16
“Tự tử? Chuyện đó là sao?”
“Tôi không biết. Nhưng có vẻ Chaperon biết.”
Ziegler nhìn anh bằng ánh mắt băn khoăn.
“Là Hirtmann nói với anh điều đó ư?”
“Phải.”
“Và anh tin hắn?”
“Tôi phải xem thế nào đã.”
“Hắn ta là kẻ tâm thần mà.”
“Có thể.”
“Và hắn không nói thêm gì nữa sao?”
“Không.”
“Sao hắn lại muốn nói chuyện với anh?”
Servaz cười, “Vì Mahler, tôi nghĩ vậy.”
“Gì?”
“Âm nhạc… Gustav Mahler. Đó là điểm chung giữa chúng tôi.”
Trong khoảnh khắc, Ziegler rời mắt khỏi con đường, và nhìn anh như thể muốn nói có lẽ còn nhiều người điên chưa được đưa vào viện. Nhưng Servaz đã để tâm trí đi lạc nơi khác. Cảm giác đang phải giáp mặt với một thứ mới mẻ và đáng sợ đang lớn dần trong lòng anh, rõ ràng hơn bao giờ hết.
“Rất thông minh, những nỗ lực của hắn,” Propp nói khi họ đang hướng về Saint-Martin.
Xung quanh, những cây lãnh sam như đang lao vụt về hướng ngược lại. Servaz nhìn qua cửa sổ, chìm vào suy tưởng.
“Tôi không biết bằng cách nào, nhưng hắn đã lập tức đánh hơi được có một lằn ranh phân cách trong nhóm, và hắn cố chia rẽ chúng ta bằng cách gợi lên sự đồng cảm ở một thành viên trong số chúng ta.”
Servaz bất thần quay ra sau, nhìn sâu vào mắt tay bác sĩ tâm lý.
“‘Sự đồng cảm ở một thành viên trong số chúng ta,’” anh nhắc lại. “Nói hay lắm. Anh nói vậy là ý gì, Propp? Anh cho rằng tôi đã quên mất hắn là ai sao?”
“Ý tôi không phải thế, sĩ quan,” anh ta đáp lời, vẻ khó chịu.
“Anh nói đúng, bác sĩ ạ,” Confiant chen vào. “Chúng ta phải giữ đoàn kết và vạch ra một chiến lược điều tra chặt chẽ và đáng tin cậy nhất.”
Lời cậu ta quất vào Ziegler và Servaz như lằn roi da. Servaz cảm thấy cơn giận dữ một lần nữa bùng lên.
“Cậu nói là đoàn kết sao? Vậy mà cậu đã hai lần phê bình công việc của chúng tôi trước mặt người khác! Đấy là cái cậu gọi là đoàn kết à? Tôi tưởng cậu có thói quen để cảnh sát làm việc của họ.”
Không hề nao núng, Confiant đáp trả ánh mắt của viên cảnh sát.
“Tôi sẽ không can thiệp trừ khi tôi thấy rõ ràng ràng các điều tra viên của tôi đang lầm đường lạc lối,” cậu ta trả lời, giọng gay gắt.
“Nếu thế thì cậu nên nói chuyện với Cathy d’Humières. ‘Một chiến lược chặt chẽ và đáng tin cậy’. Và chiến lược đó là gì vậy, thưa ngài thẩm phán?”
“Dù là gì thì cũng không phải nhắm vào Viện.”
“Chúng ta sẽ không thể khẳng định điều gì nếu không đến đây,” Irène Ziegler phản đối, giọng cô điềm tĩnh đến nỗi Servaz phải ngạc nhiên.
Anh kiên quyết, “Bằng một cách mà chúng ta chưa biết, DNA của Hirtmann đã bị đem ra khỏi Viện và bỏ lại trên cáp treo. Và đây không phải một giả thuyết, mà là thực tế. Khi phát hiện ra cách thức làm việc ấy, ta sẽ sớm bắt được thủ phạm.”
“Tôi thừa nhận,” Confiant nói. “Ai đó ở Viện liên quan tới cái chết của con ngựa. Nhưng không thể là Hirtmann, chính anh cũng đã nói như vậy. Hơn nữa, chúng ta nên hành động thận trọng hơn. Nếu để tin tức lọt ra ngoài, sự tồn tại của Viện sẽ bị đe dọa.”
“Có thể như thế,” Servaz lạnh lùng nói. “Nhưng đó không phải là vấn đề của tôi. Và cho tới lúc kiểm tra xong sơ đồ hệ thống an ninh tổng thể, chúng ta không được phép loại trừ bất cứ giả thuyết nào. Cứ hỏi một giám đốc nhà tù bất kì mà xem, chẳng hệ thống nào không có sơ hở. Một số cá nhân sở hữu tài năng tìm ra những mắt xích yếu. Chưa kể đến giả thuyết có sự đồng lõa trong nội bộ Viện.”
Confiant kinh ngạc ra mặt, “Anh vẫn nghĩ rằng Hirtmann có thể ra khỏi đó sao?”
“Không,” Servaz miễn cưỡng trả lời. “Càng lúc càng thấy ít khả năng là vậy. Nhưng còn quá sớm để loại trừ. Dù sao đi nữa, chúng ta cũng phải trả lời cho một câu hỏi không kém phần quan trọng khác. Ai có thể lấy được nước bọt của Hirtmann và để lại trên cáp treo? Hơn hết là, vì mục đích gì? Bởi chắc chắn hai vụ án này liên quan đến nhau.”
“Khả năng hai gã bảo vệ sát hại ông dược sĩ cực kì khó xảy ra,” Espérandieu tuyên bố trong phòng điều tra, chiếc laptop mở ra trước mặt. “Theo Delmas, bất cứ ai làm việc này đều rất thông minh, nham hiểm, và thích ngược đãi, cũng như có hiểu biết rất rõ về giải phẫu.”
Đọc những ghi chú của mình trên màn hình, cậu thuật lại các kết luận của giám định viên pháp y về vị trí của nút thắt.
“Điều đó chứng minh cảm nhận ban đầu của chúng ta,” Ziegler nhìn quanh căn phòng. “Grimm rất lâu sau mới chết. Và ông ta đã phải chịu rất nhiều đau đớn.”
“Theo Delmas, ngón tay của ông ta bị cắt đứt trước khi chết.”
Căn phòng chìm trong im lặng.
“Nếu chỉ nhìn vào bề ngoài để phân tích thì việc treo cổ khỏa thân, áo choàng và ngón tay bị cắt liên quan tới nhau,” Propp nói. “Không thể làm cái này mà không làm cái kia. Có một ý nghĩa nào đó ẩn sau. Và việc tìm ra ẩn tình đó hoàn toàn phụ thuộc vào chúng ta. Mọi thứ dường như chỉ ra rằng hung thủ đã sắp đặt kĩ càng. Bọn chúng phải chuẩn bị dụng cụ, và chọn thời gian, địa điểm. Không có gì được phép ngẫu nhiên. Hệt như vụ sát hại con ngựa.”
“Ai nhận nhiệm vụ tìm hiểu về dây đai?” Servaz hỏi.
“Tôi,” Ziegler giơ chiếc bút đang cầm lên. “Phòng thí nghiệm đã nhận diện được kiểu và mẫu. Tôi sẽ gọi đến nhà sản xuất.”
“Tốt. Còn áo choàng?”
“Người của chúng tôi đang tìm hiểu. Chúng tôi cũng sẽ xem xét kĩ hơn nhà của nạn nhân,” Ziegler nói.
