6
Servaz giật mình tỉnh giấc vì tiếng điện thoại. Anh nhìn giờ trên đồng hồ của chiếc radio. 8:37. Chết tiệt! Anh không nghe thấy tiếng chuông báo thức, đáng ra anh nên nhờ bà chủ khách sạn gọi mình dậy. Irène Ziegler sẽ đến đây trong vòng hai mươi phút nữa. Anh vớ lấy điện thoại.
“Servaz nghe.”
“Trên đấy thế nào rồi?”
Giọng của Espérandieu… Như thường lệ, trợ lý của anh đã đến văn phòng sớm nhất. Servaz hình dung cậu ta đang đọc một cuốn truyện tranh Nhật Bản hoặc thử những phần mềm ứng dụng mới nhất cho cảnh sát, diện chiếc áo chui đầu thiết kế hợp thời mà vợ cậu chọn cho, và một lọn tóc rủ xuống lông mày.
“Khó nói,” anh đáp và đi về phía nhà tắm. “Chỉ có thể nói là không giống tất cả những gì chúng ta từng biết.”
“Chết tiệt, giá mà em được thấy.”
“Cậu sẽ được xem đoạn băng.”
“Trông cái xác thế nào?”
“Một con ngựa bị treo trên trụ tháp của cáp treo, ở độ cao 2.000 mét,” Servaz trả lời, điều chỉnh nhiệt độ nước tắm bằng bàn tay không cầm điện thoại.
Một thoáng im lặng.
“Một con ngựa? Trên đỉnh cáp treo?”
“Phải.”
Im lặng kéo dài.
“Mẹ kiếp,” Espérandieu thô lỗ nói, vừa hớp cái gì đó bên cạnh ống nghe.
Servaz dám cá đó là một thứ nước sủi bọt, chứ không phải cà phê đơn thuần. Espérandieu là chuyên gia về phân tử. Phân tử để đánh thức vào buổi sáng, phân tử để đi ngủ, để ghi nhớ, tiếp thêm năng lượng, chống ho, cảm lạnh, đau đầu và nôn nao trong bụng… Điều phi thường nhất là, Espérandieu không phải một tay cớm già nào đó sắp về hưu, mà là một trinh sát trẻ thuộc tổ điều tra hình sự chỉ vừa mới bước sang tuổi ba mươi. Cực kì khỏe mạnh. Cậu chạy dọc dòng Garonne ba lần một tuần. Tuyệt đối không gặp vấn đề gì với chỉ số cholesterol hay triglyceride. Nhưng cậu hay tưởng tượng ra một đám ma quỷ, mà vài kẻ trong số đó, rốt cuộc đã hóa thành thật.
“Khi nào anh trở lại? Bọn em cần anh ở đây. Bọn trẻ đang tố cáo cảnh sát đánh đập chúng. Luật sư của chúng nói rằng bà lão say rượu,” Espérandieu tiếp tục. “Và rằng lời khai của bà là vô giá trị. Ông ta yêu cầu thẩm phán thả đứa lớn nhất ngay lập tức. Hai đứa còn lại đã về nhà.”
Servaz cân nhắc thông tin trong giây lát. “Còn dấu vân tay?”
“Phải đợi đến mai.”
“Gọi cho phó công tố. Bảo anh ta kéo dài thời hạn đối với đứa lớn nhất. Ta biết chính chúng là thủ phạm. Dấu vân tay sẽ ‘lên tiếng’. Bảo anh ta nói chuyện với thẩm phán. Và giục phòng thí nghiệm khẩn trương lên.”
Anh dập máy. Giờ đã tỉnh như sáo. Ngay sau khi ra khỏi nhà tắm, anh nhanh chóng lau khô người và mặc quần áo. Anh vừa đánh răng vừa nhìn mình qua tấm gương trên bồn rửa mặt và nghĩ về Irène Ziegler. Anh ngạc nhiên khi thấy mình mất nhiều thời gian hơn bình thường để ngắm nghía khuôn mặt, tự hỏi mình nên trưng ra hình ảnh nào với cô sen đầm ấy. Một gã trai vẫn còn trẻ, trông không tệ, nhưng hoàn toàn kiệt quệ vì mệt mỏi? Một tên cớm ngoan cố, nhưng được việc? Một người đàn ông đã ly hôn hiện rõ nỗi cô đơn cả trên nét mặt và mớ áo xống? Nếu phải miêu tả chính mình, anh sẽ trông thấy những gì? Hai quầng thâm dưới mắt rõ mồn một, nếp nhăn quanh miệng và một đường thẳng đứng giữa hai chân mày. Trông anh như thể vừa ra khỏi lồng quay máy giặt. Tuy vậy, anh vẫn tin chắc, dù nom mình có bệ rạc đến đâu, khuôn mặt anh vẫn toát lên nét gì đó trẻ trung và nồng nhiệt. Lạy Chúa lòng lành! Đột nhiên anh bị làm sao vậy? Cái cách anh vừa tự nhủ thầm thật chẳng khác nào một thiếu niên mới trổ giò. Anh nhún vai và đi ra ngoài ban công. Khách sạn Russell nằm ở khu trên cao của Saint-Martin, và căn phòng của anh nhìn ra những mái nhà của thị trấn. Đặt tay trên thành lan can, anh quan sát bóng tối rút dần khỏi những con phố hẹp, nhường chỗ cho bình minh rực rỡ. 9 giờ sáng, bầu trời phía trên dãy núi sáng ngời và trong suốt như một mái vòm pha lê. Phía trên, ở độ cao 2.500 mét, những dòng sông băng như thể hiện ra từ bóng tối, lấp lánh trong nắng, ngay cả khi mặt trời còn chưa ló dạng. Thẳng trước mặt là ngôi làng cổ, di tích lịch sử của thị trấn. Những khu chung cư nằm ở bên trái, cạnh dòng sông. Phía bên kia lưu vực rộng lớn, cách đây chừng 2 kilomet là vùng rừng cao ngất uốn lượn như một vạt sóng với vết sẹo ở giữa do tuyến cáp treo du lịch tạo thành. Phóng tầm mắt ra xa, Servaz có thể thấy những bóng người lướt qua mấy con phố nhỏ ở trung tâm thị trấn để tới chỗ làm. Đèn pha sáng rực của xe tải giao hàng, những thiếu niên ngồi trên xe máy nổ bình bịch trên đường đến trường. Chủ cửa hàng đang cuốn cửa sắt lên. Servaz rùng mình. Không phải vì trời lạnh, mà bởi anh vừa nhớ lại hình ảnh con ngựa bị treo trên kia, cùng với một hoặc một vài kẻ đứng sau tội ác đó.
