12
Đêm hôm đó, Servaz nhận được điện thoại của Alexandra, cô vợ cũ. Về Margot. Servaz đâm lo. Alexandra giải thích với anh rằng Margot đã quyết định bỏ học piano và karate, hai môn gắn bó với con bé từ thuở nhỏ. Nó không đưa ra lý do hợp lý nào mà chỉ đơn giản thông báo với mẹ nó sẽ không tiếp tục học nữa.
Alexandra có vẻ quẫn trí. Gần đây Margot đã thay đổi rất nhiều. Mẹ con bé linh cảm thấy con gái mình đang giấu giếm chuyện gì đó. Cô không thể đối thoại được với con gái như trước nữa. Servaz để cho vợ cũ xả hết nỗi niềm, nhưng đồng thời cũng thắc mắc, chẳng lẽ cô không giãi bày với bố dượng của Margot hay sao? Phải chăng, anh ta cứ ung dung đứng ngoài cuộc? Hoàn toàn ý thức được mình đang suy nghĩ nhỏ nhen, nhưng Servaz phát hiện ra rằng, bản thân anh hy vọng vào giả thuyết thứ hai. Anh hỏi, “Con bé có bạn trai không?”
“Em nghĩ là có. Nhưng con bé không chịu nói gì về việc đó cả. Không giống nó chút nào.”
Rồi anh hỏi Alexandra có xem qua đồ đạc của Margot không. Anh hiểu vợ cũ đủ rõ để biết chắc chắn cô đã làm thế. Và đúng như anh nghĩ, cô xác nhận mình đã thử nhưng không tìm thấy gì cả.
“Công nghệ phát triển cùng với thư điện tử và tin nhắn điện thoại, nên không thể theo dõi được quan hệ thư từ của chúng,” Alexandra nuối tiếc nhận xét. “Em lo lắm, Martin. Anh xem có thể phát hiện được thêm gì không. Biết đâu nó sẽ tâm sự với anh.”
“Đừng lo. Anh sẽ thử nói chuyện với con bé. Anh chắc rằng không có chuyện gì đâu.”
Anh chợt nhớ lại ánh mắt buồn bã của con gái. Quầng thâm dưới mắt. Và hơn hết, vết bầm tím trên má. Một lần nữa, ruột gan anh thắt lại.
“Cảm ơn anh, Martin. Anh dạo này thế nào?”
Anh tránh né câu hỏi và kể sơ qua về vụ án hiện tại mà không đi vào chi tiết. Khi họ vẫn còn là vợ chồng, thỉnh thoảng Alexandra lại nảy ra những ý tưởng hữu ích đến bất ngờ, đưa đến một góc nhìn mới mẻ hẳn.
“Một con ngựa và một người đàn ông trần truồng? Nghe lạ kì quá. Anh có nghĩ sẽ còn những vụ tiếp theo không?”
“Đó là điều anh đang lo ngại,” anh thừa nhận. “Nhưng đừng kể lại với ai. Ngay cả tên trộm nhà em,” anh bổ sung, và như thường lệ, tránh nhắc đến tên tay phi công đã cướp vợ mình.
“Chuyện này dễ khiến người ta liên tưởng rằng, những kẻ đó đã lén lút làm một việc vô cùng xấu xa,” cô nhận xét khi anh nói với cô về tay tài phiệt và ông dược sĩ. “Và họ đều nhúng tay vào việc ấy. Mọi người đều có bí mật muốn giấu giếm.”
Servaz lặng lẽ gật đầu. Cô có biết cô đang nói về cái quái gì không? Họ cưới nhau được mười lăm năm. Bao nhiêu năm trong số đó cô ta đã ngoại tình với tay phi công kia? Bao nhiêu lần hai người họ lợi dụng thời gian nghỉ giữa các chuyến bay để làm tình, một cái cớ hợp lý cho tiếp viên và phi công? Và sau mỗi chuyến bay, cô ta về nhà, tiếp tục đời sống gia đình như thể không có chuyện gì xảy ra, luôn mang về món quà nhỏ nào đó cho hai bố con. Cho đến một ngày, rốt cuộc cô ta cũng đi đến quyết định. Để biện hộ, cô nói với Servaz rằng Phil không gặp ác mộng, rằng anh ta không hề mắc bệnh mất ngủ, và rằng ‘anh ấy không sống giữa những xác chết’.