Servaz lại nghĩ tới Nadine Grimm, ánh mắt bà nhìn anh, và vết sẹo trên cổ tay. Anh cảm thấy dạ dày thắt lại.
“Tôi sẽ lo việc đó,” anh nói. “Ai phụ trách hai gã bảo vệ?”
“Người của chúng tôi,” Ziegler lại lên tiếng.
“Được.”
Anh quay sang Espérandieu, “Tôi cần cậu quay về Toulouse, thu thập tất cả thông tin liên quan đến Lombard, càng nhiều càng tốt. Việc này rất gấp. Chúng ta phải tìm ra mối liên hệ giữa anh ta và Grimm bằng bất cứ giá nào. Nhờ Samira giúp một tay nếu cần. Và xin cảnh sát phát lệnh tìm kiếm hai gã bảo vệ.”
Servaz vừa nhắc đến một thực tế rằng, cho tới lúc này, cảnh sát và sen đầm vẫn sở hữu cơ sở dữ liệu riêng biệt, hiển nhiên, điều đó khiến công việc của cả hai đều khó khăn hơn. Nhưng chính quyền nước Pháp vốn nổi tiếng là chưa bao giờ thích sự đơn giản. Espérandieu đứng dậy, xem đồng hồ đeo tay. Cậu gập máy tính lại.
“Như thường lệ, việc nào cũng gấp. Nếu các anh không cần tôi nữa, tôi sẽ đi luôn.”
Servaz liếc nhìn đồng hồ trên tường.
“Được. Chúng ta đều có việc để làm. Về phần tôi, tôi cần đi gặp một người. Tôi nghĩ đã đến lúc hỏi Chaperon vài câu.”
Diane rời Viện, quấn kín người trong chiếc áo len, quần trượt tuyết, áo phao mùa đông và đôi bốt viền lông. Cô đeo hai đôi tất, thoa chút son dưỡng môi. Con đường mòn phủ dày tuyết bắt đầu ở phía Đông của tòa nhà và dẫn sâu vào những rặng cây về hướng thung lũng.
Chẳng mấy chốc đôi bốt đã lún sâu vào lớp tuyết mới tinh, nhưng cô vẫn bình tĩnh giữ nhịp bước đều đặn. Hơi thở của cô tạo thành những đám mây hơi nước nho nhỏ. Cô cần hít thở không khí trong lành. Kể từ khi nghe lỏm được cuộc đối thoại qua lỗ thông gió, bầu không khí trong Viện bỗng trở nên ngột ngạt. Chúa ơi! Làm sao cô có thể chịu đựng hết một năm ở nơi này?
Đi bộ vẫn luôn giúp cô thanh lọc đầu óc. Không khí giá buốt kích thích các tế bào thần kinh. Càng nghĩ, cô càng nhận ra không có gì ở Viện diễn ra như cô đã dự kiến.
Toàn bộ các vụ việc kinh khủng diễn ra ngoài kia có vẻ đều liên quan tới nơi này…
Diane băn khoăn, có ai đã từng để ý thấy chuyện kì lạ mà cô vẫn thường thấy mỗi đêm không? Có lẽ việc đó cũng chẳng liên quan tới những chuyện kia, nhưng cô băn khoăn liệu có nên nói với Xavier, để đề phòng.
Một con quạ bỗng cất tiếng kêu ngay trên đầu cô làm tim cô muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Rồi nó đập cánh bay mất, tĩnh lặng một lần nữa ngự trị. Thật tiếc vì không có ai để trò chuyện. Nhưng cô ở đây một mình, và chỉ có cô, một mình cô, mới có thể đưa ra quyết định đúng đắn.
Con đường không quá dài nhưng nỗi cô đơn của những ngọn núi đè nặng lên Diane. Ánh sáng và sự tĩnh lặng rơi xuống từ trên đỉnh những ngọn cây mang tới một cảm giác buồn thảm, tang tóc. Những gờ đá ngất ngưởng bao xung quanh thung lũng chưa bao giờ hoàn toàn khuất khỏi tầm mắt, cũng như những bức tường nhà lao không bao giờ biến mất khỏi tầm nhìn của tù nhân. Nơi đây không giống chút nào với khung cảnh rực rỡ và thoáng đãng nơi quê hương Thụy Sĩ quanh hồ Geneva của cô. Con đường đã bắt đầu dốc xuống dưới và cô phải cẩn thận tìm chỗ đặt chân. Cây mọc dày hơn. Cuối cùng cô cũng vượt qua những bụi cây tầng thấp và tới được bìa rừng. Cô tiến về một khoảng trống rộng lớn với vài tòa nhà ở giữa. Cô lập tức nhận ra trại hè nằm sâu dưới thung lũng mà cô đã đi qua trên đường đến Viện. Ba tòa nhà trông vẫn quỷ quyệt và đổ nát như lần đầu tiên cô nhìn thấy. Tòa nằm gần khu rừng nhất, gần như đã bị cây cối mọc lấn hết. Hai tòa nhà còn lại chẳng còn gì ngoài những những ô cửa sổ nứt vỡ và những cổng vòm trống rỗng, lớp bê tông xanh rì vì rêu và đen đúa vì nắng mưa. Gió lùa qua những khe hở, thanh âm lúc trầm, lúc chói, như một điệu ca ai oán thảm sầu. Những chiếc lá úa quăn lại và ướt đẫm, xếp thành gò lớn dưới chân những bức tường bê tông, một nửa ngập trong tuyết và tỏa ra mùi thực vật phân hủy.
Diane chậm rãi đi qua một khoảng trống. Tường hành lang và sảnh ở tầng trệt viết đầy những lời chửi rủa hệt như ở các khu vực dân nghèo quanh đó. Những chữ graffiti với nội dung tục tĩu như ‘Đậu má bọn cớm’ hay các câu từ để xác lập lãnh thổ, mặc dù cũng không ai thèm tranh giành với chúng, những bức vẽ thô kệch, bậy bạ… ở khắp nơi. Cô kết luận rằng Saint-Martin phải có khá nhiều mầm non họa sĩ.
Bước chân cô dội lại trong khoảng không vang vọng của những dãy hành lang. Từng luồng rét buốt mơn trớn làn da khiến cô run lên. Cô có thể dễ dàng tưởng tượng ra đây đó từng đám trẻ chạy nhảy và xô đẩy nhau, và những giám thị hiền hậu như những chú chó chăn cừu cổ xưa đàn thú vào trong bãi rào. Vậy mà không hiểu sao, cô không thể rũ bỏ cảm giác nơi này gợi lên nỗi buồn và tù ngục nhiều hơn là niềm vui của những kì nghỉ hè. Cô nhớ lại một lần phải chịu trách nhiệm đánh giá độ tin cậy trong lời khai của một cậu bé 11 tuổi khi còn làm ở văn phòng tư nhân về tâm lý học pháp lý ở Geneva. Đứa trẻ đã bị một giám thị phụ trách trại hè cưỡng hiếp. Cô có đủ hiểu biết để ý thức được rằng thế giới không giống như một cuốn tiểu thuyết của Johanna Spyri[1]. Cũng có thể là vì cô thấy mình đang ở một nơi xa lạ, hoặc vì những sự việc gần đây, nhưng cô không thể ngừng nghĩ tới vô số những vụ việc xảy ra gần như ở khắp nơi như cưỡng hiếp, giết người, tra tấn về thể xác lẫn tinh thần. Gần như phút giây nào và ở bất cứ nơi đâu cũng có thể đang diễn ra một vụ việc như thế. Ý nghĩ đó khiến cô váng vất đến mức gần như không thể chịu đựng nổi, hệt như khi ta nhìn mãi vào mặt trời, và vài lời thơ của Baudelaire[2] bỗng vọng lên trong tâm trí cô, Giữa sài lang, hổ báo, ưng, khuyển. Giữa tinh tinh, bọ cạp và rắn độc. Những quái vật gào thét, trườn bò, gào rống. Trong bầy thú đê mạt của tội lỗi thế nhân.