Anh nhoài người ra ngoài lan can. Ziegler đang đợi dưới nhà, dựa vào chiếc Peugeot. Cô đã thay bộ đồng phục thành chiếc áo len cổ lọ và áo vét da. Cô đang hút thuốc, một chiếc túi vắt qua vai.
Servaz xuống gặp cô và mời cô vào uống cà phê. Anh đang đói nên muốn ăn gì đó trước khi lên đường. Kiểm tra đồng hồ, cô nhăn mặt, nhưng cuối cùng vẫn rời chiếc xe, theo anh vào trong. Khách sạn Russell có từ thập niên 1930, phòng ốc không đủ ấm, những dãy hành lang dường như dài vô tận và u ám. Nhưng phòng ăn, với một khoảng hiên rộng cùng những chiếc bàn bày lọ hoa xinh xắn, lại vô cùng hấp dẫn và ấn tượng. Servaz ngồi xuống chiếc bàn gần cửa sổ lớn và gọi một cốc cà phê đen cùng bánh mì bơ, còn Ziegler gọi nước cam tươi. Ở bàn bên cạnh là mấy người Tây Ban Nha, những vị khách du lịch đầu tiên của mùa này, đang nói chuyện ầm ĩ.
Khi quay đầu lại, một chi tiết khiến anh chú ý, Irène Ziegler không chỉ cởi bỏ đồng phục, sáng nay cô còn kẹp một chiếc khuyên xinh xắn vào cánh mũi bên trái và nó sáng lóa lên dưới ánh nắng chiếu từ cửa sổ. Đây là loại trang sức mà anh tin chỉ có thể xuất hiện trên người con gái anh, chứ không phải một đại úy sen đầm. Thời đại đã đổi thay, anh nghĩ.
“Cô ngủ ngon không?”
“Không. Cuối cùng tôi phải uống nửa viên thuốc ngủ. Còn anh?”
“Tôi không nghe thấy tiếng báo thức. Ít nhất khách sạn cũng yên tĩnh, hầu hết khách du lịch vẫn chưa đến.”
“Phải hai tuần nữa họ mới đến. Thời điểm này của năm lúc nào cũng yên tĩnh.”
“Cái cáp treo du lịch đó là của khu nghỉ dưỡng trượt tuyết à?” Servaz chỉ về tuyến cáp đôi trên những ngọn núi.
“Phải, Saint-Martin 2000. Còn một khu nghỉ dưỡng nữa ở Peyragudes, cách đây 15 kilomet. Anh có thích trượt tuyết không?”
Một nụ cười mỉa mai hiện lên trên gương mặt Servaz.
“Lần cuối cùng tôi xỏ giày trượt tuyết là hồi 14 tuổi. Không phải kỉ niệm đẹp đẽ gì. Tôi không có… tinh thần thể thao lắm.”
“Nhưng trông anh rất khỏe khoắn,” Ziegler cười nói.
“Cô cũng vậy.”
Lạ lùng thay, cô gái đỏ mặt. Câu chuyện ngượng ngập. Tối qua họ là hai điều tra viên trong một vụ án, trao đổi các quan điểm chuyên môn. Sáng nay họ lại đang ngại ngùng cố gắng làm quen.
“Tôi hỏi anh một câu được không?”
Anh gật đầu.
“Hôm qua anh yêu cầu tìm hiểu kĩ hơn về ba người công nhân. Tại sao vậy?”
Người bồi bàn mang đồ ăn ra, nom già cả và buồn bã chẳng khác gì cái khách sạn. Servaz đợi đến lúc ông ta đi khỏi mới kể về cuộc nói chuyện với năm người đàn ông.
“Cái lão Tarrieu đó để lại ấn tượng thế nào với anh?”
Servaz hồi tưởng khuôn mặt bành bạnh và ánh mắt lạnh lẽo. “Một người đàn ông thông minh, nhưng giận dữ.”
