Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

4

“Cô Berg, tôi sẽ không giấu giếm sự thật rằng tôi không hiểu nổi lý do bác sĩ Wargnier nhất định phải nhận cô về làm. Ý tôi là, tâm lý học lâm sàng, tâm lý học di truyền, các lý thuyết của Freud, tất cả những… thứ hổ lốn này. Sau khi cân nhắc, tôi thậm chí thấy phương pháp lâm sàng Anglo-Saxon còn đáng ưu tiên hơn.”

Bác sĩ Francis Xavier đang ngồi sau một chiếc bàn lớn. Anh ta là một người đàn ông nhỏ thó, vẫn còn trẻ, ăn mặc rất chải chuốt, đeo một cặp kính đỏ phô trương và nhuộm tóc, bên dưới áo blu trắng là một chiếc cà vạt họa tiết sặc sỡ. Giọng anh ta lẫn âm sắc Québec.

Diane khiêm tốn nhìn lướt đến quyển Sổ tay Chẩn đoán và Thống kê các Chứng Rối loạn Tâm thần do Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ phát hành, cuốn sách duy nhất trên bàn anh ta. Cô hơi cau mày. Cô không thích cách nói chuyện này, nhưng cô đang đợi người đàn ông nhỏ thó trước mặt mình lật bài ngửa.

“Vui lòng hiểu cho, tôi là một chuyên gia tâm thần. Và… nói thế nào nhỉ? Tôi không biết cô có thể giúp được gì cho cơ sở của chúng tôi… Dĩ nhiên, tôi không có ý xúc phạm…”

“Tôi… tôi đến đây để trau dồi kiến thức và rèn luyện kĩ năng, thưa bác sĩ. Bác sĩ Wargnier hẳn đã giải thích điều này với anh. Hơn nữa, trước khi rời đi, người tiền nhiệm của anh đã nhận tôi làm trợ lý của ông ấy và đã chấp thuận sự vắng mặt, xin lỗi, sự có mặt của tôi ở đây. Ông ấy đã đứng ra cam kết với Đại học Geneva. Nếu anh phản đối sự có mặt của tôi ở đây, anh phải cho chúng tôi biết từ trước…”

“Để trau dồi kiến thức và rèn luyện kĩ năng?” Xavier kín đáo mím môi. “Cô nghĩ cô đang ở đâu? Trong trường đại học chăng? Bọn sát nhân đang đợi cô ở cuối những hành lang này,” anh ta chỉ về phía cánh cửa văn phòng. “Còn kinh khiếp hơn cả lũ quái vật tồi tệ nhất từng ám ảnh giấc ngủ của cô, cô Berg ạ. Bọn chúng là Báo ứng của chúng ta. Sự trừng phạt chúng ta phải gánh chịu vì đã giết Chúa trời, vì đã tạo ra một xã hội mà tội ác ngang nhiên tồn tại.”

Câu cuối cùng có vẻ hơi khoa trương. Cũng khoa trương như mọi chi tiết ở bác sĩ Xavier. Nhưng cách anh ta nói, với sự pha trộn kì dị giữa nỗi sợ hãi và niềm vui thích, khiến cô rùng mình. Cô có thể cảm nhận được tóc gáy mình dựng hết lên. Anh ta sợ bọn họ. Họ ám ảnh anh ta mỗi khi đêm về, và có lẽ dù đóng chặt cửa, anh ta vẫn có thể nghe thấy bọn họ gào thét.

Cô chăm chú nhìn thứ màu nhuộm trên tóc anh ta và nhớ đến nhân vật Gustav von Aschenbach trong Chết ở Venice[1] người đã nhuộm tóc, lông mày và râu để vừa lòng một thiếu niên điển trai ông ta gặp trên bờ biển và tự đánh lừa rằng mình vẫn còn trẻ khỏe trong khi cái chết đã cận kề. Và ông ta chưa bao giờ nhận ra những nỗ lực ấy vô vọng và đáng thương đến mức nào.

“Tôi là chuyên gia tâm lý học pháp lý có kinh nghiệm. Tôi đã tiếp xúc với hơn một trăm tội phạm tình dục trong vòng ba năm.”

“Và bao nhiêu tên sát nhân?”

“Một.”

Xavier thoáng nở một nụ cười ác ý. Sau đó nhìn xuống hồ sơ của cô một lần nữa.

“Bằng cử nhân tâm lý học, thạc sĩ nghiên cứu chuyên sâu về tâm lý học lâm sàng của Đại học Geneva,” anh ta đọc, cặp kính đỏ trượt xuống mũi.

“Tôi đã làm việc bốn năm ở một phòng khám tư về tâm lý học pháp lý và tâm lý trị liệu. Tôi được giao nhiệm vụ thực hiện các đánh giá dân sự và hình sự cho các cơ quan tư pháp. Trong hồ sơ của tôi cũng có đề cập đến.”

“Từng thực tập tại cơ quan hình sự nào chưa?”

“Tôi từng thực tập tại phòng y tế của nhà tù Champ-Dollon với tư cách chuyên gia thẩm tra pháp lý, và giám sát tội phạm tình dục.”

“Học viện Quốc tế về Luật và Sức khỏe Tâm thần (IALMH), hiệp hội Bác sĩ Tâm lý học, Tâm lý Trị liệu Geneva, Liên đoàn Tâm lý học Pháp y Thụy Sĩ… Tốt, tốt, tốt…”

Anh ta lại ngước lên nhìn cô. Diane thấy bức bối như đang phải đối mặt với một ban bồi thẩm.

