xoáy tít.
Servaz nhanh chóng mở khóa chiếc xe đỗ bên kia đường, lục lọi trong hộc đựng đồ để tìm sạc, rồi chạy trở về ngôi nhà.
“Không có gì đâu!” Anh nói với Ferrand bấy giờ vẫn đang sửng sốt.
Anh tìm ổ cắm, thấy một cái trong hành lang, liền cắm sạc vào. Anh đợi năm giây và bật điện thoại. Bốn tin nhắn!
Anh đang chuẩn bị đọc tin nhắn đầu tiên thì điện thoại reo.
“Servaz đây!” Anh hét lên.
“Anh đã đi đâu vậy, chết tiệt, vì Chúa!”
Một giọng hoảng hốt, cũng sợ hãi hệt như anh. Tai anh ù lên vì máu đang bơm rần rật hai bên thái dương. Lần này người đàn ông không đổi giọng, nhưng anh cũng không nhận ra.
“Ai đấy?”
“Tên tôi là Serge Perrault, tôi là bạn của…”
Perrault!
“Tôi biết ông là ai!” Anh ngắt lời.
Một quãng im lặng.
“Tôi phải nói chuyện với anh ngay lập tức!” Perrault hét lên.
Giọng ông ta cuồng loạn.
“Ông ở đâu?” Servaz cũng hét lên. “Ở đâu?”
“Mười lăm phút nữa gặp tôi trên đỉnh tuyến cáp treo du lịch. Nhanh lên!”
Trong lòng anh lại trào lên một cơn hoảng sợ khác. “Cáp treo du lịch nào?”
“Cái ở trên, Saint-Martin 2000! Tôi đợi anh. Mau lên đấy, khốn kiếp! Anh không hiểu sao, đến lượt tôi rồi! Đi một mình thôi!”