“Sao lại là một con ngựa?” Anh hỏi. “Mối quan hệ ở đây là gì?”
“Em không biết,” cô hờ hững trả lời, và anh biết sự lãnh đạm của cô nghĩa là gì. Thời gian trao đổi ý kiến giữa họ về những cuộc điều tra của anh đã chấm hết. “Anh mới là cảnh sát mà,” cô nói thêm. “Thôi được rồi, em phải đi đây. Anh thử nói chuyện với Margot xem.”
Cô cúp máy. Mọi chuyện chệch hướng từ lúc nào? Từ bao giờ con đường của họ đã tách khỏi nhau? Có phải là khi anh bắt đầu dành ngày càng nhiều thời gian ở văn phòng và ít ở nhà hơn? Hay là trước đó? Họ gặp nhau ở trường đại học, sáu tháng sau thì đi đến đám cưới, bất chấp lời khuyên của bố mẹ cô. Những ngày đó, họ vẫn còn là sinh viên. Servaz muốn đi dạy Ngữ văn cùng tiếng La tinh như bố mình và viết ‘những cuốn tiểu thuyết đương thời vĩ đại’, còn Alexandra, khiêm tốn hơn, đang đi học để làm trong ngành du lịch. Cuối cùng Servaz tham gia vào lực lượng cảnh sát. Chính thức thì đó là quyết định trong một phút nông nổi, nhưng sự thật là bởi vì quá khứ của anh.
Chuyện này dễ khiến người ta liên tưởng rằng, những kẻ đó hẳn đã lén lút làm một việc vô cùng xấu xa. Và họ đều nhúng tay vào việc ấy.
Nhờ đầu óc nhanh nhạy nên dù không có nghiệp vụ cảnh sát, Alexandra vẫn chạm được đến điểm cốt yếu. Nhưng liệu Lombard và Grimm có thể cùng nhau nhúng tay vào phi vụ gì đó khiến những kẻ khác muốn trả thù không? Dường như là bất khả. Kể cả có đúng thế thì liên quan gì tới Hirtmann?
Đột nhiên, một ý nghĩ khác tràn vào lòng anh như đám mực loang, Margot, phải chăng con bé đang gặp nguy hiểm? Cảm giác rối bời khiến tim anh se thắt. Anh vớ lấy áo khoác và rời khỏi phòng. Anh xuống lễ tân hỏi họ có máy tính và webcam không. Nhân viên lễ tân nói có, rồi dẫn anh tới một phòng họp nhỏ. Servaz cảm ơn cô ta và mở điện thoại di dộng.
“Bố ạ?” Con gái anh trả lời ở đầy dây bên kia.
“Bật webcam của con lên,” anh nói.
“Ngay bây giờ ạ?”
“Phải, ngay bây giờ.”
Anh ngồi xuống và mở chương trình đàm thoại hình ảnh. Sau năm phút, con gái anh vẫn chưa kết nối. Servaz bắt đầu mất kiến nhẫn thì nhìn thấy thông báo ‘Margot đã kết nối’ xuất hiện ở góc phải bên dưới màn hình. Servaz bấm gọi ngay lập tức, một ánh sáng xanh nháng lên phía trên chiếc camera.
Margot đang ở trong phòng ngủ, cầm trên tay một chiếc cốc bốc khói nghi ngút. Con bé nhìn anh, vẻ tò mò và thận trọng. Phía sau con bé, trên bức tường treo một tấm áp phích lớn của bộ phim Xác Ướp Ai Cập, họa lại một nhân vật đang cầm khẩu súng trên nền sa mạc, kim tự tháp lúc hoàng hôn.