Đột nhiên cô thấy đông cứng. Có tiếng động cơ ở bên ngoài. Một chiếc ô tô chầm chậm tiến tới và dừng lại bên ngoài trại hè. Lốp xe nghiến xuống lạo xạo. Cô đứng bất động giữa hành lang, dỏng tai lắng nghe. Tiếng sập cửa. Ai đó đang đi tới. Có phải những mầm non họa sĩ, trở lại để hoàn thành nốt nhà nguyện Sistina[3] của chúng? Nếu vậy, cô không nghĩ ở lại đây một mình cùng với chúng là ý hay. Khi cô quay lại và im lặng tiến ra đằng sau tòa nhà thì nhận thấy mình đã rẽ nhầm, hành lang này là một ngõ cụt. Chết tiệt! Tim cô đập thình thịch. Cô đang lần lại dấu chấn cũ của mình thì nghe thấy tiếng bước chân của vị khách giẫm lên những tấm bê tông ngoài cửa vào. Lén lút khẽ khàng như những chiếc lá bay trong gió. Cô giật mình. Hắn ta đã ở đó! Cô không có lý do gì để lẩn trốn, nhưng cũng không dám xuất hiện. Đặc biệt là khi người kia đang bước đi rất thận trọng, thậm chí còn dừng lại. Cô đứng im không nhúc nhích. Cô dựa vào tấm bê tông lạnh ngắt và cảm thấy nỗi sợ hãi đang khiến mồ hôi túa ra ở chân tóc. Ai lại muốn đi dạo quanh một nơi thế này? Sự cẩn trọng quá mức trong mỗi bước đi của vị khách khiến cô nghĩ hẳn người ấy phải làm gì đó khuất tất. Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô đột ngột xông ra và hô lên ‘Xin chào’?
Vị khách quay lại và bắt đầu bước một cách dứt khoát về phía cô. Diane hoảng sợ. Tuy nhiên, không lâu sau, vị khách dừng lại. Cô nghe thấy tiếng người đó quay bước và đi trở lại hướng kia. Cô bèn đánh bạo ngó qua khúc quanh. Những gì nhìn thấy chẳng thể khiến cô an tâm. Một chiếc áo choàng dài màu đen có mũ đang bay phần phật sau lưng người đó như cánh dơi. Áo choàng che mưa, thớ vải chống thấm cứng đơ kêu sột soạt theo mỗi bước chân.
Nhìn từ đằng sau, Diane không thể phân biệt được đó là nam hay nữ… Nhưng vẻ lén lút trong cách di chuyển của kẻ ấy thì quỷ quyệt, đáng sợ, như thể ai đó vuốt một ngón tay lạnh ngắt qua cổ cô.
Nhân khi vị khách bắt đầu quay về phía bên kia, cô rời khỏi chỗ nấp, nhưng mũi giày lại đạp trúng thứ gì đó bằng kim loại. Một tiếng keng lạnh ngắt dội vào những bức tường bê tông. Diane lao trở về chỗ tối lúc nãy, tim đập thình thịch. Cô nghe thấy tiếng bước chân dừng lại.
“Có ai ở đó không?”
Một người đàn ông. Giọng cao vút, the thé, nhưng là của đàn ông. Diane cảm thấy như thể cổ cô phồng lên rồi lại xẹp xuống, còn quả tim khiếp sợ đang điên cuồng bơm máu qua các động mạch. Một phút trôi qua.
“Ai ở đó thế?” Người đàn ông hét lên, còn lớn hơn lúc nãy.
Có gì đó bất thường trong giọng nói của hắn. Một tia hăm dọa, nhưng còn kèm theo âm điệu rầu rĩ, mong manh và thống khổ. Không thể cắt nghĩa. Diane nghĩ tới một con mèo cong mình nhảy dựng lên vì hoảng sợ.
Cô không nhận ra giọng nói này.
Thinh lặng tưởng chừng vô tận. Người đàn ông không di chuyển, cô cũng vậy. Đâu đó gần đây, nước đang nhỏ xuống một cái vũng. Thứ âm thanh tí tách ấy cũng vang vọng một cách đầy tai ương giữa không gian chỉ toàn tiếng xào xạc ảm đạm của cỏ cây bên ngoài. Rồi một chiếc ô tô đi qua bên đường, nhưng cô gần như không chú ý đến nó. Cô giật bắn mình khi người đàn ông bật khóc, tiếng khóc sầu thảm, dội vào những bức tường như một quả bóng.
“Lũ khốn, lũ khốn, lũ khốnnn!” Cô nghe thấy hắn thổn thức. “Cặn bã! Đê tiện! Tao rủa cho chúng mày chết hết! Chết thiêu trong lửa địa ngục!”
Tiếp đó là tiếng gào thét khủng khiếp.
Diane gần như không dám thở. Toàn thân cô sởn gai ốc. Gã đàn ông cứ khóc. Cô nghe thấy tiếng vạt áo choàng đi mưa loạt soạt khi hắn khuỵu gối xuống đất. Hắn rấm rứt và rên rỉ rất lâu. Cô đánh bạo nhìn thêm lần nữa, nhưng không thể thấy khuôn mặt bên dưới cái mũ. Đột nhiên, người đàn ông bật dậy và chạy đi. Một khắc sau, cô nghe thấy tiếng cửa xe đóng sầm, động cơ nổ máy và chiếc xe chạy vào con đường. Cô ra khỏi chỗ ẩn nấp, cố gắng thở đều trở lại. Cô không biết mình vừa nghe và thấy điều gì nữa. Gã đàn ông đó có thường xuyên đến đây không? Phải chăng có chuyện gì từng xảy ra ở đây nên hắn mới hành động như thế? Hành động điên cuồng mà cô tưởng rằng chỉ có thể thấy ở Viện.
Dù sao đi nữa, hắn đã dọa cô sợ chết khiếp. Cô quyết định sẽ về nhà và vào bếp nhân viên nấu món gì đó nóng hổi. Như thế sẽ giúp thần kinh cô dịu lại. Khi bỏ lại khu nhà sau lưng, gió còn thổi lạnh hơn, cô bắt đầu run lên bần bật. Cô biết không đơn thuần chỉ vì cái lạnh.
Servaz đi thẳng tới tòa thị chính. Một quảng trường hình chữ nhật chạy dài bên sông, cùng một cái bục sân khấu, những quán cà phê ngoài trời, và ở chính giữa, quốc kì Pháp và cờ châu Âu bay lật phật trên một ban công. Servaz để xe lại một bãi đỗ nhỏ nằm giữa quảng trường và dòng sông rộng, trong vắt và chảy xiết dưới chân một con đê bằng bê tông.
