10
Vào Chủ nhật, ngày 14 tháng Mười hai, lúc 7 giờ 45 phút sáng, Damien Ryck, còn gọi là Rico, 28 tuổi, rời khỏi nhà để sẵn sàng cho một chuyến độc hành lên núi. Bầu trời xám xịt và cậu biết trước rằng mặt trời sẽ không ló dạng vào ngày hôm đó. Ngay khi tỉnh dậy, cậu bước ra ban công rộng rãi và thấy một lớp sương dày phủ kín các mái nhà và đường phố khắp vùng Saint-Martin. Phía trên thị trấn, từng cuộn mây vần vũ bao quanh các đỉnh núi.
Dựa vào dự báo thời tiết, cậu quyết định khởi hành để thanh lọc đầu óc, tản bộ nhẹ nhàng dọc theo lối mòn mình đã thuộc lòng. Đêm hôm trước, chính xác hơn là vài tiếng trước, cậu mới chuếnh choáng về đến nhà sau bữa tiệc với bạn bè mà tại đó cậu đã hút vài điếu thuốc, rồi đi ngủ luôn mà không thay quần áo. Lúc tỉnh dậy, sau khi tắm xong, uống một cốc cà phê đen lớn và hút một điếu thuốc nữa ngoài ban công, cậu chợt nghĩ không khí tinh khiết trên cao sẽ có lợi cho mình. Rico định hoàn thành bản tranh khắc kim loại của mình vào tầm cuối buổi sáng, một công việc tinh tế đòi hỏi đôi tay vững vàng.
Rico là tác giả tiểu thuyết đồ họa. Một nghề nghiệp tuyệt vời cho phép cậu làm việc tại nhà và kiếm tiền bằng công việc mình yêu thích. Những cuốn tiểu thuyết đồ họa đen trắng có nội dung cực kì u ám đã tìm đến được một lượng độc giả sành truyện nhất định. Danh tiếng của cậu đang ngày càng nổi trong thế giới nhỏ bé của tiểu thuyết đồ họa. Là một người say mê trượt tuyết ngoại biên[1], leo núi, dù lượn, leo núi bằng xe đạp và du lịch vòng quanh thế giới nói chung, cậu đã khám phá ra rằng, Saint-Martin là ngôi nhà lý tưởng để trở về. Nghề nghiệp của cậu gắn liền với công nghệ truyền thông hiện đại, tức là cậu không cần sống ở Paris, nơi đặt trụ sở văn phòng nhà xuất bản Éditions d’Enfer mà cậu phải gặp sáu lần một năm. Ban đầu, những cư dân Saint-Martin không thể quen nổi với vẻ ngoài như tranh biếm họa của cậu. Những lọn tóc đen và vàng, khăn rằn, áo choàng poncho màu cam, khuyên bấm khắp người và một bộ râu màu hồng. Vào mùa hạ, họ còn được thưởng lãm mười mấy hình xăm trên cơ thể gần như suy dinh dưỡng của cậu. Hai vai, cánh tay, lưng, cổ, bắp chân và bắp đùi chi chít các tác phẩm nghệ thuật được cấu thành chỉ bằng ba màu sắc, lộ ra dưới quần soóc hay áo ba lỗ ở khắp các hướng. Tuy nhiên, rất đáng để thử làm quen với Rico. Cậu không chỉ là một nghệ sĩ tài năng, mà còn là một gã khá hấp dẫn, vô cùng hài hước, ân cần với trẻ em, người già cũng như tất cả hàng xóm láng giềng.
Sáng hôm đó, Rico đi đôi ủng leo núi loại siêu nhẹ. Trùm bên ngoài tai nghe mp3 là một chiếc mũ len có tai mà nông dân vùng cao nguyên Andean vẫn đội, cậu lên đường, hướng tới con đường mòn leo núi bắt đầu ngay bên cạnh một siêu thị cách nhà 200 mét.
Sương mù vẫn chưa tan. Cậu chạy một vòng quanh dãy xe đẩy hàng trong sân đỗ bên ngoài siêu thị bỏ hoang. Ngay khi đi lên đường mòn, Rico đã bắt đầu sải những bước dài hơn. Phía sau cậu, chuông nhà thờ điểm 8 giờ đúng. Những tiếng chuông dường như phải xuyên qua vài lớp bông mềm mới chạm đến cậu.