“Chỉ có điều… Cô hoàn toàn không có kinh nghiệm cần thiết đối với loại bệnh nhân này, cô còn trẻ, vẫn còn nhiều điều phải học hỏi. Nhưng rất có thể, bằng những kinh nghiệm của mình, cô sẽ, đương nhiên là hoàn toàn vô tình thôi, hủy hoại mọi thứ chúng tôi đang cố đạt được. Điều đó có thể trở thành nguồn cơn gây thêm phiền muộn cho các bệnh nhân ở đây.”

“Ý anh là gì?”

“Tôi rất tiếc, nhưng tôi phải yêu cầu cô tránh xa bảy bệnh nhân nguy hiểm nhất của chúng tôi, những người ở Khu A. Và tôi không cần trợ lý, tôi đã có một y tá trưởng trợ giúp rồi.”

Diane im lặng lâu đến mức Xavier phải nhướng một bên lông mày. Khi mở lời, giọng cô bình tĩnh và kiên định, “Bác sĩ Xavier, tôi đến đây là vì những người ở Khu A. Chắc bác sĩ Wargnier đã nói với anh rồi. Mà chắc anh cũng có hồ sơ lưu lại trao đổi của chúng tôi. Các điều khoản trong thỏa thuận hoàn toàn rõ ràng, bác sĩ Wargnier không chỉ cho phép tôi gặp bảy người bệnh ở Khu A mà còn đề nghị tôi biên soạn một báo cáo chuyên môn ngay sau khi hoàn thành phỏng vấn, đặc biệt là trường hợp của Julian Hirtmann.”

Cô có thể thấy anh ta xù lông. Nụ cười tan biến. “Cô Berg. Bác sĩ Wargnier không còn phụ trách cơ sở này nữa. Mà là tôi.”

“Trong trường hợp đó, tôi không còn việc gì ở đây cả. Tôi sẽ báo cáo lại vấn đề với cơ quan có thẩm quyền và Đại học Geneva, để họ giải quyết. Cả bác sĩ Spitzner nữa. Tôi đã phải đi một quãng đường dài, thưa bác sĩ. Đáng ra anh đã có thể miễn cho tôi một chuyến đi vô ích.”

Cô bật dậy.

“Cô Berg, thôi nào!” Xavier nói, đứng lên và dang tay ra. “Bình tĩnh! Vui lòng ngồi xuống, ngồi xuống! Cô luôn được chào đón. Đừng hiểu lầm, tôi không hề có ý phản đối cô. Tôi chắc chắn cô sẽ làm hết khả năng của mình. Và ai mà biết được? Có lẽ… ở một góc độ khác, một cách tiếp cận ‘liên ngành’ chẳng hạn, sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những tên quái vật này. Phải, phải, tại sao không? Tất cả những gì tôi yêu cầu ở cô chỉ là đừng tự ý tiếp xúc với bất kì đối tượng nào trừ trường hợp tối cần thiết, và tuân thủ nghiêm ngặt nội quy. Trạng thái yên ổn ở Viện phụ thuộc vào một sự cân bằng hết sức mong manh. Các biện pháp an ninh ở đây có thể chặt chẽ gấp mười lần so với tất cả các viện tâm thần khác, nhưng bất cứ hành vi vi phạm quy định nào cũng có khả năng dẫn đến các hậu quả khôn lường.”

Francis Xavier đi vòng qua bàn làm việc.

Anh ta còn thấp hơn cô tưởng. Diane cao khoảng 1m65 và Xavier rõ ràng cũng chỉ tầm đó, tính cả đế giày. Trông anh ta như bơi trong chiếc áo blu trắng sạch bong không tì vết.

“Đi theo tôi, để tôi dẫn cô đi một vòng.”

Xavier mở một ngăn tủ. Áo blu được treo thành hàng. Anh ta lấy một chiếc và đưa cho Diane. Nó thoang thoảng mùi bột giặt, và mùi gì đó ẩm mốc.

Dáng người nhỏ thó của Xavier lướt qua Diane. Anh ta đặt một tay lên cánh tay cô, và cô nhận thấy móng tay anh ta được chăm sóc kĩ càng, thậm chí quá kĩ càng.

“Họ thực sự là những con người đáng sợ,” Xavier nhẹ nhàng nói, và nhìn vào mắt Diane. “Quên bọn họ là ai, và đã làm gì đi. Tập trung vào việc của cô.”

Diane nhớ lại những lời Wargnier đã nói qua điện thoại. Ông đã nói gần giống như vậy, chỉ khác biệt về từ ngữ.

“Tôi đã từng làm việc với người thái nhân cách phản xã hội,” Diane phản đối. Nhưng lần đầu tiên kể từ khi đến đây, giọng của cô không còn tự tin như trước nữa.

Một tia kì lạ chợt ánh lên qua cặp kính đỏ. “Cô chưa từng gặp ai giống những kẻ này đâu, cô gái ạ. Không một ai.”

Những bức tường trắng, sàn trắng, đèn nê ông trắng… Như phần lớn dân phương Tây, Diane liên tưởng màu sắc này với sự thơ ngây, hồn nhiên và trong trẻo. Vậy mà lại có những kẻ sát nhân ghê tởm đang sống giữa sắc trắng tinh khôi ấy.