Anh đi ven theo những thảm hoa rồi len lỏi qua mấy chiếc ô tô đỗ dọc dãy quán cà phê trước khi đi vào tòa thị chính. Khi đến tầng hai, anh được biết ngài thị trưởng không ở đây, và có thể sẽ tìm được ông ta ở nhà máy sản xuất nước khoáng đóng chai mà ông ta quản lý. Viên thư kí gây khó dễ một hồi, rồi cuối cùng cũng đồng ý cho Servaz số điện thoại di động của thị trưởng, nhưng khi Servaz bấm máy thì cuộc gọi lại chuyển vào hộp thư thoại. Anh nhận ra mình đang đói và lại nhìn đồng hồ đeo tay, 15:29. Họ đã ở Viện đến năm tiếng đồng hồ.
Khi rời khỏi tòa thị chính, anh vào quán cà phê đầu tiên trông thấy. Quán này trông ra quảng trường. Ở phía đối diện, đám thanh thiếu niên đang trên đường từ trường về nhà, cặp sách đeo sau lưng, những đứa khác đi trên xe máy nổ bình bịch và nhả khói mù mịt.
Người bồi bàn tiến đến. Servaz ngước lên. Cao, da ngăm đen, xấp xỉ 30 tuổi, cậu ta hẳn phải rất được lòng phái yếu, với bộ râu lún phún và đôi mắt sẫm màu. Servaz gọi một đĩa trứng trắng và một cốc bia.
“Cậu sống ở vùng này lâu chưa?” Anh hỏi người bồi bàn.
Tay bồi bàn cảnh giác nhìn anh. Một sự cảnh giác pha lẫn thích thú.
Servaz lập tức hiểu ra, chắc hẳn anh chàng thắc mắc có phải vị khách này đang gạ tình mình không. Có lẽ đây cũng không phải lần đầu.
“Tôi sinh ra cách chỗ này 20 kilomet,” cậu ta trả lời.
“Những vụ tự tử, cậu nghĩ sao về chúng?”
Lần này, không còn vẻ thích thú nữa, chỉ đơn thuần là cảnh giác.
“Anh là ai? Nhà báo à?”
Servaz chìa cho cậu ta xem thẻ ngành. “Tổ hình sự. Tôi đang điều tra vụ án mạng của dược sĩ Grimm. Chắc cậu cũng đã nghe qua?”
Tay bồi bàn thận trọng gật đầu.
“Thế nào? Những vụ tự tử, cậu nghĩ sao?”
“Tôi cũng như mọi người ở đây thôi.”
Lời cậu ta nói như một mũi kim chích vào người cảnh sát, làm anh ngồi thẳng dậy.
“Như thế nào?”
“Chuyện xưa rồi, tôi không biết nhiều lắm.”
“Nói cho tôi nghe phần không nhiều lắm ấy đi.”
Tay bồi bàn khó chịu ra mặt, lo lắng đưa mắt liếc quanh hàng hiên, chuyển trọng tâm từ chân này sang chân kia. “Chuyện xảy ra lâu lắm rồi…”
“Khi nào?”
“Khoảng mười lăm năm trước.”
“Chuyện xảy ra… Chuyện gì xảy ra?”
“Là… một loạt người tự tử.”
Servaz nhìn cậu ta, tỏ vẻ không hiểu.
“Một loạt người tự tử ư?” Anh bực mình nói. “Cậu nói rõ xem nào, vì Chúa!”
“Có vài vụ tự tử… những thanh thiếu niên. Trai và gái tuổi từ 14 đến 18, theo tôi nhớ là thế.”
“Ở Saint-Martin sao?”
“Phải. Và ở mấy thị trấn trong thung lũng.”
“Có vài vụ tự tử? Bao nhiêu?”
“Làm sao tôi biết được? Lúc đó tôi mới 11 tuổi! Chắc là năm. Hoặc sáu. Hoặc bảy. Dù sao cũng dưới mười vụ.”
“Và lũ trẻ đều chết cùng một thời điểm sao?” Servaz kinh ngạc.
“Không. Nhưng ngay sát nhau. Kéo dài trong vài tháng.”
“Vài tháng là bao lâu? Hai tháng? Ba tháng? Hay mười hai tháng?”
“Có lẽ là mười hai tháng. Phải. Chắc là một năm. Tôi không rõ…”
Dù sao cậu ta cũng không phải bác học Einstein, Servaz thầm nghĩ. Hoặc cậu ta không hề muốn hợp tác.
“Và có ai biết tại sao bọn trẻ lại làm thế không?”
“Tôi nghĩ là không… Không!”
“Chúng không để lại thông điệp nào sao?”
Tay bồi bàn nhún vai. “Nghe này, lúc ấy tôi chỉ là một đứa trẻ. Anh phải tìm những người lớn tuổi hơn, may ra họ có thể nói cho anh rõ việc đó. Tôi chỉ biết đến thế thôi. Rất tiếc.”
Anh nhìn tay bồi bàn len lỏi qua những chiếc bàn và mất hút vào bên trong. Anh không cố ngăn lại. Qua ô cửa kính, Servaz thấy cậu ta thì thào với một người đàn ông to béo, có lẽ là ông chủ. Người đàn ông liếc về hướng Servaz với vẻ nhăn nhó, rồi nhún vai và quay trở lại quầy tính tiền.
Servaz có thể đi vào và hỏi ông ta, nhưng anh tin đây không phải là nơi thu được thông tin xác thực. Một loạt thanh thiếu niên tự tử vào mười lăm năm trước… Anh tập trung suy nghĩ. Quả là một câu chuyện khó tin! Điều gì có thể khiến những thiếu niên sống trong thung lũng này tự tử? Và mười lăm năm sau, một vụ giết người và một con ngựa chết… Liệu có mối liên hệ nào giữa hai chuỗi sự kiện này không? Servaz nheo mắt, quan sát những đỉnh núi ở cuối thung lũng.
Khi lao vào hành lang ở số nhà 26 đại lộ Embouchure, Espérandieu nghe thấy giọng nói oang oang hét lên từ phòng ban nào đó. “Ê, người tình bé nhỏ của sếp đây rồi!”
Espérandieu quyết định lờ đi lời lăng mạ. Pujol là một gã não ngắn miệng rộng, hai thứ thường đi chung với nhau. Một gã cao lớn cường tráng với mái tóc hoa râm, như hình ảnh điển hình của xã hội Trung cổ. Một kho những câu cợt nhả chỉ mua vui được cho người bạn, đồng thời cũng là cái tôi khác của hắn, Ange Simeoni, ‘bộ đôi nam cao ngu ngốc’ không thể tách rời, như lời bài hát của Aznavour. Servaz đã chỉnh đốn họ, và bọn họ chắc chắn sẽ không bao giờ dám làm thế trước mặt anh. Nhưng Servaz không ở đây.
Espérandieu đi dọc dãy văn phòng cho tới khi đến phòng của mình ở cuối hành lang, cạnh phòng Servaz. Cậu đóng cánh cửa sau lưng lại. Samira đã để lại một lời nhắn trên bàn làm việc: Tôi đã đưa hai gã bảo vệ vào FPR như anh bảo. FPR là hồ sơ những người mất tích. Cậu vò tờ giấy ném vào sọt rác, mở iPhone bật bài Family Tree của ban nhạc Rock TV on the Radio và kiểm tra tin nhắn. Servaz đã yêu cầu cậu thu thập càng nhiều thông tin càng tốt về Éric Lombard, và Espérandieu biết phải kiếm chúng ở đâu. Cậu có một lợi thế so với hầu hết các đồng nghiệp của mình, trừ Samira, đó là cậu hiện đại. Espérandieu thuộc về thế hệ của truyền thông đa phương tiện, văn hóa ảo, diễn đàn, mạng xã hội. Và chỉ cần biết tìm đúng chỗ, ta sẽ gặp được những người thú vị. Nhưng cậu thực sự không muốn Servaz hay ai khác biết cách cậu thu thập thông tin.
