13
“Thiếu ôxy lên não,” Delmas nói, xát xà phòng khử trùng lên hai bàn tay và cẳng tay rồi xả sạch dưới vòi nước.
Bệnh viện Saint-Martin là một tòa nhà lớn xây bằng gạch đỏ đứng sừng sững giữa những thảm cỏ phủ tuyết. Lối vào nhà xác và phòng giải phẫu tử thi nằm cách xa cổng chính, ở cuối một con dốc bê tông. Các nhân viên bệnh viện gọi nơi này là ‘địa ngục’. Ba mươi phút trước, khi đến đây, nghe The Gutter Twins hát Idle Hands qua tai nghe, Espérandieu đã nhìn thấy một cỗ quan tài đang đợi sẵn trên giá kê, đặt sát bức tường sau viện. Trong sảnh, cậu bắt gặp bác sĩ Delmas, giám định viên pháp y từ Toulouse, và bác sĩ Cavalier, một bác sĩ phẫu thuật ở bệnh viện Saint-Martin khi họ đang mặc chiếc áo ngắn tay và tạp dề phòng hộ trắng nhựa. Delmas miêu tả cho Cavalier hiểu ra họ đã tìm thấy thi thể như thế nào. Espérandieu chuẩn bị thay đồ, cậu thảy một viên kẹo bạc hà vào miệng và lấy ra một hũ kem bôi chiết xuất từ cây long não.
“Cậu nên tránh dùng cái đó,” Delmas lập tức nói. “Nó gây ăn mòn rất nhanh.”
“Xin lỗi, bác sĩ, nhưng mũi tôi rất nhạy cảm,” Espérandieu trả lời, rồi đeo một chiếc khẩu trang phẫu thuật trùm qua mũi và miệng.
Kể từ khi tham gia tổ điều tra, Espérandieu đã vài lần bị điều đi dự khán khám nghiệm tử thi. Cậu biết luôn có một thời điểm, khi giám định viên pháp y mổ bụng và lấy mẫu nội tạng, gan, lá lách, tụy, ruột, mùi hôi thối sẽ bốc lên khắp phòng và bất cứ ai có khứu giác bình thường đều không thể nào chịu nổi.
Thi thể của Grimm đang đợi bọn họ trên một chiếc bàn giải phẫu hơi nghiêng, trang bị ổ cắm và ống dẫn. Chiếc bàn khá thô sơ so với những chiếc bàn rộng hiện đại mà Espérandieu đã thấy ở Bệnh viện Đại học Toulouse. Ngoài ra, xác nạn nhân được đỡ trên mấy thanh ngang bằng kim loại, để tránh bị ngập vào dịch thể tiết ra.
“Trước tiên, có vài dấu hiệu thường thấy của trạng thái ngạt cơ học…” Delmas vào đề luôn, uốn cái cần đèn chiếu lên cơ thể nạn nhân.
Ông ta chỉ vào đôi môi tím thâm của dược sĩ, rồi vào phần vành tai đã biến thành màu xanh tím, “… Màu ngả xanh của màng nhầy và da…”
Ông ta chỉ cho họ bên trong mi mắt của nạn nhân, “Sung huyết màng kết…”
Ông ta chỉ vào khuôn mặt trương phình, tím ngắt, “Nghẽn mạch sẽ gây ra màu tia tía này. Đáng tiếc, rất khó phát hiện các dấu hiệu khác dựa vào tình trạng của khuôn mặt.” Delmas nói với Cavalier khi ông này cảm thấy khó có thể nhìn vào đống bầy nhầy với hai con ngươi đang trợn trừng khỏi hốc mắt. “Có hiện tượng xuất huyết trên bề mặt phổi và tim. Các triệu chứng cổ điển. Chúng chỉ cho thấy đây là một hội chứng ngạt không điển hình. Hiển nhiên nạn nhân chết vì ngạt cơ học, nhưng phải rất lâu mới dẫn đến tình trạng đó. Tuy nhiên, những triệu chứng này không cung cấp thêm bất cứ thông tin nào về nguyên nhân cái chết.”