“Thông minh? Thú vị thật đấy.”
“Tại sao?”
“Toàn bộ vụ dàn xếp kinh hoàng này… sự điên rồ… Tôi nghĩ dù ai làm việc đó, hắn không những điên rồ mà còn thông minh. Cực kì thông minh.”
“Nếu vậy chúng ta có thể loại trừ hai gã bảo vệ,” anh nói.
“Có lẽ. Nếu một trong số bọn họ không giả vờ.”
Cô lấy laptop ra khỏi túi và mở trên bàn, giữa cốc nước cam và cốc cà phê của Servaz. Suy nghĩ khi nãy lại thoáng hiện lên. Thời đại đang thay đổi, một thế hệ điều tra viên mới đang dần kế tục. Cô có thể thiếu kinh nghiệm nhưng cô vẫn tương thích với thời đại của mình, và dù gì, kinh nghiệm là thứ có thể tích lũy.
Cô gõ gì đó và anh tranh thủ ngắm nhìn cô. Cô rất khác so với ngày hôm qua, trong lần gặp đầu tiên với bộ cảnh phục. Anh chăm chú quan sát hình xăm nhỏ trên cổ cô, chữ Hán lộ ra ngay bên trên cổ áo. Anh nghĩ đến Margot. Hình xăm kiểu này là sao? Và cả khuyên mũi. Anh có nên gắn thêm ý nghĩa nào đó cho chúng hay không? Ziegler có một hình xăm và một cái khuyên mũi. Có lẽ cô còn đeo trang sức ở những nơi khác nữa, rốn, hay thậm chí ngay núm vú hoặc chỗ kín, anh đã đọc được điều này ở đâu đó. Ý nghĩ ấy khiến anh băn khoăn. Điều đó có thay đổi cách cô suy nghĩ hay không? Anh bỗng nhiên tò mò muốn biết về đời tư của người phụ nữ này. Dù vậy, anh cũng tự ý thức được rằng cuộc sống riêng của mình mấy năm qua đã thoái hóa chẳng khác nào sa mạc. Anh gạt ý nghĩ đó sang một bên.
“Tại sao lại là sen đầm?” Anh hỏi.
Cô ngước lên, ngập ngừng trong thoáng chốc. “À, ý anh là tại sao tôi lại vào lực lượng sen đầm?”
Anh gật đầu, không rời mắt khỏi cô. Viên đại úy mỉm cười, “Công việc ổn định, tôi nghĩ thế. Và không phải làm những việc mà ai cũng làm.”
“Việc gì?”
“Trước đây ở trường đại học, tôi học ngành xã hội. Tôi chơi với một nhóm bạn có tư tưởng rất tự do. Tôi thậm chí còn từng sống trong một khu nhà chiếm dụng bất hợp pháp. Cớm, sen đầm, họ là kẻ thù. Rặt một lũ phát xít, chó giữ cửa cho bọn cầm quyền, tiền đồn của chủ nghĩa phản động. Cớm là những kẻ bảo hộ cho sự an yên sung túc của tầng lớp tư sản và đàn áp những người di dân, vô gia cư, hoặc những kẻ không gặp thời vận… Bố tôi là sen đầm, tôi biết ông không như thế. Nhưng tôi vẫn nghĩ những người bạn đại học của tôi đã đúng và bố tôi là trường hợp cá biệt, chỉ thế thôi. Sau khi tốt nghiệp đại học, tôi thấy những người bạn ‘cách mạng’ của mình trở thành bác sĩ, công chứng viên, nhân viên ngân hàng hay quản lý nhân sự, nói ngày một nhiều về tiền bạc, đầu tư, tỷ suất lợi nhuận và tất cả những cái đó, tôi bắt đầu tự vấn bản thân. Vì lúc đó tôi đang thất nghiệp, nên rốt cuộc tôi đã tham gia thi tuyển.”
Chỉ đơn giản là vậy, anh nghĩ.
“Servaz, không phải tên của người vùng này,” cô nói.
“Ziegler cũng vậy.”
“Tôi sinh ra ở Lingolsheim, không xa Strasbourg.”
Anh đang định đáp lại thì điện thoại của Ziegler bắt đầu rung. Cô ra dấu xin lỗi và trả lời. Anh thấy cô nhíu mày. Cô tắt điện thoại và chằm chằm nhìn anh.
“Là Marchand. Ông ta đã tìm thấy đầu con ngựa.”
“Ở đâu?”
“Ở trường luyện ngựa.”
Họ đi khỏi Saint-Martin bằng con đường khác với con đường mà anh đã đến. Chiếc xe đi bên rìa thị trấn, qua trụ sở của sen đầm. Gần đây, lực lượng này được triệu tập ngày một thường xuyên để giám sát việc truyền thông đưa tin về các loại hình thể thao mạo hiểm.
Đi thẳng thêm 3 kilomet nữa, họ rời khỏi đường cái để đi vào một nhánh đường phụ. Giờ xe đang băng qua một đồng bằng rộng lớn, bốn bề là núi. Vẫn còn một quãng đường khá dài phía trước. Servaz cảm thấy anh có thể rảnh rang hít thở một chút. Không lâu sau, hai bên đường bắt đầu xuất hiện hàng rào. Mặt trời chói chang, rực rỡ trên tuyết.