“Ban đầu, trắng là màu của cái chết và tang sự,” Xavier như thể đọc được ý nghĩ của cô. “Đây vẫn là quan niệm của phương Đông. Màu trắng cũng chỉ có một giá trị duy nhất, giống màu đen. Đó còn là màu sắc tượng trưng cho nghi thức chuyển tiếp của đời người. Đây cũng là một bước chuyển tiếp trong đời cô, không phải sao? Nhưng tôi không phải là người chọn cách bài trí này, tôi mới đến đây được vài tháng thôi.”

Những cánh cổng thép trượt mở và đóng lại khi họ đi qua, tiếng khóa điện tử vang lên giữa những bức tường dày. Hình dáng thấp bé của Xavier sải bước phía trước.

“Chúng ta đang ở đâu?” Diane hỏi, trong lúc đếm những chiếc camera tự động, cánh cửa, và lối thoát hiểm.

“Chúng ta đang rời khỏi khu vực văn phòng để đi vào khu điều trị. Đây là hàng rào an ninh đầu tiên.”

Diane quan sát Xavier nhét một tấm thẻ từ vào chiếc hộp gắn trên tường. Nó đọc tấm thẻ và nhả trả lại. Cánh cổng kim loại mở ra. Ở phía xa là một căn phòng bằng kính, nơi có hai bảo vệ trong bộ đồng phục liền thân màu da cam đang ngồi bên dưới những màn hình giám sát.

“Hiện nay chúng tôi có tám mươi tám bệnh nhân được xem là nguy hiểm, có khả năng gây ra các hành vi bạo lực. Bệnh nhân của chúng tôi được gửi đến đây từ các tổ chức hình sự và các cơ sở tâm thần khác ở Pháp, và cả từ Đức, Thụy Sĩ, Tây Ban Nha… Họ mắc các vấn đề về sức khỏe tâm thần, kết hợp với xu hướng phạm pháp, bạo lực và cấu thành tội ác. Những bệnh nhân quá nguy hiểm, không thể ở lại bệnh viện ban đầu. Những đối tượng giam giữ bị rối loạn tâm thần quá nghiêm trọng không thể điều trị trong tù. Và cả những tên sát nhân đã bị tòa tuyên án không có khả năng nhận thức xã hội. Với các đối tượng như vậy, Viện chúng tôi đòi hỏi một đội ngũ nhân viên giàu năng lực, cơ sở hạ tầng đảm bảo an ninh và an toàn cho cán bộ nhân viên cũng như khách viếng thăm. Hiện tại, chúng ta đang ở Khu C. Có ba tầng an ninh, thấp, trung, và cao. Khu vực này ở mức thấp.”

Diane nhướng mày mỗi lần Xavier nói về các bệnh nhân.

“Viện Wargnier đã chứng minh năng lực của mình trong việc trở thành cơ sở duy nhất đủ khả năng trong việc điều trị các bệnh nhân nguy hiểm, bạo lực. Công việc của chúng tôi được tiến hành dựa trên những tiêu chuẩn khắt khe và tiên tiến nhất. Ở những giai đoạn đầu, chúng tôi thực hiện quá trình đánh giá tâm thần và tội phạm học đặc biệt bao gồm phân tích huyễn tưởng[2] và phương pháp ghi thể tích[3].”

Diane giật mình. Cốt lõi của phương pháp ghi thể tích là đo lường các phản ứng của bệnh nhân trước các kích thích âm thanh và hình ảnh do nhiều loại viễn cảnh và tác nhân khác nhau mang lại, đơn cử như hình ảnh của một người đàn bà hoặc một đứa trẻ khỏa thân.

“Anh áp dụng liệu pháp gây ác cảm đối với các đối tượng có dấu hiệu tâm thần lệch lạc trong quá trình ghi thể tích?”

“Chính xác.”

“Liệu pháp gây ác cảm có vẻ không nhận được sự ủng hộ rộng rãi lắm,” cô nói.

“Nó có hiệu quả ở đây,” Xavier kiên quyết trả lời.

Cô cảm thấy anh ta căng cứng người. Bất cứ khi nào có ai đó nhắc đến liệu pháp gây ác cảm, Diane nghĩ đến Clockwork Orange[4]. Liệu pháp gây ác cảm bao gồm việc tạo ra sự liên tưởng giữa các hình ảnh sai trái được ghi trong băng ghi âm hoặc DVD, những hình ảnh cưỡng hiếp, trẻ em khỏa thân, vân vân… với các cảm giác cực kì khó chịu hoặc thậm chí đau đớn như sốc điện hoặc hít amoniac, thay vì các cảm giác dễ chịu mà bệnh nhân thường liên hệ với các tưởng tượng đó trước đây. Người ta tin rằng sự lặp lại có hệ thống của các trải nghiệm này sẽ tạo ra sự thay đổi lâu dài trong hành vi của đối tượng. Nói cách khác, đây là một dạng phản xạ có điều kiện của Pavlov, phương pháp này đã được thử nghiệm với tội phạm lạm dụng tình dục và ấu dâm ở một số quốc gia, đơn cử như Canada.