“Sao thế ạ?” Con bé hỏi.
“Bố phải hỏi con mới đúng.”
“Gì ạ?”
“Con nghỉ học piano và karate. Tại sao vậy?”
Anh nhận ra, khá muộn màng, rằng giọng của mình quá cộc cằn và cách đặt vấn đề có phần hơi đường đột. Hiển nhiên là bởi anh phải chờ đợi, anh biết rõ điều đó. Anh ghét chờ đợi. Nhưng anh nên tiếp cận vấn đề theo cách khác, bắt đầu bằng một chủ đề nhẹ nhàng hơn, khiến con bé cười bằng những câu bông đùa. Vẫn cần có vài nguyên tắc cơ bản để kiểm soát tình hình, ngay cả với con gái mình.
“Ồ! Ra là mẹ đã gọi cho bố…”
“Phải.”
“Mẹ còn nói với bố những gì nữa?”
“Thế thôi… Sao?”
“Ừm, đơn giản thôi. Con sẽ mãi mãi chỉ là một người chơi piano xoàng xĩnh, tiếp tục để làm gì đâu? Piano không dành cho con, thế đấy.”
“Còn karate?”
“Con phát ớn với nó rồi.”
“Phát ớn?”
“Vâng.”
“Hừm. Chỉ thế thôi, đột ngột như vậy?”
“Không, không phải hoàn toàn đột ngột. Con đã dành thời gian suy nghĩ rất nhiều rồi.”
“Thay vào đó con định làm gì?”
“Con không biết. Chẳng lẽ con phải làm gì ạ? Có vẻ con đã đến tuổi được tự mình quyết định rồi mà, không phải sao?”
“Ồ, giờ bố mới biết đấy,” anh thừa nhận, ép mình phải cười.
Nhưng ở đầu bên kia, con gái anh không cười. Con bé nhìn chằm chằm vào camera, qua đó nhìn anh bằng ánh mắt u ám. Dưới ánh sáng của chiếc đèn đang soi tỏ một bên mặt nó, vết bầm lại càng rõ thêm. Chiếc khuyên đeo trên lông mày lấp lánh như một viên hồng ngọc.
“Những câu hỏi này là sao? Bố và mẹ đang cố làm gì vậy?” Margot the thé hỏi. “Sao con lại cảm thấy như mình đang bị cảnh sát thẩm vấn thế? Chết tiệt!”
“Margot, bố chỉ hỏi… và con không bắt buộc phải…”
“Ồ, không? Bố biết gì không, thưa bố? Nếu đây là cách bố chất vấn nghi phạm, hẳn bố sẽ không thu được nhiều kết quả lắm đâu.”
Cô bé giáng nắm đấm xuống cạnh bàn, tiếng va chạm dội lại qua cái loa khiến anh giật nảy.
“Mẹ kiếp, chó chết, khốn nạn!”
Anh bỗng thấy cõi lòng lạnh ngắt. Alexandra nói đúng. Đây không phải hành vi bình thường của con gái họ. Còn phải xem sự thay đổi này có phải chỉ là tạm thời hay không, do xảy ra việc gì đó anh không biết, hay do ảnh hưởng từ một ai đó.
“Bố xin lỗi, con gái yêu,” anh nói. “Bố đang hơi cáu vì vụ điều tra lần này. Con bỏ qua cho bố nhé?”
“Ừm, hừm.”
“Hai tuần nữa bố sẽ gặp con, nhé?”
“Nhớ gọi điện cho con trước, được không?”
Anh mỉm cười với chính mình. Như vậy giống Margot mà anh biết hơn.
“Đương nhiên rồi. Ngủ ngon, con gái yêu.”
“Bố ngủ ngon.”