Delmas tháo kính ra để lau, rồi đeo trở lại. Ông không mang khẩu trang giải phẫu, người thoang thoáng mùi Eau de Cologne[1] và xà phòng khử trùng. Viên bác sĩ này có dáng người béo lùn với đôi má láng hồng và cặp mắt lồi to màu xanh dương.
“Kẻ gây án rõ ràng có hiểu biết nhất định về y học và giải phẫu,” ông ta tuyên bố. “Hắn đã chọn một cái chết kéo dài và đau đớn nhất có thể.”
Delmas chỉ ngón tay múp míp của mình vào cái rãnh do dây đai gây ra trên cổ nạn nhân.
Từ góc độ sinh lý bệnh học, có ba cơ chế gây tử vong trong việc treo cổ. Thứ nhất là mạch, tức là máu không lên được não do tắc nghẽn đồng thời cả hai động mạch cảnh. Hiện tượng đó xảy ra khi nút thắt nằm sau gáy, trực tiếp gây thiếu ôxy lên não, làm mất ý thức ngay lập tức, kéo theo tử vong nhanh chóng.” Ông ta nói thêm, “Tuyệt đối không nên cảnh báo với bất cứ ai định treo cổ tự tử về tầm quan trọng của việc quay nút thắt ra sau gáy.”
Espérandieu đã ngừng ghi chép. Như thường lệ, cậu rất khó tiếp thu khiếu hài hước của giám định viên pháp y. Về phần Cavalier, ông ta đúng nghĩa là đang nuốt từng lời của đồng nghiệp.
“Tiếp nữa là cơ chế thần kinh. Nếu thủ phạm đẩy dược sĩ ra khoảng không thay vì hạ dần anh ta xuống bằng cách chơi đùa với mấy cái đai buộc trên tay, thì cú giật đột ngột sẽ gây ra các thương tổn về hành não và hành tủy, hay chính là tổn thương phần não và tủy sống,” ông ta bổ sung cho Espérandieu, nhẹ nhàng nhấc xương sọ của Grimm lên. “Và cũng gây ra cái chết gần như ngay lập tức. Nhưng đó lại không phải cách thức hung thủ áp dụng…”
Đằng sau cặp kính, đôi mắt xanh của Delmas tìm kiếm ánh mắt Espérandieu.
“Ồ, không, chàng trai trẻ ạ! Hung thủ không làm như thế… Hung thủ của chúng ta là một tay thông minh. Hắn cẩn thận xoay nút thắt sang một bên. Như thế, hắn vẫn duy trì cho máu lên não qua ít nhất một trong hai động mạch cảnh, bên đối diện với nút thắt. Còn dây đai buộc vào cổ tay có tác dụng ngăn chặn mọi chấn thương đột ngột lên tủy sống. Hung thủ hiểu rất rõ mình muốn gì, tin tôi đi. Nạn nhân khốn khổ sẽ phải chịu một cái chết kéo dài và đau đớn.”
Ngón tay múp míp và sạch bong không tì vết của ông ta lần tới vết khía sâu trong cổ.
“Dù sao thì, chúng ta đang phải xử lý một ca treo cổ. Nhìn xem. Đường khía ở rất cao, ngay bên dưới góc hàm. Hơn nữa, nó không trọn vẹn, có nghĩa đây không phải trường hợp đã bị thắt cổ từ trước bằng dây thừng, vì nếu vậy thì chỉ để lại một vết lằn nông và đều khắp quanh cổ.” Ông ta nháy mắt với Espérandieu. “Cậu biết đấy. Anh chồng thắt cổ vợ bằng một sợi dây thừng, rồi cố làm cho chúng ta tin là cô ta tự treo cổ.”
“Ông đọc quá nhiều tiểu thuyết trinh thám rồi đấy, bác sĩ ạ,” Espérandieu nói.
Delmas cố nén cười, nghiêm túc trở lại như một vị giáo hoàng đến giờ ban phúc lành. Ông ta đưa ánh đèn xuống ngang tầm cái mũi bị xé vụn, khuôn mặt trương phình, và đôi mi mắt bị ghim của nạn nhân.