Xavier mân mê nút bấm của chiếc bút cài trên túi áo ngực. “Tôi biết rằng rất nhiều chuyên gia trên đất nước này hoài nghi về liệu pháp điều chỉnh hành vi ấy. Nó vốn có nguồn gốc từ các nước Anglo-Saxon, và Viện Pinel ở Montreal, cũng là nơi tôi từng công tác. Chúng tôi đã đạt được những kết quả xuất sắc. Nhưng dĩ nhiên, các đồng nghiệp người Pháp của cô sẽ thấy khó chấp nhận một phương pháp mang tính thực nghiệm như vậy, đặc biệt là khi nó lại đến từ phía bên kia Đại Tây Dương. Họ chê trách nó vì đã bỏ qua các khái niệm cơ bản như tiềm thức, siêu ngã và vì đã thúc đẩy sự phổ biến các biện pháp trấn áp…”

Đằng sau cặp kính, đôi mắt anh ta chăm chăm nhìn Diane với vẻ giận dữ.

“Rất nhiều người ở đất nước này vẫn ủng hộ cách tiếp cận đề cao các khám phá phân tâm học[5], vốn đòi hỏi việc khôi phục những lớp sâu nhất của nhân cách. Và như thế, họ bỏ qua một thực tế rằng những nỗ lực của họ đều thất bại, vì đa phần những kẻ thái nhân cách hoàn toàn không hề cảm nhận được sự hối lỗi hay những sắc thái tình cảm thông thường. Với loại bệnh nhân này, chỉ duy một thứ có tác dụng, là cải tạo.” Giọng anh ta lướt qua từ đó như một dòng nước băng giá. “Đối tượng phải tự chịu trách nhiệm cho chính quá trình điều trị của mình, nhờ vào một loạt chế độ thưởng phạt, và từ đó tạo ra hành vi sau cải tạo. Chúng tôi cũng tiến hành đánh giá mức độ nguy hiểm theo yêu cầu của các cơ quan tư pháp và y tế.” Đến đây, Xavier dừng lại trước một cánh cửa khác làm bằng kính cường lực.

“Không phải phần lớn nghiên cứu đều chỉ ra rằng hầu hết những đánh giá này đều chẳng mấy hữu dụng hay sao?” Diane hỏi. “Một số còn xác nhận rằng, phân nửa trường hợp, các đánh giá mức độ nguy hiểm tâm thần là sai.”

“Có vẻ như vậy,” Xavier thừa nhận. “Nhưng mức độ nguy hiểm thường bị xem trọng quá mức. Nếu có bất cứ nghi ngại nào, dựa vào kết quả đánh giá, chúng tôi sẽ đưa ra lời khuyên tiếp tục giam giữ hoặc kéo dài thời gian nằm viện theo đúng nguyên tắc. Sau đó…”

Anh ta bổ sung, với một nụ cười hết sức ngớ ngẩn. “Những đánh giá này ứng với một nhu cầu bắt rễ sâu xa trong xã hội chúng ta, cô Berg ạ. Tòa án yêu cầu chúng tôi giải quyết vấn đề đạo đức thay cho họ, một vấn đề nan giải mà thực sự không ai có khả năng giải quyết. Làm sao nghĩ ra được biện pháp nào áp dụng cho một cá nhân nguy hiểm mà thỏa mãn cả hai yếu tố: vừa đáp ứng được các yêu cầu cần thiết để đảm bảo an toàn cho xã hội, vừa không vi phạm quyền con người của cá nhân đó? Không ai có câu trả lời thỏa đáng. Chính vì thế, tòa án ra vẻ tin rằng các đánh giá tâm thần là đáng tin cậy. Đương nhiên, không có ai thực sự bị đánh lừa hết. Nhưng hành động đó cho phép bộ máy tư pháp, vốn luôn không ngừng đối mặt với các nguy cơ bị phá rối, có thể tiếp tục hoạt động, đồng thời duy trì ảo tưởng trước công chúng rằng thẩm phán là những người khôn ngoan và luôn đưa ra các quyết định đúng đắn. Nhân thể tôi cũng xin nói luôn, đây là dối trá lớn nhất trong mọi dối trá và cũng chính là nền móng xã hội dân chủ của chúng ta.”

Một cái hộp đen khác được gắn khít trên tường, tinh vi hơn nhiều so với cái trước. Nó bao gồm một màn hình nhỏ và mười sáu nút bấm để nhập mã, cùng một bộ cảm biến lớn màu đỏ nơi Xavier vừa đặt ngón trỏ tay phải lên. “Tất nhiên, chúng tôi không gặp phải vấn đề này với các bệnh nhân ở đây. Bọn họ đã tự đưa ra quá nhiều bằng chứng cho thấy sự nguy hiểm của mình. Đây là hàng rào an ninh thứ hai.”

Có một văn phòng bằng kính nhỏ ở bên phải. Một lần nữa Diane lại thấy hai người đằng sau lớp kính. Cô tiếc nuối nhìn Xavier đi thẳng qua bọn họ mà không hề dừng lại. Cô những muốn anh ta giới thiệu cô với toàn thể nhân viên ở đây. Nhưng rồi cô biết rằng anh ta sẽ không đời nào làm vậy. Hai người đàn ông nhìn ra khi cô đi ngang qua lớp kính. Diane đột nhiên tự hỏi không biết ở đây cô sẽ được chào đón như thế nào. Xavier đã nói với ai về cô chưa? Có phải anh ta đang âm thầm tính kế gây khó dễ cho cô?

Trong giây lát, cô chìm đắm trong hồi tưởng về căn phòng thời sinh viên, những người bạn đại học, và văn phòng trong khoa… Rồi cô nghĩ về ai đó. Cô cảm thấy má mình ửng đỏ, nhưng rồi vội cất giấu hình ảnh Pierre Spitzner vào nơi sâu kín nhất trong tâm trí.