“Rất tiếc, hôm nay ông ấy không đến đây.” Trợ lý giám đốc của nhà máy sản xuất nước khoáng đóng chai nhìn Servaz với vẻ mất kiên nhẫn.
“Anh biết tôi có thể tìm ông ta ở đâu không?”
Người đàn ông to lớn nhún vai. “Không. Tôi đã cố liên lạc nhưng ông ấy không mở điện thoại. Đáng ra ông ấy phải đi làm như thường lệ. Anh thử đến nhà ông ấy chưa? Có thể ông ấy bị ốm.”
Servaz cảm ơn anh ta và ra khỏi cái nhà máy nhỏ được vây trong hàng rào mắt cáo rất cao với những vòng dây thép gai trên đỉnh. Servaz đắm chìm trong suy nghĩ khi mở khóa xe. Anh đã gọi về nhà Chaperon nhưng vô ích, không ai trả lời. Servaz thấy ruột thắt lại vì lo lắng.
Anh trèo vào xe và ngồi sau tay lái.
Một lần nữa, anh hồi tưởng lại vẻ mặt khiếp sợ của Chaperon. Hirtmann đã nói gì nhỉ? Hãy bảo ông thị trưởng kể cho anh nghe về những vụ tự tử. Hirtmann biết điều gì mà họ không biết đây? Và làm thế quái nào hắn lại biết?
Rồi một ý nghĩ khác nảy ra trong óc anh. Anh chụp lấy điện thoại và gọi tới một số máy viết láu trong sổ tay. Một người phụ nữ nhận điện.
“Tôi là Servaz, ở tổ hình sự,” anh nói. “Chồng bà có phòng riêng, phòng làm việc, hay một nơi cất giữ giấy tờ không?”
Một khoảng lặng trong phút chốc, rồi có tiếng ai đó nhả khói thuốc gần điện thoại. “Có.”
“Bà không phiền nếu tôi đến xem chứ?”
“Tôi có sự lựa chọn khác sao?” Bà ta buột miệng, nhưng không có vẻ cay độc.
“Bà có thể từ chối. Trong trường hợp đó tôi sẽ buộc phải xin lệnh lục soát, và tôi sẽ có thôi. Nhưng việc bà từ chối hợp tác chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của ngài thẩm phán phụ trách cuộc điều tra này.”
“Khi nào thì anh tới?” Bà xẵng giọng hỏi.
“Ngay bây giờ, nếu bà không phiền.”
Người tuyết vẫn còn đó nhưng bọn trẻ con đã đi đâu mất. Cũng như cái xác mèo. Bóng tối và những áng mây hung hiểm đã phủ vây lấy bầu trời. Chỉ còn lại duy nhất một vệt hồng cam phía trên rặng núi.
Giống như lần trước, bà góa Grimm đang đợi ngoài cửa ngôi nhà màu xanh nước biển cùng với điếu thuốc trên tay và vẻ thờ ơ trên mặt. Bà lùi lại cho anh vào, “Ở cuối hành lang, cửa bên phải. Tôi vẫn chưa động vào bất cứ thứ gì.”
Servaz tiến vào hành lang ngổn ngang đồ đạc. Tranh, ghế, đồ trang trí lặt vặt, và xác thú nhồi bông như đang nhìn chằm chằm khi anh băng qua. Anh mở cánh cửa cuối cùng bên phải, ngay cạnh một giá sách. Cửa chớp đang đóng, và căn phòng chìm trong bóng tối, bốc mùi mốc meo. Servaz mở cửa sổ. Một văn phòng nhỏ tầm 9m² trông ra cánh rừng phía sau ngôi nhà. Một đống lộn xộn không biết phải diễn tả ra sao. Anh khó nhọc len vào giữa phòng. Anh hiểu ra rằng Grimm đã dành phần lớn thời gian ở căn phòng này mỗi khi có mặt ở nhà. Thậm chí còn có cả một chiếc tivi mini kê đối diện chiếc ghế bành cũ mèm đã võng xuống vì chất đầy cặp hồ sơ, tài liệu, tạp chí săn bắn và câu cá, cùng một cái đài cát xét xách tay và lò vi sóng.
Trong thoáng chốc, anh đứng giữa căn phòng và câm nín nhìn đống hỗn loạn toàn thùng các tông, đồ đạc, kẹp tài liệu, và ti tỉ những thứ không xác định nổi tên.
Một cái hang, một sào huyệt…
Một cái cũi!
Servaz rùng mình. Grimm đã sống cuộc đời như một con chó với bà vợ lạnh lùng băng giá.
Trên tường là những tấm bưu thiếp, một tờ lịch, và áp phích có hình núi, hồ và sông. Bên trên tủ quần áo lại có thêm xác thú nhồi bông, một con sóc, vài con cú, một con vịt trời và thậm chí một con mèo rừng. Ở một góc, Servaz thấy đôi ủng ngắn cổ. Trên một trong những cái tủ ngăn kéo là mấy cuộn dây câu. Tay dược sĩ này là một người yêu thiên nhiên chăng? Hay một thợ nhồi xác động vật nghiệp dư? Trong khoảnh khắc, Servaz cố đặt mình vào hoàn cảnh của người đàn ông to béo đã từng luẩn quẩn trong căn phòng này, chỉ bầu bạn với bầy thú đờ đẫn nhìn vào thứ ánh sáng mờ ảo. Anh cũng có thể hình dung ra cảnh ông ta nhồi nhét chỗ thức ăn thừa trước chiếc tivi nhỏ rồi chìm vào giấc ngủ trên ghế bành, vì bị quý bà sư tử mà ông ta đã cưới ba mươi năm trước xua đuổi tới tận cuối hành lang. Servaz lần lượt mở từng ngăn kéo. Trong ngăn đầu tiên, anh thấy bút, hóa đơn, danh sách các loại thuốc, sao kê tài khoản ngân hàng, hóa đơn thẻ tín dụng. Trong ngăn kế tiếp là một cặp ống nhòm, bộ bài vẫn còn nguyên tem và vài tấm bản đồ địa hình.
Rồi những ngón tay của anh rờ được một thứ gì đó ở dưới cùng ngăn tủ, chìa khóa. Anh lôi chúng ra. Có một chiếc chìa lớn của loại khóa gắn lên cửa và hai chiếc nhỏ hơn của loại ổ khóa rời hoặc két an toàn. Servaz nhét chúng vào túi áo.
Trong ngăn kéo thứ ba, anh tìm thấy một bộ sưu tập mồi câu giả, móc câu, dây cước, và một tấm ảnh. Servaz đem nó tới gần cửa sổ.
Grimm, Chaperon, và hai người khác.
Tấm ảnh đã khá cũ, Grimm có thể coi là gầy, Chaperon trông trẻ hơn khoảng mười lăm tuổi. Bốn người đàn ông đang đứng trên những tảng đá quanh một đám lửa trại, cười với ống kính. Đằng sau họ, ở phía bên trái là một khoảng rừng trống bao quanh bởi những cây lá kim lớn và những cây lá rộng đang khoác bộ cánh thu khi đến mùa trút lá, một đồng cỏ thoai thoải, hồ nước, và dãy núi ở phía bên phải bức ảnh. Ảnh được chụp lúc hoàng hôn. Bóng của những hàng cây trải tới tận mặt hồ. Làn khói từ lửa trại bốc thành hình xoắn ốc trong ánh chạng vạng. Servaz nhìn thấy hai túp lều ở phía bên trái.