“Đây mới thực sự là cảnh tượng ghê tởm nhất mà tôi từng phải chứng kiến,” ông ta nói. “Có một cơn giận dữ và phẫn nộ ở đây, gần như quá sức chịu đựng.”
Tay bác sĩ tâm lý nhập bọn với họ. Anh ta ngồi ghế sau cùng với vị thẩm phán. Ziegler đang lái con 4x4[2] với sự thoải mái và tự tin của một tay đua địa hình. Servaz ngưỡng mộ cách cô lái xe. Cũng như anh ngưỡng mộ kĩ năng lái trực thăng của cô. Ở phía sau, vị thẩm phán nhờ Propp cung cấp thêm thông tin về Hirtmann, để rồi sửng sốt vì những gì nghe được, và cuối cùng nín lặng như những người còn lại. Bầu không khí nặng nề trong thung lũng chỉ làm tăng thêm cảm giác bất an.
Con đường uốn mình bên dưới bầu trời ảm đạm, lượn qua những cây lãnh sam cao tít ken dày đặc, với phần ngọn phủ đây tuyết. Xe ủi tuyết đã đi qua đó, để lại những đụn tuyết cao ở cả hai bên đường. Họ đi qua nông trang cuối cùng đang bị cầm tù trong cái lạnh, hàng rào bao quanh những cánh đồng gần như biến mất bên dưới lớp chăn tuyết, một cuộn khói bốc lên từ ống khói. Thế lực vô song của thinh lặng và mùa đông lạnh lẽo dường như ngự trị lên tất cả.
Trời đã ngừng đổ tuyết nhưng tuyết vẫn rất dày. Đi thêm một đoạn nữa, họ bắt kịp chiếc xe ủi tuyết và vượt qua nó. Chiếc đèn xoay trên đầu chiếc xe chiếu tia sáng màu cam vào những cây lãnh sam trắng. Con đường trở nên khó đi hơn.
Bọn họ lái xe qua một khung cảnh hùng vĩ đến sững sờ. Con suối uốn khúc vòng quanh những cánh rừng với lãnh sam cao vút mọc dày đặc. Những đầm lầy than bùn đóng băng trắng xóa. Phía trên là triền rừng xám xịt và hung dữ. Thung lũng dần dần thu hẹp. Rừng bao lấy toàn bộ con đường cũng như dòng suối. Ở các khúc quanh, mấy gốc sồi lớn nằm trơ trọi bên bờ kè đang xây dựng dở. Họ đi tới một khúc quanh nữa và thấy vài tòa nhà làm bằng gỗ và bê tông, với từng dãy cửa sổ ở các tầng trên và cửa sổ ngắm cảnh dưới tầng trệt. Một con đường mòn dẫn tới cây cầu gỉ sét bắc qua dòng suối. Tiếp đến là một đồng cỏ trắng xóa dẫn vào những tòa nhà. Servaz đọc cái biển han gỉ khi họ đi qua, TRẠI HÈ LES ISARDS. Những tòa nhà hư nát và cũ mòn. Chúng đã bị bỏ hoang.
Anh tự hỏi ai lại muốn cắm trại ở một nơi ảm đạm như thế. Mới vừa nghĩ đến việc nơi này nằm gần Viện, anh đã cảm thấy một luồng khí lạnh toát chạy dọc xương sống. Nhưng nhiều khả năng trại hè đã ngừng hoạt động từ lâu trước khi Viện Wargnier thành lập.
Thung lũng đẹp đến ngạt thở. Servaz sững sờ.
Một bầu không khí cổ tích.
Phải, chính là như thế, phiên bản dành cho người lớn của những câu chuyện cổ tích quý quái mà anh vẫn nhớ được từ thời thơ ấu. Ở cuối thung lũng và khu rừng trắng này, những con yêu tinh thực sự đang chờ đợi họ.
“Chào buổi sáng, tôi ngồi đây được không?”