Rico cẩn thận không để mình bị trẹo chân trên nền đất gồ ghề, rải rác đầy rễ cây và những hòn đá lớn. Cậu chạy 2 kilomet qua một đồng bằng rộng và phẳng tới nỗi khiến cậu suýt mất phương hướng.
Cậu tiến về phía dòng suối đang chảy róc rách, rồi đi qua những cây cầu nhỏ rắn chắc làm bằng gỗ lãnh sam. Con dốc cao dần lên, Rico bắt đầu cảm nhận được nhịp hoạt động của gân khoeo chân. Màn sương đã loãng ra. Cây cầu sắt bắc qua con suối ngay trước khi nước đổ xuống dòng thác gầm gào hiện ra ở phía trước. Đây là đoạn đường gian nan nhất. Vượt qua nó, địa thế sẽ gần như bằng phẳng trở lại. Cậu ngẩng đầu, rảo chân bước rồi chợt thấy có gì đó treo dưới cây cầu. Một cái túi hoặc vật thể lùng nhùng nào đó được buộc vào khung sắt của cầu.
Cậu cúi đầu để tập trung vào những khúc quanh cuối cùng của lối mòn. Nhịp tim hiện tại của cậu là 150 lầnphút. Nhưng khi ngẩng lên, cậu tưởng tim mình như sắp nổ tung. Chẳng có cái túi nào treo dưới cầu hết. Đó là một cơ thể! Rico chết lặng. Cú sốc dữ dội cùng với việc gồng sức leo núi khiến cậu nghẹt thở. Miệng há to, cố hớp lấy không khí, cậu nhìn chằm chằm vào cái xác. Cậu đi nốt vài mét cuối cùng, tay chống hông.
Mẹ kiếp, cái quái gì thế?
Ban đầu, Rico không hiểu đó là thứ gì. Cậu tự hỏi liệu có phải mình đang bị ảo giác do đêm qua vui chơi quá đà hay không, nhưng cậu lập tức nhận ra chẳng có ảo ảnh nào hết. Nó quá chân thực, quá khủng khiếp. Không hề giống những bộ phim kinh dị cậu vẫn thích xem. Trước mắt cậu là một người đàn ông… một người đàn ông đã chết, trần truồng và bị treo dưới một cây cầu!
Quỳ tha ma bắt! Một cơn ớn lạnh khủng khiếp chảy qua huyết mạch.
Cậu rùng mình liếc quanh. Đây không phải một vụ tự tử. Ngoài đai tròng quanh cổ, còn có vài cái khác buộc xác chết vào những khung sắt của cầu. Ai đó đã chụp một chiếc mũ để che kín mặt người đàn ông, loại mũ trùm màu đen bằng vài chống thấm, liền với áo choàng không tay khoác sau lưng.
Chết tiệt!
Rico choáng váng vì hoảng sợ. Cậu chưa từng thấy thứ gì giống thế. Cảnh tượng trước mắt gây ra nỗi kinh hãi ác tính, thổi tràn khắp các mạch máu trong cơ thể. Cậu chỉ có một mình trên núi, cách khu dân cư gần nhất 4 kilomet và chỉ có một con đường để đến đó, con đường mà cậu đã đi qua. Con đường mà tên sát nhân đã đi qua.
Cậu băn khoăn không biết có phải vụ sát hại vừa mới xảy ra không. Nói cách khác, tên giết người vẫn quanh quẩn đâu đây. Rico lo lắng, nhìn chăm chăm vào đám đá và sương mù, hít sâu hai lần rồi quay bước. Cậu cố sức lao thật nhanh xuống lối mòn dẫn tới Saint-Martin.
Servaz chưa bao giờ yêu thích thể thao. Thành thực mà nói, anh ghét thể thao. Tất cả các môn thuộc đủ mọi hình thức. Bất kể ở sân tập hay trên tivi. Anh cũng chẳng thích tham dự sự kiện thể thao nào. Một trong những lý do anh không mua tivi là vì nó chiếu các chương trình thể thao nhiều quá mức cần thiết, với lịch dày đặc, cả ngày lẫn đêm.