Bầu không khí đồng quê.
Ấn tượng về hạnh phúc và tình bạn giản đơn. Những người đàn ông tụ tập với nhau để cắm trại trên núi, một lần cuối cùng trước khi đông sang.
Servaz lập tức hiểu ra tại sao Grimm có thể chịu đựng cuộc sống ẩn dật với một bà vợ khinh miệt và nhục mạ mình như vậy. Là nhờ những giây phút ông ta có thể trốn vào thiên nhiên cùng với bạn bè. Anh nhận ra sai lầm của mình. Căn phòng không phải một nhà tù hay cũi chó. Trái lại, nơi này là một đường hầm dẫn ra thế giới bên ngoài. Những con thú nhồi bông, những tấm áp phích, đồ câu, tạp chí. Mọi vật hiện diện để nhắc nhở ông ta về những khoảnh khắc của tự do tuyệt đối, có lẽ chính là điều đóng vai trò quan trọng nhất trong cuộc sống của người đàn ông này.
Trong bức ảnh, bốn người đàn ông đang mặc áo kẻ ô, áo khoác len và quần theo thời trang thập niên 1990. Một trong số họ cầm một chiếc bình kim loại, hẳn là chứa chất lỏng gì đó không phải là nước, một người khác đang nhìn vào ống kính với nụ cười mờ nhạt và lơ đãng như thể tâm trí ông ta đang ở nơi khác, như thể cái nghi lễ nhỏ bé này chẳng liên quan gì đến mình.
Servaz nhìn kĩ hai người đàn ông còn lại. Một người khổng lồ để râu có vẻ vui tính, còn người kia cao và khá gầy với mái tóc nâu dày và một cặp kính lớn. Anh so sánh cái hồ trong ảnh với cái hồ trên tấm áp phích treo tường, nhưng không xác định được đó chỉ là một cái nhưng ở hai góc độ khác nhau, hay là hai cái hoàn toàn khác biệt.
Anh lật tấm ảnh lại. Hồ Oule, tháng Mười năm 1993. Chữ viết tay gọn ghẽ, nắn nót. Anh đã đúng. Bức ảnh đã được mười lăm năm. Những người đàn ông phỏng chừng cũng tầm tuổi anh bây giờ. Ngấp nghé tứ tuần. Bọn họ có còn hoài bão không, hay đã nhìn lại cuộc đời mình? Và kết luận của họ là tích cực hay tiêu cực?
Trong bức ảnh, họ đang cười, mắt nhấp nhánh ánh sáng dìu dịu của một buổi tối mùa thu, khuôn mặt viền bằng những cái bóng thẫm.
Nhưng sự thật ra sao? Tất cả, hoặc hầu hết mọi người, đều cười khi chụp ảnh. Mỗi người đều như đang đóng một vai trong vở kịch, Servaz thầm nghĩ. Ngày nay, ai nấy đều bị ảnh hưởng trước sự tầm thường của truyền thông toàn cầu. Thậm chí rất nhiều người đã sống cường điệu, sống cuộc đời ảo, như thể đang diễn trên sân khấu. Hình thức và sự hào nhoáng đã trở thành chuẩn mực.
Servaz say mê nghiên cứu bức ảnh. Nó có quan trọng không? Trực giác mơ hồ nhưng quen thuộc nói với anh rằng câu trả lời là có. Anh do dự, rồi nhét bức ảnh vào túi áo.
Ngay lúc ấy, anh có cảm giác mình đã bỏ qua thứ gì đó. Một cảm giác mạnh mẽ, đột ngột. Cảm tưởng như não anh đã vô thức nhận ra một chi tiết và đang rung lên hồi chuông báo động.
Anh lại lôi bức ảnh ra. Nghiên cứu kĩ từng chi tiết. Bốn người đàn ông đang cười. Ánh sáng buổi tối dịu dàng. Hồ nước. Màu sắc mùa thu. Ánh sáng lấp lánh trên mặt hồ. Không, không phải là nó. Thế nhưng cảm giác vẫn ở đó, rõ rệt, không thể phủ nhận. Anh đã thấy gì đó, mà không hề nhận ra.
Và đột nhiên. Anh vỡ lẽ.
Tay của họ.
Có thể thấy bàn tay của ba trong bốn người đàn ông. Họ đều đang đeo một chiếc nhẫn to bản có dấu triện bằng vàng ở ngón áp út. Bức hình được chụp từ khoảng cách khá xa nên anh không thể nhìn rõ, nhưng Servaz dám thề rằng đó chính là chiếc nhẫn ấy. Chiếc nhẫn đeo trên ngón tay bị cắt đứt của Grimm.
Anh rời phòng. Âm nhạc vọng khắp căn nhà. Jazz. Quay trở ra hành lang toàn những đồ trang trí lúc nãy, Servaz đi về phía tiếng nhạc và tới một phòng khách cũng lộn xộn không kém. Bà góa đang ngồi trên ghế bành, đọc sách. Bà ngẩng đầu lên và nhìn anh bằng ánh mắt thù địch. Servaz lắc lắc chùm chìa khóa trước mặt bà.
“Bà có biết những chiếc chìa này là của cái gì không?”
Nadine Grimm ngập ngừng trong chốc lát, như thể băn khoăn liệu mình sẽ gặp phải rắc rối gì nếu không nói.
“Chúng tôi có một căn nhà gỗ ở thung lũng Sospel,” cuối cùng bà nói. “Cách đây chừng 10 kilomet. Ở phía Nam Saint-Martin… cách biên giới Tây Ban Nha không xa. Nhưng chúng tôi… đúng hơn là chồng tôi, chỉ tới đó vào cuối tuần, bắt đầu khi xuân sang.”
“Chồng bà? Còn bà?”
“Chỗ đó u ám lắm. Tôi không bao giờ đặt chân đến. Chồng tôi tới Sospel để được ở một mình, để nghỉ ngơi, tĩnh tâm, và đi câu.”
Để nghỉ ngơi, Servaz nghĩ. Từ bao giờ các dược sĩ cần phải nghỉ ngơi vậy? Không phải vẫn có các nhân viên làm việc quần quật cho họ sao? Rồi anh bỗng thấy mình thật nhỏ nhen. Rốt cuộc anh biết gì về công việc của một dược sĩ? Nhưng có một điều chắc chắn, anh phải đến thăm căn nhà gỗ.
Ba mươi tám phút sau, Espérandieu có câu trả lời cho lời nhắn của mình. Những giọt mưa nặng hạt đang chảy thành dòng trên kính cửa sổ. Màn đêm đã buông xuống Toulouse, những dòng sáng mờ nhòe trên khung cửa sổ cũng đang tuôn chảy như những hình động trên màn hình chờ.
Cậu đã gửi tin nhắn:
[Từ: vincentesperandieu@hotmailcom - Đến: kleim162@ lematinfr -16:33:54]
Anh có biết gì về Éric Lombard không?
[Từ: kleim162@lematinfr - Đến: vincentesperandieu@hotmailcom - 17:12:44]
Cậu muốn biết điều gì?