Diane ngước lên, nhận ra người y tá đã bỏ đi đường đột và khiếm nhã ngày hôm trước. Tên anh ta là gì nhỉ? Alex, đang đứng cạnh bàn cô. Hiện tại căng tin khá đông đúc. Là sáng thứ Hai và tất cả nhân viên đều đến đây. Giờ nơi này toàn tiếng cười nói ồn ào.
“Dĩ nhiên,” cô hơi nghiến răng.
Cô ngồi một mình một bàn. Hiển nhiên không ai muốn mời cô ngồi cùng họ. Thỉnh thoảng cô lại bắt gặp những ánh mắt liếc về phía mình. Một lần nữa, cô thắc mắc không biết bác sĩ Xavier đã nói gì về cô.
“Ừm, tôi muốn xin lỗi vì ngày hôm trước,” Alex ngồi xuống. “Chắc hẳn tôi đã hơi đường đột. Tôi không biết tại sao. Xét cho cùng, cô có quyền hỏi những câu hỏi đó. Xin hãy chấp nhận lời xin lỗi của tôi.”
Cô chăm chú quan sát anh ta. Người này có vẻ ăn năn thực sự. Cô gật đầu dù không mấy thoải mái. Cô không muốn bàn đến chuyện đó nữa. Hay thậm chí là nghe anh ta xin lỗi cũng không.
“Không vấn đề gì. Tôi đã quên rồi.”
“Như thế càng tốt. Chắc cô nghĩ tôi rất vô lý.”
“Không hề. Những câu hỏi của tôi đúng là… không thích đáng lắm.”
“Đúng vậy,” anh ta cười. “Như thể cô chẳng bao giờ thiếu chuyện để hỏi.”
Anh ta cắn chiếc bánh sừng bò một cách ngon lành.
“Chuyện gì đã xảy ra dưới thung lũng hôm qua thế?” Cô đổi chủ đề. “Tôi tình cờ nghe được vài cuộc nói chuyện, hình như xảy ra vụ gì đó kinh khủng lẳm.”
“Người ta tìm thấy thi thể một người đàn ông, một dược sĩ ở Saint-Martin.”
“Ông ta chết thế nào?”
“Họ thấy ông ta treo lủng lẳng dưới một cây cầu.”
“Ồ! Ra thế…”
“Ừm,” Alex ậm ừ, miệng nhồm nhoàm đầy bánh.
“Một cách kết thúc cuộc đời thật tồi tệ!”
Anh ta ngước lên và nuốt miếng bánh đang nhai. “Không phải tự tử.”
“Không phải?”
Anh ta nhìn sâu vào mắt cô, “Giết người.”
Cô không biết có phải Alex đang đùa không. Cô cười cười, săm soi biểu cảm của anh ta. Có vẻ không phải. Nụ cười của cô biến mất. Một cơn ớn lạnh chạy giữa hai xương bả vai.
“Thật kinh khủng! Họ chắc chắn không?”
“Chắc,” anh ta nói, hơi ngả về phía cô để không phải cao giọng mà cô vẫn nghe thấy, dù không gian xung quanh khá ồn ào. “Và đó chưa phải là tất cả…”
Alex chúi lại gần hơn. Hơi gần quá. Diane nhích ra, cô không muốn trở thành nguồn cơn của mấy chuyện đồn thổi khi mới chỉ chân ướt chân ráo đến đây.
“Theo những gì tôi nghe được, ông ta hoàn toàn khỏa thân, trừ một cái áo choàng và một đôi ủng. Và ông ta đã bị đánh đập, hành hạ. Rico tìm thấy ông ta. Cậu ta là một tác giả chuyên sáng tác tiểu thuyết đồ họa và thường chạy mỗi buổi sáng.”
Diane tiêu hóa tin tức đó trong im lặng. Một vụ án mạng trong thung lũng, một tội ác điên cuồng, chỉ cách Viện có vài kilomet…
“Tôi biết cô đang nghĩ gì,” anh ta nói.
“Ồ, thật sao?”
“Cô đang nghĩ, đó là một tội ác điên cuồng, và nơi này thì đầy những tên sát nhân điên cuồng.”