Tuy vậy, trong mười lăm năm kết hôn, anh đã ép mình phải hoạt động thể chất ở mức tối thiểu, đồng nghĩa với việc chạy bộ mỗi sáng Chủ nhật đúng ba mươi lăm phút, không hơn. Có lẽ chính nhờ vậy, anh không tăng dù chỉ nửa cân kể từ năm 18 tuổi và vẫn mua cùng một cỡ quần. Lý do của điều kì diệu này là gen của bố anh, ông đã giữ nguyên thân hình thon gọn bảnh bao như một chú chó săn trong suốt cuộc đời mình, ngoại trừ những ngày cuối cùng, khi rượu và trầm uất chỉ chừa lại cho ông da và xương.
Nhưng sau khi ly hôn, Servaz đã thề sẽ bỏ bất cứ hoạt động nào gần giống với thể dục. Việc anh đột nhiên quyết định bắt đầu tập tành trở lại vào sáng Chủ nhật chính là bởi hôm qua Margot đã nói, “Bố, con quyết định bố con mình nên nghỉ hè cùng nhau. Chỉ có hai bố con mình thôi. Đi thật xa khỏi Toulouse.” Con bé đã nói về Croatia, những bờ vịnh nhỏ, những hòn đảo có nhiều núi, đài kỉ niệm và ánh nắng chan hòa. Nó muốn một kì nghỉ vừa vui vẻ vừa phải có tinh thần thể thao, nghĩa là chạy bộ và bơi vào buổi sáng, nằm dài nhàn nhã và vãn cảnh vào buổi chiều, buổi tối anh sẽ đưa con bé đi nhảy múa hoặc dạo chơi bên bờ biển. Con bé đã sắp sẵn kế hoạch. Nói cách khác, tốt hơn hết, Servaz nên có sức khỏe.
Chính vì thế, anh đã mặc chiếc quần soóc cũ, áo thun nhàu nhĩ và mang đôi giày thể thao rồi bắt đầu chạy dọc bờ sông Garonne. Đất trời xám xịt, mù hơi sương. Vào ngày nghỉ, anh thường không bao giờ bước chân ra khỏi nhà trước buổi trưa. Nhưng giờ đây, bầu không khí thanh bình đáng kinh ngạc đang phủ lên thành phố, như thể vào ngày Chủ nhật, ngay cả bọn ngốc và mấy thằng khốn cũng đi nghỉ hết.
Anh chạy với tốc độ vừa phải và nghĩ lại những gì con gái nói. Đi thật xa khỏi Toulouse… Tại sao phải xa Toulouse? Biểu cảm buồn bã, mệt mỏi của con bé… nỗi lo lắng của anh quay trở lại. Điều gì ở Toulouse khiến con bé muốn trốn chạy? Điều gì hay ai đó? Anh nghĩ về vết bầm tím trên má con bé và đột nhiên có một dự cảm chẳng lành.
Một giây sau, anh dừng chân, thở hổn hển, cố lấy hơi. Anh đã chạy quá nhanh. Anh chống tay lên đầu gối, cảm giác hai lá phổi nóng cháy. Chiếc áo thun ướt đẫm mồ hôi. Anh nhìn đồng hồ. Mười phút! Anh cố được mười phút nhưng tưởng như mình đã chạy cả nửa tiếng! Vì Chúa, anh hoàn toàn kiệt sức. Mới 40 tuổi mà đã lụ khụ như một lão già. Đúng lúc đó, điện thoại của anh rung lên sâu trong túi quần.
“Servaz đây,” anh càu nhàu.
“Sao thế?” Giọng Cathy d’Humières. “Không khỏe à?”
“Tôi đang chạy bộ,” anh gắt.
“Tôi cũng thấy cậu cần tập luyện. Rất tiếc phải làm phiền cậu vào ngày Chủ nhật. Có chuyện. Lần này, e rằng không phải là một con ngựa.”
“Ý chị là gì?”
“Chúng ta tìm thấy một xác chết ở Saint-Martin.”