Anh trở lại phòng, vứt áo khoác lên giường, hớp một ngụm rượu Scotch lấy từ tủ lạnh mini và ra ban công. Đã sắp tối, bầu trời trong trẻo, hướng Tây sáng hơn hướng Đông một chút, bên dưới là những khối núi đen. Một vài ngôi sao đã bắt đầu hiện ra, sáng như thể được lau chùi. Servaz tự nhủ rằng trời sắp trở lạnh. Ánh đèn Giáng sinh tạo thành một dòng dung nham lấp lánh trên các con đường. Nhưng tất cả những ồn ã hối hả này đều có vẻ quá vặt vãnh bên dưới con mắt cổ xưa của dãy Pyrenees. Ngay cả mấy vụ án tàn bạo nhất cũng trở nên vô nghĩa trước sự hiện diện vĩnh cửu của những ngọn núi, giống như con côn trùng bị đè bẹp trên kính chắn gió.
Servaz dựa người vào lan can, mở điện thoại ra một lần nữa.
“Espérandieu nghe,” trợ lý của anh trả lời.
“Tôi cần nhờ cậu giúp một việc.”
“Chuyện gì thế? Có gì mới ạ?”
“Không. Không liên quan tới cuộc điều tra.”
“Ồ, ra thế.”
Servaz vắt óc để tìm từ ngữ. “Tôi muốn nhờ cậu theo dõi Margot sau giờ học một hoặc hai lần một tuần. Trong vòng… để xem nào, hai hoặc ba tuần. Tôi không thể tự làm được, con bé sẽ nhận ra tôi.”
“Gì cơ?”
“Cậu nghe tôi nói rồi đấy.”
Ở đầu dây bên kia, sự im lặng dường như kéo dài vô tận. Servaz có thể nghe thấy tiếng ồn phía sau. Anh hiểu ra cậu ta đang ở một quán bar.
Espérandieu thở dài. “Martin, em không thể.”
“Tại sao không?”
“Việc đó trái với…”
“Tôi đang nhờ cậu giúp, với tư cách một người bạn,” Servaz cắt ngang. “Chỉ một hoặc hai lần một tuần trong vòng ba tuần thôi. Đi bộ hoặc đi xe theo nó. Không hơn. Cậu là người duy nhất tôi có thể nhờ cậy.”
Một tiếng thở dài khác.
“Tại sao?” Espérandieu nói.
“Tôi nghĩ con bé có thể đang dây dưa với những kẻ không ra gì.”
“Và chỉ thế thôi sao?”
“Và bạn trai của nó đánh nó.”
“Mẹ kiếp!”
“Chính thế,” Servaz nói. “Giờ thử tưởng tượng đây là Megan xem, và cậu phải nhờ tôi. Suy cho cùng, một ngày nào đó, rất có thể cậu sẽ phải làm thế.”
“Được rồi, được rồi, em sẽ làm. Nhưng chỉ một hoặc hai lần một tuần thôi đấy, không hơn, anh đồng ý chứ? Và sau ba tuần kể từ hôm nay, em sẽ ngừng, ngay cả khi em không tìm ra điều gì bất thường hết.”
“Tôi hứa với cậu,” Servaz thở phào.
“Anh sẽ làm gì nếu mọi chuyện đúng như anh nghĩ?”
“Vẫn chưa biết chắc mà. Giờ tôi chỉ muốn tìm hiểu chuyện gì đang diễn ra.”
“Được rồi, nhưng giả sử những nghi ngại của anh là sự thật, con bé chơi bời lêu lổng với mấy thằng đầu trộm đuôi cướp, anh sẽ làm gì?”
“Tôi có thói quen hành động bốc đồng không?” Servaz nói.
“Đôi lúc.”
“Tôi chỉ muốn tìm hiểu chuyện gì đang xảy ra thôi.”
Anh cảm ơn cậu ta và cúp máy. Anh vẫn nghĩ về con gái. Về quần áo, hình xăm, các loại khuyên của con bé… và lại nghĩ vẩn vơ đến Viện, đến mấy tòa nhà đang chầm chậm trôi bồng bềnh vào giấc ngủ. Về đêm, những con quái vật trong xà lim ấy mơ thấy gì? Thứ quái thai nào, mộng tưởng kinh khiếp nào nuôi dưỡng giấc ngủ của chúng? Anh tự hỏi, liệu có kẻ nào đang thức, con mắt mở trừng trừng nhìn sâu vào tâm tưởng, hồi ức về những nạn nhân từng qua tay hay không?