Espérandieu cười và gõ tin nhắn:
Liệu có bí mật đáng sợ nào không, những vụ bê bối bị bưng bít, những vụ kiện cáo chống lại tập đoàn Lombard ở Pháp hoặc ở nước ngoài chưa được giải quyết. Bất cứ tin đồn nào về anh ta. Bất cứ tin đồn bẩn thỉu nào.
[Từ: kleim162@lematinfr - Đến: vincentesperandieu@ hotmailcom -17:25:06]
Chỉ thế thôi à? Cậu đăng nhập vào msn được không?
Thung lũng bị chôn vùi trong cái bóng của ngọn núi. Servaz phải bật đèn pha. Con đường hoàn toàn trống trải. Chẳng ai lại đi lang thang ở nơi thung lũng tăm tối vào thời điểm này trong năm. Có hơn hai mươi căn nhà và túp lều trải dài theo 12 kilomet dọc bờ sông. Những ngôi nhà nghỉ hè này chỉ có người ở từ tháng Năm tới tháng Chín, và hiếm hơn, vào dịp Giáng sinh. Còn lúc này, chúng chỉ là những cái bóng khom mình xuống bên đường, gần như hòa làm một với khối núi đen khổng lồ.
Sau một khúc quanh rộng, dưới ánh sáng đèn pha, Servaz trông thấy con đường mòn qua rừng mà bà góa đã nói với anh. Anh đi chậm lại và lái chiếc Jeep vào đó. Chiếc xe xóc nảy suốt quãng đường. Anh bám chặt vào vô lăng, lái với tốc độ 15 kmh. Đêm đã buông xuống. Trăng lên. Những hàng cây đen sì nổi bật trên nền trời chỉ sáng hơn màu đen ấy một chút. Servaz đi thêm vài trăm mét nữa, căn nhà gỗ xuất hiện trước mắt.
Anh tắt máy, để lại đèn pha, bước ra ngoài. Màn đêm tĩnh lặng chỉ còn tiếng con suối gần đó. Anh nhìn ra xung quanh, nhưng không có một tia sáng nào trong phạm vi hàng dặm quanh đây.
Servaz đi tới ngôi nhà trong ánh sáng chói mắt của đèn pha đang chiếu lên những hàng cây. Cái bóng của anh hắt ra phía trước như một người khổng lồ bằng đêm đen đang dẫn đường. Anh trèo lên những bậc thềm dẫn lên hiên và lôi chùm chìa khóa ra. Quả thật có ba ổ khóa, ổ khóa ở trung tâm tương ứng với chiếc chìa lớn nhất, và hai cái nhỏ hơn để mở ổ khóa trên và dưới. Anh mất một lúc mới tra được chìa, đặc biệt là hai cái nhỏ cùng cỡ, và ổ khóa trên cùng được xoay ngược lại. Rồi anh đẩy mở cánh cửa, nó cưỡng lại trước khi đầu hàng với một tiếng kêu rên. Servaz dò dẫm tìm công tắc đèn gần cửa. Nó ở phía bên trái, anh bật đèn lên. Ánh sáng đổ xuống từ trần nhà.
Trong vài giây, anh đứng bất động trên ngưỡng cửa, chết sững trước cảnh tượng nhìn thấy.
Trong căn nhà gỗ không có gì khác ngoài một cái bàn bếp ở bên phải, với khoảng không giống một gian bếp nhỏ ở phía sau, chiếc ghế bành dựa vào vách trong cùng, một cái bàn gỗ và hai chiếc ghế đặt đối diện nhau. Nhưng trên tường bên trái treo một chiếc áo choàng đi mưa làm bằng vải chống thấm màu đen. Xem ra, càng lúc anh càng đến gần sự thật.
Espérandieu mở cửa sổ trò chuyện trực tuyến. Cậu đợi ba phút, rồi một tin nhắn đính kèm một icon hình con chó đang thích thú đánh hơi vọt lên ở góc dưới bên phải màn hình: kleim162 vừa đăng nhập.
Ba giây sau, một hộp thoại với cùng icon mở ra.
kleim162: Sao lại hứng thú với Éric Lombard?
vinceesp: Xin lỗi, hiện tại chưa thể nói cho anh được.
kleim162: Anh vừa tìm hiểu một chút trước khi đăng nhập. Có người đã giết con ngựa của anh ta. Thông tin được đăng trên vài tờ báo. Có liên quan không?
vinceesp: Miễn bàn.
kleim162: Vince, cậu ở trong tổ hình sự. Đừng có bảo anh là cậu đang phải điều tra cái chết của một con ngựa nhé!
vinceesp: Anh có giúp tôi hay không?
kleim162: Anh được gì nào?
vinceesp: Tình cảm bạn bè.
kleim162: Chúng ta sẽ nói chuyện ôm ấp lúc khác. Và ngoài ra thì sao?
vinceesp: Anh sẽ là người đầu tiên được nghe về diễn biến của cuộc điều tra.
kleim162: Như vậy là có một cuộc điều tra. Chỉ thế thôi sao?
vinceesp: Và sẽ là người đầu tiên được biết còn thứ gì quan trọng hơn ẩn giấu đằng sau hay không.
kleim162: Được, anh sẽ đi xem xem.
Espérandieu nở nụ cười rồi đăng xuất.
“Kleim162” là tên ảo của một nhà báo điều tra tự do cho vài tạp chí lớn. Một con chồn thực sự. Kẻ thích chõ mũi vào những nơi không được chào đón. Espérandieu gặp anh ta trong một tình huống khá hi hữu, và cậu chưa bao giờ nói về ‘mối quan hệ’ này với bất kì ai, ngay cả Servaz. Ngoài mặt, cậu cũng tỏ ra giống các thành viên khác trong đội, đề phòng báo giới. Nhưng quan điểm bí mật của cậu lại khác. Cũng như chính trị gia, một cảnh sát chỉ có thể thăng tiến, và thậm chí là thăng tiến đáng kể, khi có một hai nhà báo hậu thuẫn.
Ngồi sau tay lái, Servaz gọi vào số của Ziegler. Cuộc gọi chuyển vào hộp thư thoại. Anh cúp máy. Lại gọi cho Espérandieu.
“Tôi tìm thấy một tấm ảnh ở chỗ Grimm,” anh nói. “Tôi muốn cậu phục chế.”
Tổ điều tra có phần mềm xử lý hình ảnh, nhưng chỉ Espérandieu và Samira là biết sử dụng.
“Ảnh loại nào? Kĩ thuật số hay tín hiệu tương tự?”
“Giấy. Một bản cũ. Chụp một nhóm người. Một trong số đó là Grimm, và người nữa là Chaperon, thị trưởng Saint-Martin. Hình như cả bọn đều đeo cùng một chiếc nhẫn triện. Nó khá mờ, nhưng có gì đó khắc ở trên. Tôi muốn cậu tìm ra là gì.”
“Anh nghĩ có thể là một dạng câu lạc bộ, như Hội Phù luân hay Hội Tam điểm không?”
“Tôi không biết, nhưng…”
“… ngón áp út bị cắt,” trợ lý của anh đột nhiên nhớ ra.
“Chính xác.”
“Được rồi, anh có thể scan tấm ảnh đó và gửi cho em từ chỗ sen đầm không? Để em xem xem. Nhưng phần mềm của chúng ta chủ yếu dùng để xử lý ảnh kĩ thuật số. Với ảnh cũ được scan thì không hiệu quả lắm.”
Servaz cảm ơn cậu. Anh chuẩn bị lái xe đi thì điện thoại kêu. Là Ziegler.
“Anh gọi à?”