Anh đứng thẳng dậy. “Một… xác chết?” Anh vẫn đang cố điều hòa nhịp thở. “Xác chết kiểu gì? Có… thẻ căn cước không?”
“Chưa tìm thấy.”
“Không có giấy tờ gì trên người sao?”
“Không. Ông ta khỏa thân, ngoại trừ đôi ủng và một chiếc áo choàng đen.”
Servaz cảm thấy như thể vừa bị ngựa đá. Anh lắng nghe d’Humières kể lại những gì bà biết. Chàng trai trẻ leo núi, cái cầu sắt bắc qua dòng suối, thi thể treo bên dưới…
“Nếu ông ta bị treo dưới cầu, rất có thể là một vụ tự tử,” anh đánh bạo nói, dù không mấy tin tưởng. Ai lại muốn lìa đời trong phục sức lố bịch như thế?
“Theo báo cáo ban đầu, có vẻ giống một vụ giết người hơn. Tôi không biết thêm chi tiết nào nữa. Tôi muốn cậu gặp tôi trên đó.”
Servaz cảm thấy như thể một bàn tay lạnh ngắt đang vuốt ve gáy anh. Những gì anh lo sợ đã xảy ra. Đầu tiên là DNA của Hirtmann, giờ đến vụ này. Ý nghĩa của nó là gì? Có phải khởi đầu của một loạt án mạng? Lần này, tên điên người Thụy Sĩ không thể rời khỏi Viện. Nếu vậy, ai đã giết người đàn ông đó?
“Được rồi,” anh trả lời. “Tôi sẽ báo cho Espérandieu.”
D’Humières nói cho anh biết nơi phải đến và dập máy. Có một chiếc ghế dài gần đó, Servaz đi đến và ngồi xuống. Anh đang ở trong công viên Prairie aux Filtres, những thảm cỏ trải dài về phía dòng Garonne, kéo tới tận chân cầu Pont-Neuf. Rất nhiều người đang chạy bộ dọc dòng sông.
“Espérandieu nghe,” cấp dưới của anh bắt máy.
“Chúng ta có một xác chết ở Saint-Martin.”
Im lặng. Servaz nghe thấy tiếng Espérandieu nói chuyện với ai đó. Giọng trợ lý của anh bị chặn lại vì bàn tay đặt trên ống nghe. Servaz tự hỏi liệu có phải cậu ta còn đang nằm cạnh Charlène không.
“Được rồi, em chuẩn bị ngay đây.”
“Hai mươi phút nữa tôi sẽ đến đón cậu.”
Anh cúp máy, rồi chợt thấy điều đó là không thể. Anh đã mất mười phút chạy bộ đến đây, và với tình trạng hiện tại, anh không thể quay trở lại nhanh như thế được. Anh gọi lại cho Espérandieu.
“Vâng?”
“Cứ từ từ. Tôi sẽ không đến kịp trong ít nhất nửa giờ nữa.”
“Anh không ở nhà à?” Espérandieu ngạc nhiên hỏi.
“Tôi đang đi tập thể dục.”
“Tập thể dục? Tập cái gì?” Giọng Espérandieu chứng tỏ cậu vô cùng kinh ngạc.
“Chạy bộ.”
“Anh, chạy bộ?”
“Đây là buổi đầu tiên,” Servaz thành thực nói, anh bắt đầu bực mình.
Anh nghĩ, hẳn Espérandieu đang cười thầm ở đầu dây bên kia. Có lẽ cả Charlène Espérandieu, nằm bên cạnh chồng, cũng đang cười. Liệu bọn họ có đem những thói quen sau khi ly hôn của anh ra làm trò mua vui lúc chỉ có hai vợ chồng không nhỉ? Nhưng có một điều anh có thể chắc chắn, Espérandieu thật lòng ngưỡng mộ anh. Cậu ta đã tự hào đến ngớ ngẩn khi Servaz đồng ý làm bố đỡ đầu cho đứa con sắp sinh của bọn họ.
Lúc đến chỗ để xe ở bãi Cours Dillon, anh đi khập khiễng, chậm như một con sên vì cơn đau xóc bên hông. Về đến nhà, anh liền đi tắm, cạo râu và thay đồ, rồi lái xe ra ngoại ô.