“Đây là điền trang của gia đình Lombard,” Irène Ziegler thông báo.
Cô lái nhanh, mặc kệ xe xóc nảy. Họ đến một giao lộ với lối mòn dẫn vào rừng. Hai người cưỡi ngựa, đội mũ bảo hiểm nhìn họ đi qua, một nam một nữ. Ngựa cưỡi của họ cũng có bộ lông màu đen và nâu đỏ giống như con đã chết. Ngựa hồng, Servaz nhớ lại. Xa hơn chút nữa có một tấm biển đề TRƯỜNG LUYỆN NGỰA chỉ họ rẽ trái.
Khu rừng lùi dần về sau.
Họ đi qua vài dãy nhà thấp trông giống như kho thóc. Những hàng rào lớn quây thành hình chữ nhật, rải rác vài chướng ngại bên trong. Một dãy những gian nhốt ngựa dài và thấp. Bãi cỏ cùng một tòa nhà bề thế hơn, có vẻ là một sân cưỡi ngựa trong nhà. Một chiếc xe tải của sen đầm đang đỗ bên ngoài.
“Một nơi xinh đẹp,” Ziegler nhận xét, rồi trèo ra khỏi xe. Cô đảo mắt nhìn quanh khu rào quây. “Hai trường luyện ngựa ngoài trời, một để biểu diễn nhảy ngựa và một để dạy ngựa, một đường đua việt dã. Còn nữa, ở phía sau đằng kia, một đường phi nước đại.”
Một viên sen đầm đến gặp họ. Servaz và Ziegler đi theo anh ta. Họ được chào đón bởi những tiếng ngựa hí hoảng sợ và tiếng móng ngựa gõ dồn trên đất, như thể bọn chúng biết có chuyện gì đó đang xảy ra. Servaz toát mồ hôi lạnh. Hồi trẻ anh đã thử cưỡi ngựa. Một thất bại cay đắng. Ngựa làm anh sợ. Cả tốc độ, độ cao, hay ngay cả những đám đông lớn cũng khiến anh hoảng sợ. Khi tới cuối khu chuồng, họ thấy một dải băng vàng LỰC LƯỢNG SEN ĐẦM QUỐC GIA chăng dọc một bên tòa nhà, cách bức tường gần 2 mét. Họ phải giẫm lên tuyết để vòng qua. Marchand và Maillard đang đợi họ ở phía sau với hai viên sen đầm khác. Họ đứng bên ngoài dải băng. Dưới bóng bức tường gạch là một đống tuyết lớn. Servaz chăm chú nhìn nó trong chốc lát trước khi nhận thấy mấy điểm màu nâu. Anh rùng mình phát hiện ra hai trong số ấy là một đôi tai ngựa, và điểm thứ ba là mi dưới của đôi mắt đang nhắm lại. Maillard và người của anh ta đã làm rất tốt. Ngay khi tìm ra, họ liền quây khu vực xung quanh lại và đứng cách xa đống tuyết. Tuyết chắc chắn đã bị xáo trộn trước khi họ đến bởi dấu chân của người đầu tiên tìm thấy đầu ngựa, nhưng họ vẫn cố giữ nguyên hiện trường. Giám định viên chưa tới. Không ai được phép vào khu vực đó cho đến khi họ xong việc.
“Ai tìm thấy nó?” Ziegler hỏi.
“Là tôi,” Marchand nói. “Sáng nay, khi đi dạo qua các gian thả, tôi để ý thấy dấu chân trên tuyết xung quanh tòa nhà. Tôi lần theo chúng và bắt gặp cái đống này. Tôi lập tức biết nó là cái gì.”
“Ông lần theo chúng?” Ziegler hỏi.
“Phải. Nhưng dựa vào tình huống hiện tại, tôi nghĩ ngay đến các vị, thế nên tôi cẩn thận không giẫm lên và giữ khoảng cách với chỗ đó.”
Servaz bỗng nhiên tập trung suy nghĩ.
“Ý ông nói là những dấu vết này vẫn còn nguyên, chưa ai giẫm lên chúng?”
“Tôi không cho phép ai đến gần khu vực này hay giẫm lên tuyết,” người quản gia trả lời. “Chỉ có hai loại dấu chân ở đây, của tôi, và của thằng khốn đã chém đầu con ngựa.”
“Nếu có gan, chắc tôi sẽ hôn ông một cái,” Ziegler nói.
Servaz thấy ông ta đỏ mặt, và anh cười. Họ lần theo dấu chân của chính mình và quay lại chỗ cũ, nhìn qua dải băng vàng.
“Ở đó,” Marchand chỉ về phía những dấu chân chạy dọc theo tường, sắc nét và rõ ràng, giấc mơ của bất cứ giám định viên hiện trường nào. “Đó là dấu chân của hắn, còn đây là của tôi, chỗ đó.”
Marchand đã giữ cho dấu chân của mình cách dấu chân kia khoảng hơn một mét. Hai đường đi không giao nhau tại bất cứ điểm nào. Tuy vậy, ông ta không thể cưỡng lại sự cám dỗ mà lại gần ụ tuyết, minh chứng chính là vị trí dấu chân cuối cùng của ông ta.
“Ông không chạm vào ụ tuyết chứ?” Ziegler hỏi.