Servaz nhìn mình trong gương dưới ánh đèn nê ông. Trông anh uể oải. Anh tì cả hai tay xuống mép thành sứt mẻ của bồn rửa mặt và cố bình tĩnh hít thở. Sau đó, anh cúi xuống và vã nước lạnh lên mặt.

Đôi chân gần như không thể đỡ nổi thân mình, anh có cảm giác kì lạ như thể đang đi trên một tấm đệm hơi. Chặng đường quay về bằng trực thăng vô cùng gian nan. Thời tiết trên đó đột ngột xấu đi và đại úy Ziegler đã phải bám chặt lấy cần điều khiển. Liên tiếp bị những trận gió mạnh vùi dập, chiếc trực thăng đung đưa hết bên này đến bên kia khi hạ cánh, hệt như một cái bè cứu sinh lênh đênh trên biển dữ. Vừa chạm đất, Servaz lao ngay vào nhà vệ sinh nôn mửa.

Anh quay người lại, bắp đùi tựa vào dãy bồn rửa mặt. Mấy hình vẽ nguệch ngoạc bằng bút bi hoặc bút viết bằng bôi bẩn mấy cánh cửa buồng vệ sinh, BIB SƠN VƯƠNG (lời khoác lác thường thấy). SOFIA LÀ CON ĐIẾM (kèm theo một số điện thoại di động). THẰNG GIÁM ĐỐC LÀ THẰNG KHỐN BẤN THỈU (giám đốc?). Rồi hình vẽ vài gã đồng tính theo phong cách Keith Haring[6] đang đứng ‘móc xúc xích’ nhau thành một dây.

Rút từ trong túi áo ra một chiếc máy quay kĩ thuật số cỡ nhỏ mà Margot đã tặng anh vào sinh nhật vừa rồi, Servaz lại gần mấy cánh cửa và chụp từng cái một. Sau đó anh quay trở ra và đi dọc theo hành lang tới sảnh ngoài.

Bên ngoài tuyết lại bắt đầu rơi.

“Khá hơn chưa?”

Anh nhận thấy sự chân thành toát ra từ nụ cười của Irène Ziegler.

“Rồi.”

“Chúng ta đi thẩm vấn những người công nhân chứ?”

“Nếu cô không phiền thì tôi muốn thẩm vấn họ một mình.”

Anh thấy khuôn mặt đáng yêu của đại úy Ziegler ngây ra. Tiếng Cathy d’Humières nói chuyện với các nhà báo từ bên ngoài vọng vào, những cụm từ khuôn sáo, phong cách quen thuộc của những người hoạt động chính trị.

“Cô vào xem hình vẽ trên cửa nhà vệ sinh thì sẽ hiểu tại sao,” anh nói. “Có những điều đàn ông sẽ dễ tiết lộ hơn khi ở riêng với nhau, nhưng lại giữ im lặng nếu có mặt một người phụ nữ.”

“Tốt thôi. Nhưng đừng quên là cả hai chúng ta đều tham gia cuộc điều tra này, thưa ngài sĩ quan chỉ huy.”

Năm người đàn ông nhìn anh đi vào, ánh mắt pha trộn giữa lo âu, mệt mỏi và tức giận. Servaz nhớ rằng họ đã bị giữ lại trong căn phòng này từ sáng. Hiển nhiên có người đã đem đồ ăn thức uống vào cho họ. Rải rác trên chiếc bàn họp cỡ lớn là những chiếc cốc rỗng, gạt tàn đầy, cùng những mẩu pizza và bánh mì kẹp còn thừa. Râu họ đã mọc dài và khuôn mặt bơ phờ như thể lạc ngoài hoang đảo, ngoại trừ người đầu bếp, một gã râu ria với cái đầu trọc bóng loáng và hai dái tai bấm đầy khuyên.

“Xin chào,” Servaz nói.

Không ai trả lời. Nhưng họ kín đáo ngồi thẳng dậy, nét ngạc nhiên ánh lên trong mắt. Servaz nhận ra. Họ được thông báo rằng một sĩ quan từ cục hình sự sắp đến, nhưng giờ lại xuất hiện một gã trông có vẻ giống giáo viên hoặc nhà báo, ngoại tứ tuần, râu mọc lởm chởm hai bên má, mặc một chiếc áo khoác nhung và quần bò sờn cũ. Servaz gạt hộp bánh pizza dính mỡ và một chiếc cốc còn sót chút cà phê cùng đầu mẩu thuốc lá nổi lềnh phềnh sang một bên. Sau đó, anh ngồi chớm bên mép bàn, lấy tay vuốt qua mái tóc xoăn và quay về phía đám công nhân.

Anh tỉ mỉ quan sát họ. Từng người một. Mỗi lần nán lại khoảng vài chục giây. Tất cả đều nhìn xuống, ngoại trừ một người.

“Ai phát hiện đầu tiên?”

Một người đàn ông ngồi trong góc phòng giơ tay lên. Anh ta mặc áo len ngắn tay với dòng chữ ‘Đại học New York’ bên ngoài một chiếc áo sơ mi kẻ.

“Tên anh là gì?”

“Huysmans.”

Servaz lấy sổ tay trong túi áo khoác ra. “Kể cho tôi những gì anh thấy.”