“Phải.”
“Ra khỏi đây là điều bất khả.”
“Thật sao?”
“Phải.”
“Chưa ai từng trốn thoát ư?”
“Chưa.” Anh ta nuốt một miếng nữa. “Dù sao thì điểm danh không thiếu bất cứ ai.”
Cô hớp một ngụm cappuccino và lau sôcôla trên miệng bằng một tờ giấy ăn.
“Ồ, vậy thì tôi cảm thấy yên tâm hơn rồi,” cô nói đùa.
Lần này, Alex bật ra một tiếng cười sảng khoái. “Phải, tôi biết kể cả nếu không có chuyện gì xảy ra, riêng việc cô là lính mới ở đây đã đủ phiền muộn rồi. Thế mà giờ còn có sự việc kinh khủng thế này nữa… Không phải một thông tin có thể giúp cô giảm căng thẳng, đúng không? Tôi rất tiếc vì đã đem tin dữ đến cho cô.”
“Chỉ cần anh không phải là hung thủ là được.”
Anh ta cười to hơn, đến mức vài người quay ra nhìn. “Đây có phải sự hóm hỉnh của người Thụy Sĩ không? Tôi rất thích đấy!”
Diane mỉm cười. Giữa điệu bộ tức tối bỏ đi hôm trước và tâm trạng vui vẻ của hôm nay, cô không biết đâu mới là con người thật của Alex. Nhưng nhìn chung, anh ta có vẻ dễ ưa. Cô hất hàm về phía những người xung quanh.
“Tôi đã hy vọng bác sĩ Xavier giới thiệu tôi với các cán bộ nhân viên ở đây. Nhưng cho đến giờ, anh ta không hề làm việc đó. Sẽ không dễ để hòa nhập nếu không ai chịu chìa tay ra trước.”
Alex chăm chú nhìn cô bằng ánh mắt thân thiện và chậm rãi gật đầu. “Tôi hiểu. Nghe này, tôi đề nghị thế này. Tôi không thể làm gì vào sáng nay, tôi có một cuộc họp chuyên môn với nhóm điều trị. Nhưng tôi sẽ đưa cô đi một vòng và giới thiệu cô với những người còn lại trong nhóm.”
“Cảm ơn lòng tốt của anh.”
“Chuyện thường thôi mà. Tôi không hiểu nổi tại sao Xavier hay Lisa lại không làm việc đó.”
Câu hỏi hay lắm, cô nghĩ thầm.
Giám định viên pháp y và bác sĩ Cavalier đang cắt một trong hai chiếc ủng ra với sự hỗ trợ của kìm cắt xương chuyên để giải phẫu tử thi và một cái móc banh vết mổ sắc bén.
“Có thể thấy, đôi ủng này không phải của nạn nhân,” Delmas tuyên bố. “Nhỏ hơn ít nhất ba cỡ. Thủ phạm đã cố nhét vào. Tôi không biết người đàn ông khốn khổ này đã phải đeo nó bao lâu, nhưng hẳn là rất đau đớn. Mặc dù không tệ bằng những việc tiếp theo hung thủ đã làm.”
Espérandieu nhìn ông ta, sổ ghi chép vẫn cầm trong tay.
“Sao hắn lại bắt ông ta đi ủng quá nhỏ so với chân nhỉ?” Cậu hỏi.
“Đó là điều cậu phải tìm ra. Có thể chỉ đơn giản là muốn anh ta đi ủng mà không có sẵn cái gì khác.”
“Nhưng tại sao lại lột hết quần áo, tháo giày của ông ta, rồi đi ủng nữa?”
Giám định viên pháp y nhún vai và quay lưng đi để đặt chiếc ủng bị cắt lên bàn phẫu thuật. Ông ta cầm một chiếc kính lúp và một cái kìm rồi cẩn thận gỡ bỏ những hạt sỏi li ti và những mẩu thủy tinh kẹt lại trong lớp bùn và cao su. Ông ta bỏ mẫu phẩm vào một loạt ống nghiệm hình trụ nhỏ. Rồi ông lại nhặt cái ủng lên, rõ ràng đang phân vân chọn giữa một cái túi rác màu đen và một túi giấy lớn màu nâu. Cuối cùng, ông ta chọn túi giấy. Espérandieu nghi ngờ nhìn ông ta.