Ông ta cúi đầu. “Tôi có chạm vào. Tôi là người đã phủi tuyết khỏi tai và mắt con ngựa. Như đã nói với đồng nghiệp của cô, tôi gần như đã định phủi hết tuyết đi, nhưng rồi tôi nhận ra mình đang làm gì, và dừng lại kịp thời.”
“Ông đã làm đúng, ông Marchand,” Ziegler cất lời khen ngợi.
Marchand quay sang họ với vẻ sững sờ, sợ hãi và kinh ngạc.
“Loại người nào lại đi làm việc này với một con ngựa? Có lẽ các vị hiểu xã hội chúng ta đang sống hơn tôi, bởi tôi hoàn toàn mù tịt rồi. Có phải tất cả chúng ta đều điên cả rồi không?”
“Sự điên rồ có thể lây lan,” Servaz trả lời. “Giống như cảm cúm. Đó là điều mà các nhà tâm lý học đáng lẽ phải phát hiện ra từ lâu rồi mới phải.”
“Lây lan?” Marchand bối rối.
“Nó không lây từ người này sang người khác như cảm cúm, nhưng từ cộng đồng này sang cộng đồng khác. Nó lây nhiễm cả một thế hệ. Tác nhân truyền nhiễm của bệnh sốt rét là muỗi. Còn tác nhân truyền nhiễm của sự điên rồ, hay chí ít, tác nhân ưa thích của nó, là truyền thông.” Servaz giải thích
Marchand và Ziegler ngỡ ngàng nhìn anh. Servaz vẫy nhẹ tay, như muốn nói ‘Đừng để ý đến tôi’, và bước ra chỗ khác. Ziegler kiểm tra đồng hồ, 9:43. Cô nhìn mặt trời tỏa sáng rực rỡ bên trên những tán cây.
“Vì Chúa! Bọn họ đang làm gì vậy? Chẳng mấy chốc tuyết sẽ tan hết mất.”
Mặt trời đã chuyển hướng, vài dấu chân lúc họ đến hãy còn nằm trong bóng râm giờ đã phơi dưới nắng. Chưa đủ ấm nên tuyết chưa tan, nhưng cũng chỉ giữ được một lát. Cuối cùng, họ cũng nghe thấy tiếng còi hiệu vang lên từ trong rừng. Một phút sau, chiếc xe tải mang theo phòng thí nghiệm của đội khám nghiệm hiện trường đã đỗ giữa sân trong.
Ba giám định viên mất hơn một giờ để chụp ảnh và ghi hình toàn bộ khu chuồng, chuẩn bị khuôn đàn hồi để đúc lại dấu chân, thu thập mẫu tuyết nơi vị khách không mời đã đi qua. Cuối cùng, họ cẩn thận di dời cái đầu ngựa, lấy mẫu và chụp ảnh toàn bộ bên trong và bên ngoài khu vực. Ziegler tỉ mỉ ghi chép từng bước trong quy trình khám nghiệm hiện trường và nhận xét sơ bộ vào một cuốn sổ gáy xoắn.
Trong lúc đó, Servaz đi đi lại lại khoảng hơn chục mét dọc theo một con suối chảy giữa hai hàng rào cây mâm xôi và hút thuốc, hết điếu này đến điếu khác. Lát sau, anh lặng lẽ đánh bạo tiến lại gần để xem giám định viên làm việc mà không vượt quá hàng rào. Một viên sen đầm cầm chiếc bình giữ nhiệt đi tới và mời anh một cốc cà phê.
Tấm biển nhựa vàng in số đen được cắm xuống tuyết bên cạnh mỗi dấu vết để chụp ảnh. Một giám định viên ngồi xổm, chụp từng vết chân với đèn flash, mỗi kiểu lại tăng hoặc giảm độ lấy nét. Họ đặt một chiếc thước kẻ chia độ màu đen bằng nhựa dẻo bên cạnh vết chân. Người thứ hai đi đến và mở một cái va li. Đó là bộ khuôn lấy mẫu dấu chân. Giám định viên đầu kia đến giúp anh này một tay vì họ phải thật khẩn trương, tuyết đã bắt đầu tan. Người thứ ba tập trung nghiên cứu cái đầu ngựa. Bức tường đằng sau quay về hướng Bắc nên anh ta có thể tranh thủ thời gian, không cần vội vã như các đồng nghiệp. Servaz có cảm giác mình đang quan sát sự nhẫn nại của một nhà khảo cổ khi khai quật một tuyệt phẩm đặc biệt quý giá. Cuối cùng cả cái đầu ngựa cũng hiện ra. Servaz không biết gì về ngựa, nhưng anh dám thề là ngay cả chuyên gia cũng sẽ nói Tự Do là một con vật tuyệt đẹp. Mắt nó nhắm lại như đang say ngủ.
“Dường như nó được ru ngủ trước khi bị giết và chặt đầu,” Marchand nhận xét. “Nếu vậy, ít nhất nó cũng không phải chịu đau đớn. Và cũng lý giải vì sao không ai nghe thấy tiếng hí.”