Huysmans thở dài. Sự kiên nhẫn của anh đã trải qua thử thách ác nghiệt trong những tiếng vừa rồi, bản thân anh lại không phải người đặc biệt kiên nhẫn. Anh đã kể câu chuyện này ít nhất sáu lần, thế nên lần này anh lặp lại có phần máy móc.

“Các anh đi xuống luôn mà không hề bước chân ra khỏi cabin. Tại sao thế?”

Im lặng.

Cuối cùng người đàn ông vừa kể câu chuyện lên tiếng thừa nhận, “Vì sợ. Chúng tôi sợ hắn ta vẫn lẩn quất gần đấy, hoặc trốn trong đường hầm.”

“Điều gì khiến anh nghĩ đó là một người đàn ông?”

“Anh có thể hình dung một phụ nữ làm việc đó không?”

“Có cãi vã hoặc bất đồng nào giữa các công nhân không?”

“Như mọi nơi,” một người khác nói. “Say xin cãi lộn, chuyện đàn bà, lắm lúc chỉ là không vừa mắt nhau. Thế thôi.”

“Tên anh là gì?” Servaz hỏi.

“Gratien Etcheverry.”

“Cuộc sống trên đó chắc là khá gian khổ nhỉ?” Servaz nói. “Nguy hiểm, cô lập, chen chúc, hẳn là rất nhiều áp lực.”

“Những người được gửi lên trạm đều là dạng có cứng mới đứng đầu gió, ngài sĩ quân. Giám đốc chắc phải nói với anh rồi. Nếu không thì chúng tôi đã ở dưới này.”

“Là sĩ quan, không phải sĩ quân. Dù sao thì khi có bão hay thời tiết xấu, các anh rất dễ nổi cáu, đúng không?” Anh khăng khăng. “Tôi nghe nói rất khó ngủ ở độ cao đó.”

“Đúng.”

“Anh giải thích cho tôi được không?”

“Đêm đầu tiên anh sẽ thấy kiệt sức vì độ cao và công việc đến mức ngủ say như chết. Nhưng về sau anh ngủ ít dần. Đêm cuối cùng có lẽ chỉ hai đến ba tiếng là cùng. Hiện tượng này là do ngọn núi gây ra. Nhưng chúng tôi sẽ bình thường trở lại vào cuối tuần.”

Servaz nhìn họ một lần nữa. Một số người gật đầu tán đồng.

Anh chăm chú quan sát những người đàn ông cứng cỏi, những người chưa bao giờ được học cao hơn, cũng không tự nhận mình là thiên tài hay giỏi kiếm tiền. Không, họ thầm lặng thực hiện một công việc bèo bọt để phục vụ cho lợi ích chung. Những người đàn ông chỉ tầm tuổi anh, từ 40 đến 50, người trẻ nhất có lẽ chỉ khoảng 30 tuổi. Bỗng nhiên, anh thấy xấu hổ với những gì mình đang làm. Rồi anh lại nhận ra ánh mắt săm soi của tay đầu bếp.

“Con ngựa này có ý nghĩa gì đối với các anh không? Các anh có biết nó không? Đã bao giờ nhìn thấy nó chưa?”

Họ kinh ngạc nhìn anh, rồi chậm rãi lắc đầu.

“Đã bao giờ xảy ra tai nạn trên trạm chưa?”

“Vài lần,” Etcheverry nói. “Lần cuối cùng là hai năm trước. Một người đã bị mất một tay.”

“Anh ta hiện tại đang làm gì?”

“Anh ta làm việc ở dưới này, trong văn phòng.”

“Tên?”

Etcheverry ngập ngừng, rồi đỏ mặt, xấu hổ nhìn những người khác. “Schaab.”

Servaz cảm thấy mình sẽ phải tìm hiểu thêm về người tên Schaab này. Một con ngựa mất đầu, một công nhân mất tay…

“Có tai nạn chết người nào không?”

Etcheverry lắc đầu.

Servaz quay qua người lớn tuổi nhất. Cường tráng, mặc chiếc áo thun cộc tay để lộ hai cánh tay cơ bắp cuồn cuộn. Đây là người duy nhất, cùng với tay đầu bếp, chưa nói gì cả, và là người duy nhất không cúi gằm xuống khi Servaz quan sát. Hơn nữa, anh nhận thấy một tia thách thức ánh lên trong đôi mắt nhạt màu của ông ta. Khuôn mặt dẹt và bạnh sang hai bên. Một cái nhìn lạnh lẽo. Hẹp hòi, cứng nhắc, không linh hoạt, Servaz thầm nghĩ.

“Anh có phải là người ở đây lâu nhất không?”

“Đúng,” người đàn ông nói.

“Anh làm việc ở đây bao lâu rồi?”

“Dưới này hay trên đó?”

“Cả hai.”

“Hai mươi ba năm trên đó. Bốn mươi hai năm cả hai.”

Một giọng nói thẳng thừng, không nhấn nhá. Phẳng lặng như hồ nước trên núi.

“Tên anh là gì?”

“Việc gì đến cậu?”

“Tôi mới là người đặt câu hỏi chứ? Tên anh là gì?” Servaz đáp trả lối ăn nói cộc của của người đàn ông.

“Tarrieu,” người đàn ông bực mình gắt lên.

“Anh bao nhiêu tuổi?”

“Sáu ba.”