“Tại sao tôi lại chọn túi giấy mà không phải cái kia? Vì bùn bám trên ủng trông thì có vẻ đã khô, những chắc hẳn vẫn còn ẩm. Tang vật ướt không bao giờ được phép bảo quản trong túi ni lông, độ ẩm có thể hình thành nấm mốc và hủy hoại nghiêm trọng những bằng chứng sinh học trong đó.”
Delmas đi vòng qua bàn phẫu thuật. Ông ta tiến lại gần ngón tay bị cắt và săm soi bằng cái kính lúp trong tay.
“Bị cắt bởi một dụng cụ sắc, gỉ. Kìm hoặc kéo cắt cây chẳng hạn. Và khi nạn nhân vẫn còn sống. Đưa tôi mấy cái kìm kia và một cái túi,” ông ta nói với Espérandieu.
Espérandieu làm theo. Delmas dán nhãn chiếc túi, ném những mảnh vụn cuối cùng vào một trong những cái thùng đang xếp dựa vào tường, sao đó tháo găng tay ra với một tiếng rột lớn.
“Chúng ta xong rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa, Grimm chết do ngạt cơ học. Nói cách khác là treo cổ. Tôi sẽ chuyển những mẫu phẩm này đến phòng thí nghiệm của sen đầm ở Rosny-sous-Bois, như đại úy Ziegler đã yêu cầu.”
“Theo phán đoán của ông, liệu có xảy ra khả năng hai tên cục súc nào đó đứng đằng sau toàn bộ tội ác ghê tởm này không?”
Giám định viên pháp y nhìn Espérandieu chằm chằm.
“Tôi không thích đoán mò,” ông ta nói. “Tôi làm việc dựa trên các cơ sở thực tế. Suy luận là sở trường của cậu. Hai tên cục súc nào?”
“Hai gã bảo vệ. Những kẻ đã từng bị kết án vì tội hành hung và buôn lậu mấy thứ lặt vặt. Bộ não ngu si không có trí tưởng tượng, với điện não đồ gần như phẳng lì và một cái bể tràn trề hoóc môn nam.”
“Nếu bọn chúng đúng như cậu mô tả, tôi sẽ nói là khả năng xảy ra việc đó cũng tương đương với việc tất cả những thằng đần to xác ở đất nước này đột nhiên hiểu ra ô tô còn nguy hiểm hơn súng cầm tay. Nhưng tôi nhắc lại một lần nữa, kết luận đưa ra phụ thuộc vào cậu.”
Tuyết lại rơi dày và họ cảm thấy như đang đi vào một chiếc bánh kem khổng lồ. Như thể chỉ cần vẩy đũa thần một cái, thần mùa đông đã biến thảm thực vật dày dặc che khuất đoạn cuối thung lũng thành một động bàn tơ dệt từ băng tuyết. Nó khiến Servaz liên tưởng đến dải san hô bằng băng dưới tận cùng đáy biển. Con suối chảy giữa hai bờ kè đắp bằng tuyết.
Con đường dẫn sâu vào bên trong núi đá, được che chở băng hàng rào chắn vững chãi và uốn lượn theo những đường viền quanh núi, hẹp đến nỗi Servaz tự hỏi họ sẽ làm gì nếu gặp một chiếc xe tải đi ngược chiều.
Khi họ ra khỏi đường hầm không biết thứ bao nhiêu, Ziegler đi chậm lại và tấp vào lề bên kia, nơi bức tường phòng hộ tạo thành một cái ban công chìa ra đám cây cỏ đóng băng.
“Chuyện gì thế?” Confiant hỏi.
Ziegler không đáp, chỉ mở cửa và đi ra ngoài. Cô đi ra sát tường, ba người còn lại liền làm theo.
“Xem kìa,” cô nói.