Servaz trao đổi bằng ánh mắt với Ziegler. Kết quả kiểm tra độc chất sẽ xác nhận điều đó, nhưng chuyện này đã phần nào trả lời một trong những câu hỏi của bọn họ. Bên trong dải băng, các giám định viên đang dùng nhíp thu thập những vật mẫu cuối cùng và cất chúng vào ống nghiệm. Servaz biết rằng, số vụ án được phá nhờ tang vật tìm thấy ở hiện trường chưa chiếm tới bảy phần trăm, nhưng điều đó vẫn không làm giảm bớt lòng khâm phục của anh trước sự kiên nhẫn và bền bỉ của những người này.
Khi họ xong việc, Servaz là người đầu tiên bước qua dải băng, anh cúi xuống nhìn vết chân.
“Cỡ 45 hoặc 46,” anh ước lượng. “Chắc chắn tới 99% là đàn ông.”
“Theo nhân viên hiện trường, đó là giày leo núi,” Ziegler nói. “Và gã đi đôi giày này có xu hướng dồn lực lên gót chân và má ngoài bàn chân. Dù sao dấu hiệu đó cũng cực kì khó phát hiện, trừ khi là một chuyên gia chỉnh hình. Cũng có một số dấu hiệu đặc thù, ở đó, đó và đó.”
Giống như dấu vân tay, những dấu vết do một đôi giày để lại rất đặc trưng, không chỉ vì kích thước và họa tiết trên đế giày, mà còn bởi một loạt những dấu hiệu nhỏ xíu, hàm chứa rất nhiều điều. Mòn vẹt do đi hằng ngày, những hạt sỏi tí hon kẹt dưới đế, các vết rách, thủng và xước do cành cây, móng chân, mảnh vỡ thủy tinh hay kim loại hoặc đá nhọn… gây ra. Chỉ có điều, không giống vân tay, tuổi đời của những dấu hiệu này có hạn. Chỉ có cách nhanh chóng đối chiếu với đôi giày nguyên bản mới có thể đảm bảo chắc chắn việc nhận diện. Nếu không, các dấu hiệu ấy sẽ mất đi và được thay mới do chủ nhân của đôi giày đã đi bộ thêm nhiều kilomet, qua đủ mọi địa hình.
“Ông đã thông báo với anh Lombard chưa?” Anh hỏi Marchand.
“Rồi, cậu ấy buồn thương vô cùng và quyết định rút ngắn chuyến đi Mỹ để trở về sớm nhất có thể. Tối nay cậu ấy sẽ lên máy bay.”
“Ông có phải là người phụ trách khu vực này không?”
“Phải. Cả trường luyện ngựa.”
“Có bao nhiêu người làm việc ở đây?”
“Đây không phải một trường luyện ngựa lớn. Vào mùa đông chỉ có bốn người, gồm một giữ ngựa, một huấn luyện viên cưỡi ngựa, tôi và Hermine, con bé là người điên rồ nhất ở đây, chủ yếu chăm sóc cho ba con ngựa trong đó có Tự Do. Bốn chúng tôi làm tất cả mọi việc. Vào mùa hè, chúng tôi thuê thêm nhân viên hỗ trợ. Hai huấn luyện viên, các hướng dẫn viên leo núi, và người giúp việc thời vụ.”
“Có bao nhiêu người ngủ lại đây?”
“Hai người, người giữ ngựa và tôi.”
“Hôm nay mọi người đều ở đây cả chứ?”
Marchand nhìn họ, lần lượt từng người một.
“Huấn luyện viên đang đi nghỉ đến cuối tuần. Mùa thu là mùa xả hơi. Tôi không biết Hermine hôm nay có đến không. Con bé đang buồn khổ ghê lắm. Đi theo tôi.”
Họ băng qua khoảng sân lớn, hướng về phía tòa nhà cao nhất. Khi bước vào trong, Servaz thấy váng vất bởi mùi phân ngựa. Mồ hôi phủ một lớp trên gương mặt anh. Họ đi qua kho chứa đồ và tới lối vào một trường luyện ngựa trong nhà. Một cô gái đang cưỡi và huấn luyện chú ngựa trắng. Nó bước từng bước vô cùng uyển chuyển. Trông cả hai vô cùng hòa hợp. Bộ lông trắng của con vật phơn phớt xanh. Nhìn từ xa, ức và mõm nó sáng óng lên như sứ. Servaz nghĩ đến một con nhân mã cái.
“Hermine!” Marchand gọi.
Cô gái quay đầu, chậm rãi tiến về phía họ, dừng lại và xuống ngựa. Servaz thấy mắt cô sưng húp đỏ hoe.
“Gì thế?” Cô gái hỏi, vỗ lên cổ và mõm con ngựa.
“Cháu tìm Hector về đây được không, cảnh sát muốn gặp riêng mọi người. Có thể vào văn phòng của bác.”
Cô ta lặng lẽ gật đầu. Chỉ khoảng 20 tuổi. Vóc người nhỏ nhắn hơn bình thường, khá xinh xắn với phong cách tomboy, mặt đầy tàn nhang, mái tóc mang màu của những sợi rơm ướt. Cô nhìn Servaz bằng ánh mắt sầu não rồi cúi đầu dắt con ngựa rời đi.
“Hermine yêu ngựa lắm, nó cưỡi ngựa cừ khôi và là một huấn luyện viên ưu tú. Một đứa trẻ ngoan, nhưng có cá tính khá đặc biệt. Con bé cần trưởng thành thêm. Hermine chính là người chăm sóc con Tự Do. Kể từ khi nó sinh ra.”