“Mối quan hệ của các anh với quản lý như thế nào? Các anh có thể nói thoải mái. Sẽ không có gì lọt ra khỏi bốn bức tường này. Vừa rồi trong nhà vệ sinh, tôi đọc được một câu trên tường, ‘Thằng giám đốc là thằng khốn bẩn thỉu’.”

Tarrieu tỏ ra nửa khinh miệt, nửa thích thú. “Đúng đấy. Nhưng nếu đây là thanh toán nhau thì hắn ta mới là thứ được tìm thấy trên đó. Chứ không phải con ngựa. Ngài không nghĩ thế sao, ngài cảnh sát?”

“Có ai nói gì về thanh toán đâu?” Servaz vặn lại với cùng giọng điệu. “Anh muốn điều tra hộ tôi? Anh có muốn làm cảnh sát luôn không?”

Vài tiếng cười thầm. Servaz thấy mặt Tarrieu hơi ửng lên, như một vết mực đỏ loang trong nước. Rõ ràng người đàn ông này có gan gây đổ máu. Nhưng đến mức độ nào? Đó là câu hỏi chẳng bao giờ có lời đáp. Tarrieu mở miệng định trả lời, rồi lại đổi ý vào phút cuối.

“Không,” cuối cùng ông ta nói.

“Có ai trong các anh quen thuộc với trường luyện ngựa không?”

Tay đầu bếp đeo khuyên tai ngượng ngập giơ tay.

“Tên anh là gì?”

“Marousset.”

“Anh thích cưỡi ngựa à, Marousset?”

Tarrieu phụt cười, những người khác bắt chước. Servaz cảm thấy cơn giận dữ của Tarrieu đang trào ra.

“Không… Tôi là đầu bếp. Thỉnh thoảng tôi có đến giúp đầu bếp nhà Lombard một tay, ở lâu đài… Khi họ mở tiệc sinh nhật, ngày kỉ niệm phá ngục Bastille… Khu chuồng ngựa ngay cạnh đó.”

Marousset có đôi mắt to và sáng, nhưng con ngươi không lớn hơn đầu kim là mấy. Và mồ hôi gã đang vã ra như tắm.

“Vậy là anh đã nhìn thấy con ngựa đó rồi?”

“Tôi không hứng thú với ngựa lắm. Có khi cũng đã nhìn thấy rồi… Có hàng đàn ngựa…”

“Và anh thường xuyên gặp anh Lombard?”

Marousset lắc đầu. “Tôi chỉ đến đó một… hoặc hai lần mỗi năm… và hiếm khi ra khỏi bếp…”

“Nhưng thỉnh thoảng anh cũng thấy anh ta chứ, chẳng lẽ lần nào cũng như vậy, đều không bắt gặp sao?”

“Phải, chưa từng gặp.”

“Anh ta có đến nhà máy bao giờ không?”

“Lombard, đến đây á?” Tarrieu châm chọc. “Đối với Lombard, cái nhà máy này chỉ là một hạt cát. Chẳng nhẽ cậu soi từng ngọn cỏ mỗi lần cắt cỏ à?”

Servaz quay ra nhìn những người khác. Họ đều khẽ gật đầu xác nhận.

“Lombard không sống ở gần đây,” Tarrieu vẫn nói bằng giọng khiêu khích. “Paris, New York, vùng Caribe, Corsica… Hắn không thèm đếm xỉa đến cái đập này. Nó vẫn tồn tại vì ông già hắn để lại di chúc bắt hắn phải giữ lấy nó. Nhưng hắn cũng chẳng buồn quan tâm.”

Servaz gật đầu. Anh muốn nói một câu đay nghiến. Nhưng để làm gì? Có lẽ Tarrieu có lý do của mình. Có lẽ trước đây ông ta đã từng ẩu đả với một tên cớm bất tài hoặc nhu nhược nào đó. Con người là tảng băng trôi. Dưới mặt nước là một khối khổng lồ những thứ họ không bao giờ nói với ai, một khối khổ đau và bí mật. Không có ai thực sự giống như vẻ ngoài của họ.

“Tôi có thể cho cậu vài lời khuyên không?” Tarrieu chợt nói.

Servaz cứng người, cảnh giác. Nhưng chất giọng ông ta đã thay đổi, vẻ thù địch biến mất, cả thái độ đề phòng và châm chích cũng vậy.

“Tôi nghe đây.”

Người đàn ông cao tuổi nói, “Những người bảo vệ ấy. Thay vì mất thời gian với chúng tôi, tốt hơn cậu nên hỏi họ. Dọa họ một chút.”

Servaz nóng này nhìn ông ta. “Tại sao?”

Tarrieu nhún vai. “Ở đây cậu mới là cảnh sát cơ mà,” ông ta đáp.

Servaz đi xuống hành lang và bước ra ngoài, cái lạnh đột ngột ùa đến thay cho không gian ấm nóng bên trong. Đèn flash liên tục lóe lên, chiếu rọi sảnh ngoài bằng luồng sáng chớp nhoáng, đồng thời tạo nên những cái bóng to lớn đầy hăm dọa. Servaz thấy Cathy d’Humières trèo vào xe riêng. Màn đêm dần buông xuống.

“Thế nào?” Ziegler hỏi.

“Mấy gã này có lẽ không liên quan đến vụ án, nhưng tôi vẫn muốn xác minh thêm lý lịch của hai người trong số họ. Người đầu tiên là Marousset, tay đầu bếp. Người kia là Tarrieu. Còn một người tên Schaab nữa, mất một tay trong một tai nạn vào năm ngoái.”