Ngôi nhà đơn lập mới xây với bãi cỏ không rào chắn. Con đường cong trải nhựa theo phong cách Mỹ dẫn tới gara và cửa chính. Một người hàng xóm đứng trên đỉnh thang, cố gắn một ông già Noel vào mép mái nhà, xa hơn chút nữa là lũ trẻ đang chơi bóng dưới lòng đường. Một cặp vợ chồng cao gầy khoảng 50 tuổi chạy bộ trên vỉa hè trong bộ quần áo phản quang. Servaz bước tới bấm chuông, rồi ngoảnh ra nhìn người hàng xóm đang mạo hiểm loay hoay với những chiếc đèn nhấp nháy và ông già Noel.
Khi quay đầu lại, suýt nữa anh nhảy dựng lên, Charlène Espérandieu đã mở cửa tự bao giờ, đang đứng đó trước mặt anh và mỉm cười. Cô mặc chiếc áo khoác len mỏng có mũ bên ngoài áo thun màu hoa cà và quần bò dành cho người mang thai. Cô đi chân trần. Không thể không để ý thấy cái bụng tròn nhô lên. Và cả sắc đẹp của cô nữa. Mọi thứ ở Charlène Espérandieu đều nhẹ nhàng, tao nhã và đầy sức sống. Như thể ngay cả việc mang thai cũng không làm cô mệt mỏi hay lấy đi khiếu hài hước và thiên hướng nghệ sĩ của cô. Charlène quản lý một phòng tranh ở trung tâm Toulouse. Servaz cũng từng được mời đến vài buổi trưng bày cá nhân. Trên những bức tường trắng, anh khám phá ra rằng các tác phẩm nghệ thuật thật lạ lùng, khó chịu và đôi lúc cũng vô cùng mê hoặc.
Đứng bất động mất một lát, Servaz mới lấy lại được phong thái và nở nụ cười lịch sự.
“Mời anh vào. Vincent gần xong rồi. Anh uống cà phê nhé?”
Chợt nhớ ra mình vẫn chưa ăn uống gì từ lúc ngủ dậy, anh theo cô vào bếp.
“Vincent kể với em rằng anh đã bắt đầu chạy bộ,” cô đẩy một chiếc cốc về phía anh.
Giọng nói vui đùa của Charlène không hề khiến Servaz khó chịu, thậm chí anh còn cảm kích vì cô đã làm bầu không khí tươi sáng hơn.
“Thử thôi. Tôi phải thừa nhận mình khá thảm hại.”
“Anh cứ kiên trì. Đừng từ bỏ.”
“Labor omnia vincit improbus.” Servaz gật đầu giải thích. “Có công mài sắt có ngày nên kim.”
Charlène cười. “Vincent nói với em anh vẫn thường trích dẫn tiếng La tinh.”
“Chỉ là chút mánh khóe để gây chú ý khi cần thiết thôi.”
Trong phút chốc, anh những muốn nói cho cô nghe về bố mình. Anh chưa từng kế với bất kì ai, nhưng nếu cần một người để giãi bày, thì đó là Charlène. Cảm giác đó đến ngay từ lần gặp đầu tiên, khi cô thực sự đã hỏi cung anh, nhưng là một cuộc thẩm vấn thân thiện, thậm chí đôi lúc còn dịu dàng. Cô gật đầu đồng tình và nói tiếp, “Vincent rất ngưỡng mộ anh. Em nhận ra có những lúc anh ấy còn cố bắt chước anh, hành động hoặc phản ứng theo cách mà anh ấy nghĩ anh sẽ hành xử. Ban đầu, em không hiểu những thay đổi ấy là do đâu, nhưng sau khi quan sát anh thì em liền hiểu ra.”
“Tôi hy vọng cậu ta bắt chước những mặt tốt.”
“Em cũng hy vọng thế.”
Anh im lặng. Espérandieu xộc vào bếp, mặc áo khoác màu bạc mà Servaz cảm thấy không thích hợp trong tình huống này cho lắm.
“Em đã sẵn sàng!” Cậu đặt một bàn tay lên cái bụng tròn của vợ. “Nhớ tự chăm sóc mình em nhé.”