“Cụ thể là phải làm những gì?” Servaz hỏi.
“Dậy rất sớm, chải lông và chăm sóc con ngựa, cho ăn, đưa nó ra đồng để tập chạy. Công việc của người giữ ngựa gồm cả luyện tập và chăm sóc ngựa. Hermine còn phụ trách hai con ngựa đua Thuần Chủng trưởng thành nữa. Ngựa biểu diễn. Nghề đó không phải ngày một ngày hai. Đương nhiên con bé không định huấn luyện con Tự Do cho tới năm sau. Cậu Lombard và con bé đang nóng lòng chờ đợi. Nó là một con ngựa rất có triển vọng, nòi giống tốt. Có thể nói nó là linh vật ở đây.”
“Còn Hector?”
“Ông ta là người già nhất trong số chúng tôi. ông ta làm việc ở đây không biết đã bao lâu rồi. Từ trước khi tôi đến nữa, trước tất cả mọi người.”
“Tổng cộng có bao nhiêu con ngựa?” Ziegler hỏi.
“Hai mươi mốt. Ngựa Thuần Chủng, ngựa yên Pháp, một con giống Holsteiner. Mười bốn con trong số đó là của chúng tôi, còn lại là nội trú. Chúng tôi cung cấp dịch vụ nội trú, đỡ đẻ và huấn luyện cho một khách hàng bên ngoài.”
“Có bao nhiêu chuồng tất cả?”
“Ba mươi hai. Và một gian đỡ đẻ 40m2 có công cụ theo dõi bằng hình ảnh. Có cả các gian để kiểm tra ngựa cái mang thai, một phòng chẩn trị, hai gian thả, một trung tâm phối giống, hai trường ngựa ngoài trời với rào chướng ngại vật để biểu diễn nhảy vượt rào, tám héc-ta đồng cỏ, bãi quây, đường mòn với những bãi cỏ có mái che và một đường phi nước đại.”
“Đây là một trường luyện ngựa rất tốt,” Ziegler xác nhận.
“Vào ban đêm chỉ có hai người các ông để mắt trông coi mọi thứ sao?”
“Có một hệ thống báo động. Tất cả chuồng và các khu nhà đều được khóa kín. Những con ngựa này có giá trị rất lớn.”
“Và ông không nghe thấy gì cả?”
“Không, không gì hết.”
“Ông có dùng thuốc ngủ không?”
Marchand khinh miệt nhìn Servaz. “Đây không phải thành phố. Chúng tôi ngủ ngon. Chúng tôi sống theo cách con người nên sống, hòa hợp với mọi thứ.”
“Không có một tiếng động lạ nào dù là nhỏ nhất sao? Có gì bất thường không? Thứ có thể đã đánh thức ông lúc nửa đêm ấy? Ông cố nhớ lại xem.”
“Tôi đã thử rồi. Nếu nhớ ra thì tôi đã nói với anh. Luôn có tiếng ồn ở một nơi thế này. Lũ ngựa di chuyển, tiếng gỗ kẽo kẹt. Vì khu rừng ở sát bên nên không lúc nào yên tĩnh tuyệt đối cả. Tôi không còn để ý đến những tiếng động đó từ rất lâu rồi. Và còn có cả Cisco và Enzo, đáng lẽ chúng phải sủa chứ.”
“Lũ chó,” Ziegler nói. “Chúng thuộc giống gì?”
“Ngao Ý.”
“Tôi không thấy chúng đâu cả. Chúng đâu rồi?”
“Tôi nhốt lại rồi.”
Hai con chó và một hệ thống báo động. Cùng hai người đàn ông ngủ lại…
Một con ngựa nặng bao nhiêu? Anh nhớ lại lời Ziegler, gần 200 cân thì phải. Các vị khách này không thể nào đi bộ đến được. Nhưng làm sao bọn chúng có thể giết một con ngựa, chặt đầu nó, tống phần thân lên một phương tiện nào đó và rời đi mà không bị ai phát hiện, không đánh thức cả lũ chó và người sống ở đây? Còi báo động cũng chẳng kích hoạt? Servaz không thể hiểu nổi. Cả người và chó đều không hề hay biết. Hai gã bảo vệ ở nhà máy điện cũng không nghe thấy gì, chỉ đơn giản là không thể. Anh quay sang Ziegler.
“Chúng ta có thể yêu cầu một bác sĩ thú y đến và lấy mẫu máu của lũ chó được không? Buổi đêm chúng được thả hay bị nhốt trong cũi?” Anh hỏi Marchand.
“Chúng ở bên ngoài, nhưng được xích lại bằng một sợi xích dài. Không ai có thể đến gần chuồng ngựa mà không đánh động chúng. Hẳn tôi cũng phải tỉnh giấc nếu chúng sủa. Anh nghĩ chúng bị đánh thuốc phải không? Nếu vậy tôi sẽ ngạc nhiên lắm đấy, sáng hôm qua chúng tỉnh như sáo, hoàn toàn bình thường.”
“Kết quả xét nghiệm độc chất sẽ xác nhận việc đó,” Servaz trả lời, tự hỏi con ngựa bị đánh thuốc thì cớ gì lũ chó lại không.