“Sao lại là hai người kia?”

“Chỉ để kiểm tra thôi.” Anh nhớ lại ánh mắt của Marousset. “Tôi cũng muốn liên hệ với cục phòng chống ma túy, xem họ có hồ sơ về tay đầu bếp không.”

Đại úy Ziegler nhìn anh chăm chú nhưng không nói gì thêm.

“Kiểm tra khu vực lân cận đến đâu rồi?”

“Chúng tôi đã hỏi tất cả những người dân sống dọc theo con đường dẫn đến nhà máy, xem có ai nhìn thấy phương tiện nào đi qua lúc nửa đêm không. Nhưng cho đến giờ vẫn chưa có phát hiện gì mới.”

“Còn gì nữa không?”

“Có một hình vẽ graffiti trên tường bên ngoài nhà máy. Nếu có tên du thủ du thực nào lảng vảng xung quanh, chắc hẳn bọn chúng đã nhìn hoặc nghe thấy gì đó. Trong vụ án này, rõ ràng hung thủ đã phải chuẩn bị kĩ lưỡng và nghiên cứu địa điểm. Điều này lại dẫn ta về với hai gã bảo vệ. Có lẽ họ biết ai vẽ hình graffiti kia và cả lý do họ không nghe thấy gì hết.”

Servaz nhớ lại lời khuyên của Tarrieu.

Maillard tới gần bọn họ. Anh ta đang ghi chép trên một tập giấy nhỏ.

“Còn Viện Wargnier?” Servaz hỏi. “Một mặt, chúng ta có một vụ án rõ ràng do kẻ điên gây ra, mặt khác, có một lũ sát nhân tâm thần bị nhốt cách đây chỉ vài kilomet. Ngay cả khi viện trưởng đã thề thốt rằng, không có bất cứ bệnh nhân nào trốn ra ngoài, chúng ta vẫn phải kiểm tra kĩ lưỡng.” Anh liếc nhìn Ziegler rồi đến Maillard. “Chỗ hai người có chuyên gia tâm thần không?”

Ziegler và Maillard nhìn nhau.

“Một chuyên gia tâm lý học tội phạm sẽ đến đây trong vòng một hoặc hai ngày nữa,” Irène Ziegler trả lời.

Servaz khẽ nhíu mày. Nhờ cậy chuyên gia tâm lý học tội phạm chỉ vì một con ngựa… Anh biết, trong lĩnh vực này, sen đầm luôn đi trước cảnh sát vài bước, cũng như vài mảng khác nữa, nhưng anh tự hỏi, làm thế liệu có phải hơi quá rồi không. Ngay cả sen đầm cũng không thể dễ dàng huy động chuyên gia như vậy.

Cánh tay Éric Lombard quả thực rất dài…

“May cho anh là có chúng tôi ở đây đấy,” Ziegler châm chọc, kéo anh về hiện thực. “Nếu không anh sẽ phải mời một chuyên gia bên ngoài.”

Anh không để tâm đến lời mỉa mai của cô. Anh biết cô ám chỉ điều gì. Vì không hề có sự chuẩn bị trong việc đào tạo đội ngũ chuyên gia nghiên cứu tội phạm cho riêng mình như bên sen đầm, phía cảnh sát thường phải chấp nhận mời chuyên gia bên ngoài, mà các nhà tâm lý học thông thường không phải lúc nào cũng áp ứng đủ tiêu chuẩn cần thiết cho công việc.

“Nhưng xét đến cùng đây cũng chỉ là một con ngựa,” anh nói, dù không mấy thuyết phục.

Anh nhìn Irène Ziegler. Cô không cười nữa. Trái lại, anh có thể nhận thấy sự căng thẳng và lo lắng trên nét mặt cô. Cô nhìn anh thăm dò. Cô ấy không còn coi nhẹ việc này nữa, anh thầm nghĩ. Cũng như anh, hẳn cô đã bắt đầu nghĩ còn có điều gì đó nghiêm trọng hơn rất nhiều ẩn sau hành vi rùng rợn này.

❀ ❀ ❀

[1] Tiểu thuyết của nhà văn Đức Thomas Mann.

[2] : Phân tích các hình ảnh hoang tưởng, ảo giác của bệnh nhân.

[3] : Phương pháp ghi lại sự thay đổi thể tích của các cơ quan, bộ phận, hoặc toàn bộ cơ thể khi chịu tác động hoặc kích thích nhất định (do sự thay đổi tuần hoàn máu).

[4] : Tiểu thuyết của nhà văn Anthony Burgess xuất bản năm 1962, kể về thế giới giả tưởng đầy xấu xa tội lỗi nơi những người trẻ có thói quen sử dụng bạo lực và ngôn ngữ đồi trụy, lệch lạc.

[5] : Tập hợp những lý thuyết và phương pháp tâm lý học có mục đích tìm hiếu những mối quan hệ vô thức của con người qua tiến trình liên tưởng, do bác sĩ người Áo, Sigmund Freud sáng lập.

[6] : họa sĩ, nghệ sĩ, nhà hoạt động xã hội người Mỹ, đấu tranh mạnh mẽ cho người đồng tính luyến ái, phản đối chiến tranh hạt nhân và chống phân biệt chủng tộc. Chết vì AIDS. Nhân vật điển hình trong tác phẩm của ông là những hình người đơn giản không có mặt mũi.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.