“Tôi tìm thấy một thứ,” anh nói luôn. “Trong căn nhà gỗ của Grimm.”
“Nhà gỗ?”
“Bà góa nói với tôi. Tôi tìm thấy chìa khóa ở bàn làm việc của Grimm. Rõ ràng, bà ta chưa bao giờ bước chân vào đó. Cô phải thấy nó…”
“Ý anh là gì?”
“Có một cái áo choàng, giống như cái trên thi thể Grimm. Và một đôi ủng. Muộn rồi, tôi chuẩn bị khóa cửa và đưa chìa khóa cho Maillard. Tôi muốn một đội khám nghiệm hiện trường lục soát chỗ này thật kĩ, ngay sáng ngày mai.”
Đầu dây bên kia im lặng. Bên ngoài, gió đang hú gào.
“Còn cô, điều tra đến đâu rồi?” Anh nói.
“Mấy cái đai thuộc loại phổ biến,” cô trả lời. “Sản xuất hàng loạt, phân phối đến toàn bộ phía Tây và Nam nước Pháp. Có số xê ri trên mỗi chiếc. Họ đang cố truy lại nhà sản xuất để tìm ra cửa hàng đã bán nó.”
Servaz ngừng lại một khắc để suy nghĩ. Ngay bên ngoài, dưới quầng sáng tỏa ra từ đèn pha, một con cú đậu lên một cành cây và đang quan sát anh. Servaz nghĩ tới ánh mắt của Hirtmann.
“Nếu tìm ra được cửa hàng đó, chúng ta có thể lấy được băng ghi hình,” anh nói.
Anh có thể cảm nhận được sự hoài nghi trong giọng Ziegler, “Ngay cả khi giữ lại băng, thì theo luật họ phải hủy chúng trong vòng một tháng. Điều đó có nghĩa là mấy cái đai phải được bán rất gần đây thì may ra…”
Servaz gần như chắc chắn kẻ giết Grimm phải chuẩn bị cho vụ này trước hàng tháng trời. Hắn có mua đai vào phút cuối không? Hay đã có sẵn từ đầu?
“Được rồi,” anh nói. “Hẹn gặp cô ngày mai.”
Servaz lái xe quay lại đường rừng để ra đường cái. Những đám mây đen trượt qua phía trước mặt trăng. Thung lũng chỉ còn những cái bóng tối thui. Bầu trời nhập vào làm một với dãy núi đen. Servaz dừng lại, nhìn trái phải, rồi lái ra đường cái.
Theo thói quen, anh nhìn gương chiếu hậu.
Trong một tích tắc, tim anh như ngừng đập. Một cặp đèn pha vừa bật lên phía sau anh… Một chiếc xe đỗ ở ven đường, trong bóng tối, không xa nơi anh vừa rời khỏi lối mòn. Qua gương chiếu hậu, anh thấy cặp đèn pha di chuyển khỏi khoảng đất rộng ven đường và bắt đầu đi theo anh. Dựa vào kích cỡ và chiều cao của chiếc xe, anh đoán là một con 4x4. Tóc gáy dựng đứng lên. Hiển nhiên chiếc 4x4 ở đó vì anh. Còn lý do nào nữa đây, ở nơi tận cùng cái thung lũng hoang vắng này? Anh thắc mắc ai là người ngồi sau tay lái. Lẽ nào là tay chân của Lombard? Nhưng tại sao? Nếu để mắt tới anh thì người của Lombard có lựa chọn xuất hiện kiểu này không?
Anh bắt đầu cảm thấy lo lắng.
Nhận ra mình đang siết vô lăng quá chặt, anh hít một hơi thật sâu. Bình tĩnh lại. Đừng hoảng loạn. Một chiếc xe đi theo mày, thế thì sao? Thế nhưng, một cảm giác gần như sợ hãi lại thắng thế khi anh chợt nghĩ rằng đó có thể là tên giết người. Bằng việc mở cánh cửa vào ngôi nhà gỗ đó, anh đã lởn vởn quá gần sự thật… Ai đó đã kết luận rằng anh đang gây cản trở. Servaz một lần nữa nhìn gương chiếu hậu. Anh vừa ra khỏi một khúc cua rộng, đèn pha của kẻ theo đuôi anh đã biến mất sau những hàng cây cao dọc đường.
Rồi anh lại thấy nó một lần nữa, và tim Servaz dường như nhảy ra khỏi lồng ngực khi một luồng sáng chói lòa chiếu thẳng vào xe anh. Sáng cực độ! Anh nhận ra người mình ướt đẫm mồ hôi. Anh bị lóa mắt, chẳng khác nào một con vật sập bẫy đèn pha, hệt như con cú lúc nãy. Tim anh đã vọt lên tận miệng.
Chiếc 4x4 giờ đã lại gần. Rất gần. Ngay sau anh. Luồng sáng dữ dội gần như thiêu đốt toàn bộ nội thất trong chiếc xe Jeep, làm nổi bật từng chi tiết trên bảng điều khiển.
Servaz đạp chân ga, nỗi sợ hãi tốc độ đã bị chế ngự bởi nỗi sợ hãi kẻ đang bám theo. Và kẻ đó để anh kéo giãn một khoảng. Anh cố thở sâu và đều, nhưng tim anh đang nhảy loạn lên như một con dê núi trong lồng ngực và mồ hôi chảy thành dòng trên mặt. Mỗi lần liếc nhìn gương chiếu hậu, ánh sáng trắng ở kính sau ô tô lại khiến anh lóa mắt, và anh chỉ thấy những điểm đen nhảy nhót.
Đột nhiên, chiếc 4x4 tăng tốc. Mẹ kiếp, thằng này điên rồi! Hắn sắp đâm vào mình!
Trước khi anh kịp làm gì, chiếc xe đen đã bắt kịp anh. Trong khoảnh khắc sợ hãi tột cùng, Servaz nghĩ chiếc xe kia sắp sửa hất văng xe anh ra khỏi đường. Nhưng nó chỉ tiếp tục tăng tốc, vượt qua xe anh trên con đường thẳng trải dài rồi phóng mất, ánh đèn hậu của nó nhanh chóng đi vào màn đêm. Servaz thấy cặp đèn hậu chớp nháy ngay trước khúc quanh tiếp theo, rồi chiếc xe biến mất. Anh đi chậm lại, lái sang vệ đường rồi đột ngột nhấn phanh. Nghiêng người lấy súng trong hộc đựng đồ, anh bước ra ngoài, hai chân lẩy bẩy. Không khí lạnh lẽo của buổi đêm thật dễ chịu. Anh muốn kiểm tra ổ đạn nhưng hai tay run rẩy đến nỗi phải mất đến vài giây mới thao tác xong.
Nhưng lời cảnh cáo rõ ràng như ban đêm trời phải tối. Ai đó trong thung lũng này không muốn cuộc điều tra của anh đi xa hơn. Ai đó không muốn anh tìm ra sự thật.
Nhưng là sự thật gì?
❀ ❀ ❀
[1] : Nhà văn nữ người Thụy Sĩ nối tiếng với các tác phẩm truyện dành cho trẻ em.
[2] : một trong những nhà thơ có ảnh hưởng lớn nhất ở Pháp vào thế kỷ XIX.
[3] : Nhà nguyện nổi tiếng với kiến trúc và trang trí của trần nhà đã được vẽ trên tường bởi các họa sĩ vĩ đại nhất thời Phục hưng, gồm Michelangelo, Raphael, Bernini, và Sandro Botticelli.