Bên trên dãy núi, một chiếc phi cơ bay qua, trên đường từ Tây Ban Nha sang Pháp. Cứ lướt màu bạc, sáng như sao băng. Chiếc máy bay chẳng khác nào ngôi sao chổi bằng kim loại, đèn hạ cánh nhấp nháy trong bầu trời đêm. Một lần nữa, Servaz lại cảm nhận được sự cô lập của thung lũng này, cách xa tất cả mọi thứ.
Anh trở vào trong, bật đèn lên. Lấy một quyển sách trong vali và ngồi xuống đầu giường. Tập thơ Ode - những bài tụng ca của Horace.
Sáng hôm sau tỉnh dậy, Servaz thấy trời đã đổ tuyết. Đường phố và mái nhà đều trắng xóa, không khí lạnh đập vào ngực anh. Anh vội rời khỏi ban công và trở vào phòng, đi tắm, mặc quần áo, xuống gác ăn sáng.
Espérandieu đã ngồi đợi sẵn bên những khung cửa sổ lớn, trên hàng hiên rộng theo phong cách Art Déco[1]. Cậu vừa ăn xong bữa sáng và đang đọc sách. Servaz quan sát từ xa. Trợ lý của anh hoàn toàn tập trung vào cuốn sách. Servaz ngồi xuống và tò mò nhìn trang bìa, Cuộc săn cừu hoang của ông Haruki Murakami nào đó. Người Nhật. Một cái tên anh chưa từng nghe thấy. Thỉnh thoảng Servaz lại nghĩ, anh và Espérandieu như hai người không chung ngôn ngữ, đến từ hai đất nước cách xa nhau, với hai nền văn hóa, phong tục và truyền thống riêng. Sở thích của cậu trợ lý vô cùng phong phú: tiểu thuyết đồ họa, văn hóa Nhật Bản, khoa học, âm nhạc đương đại, nhiếp ảnh… tất nhiên là khác xa sở thích của anh.
Espérandieu ngước lên với biểu cảm của một đứa trẻ bên bàn ăn sáng, rồi xem đồng hồ đeo tay.
“Buổi giải phẫu tử thi bắt đầu lúc 8 giờ,” cậu đóng quyển sách lại. “Em phải đi đây.”
Servaz gật đầu, không nói gì thêm. Trợ lý của anh là người biết việc. Servaz hớp một ngụm cà phê và lập tức cảm thấy cổ họng mình ran rát.
Mười phút sau, chính anh cũng đang đi qua những con phố ngập tuyết. Anh tới gặp Ziegler và Propp tại văn phòng của Cathy d’Humières trước khi họ ghé thăm Viện. Bà trưởng công tố muốn giới thiệu họ với thẩm phán phụ trách điều tra mà bà chỉ định cho vụ án này. Trên đường đi, anh tiếp tục dòng suy tưởng từ hôm trước. Lombard và Grimm được chọn làm nạn nhân từ bao giờ? Mối quan hệ giữa họ là gì? Theo Chaperon và vợ nạn nhân, Lombard và Grimm không hề quen biết. Lombard có thể đã rẽ qua hiệu thuốc một hai lần, nhưng không gì ngẫu nhiên hơn. Còn năm hiệu thuốc khác ở Saint-Martin, và Éric Lombard chắc chắn sẽ thừa người sai phái cho một việc vặt vãnh như vậy.
Bỗng dưng anh thấy căng thẳng. Có thứ gì đó, dù chỉ là một cảm giác mơ hồ, đã rút cần ăng ten của anh lên mức cảnh giác cao độ. Anh có cảm tưởng khó chịu rằng mình đang bị bám theo… Anh bất ngờ quay lại và nhìn kĩ con phố đằng sau. Không có gì ngoại trừ một cặp tình nhân đang giẫm lên tuyết, cười đùa, và một bà lão đi vòng qua góc phố với cái túi mua hàng trên tay.