Nơi làm việc của Marchand là một căn phòng nhỏ bừa bộn ở giữa kho chứa đồ và khu chuồng trại, cúp xếp đầy trên những chiếc kệ. Cửa sổ nhìn ra rừng và đồng cỏ phủ tuyết với những cánh đồng, hàng rào, bờ giậu bao quanh. Trên bàn làm việc đặt một laptop, một chiếc đèn và một mớ bòng bong những hóa đơn, bìa đựng tài liệu và sách về ngựa.
Trong vòng nửa tiếng trước, Ziegler và Servaz đã tham quan toàn bộ nơi này và kiểm tra chuồng của con Tự Do, nơi các giám định viên đang bận rộn làm việc. Cửa vào chuồng đã bị phá, có rất nhiều máu dưới sàn. Rõ ràng là Tự Do đã bị chặt đầu tại đây, chắc hẳn là bằng một cái cưa, và có lẽ sau khi bị đánh thuốc ngủ. Servaz quay sang người giữ ngựa.
“Tối đó ông không nghe thấy bất cứ tiếng động gì sao?”
“Có lẽ bấy giờ tôi đang ngủ,” ông già cao lớn trả lời.
Ông ta không cạo râu, trông già đến mức nên được cho về hưu từ lâu. Râu bạc mọc ra từ cằm và hai bên má hõm sâu tua tủa như gai nhím.
“Không một âm thanh nào? Không gì cả?”
“Trong chuồng lúc nào chẳng có tiếng động,” ông ta nói, giống y như Marchand, nhưng khác với hai gã bảo vệ, câu trả lời của họ nghe không giống đã được diễn tập.
“Ông đã làm việc cho nhà Lombard từ rất lâu rồi phải không?”
“Tôi làm việc cho cậu Lombard. Và cả bố cậu ấy nữa.”
Mắt ông đỏ ngầu, những mạch máu li ti đan thành một mạng lưới chằng chịt màu tía trên lớp da mỏng ở mũi và má. Servaz tin chắc ông ta không dùng thuốc ngủ dạng viên mà lúc nào cũng khư khư bên mình một thứ gây ngủ dạng lỏng.
“Làm việc cho anh ta thế nào?”
Người đàn ông trân trân nhìn Servaz với cặp mắt đỏ. “Chúng tôi không thường xuyên gặp cậu Lombard, nhưng cậu ấy là một người chủ tốt. Và yêu lũ ngựa. Tự Do là con ngựa yêu thích của cậu ấy. Sinh ra tại đây. Nòi giống hoàng gia. Cậu ấy phát cuồng vì nó. Hermine cũng vậy.”
Người đàn ông hạ mắt xuống. Servaz thấy bên cạnh ông ta, cô gái trẻ đang cố kìm nước mắt.
“Ông nghĩ có người nào bất mãn với Lombard không?”
Người đàn ông vẫn cúi thấp đầu. “Tôi chẳng thể nói được gì.”
“Nhưng ông cũng chưa từng thấy anh ta bị đe dọa lần nào sao?”
“Chưa.”
“Cậu Lombard có rất nhiều kẻ thù,” Marchand cắt ngang.
Servaz và Ziegler quay sang nhìn người quản gia. “Ý ông là gì?”
“Là như tôi đã nói.”
“Ông có biết ai trong số đó không?”
“Tôi không quan tâm đến việc làm ăn của Éric. Tôi chỉ có hứng thú với những con ngựa của cậu ấy thôi.”
“Ông dùng từ ‘kẻ thù’, hẳn phải có ẩn ý gì chứ?”
“Chỉ là một cách diễn đạt.”
“Còn gì nữa?”
“Công việc làm ăn của Éric luôn có rất nhiều áp lực.”
“Rõ ràng quá nhỉ,” Servaz khăng khăng. “Là vô tình hay cố ý?”
“Quên những gì tôi vừa nói đi,” người quản gia trả lời. “Tôi chỉ đoán vậy thôi. Tôi không biết gì về công việc của cậu Lombard hết.”
Trong khoảnh khắc, Servaz không tin ông ta. Nhưng anh vẫn nói lời cảm ơn. Khi ra khỏi tòa nhà, anh thấy lóa mắt trước bầu trời xanh trong bên ngoài. Tuyết tan dần dưới mặt trời. Vài con ngựa nhìn ra ánh nắng bên ngoài gian chuồng, những con đang có người cưỡi thì nhảy qua các chướng ngại vật.
Servaz đứng một lát cho đầu óc tỉnh táo, anh ngửa mặt lên nhìn trời…
Hai con chó và một hệ thống báo động. Cùng hai người đàn ông ngủ lại.
Và không ai nhìn hay nghe thấy gì. Dù là ở đây hay ở nhà máy điện. Không thể nào. Vô lý hết sức.
Càng thu thập được nhiều chi tiết về vụ án này, dường như tâm trí anh lại càng rối lên với cả mớ suy nghĩ hỗn độn. Anh thấy như thể mình là một chuyên gia bệnh học, đầu tiên đào được một ngón tay, rồi một bàn tay, một cánh tay, cuối cùng là cả cái xác. Càng lúc anh càng bất an. Mọi chi tiết trong vụ việc này đều khác thường và không thể lý giải được. Theo bản năng, như một con thú, Servaz ngửi thấy mùi nguy hiểm. Anh nhận ra mình đang run lên, dù mặt trời vẫn ngay trên đỉnh đầu.