Họ hướng ánh mắt về phía cô chỉ và thấy những tòa nhà ở đằng xa.
“Ối! Ghê quá,” Propp la lên. “Trông như một nhà tù thời Trung cố ấy.”
Phần thung lũng mà họ đang đứng vẫn chìm trong bóng xanh của ngọn núi, trong khi những tòa nhà phía trên cao đã tắm mình trong ánh vàng buổi sáng, tuôn ra từ những chóp núi như một dòng sông băng. Nơi đó vô cùng hoang dã và cô độc, nhưng đẹp đến mức Servaz không thốt nên lời. Vẫn là kiểu kiến trúc Cyclopean mà anh đã thấy ở nhà máy điện. Anh tự hỏi những tòa nhà này đã được sử dụng với mục đích gì trước khi Viện Wargnier tiếp quản chúng. Hiển nhiên, chúng cũng xuất hiện cùng thời với nhà máy điện và cơ sở ngầm của nó. Thời kì huy hoàng! Khi những bức tường và các công trình được xây dựng để có thể tồn tại qua hàng thế kỉ. Khi người ta cố gắng làm tốt công việc của mình hơn là chỉ nghĩ tới lợi ích trước mắt. Khi một công ty được đánh giá qua những đóng góp của nó hơn là tiềm lực tài chính.
“Tôi thấy càng lúc càng khó tin rằng, ai đó có thể trốn thoát khỏi nơi này lại muốn quay trở lại,” tay bác sĩ tâm lý lên tiếng.
Servaz quay sang anh ta, cũng có cùng ý nghĩ. Anh nhìn về phía Confiant và thấy cậu đang nói chuyện điện thoại cách đó vài mét. Servaz tự hỏi cậu ta thấy cần phải gọi điện cho ai vào thời điểm này.
Vị thẩm phán trẻ tuổi gập điện thoại lại và đi qua chỗ họ.
“Đi thôi,” cậu ta nói.
Chạy thêm một kilomet, sau một đường hầm nữa, họ rời khỏi con đường trong thung lũng, vào một lối còn hẹp hơn, băng qua dòng suối trước khi hướng lên con dốc, xuyên giữa đám cây đầu tiên. Bên dưới lớp tuyết dày, khó mà phân định được những ngã rẽ, nhưng vài chiếc xe đã để lại vết lốp. Servaz đếm đến mười rồi thôi. Anh thắc mắc liệu con đường còn dẫn tới đâu ngoài Viện. Sau 2 kilomet tiếp theo, anh đã có câu trả lời. Những tòa nhà hiện ra trước mắt, con đường không chạy xa hơn nữa.
Họ sập cửa và một lần nữa chìm trong thinh lặng. Như thể bị kẹp trong nỗi sợ hãi nào đó, cứ thế nhìn ra xung quanh. Trời rất lạnh, Servaz rụt sâu hơn vào áo khoác.
Được xây dựng trên phần bằng phẳng nhất của con dốc, Viện bao quát toàn bộ khu vực phía trên của thung lũng. Những ô cửa sổ hẹp trông ra dãy núi đối diện con đường, với triền rừng bát ngát. Tít trên đỉnh là những vách đá cao đến chóng mặt phủ toàn đá và tuyết.
Rồi anh thấy, cách đó vài trăm mét, trên triền núi, những viên sen đầm mặc áo choàng đang vừa nói vào bộ đàm vừa quan sát bọn họ qua ống nhòm.
Một người đàn ông nhỏ thó mặc áo blu trắng lao ra khỏi Viện, bước đến gặp họ. Servaz ngạc nhiên liếc nhìn những người đồng hành. Confiant lộ vẻ áy náy.
“Là tôi đã báo với bác sĩ Xavier,” vị thẩm phán điều tra giải thích. “Anh ta là một người bạn của tôi.”
❀ ❀ ❀
[1] : Loại bình dân nhất trong phân loại nước hoa, có lượng tinh dầu ít nhất.
[2] : Còn gọi là xe hai cầu, bốn bánh chủ động, thích hợp cho các dạng địa hình phức tạp, hiểm trở.