Chết tiệt, cái thung lũng này đang làm mình hoang tưởng.
Năm phút sau, anh đi qua cánh cổng vào trụ sở tòa án. Các luật sư chuyện trò trên những bậc thang, liên tục phì phèo hút thuốc, thân nhân các bị cáo cắn móng tay, đợi phiên tòa tiếp tục. Servaz đi qua đại sảnh và tiến về cầu thang lớn phía bên trái. Anh vừa bước đến chiếu nghỉ ở giữa, một người đàn ông nhỏ thó liền hiện ra từ phía sau cột đá hoa cương và vọt xuống cầu thang.
“Sĩ quan chỉ huy!”
Servaz dừng lại. Anh nhìn kĩ người đàn ông đi tới chỗ mình.
“A,” người kia nói, “anh chính là tay cớm ở Toulouse đến.”
“Chúng ta có biết nhau không?”
“Sáng hôm qua tôi thấy anh ở hiện trường vụ án, cùng với Catherine,” người đàn ông trả lời, giơ tay ra. “Bà ấy đã cho tôi biết tên anh. Có vẻ bà ấy nghĩ anh là người thích hợp cho vụ án này.”
Catherine… Servaz bắt lấy bàn tay đang giơ ra.
“Và ông là…?”
“Gabriel Saint-Cyr, thẩm phán điều tra danh dự, đã về hưu. Tôi đã chỉ đạo điều tra cho những phiên tòa ở đây gần ba mươi lăm năm.” Người đàn ông nhỏ bé dang tay ra như để thu cả đại sảnh rộng lớn vào lòng. “Tôi biết từng cư dân của thị trấn này, thậm chí thông thuộc cả chạn bát nhà họ, hoặc gần như thế.”
Servaz chăm chú nhìn người đàn ông trước mặt. Dáng người thấp nhưng rắn rỏi, nụ cười đôn hậu, giọng nói chứng tỏ ông ta sinh ra và lớn lên ở ngay đây. Servaz cũng nhận thấy tia nhìn nhạy bén trong mắt ông. Anh hiểu đằng sau vẻ ngoài vui tính ấy là một bộ óc sắc sảo, trái ngược với rất nhiều người trưng ra vẻ ngoài cay độc và châm biếm để che đậy đầu óc rỗng tuếch bên trong.
“Ông đang mời chào dịch vụ của mình đấy à?” Servaz vui vẻ nói.
Vị thẩm phán phá lên cười. Một tiếng cười trong, vang và cởi mở. “Vì Chúa, anh chỉ cần làm thẩm phán một ngày thôi thì sẽ mãi mãi là thẩm phán. Thú thật là những sự việc xảy ra gần đây khiến tôi tiếc nuối vì mình đã nghỉ hưu. Chuyện này chưa từng có tiền lệ. Thỉnh thoảng chỉ có một vài vụ phạm tội bộc phát, kiểu như mấy người hàng xóm tranh chấp rồi thành ra bắn nhau. Cách phô bày cố hữu thói ngu dại ở loài người. Nhưng nếu anh cảm thấy muốn đi uống một ly để bàn về vụ án, tôi luôn sẵn sàng.”
“Ông quên mất chuyện bí mật nghề nghiệp rồi à, ngài thẩm phán?” Servaz trả lời bằng giọng hài hước.
Saint-Cyr nháy mắt với anh. “Ồ, anh không cần phải nói với tôi mọi chuyện. Nhưng anh sẽ không tìm được ai biết nhiều bí mật về thung lũng này hơn tôi đâu, sĩ quan chỉ huy ạ. Cứ suy nghĩ đi.”
Servaz đã nghĩ tới việc đó. Đề nghị của người đàn ông này có thể hữu ích. Một mối liên hệ với những người dân địa phương. Một người đã dành gần trọn cuộc đời ở Saint-Martin, với đặc thù nghề nghiệp như ông ta hẳn sẽ nắm được số lượng bí mật không nhỏ. “Chắc ông phải nhớ công việc của mình lắm.”
“Sẽ là dối trá nếu tôi nói điều ngược lại,” Saint-Cyr thừa nhận. “Tôi về hưu hai năm rồi, vì lý do sức khỏe. Nhưng kể từ đó đến giờ, tôi thấy mình cứ như một cái xác sống vậy. Anh có nghĩ là Hirtmann làm không?”
Servaz giật mình. “Ý ông là gì?”
“Ôi, thôi nào! Amh biết quá rõ mà, DNA tìm thấy trong cabin cáp treo ấy.”
“Ai nói với ông thế?”
Viên cựu thẩm phán bật cười ha hả khi họ bước xuống cầu thang. “Tôi đã nói với anh rồi. Tôi biết mọi thứ đang xảy ra ở cái thị trấn này. Hẹn gặp lại, ngài sĩ quan chỉ huy! Và chúc anh một chuyến săn vui vẻ!”
Servaz nhìn ông ta đi qua hai cánh cửa đôi to lớn và biến mất trong một cơn lốc tuyết mịt mùng.
“Martin, giới thiệu với cậu đây là thẩm phán Martial Confiant. Tôi đã ủy thác cho cậu ấy những thông tin điều tra sơ bộ mà hôm qua tôi vừa bắt đầu nghiên cứu.”
Servaz bắt tay vị thẩm phán trẻ tuổi. Cậu ta khoảng mới chớm 30 tuổi, cao và gầy, da sẫm màu, đeo cặp kính chữ nhật thanh lịch với phần gọng mỏng dính. Cái bắt tay chắc nịch và nụ cười ấm áp.
“Trái với vẻ bề ngoài, Martial là người địa phương. Cậu ấy sinh ra và lớn lên cách đây 20 kilomet,” Cathy d’Humières nói.
“Trước khi anh đến đây, bà d’Humières đã khen anh rất nhiều, sĩ quan chỉ huy ạ.”
Giọng cậu ta mang hơi ấm êm dịu của một hòn đảo nhiệt đới, chỉ hơi gợn một chút âm điệu địa phương. Servaz cười.
“Chúng tôi sẽ đến Viện ngay sáng nay,” anh nói. “Cậu có muốn tham gia không?”
Anh nhận ra cậu ta nói chuyện hơi khó khăn, có vẻ như đang đau họng.
“Các anh đã thông báo với bác sĩ Xavier chưa?”
“Chưa. Đại úy Ziegler và tôi đã quyết định sẽ đến thanh tra bất ngờ.”
Confiant gật đầu.
“Được rồi, tôi sẽ đi cùng,” cậu ta nói. “Nhưng chỉ một lần này thôi. Tôi không muốn áp đặt. Nguyên tắc của tôi là để cảnh sát làm công việc của họ. Ai làm việc người nấy,” cậu ta nói thêm.
Servaz im lặng đồng tình. Đây là tin tuyệt vời, nếu nguyên tắc cậu ta tuyên bố được áp dụng đúng với thực tế.
“Đại úy Ziegler đâu?” D’Humières hỏi.
Servaz xem đồng hồ đeo tay. “Không lâu nữa đâu. Chắc đường đi hơi khó khăn vì tuyết.”
Cathy d’Humières quay về phía cửa sổ, như thể đang rất vội. “Được rồi, tôi còn phải đứng ra tiếp các nhà báo. Đằng nào tôi cũng không đi cùng các cậu. Một nơi quái gở như thế trong thời tiết thế này, hừm, không dành cho tôi đâu!”
❀ ❀ ❀
[1] : Trường phái nghệ thuật và trang trí được bắt đầu tại thành phố Paris vào thập niên 1920 và phát triển ra toàn thế giới trong thập niên 1930. Đặc điểm nhận dạng của trường phái này là hình dáng hình học và góc cạnh, sử dụng chất liệu bóng và các đường thẳng trong trang trí.