“Cô ấy được mấy tháng rồi?” Servaz hỏi khi đã vào xe.
“Bảy tháng. Anh chuẩn bị tinh thần làm cha đỡ đầu đi. Giờ thì, nói qua cho em nghe chuyện xảy ra thế nào.”
Servaz kể cho cậu chút thông tin mà anh biết.
Một tiếng ba mươi phút sau, họ xuống xe ở bãi đỗ của siêu thị, nơi đã lúc nhúc toàn xe máy, những người tò mò, và phương tiện của lực lượng sen đầm. Bằng cách nào đó, thông tin đã truyền ra ngoài. Màn sương tan loãng đến lúc này chỉ còn là một lớp trong mờ giăng giăng. Servaz thấy vài chiếc xe của báo chí, và một chiếc từ đài truyền hình địa phương. Cánh nhà báo và người xem đã tụ tập đầy dưới chân con dốc bằng bê tông. Nửa đường phía trên, dải băng vàng của sen đầm ngăn không cho bất cứ ai xâm phạm. Servaz lấy thẻ ra và nhấc dải băng lên. Một trong các sĩ quan cấp dưới chỉ hướng đi cho họ. Họ bỏ đám đông huyên náo lại đằng sau và lặng lẽ bước dọc lối mòn, càng lúc càng căng thẳng. Tới tận khúc ngoặt đầu tiên của con đường, họ vẫn không gặp ai, nhưng càng đi, sương càng dày. Không khí lạnh và ẩm như một chiếc găng tay ướt.
Lên đến nửa con dốc, Servaz lại cảm thấy đau xóc bên hông. Anh giảm tốc độ để giữ nhịp thở, đi tới khúc ngoặt cuối cùng rồi ngước lên. Một đám người đang lăng xăng trong màn sương phía trên. Có quầng sáng trắng rất lớn, như thể một chiếc xe tải đang đỗ trên đó và bật toàn bộ đèn pha.
Anh leo mấy trăm mét cuối cùng, càng lúc càng chắc chắn tên sát nhân đã cố tình chọn cách bài trí này. Giống như lần đầu.
Hắn không chừa chỗ cho sự tình cờ. Hắn biết khu vực này.
Có điểm gì đó không khớp, Servaz nghĩ. Không lẽ Hirtmann đã từng đến đây, trước khi hắn ta được chuyển đến Viện? Không lẽ hắn biết rõ khu vực này? Đây là những câu hỏi họ sẽ phải trả lời. Anh nhớ lại ý nghĩ xuất hiện trong đầu khi d’Humières gọi đến: Lần này làm sao Hirtmann rời khỏi Viện được? Và bởi thế, ai có thể giết người đàn ông kia?
Xuyên qua màn sương, Servaz trông thấy Ziegler và Maillard. Ziegler đang trò chuyện sôi nổi với một người đàn ông nhỏ thó rám nắng với mái tóc trắng như bờm sư tử. Servaz nhớ mình đã từng trông thấy người này. À phải, Chaperon, thị trưởng Saint-Martin, từng gặp ở nhà máy điện. Cô sen đầm nói vài lời nữa với ông thị trưởng rồi tiến về phía họ. Servaz giới thiệu cô với Espérandieu. Cô chỉ về cây cầu sắt, và bên dưới đó, trong quầng sáng trắng, họ thấy loáng thoáng một thân người.
“Rùng rợn lắm!” Cô hét lên trong tiếng gầm của dòng nước.
“Chúng ta phát hiện được gì rồi?” Anh hét lại.
Ziegler vừa chỉ về phía cậu trai trẻ mặc áo choàng poncho màu cam đang ngồi trên tảng đá vừa tóm tắt tình hình. Cậu này ra ngoài chạy bộ, thi thể lủng lẳng dưới cầu, Maillard rào khu vực lại, tịch thu điện thoại của nhân chứng duy nhất, nhưng tin tức vẫn đến tai truyền thông.
“Ông thị trưởng làm gì ở đây?” Servaz thắc mắc.
“Chúng tôi đề nghị ông ta đến để nhận dạng thi thể, vì nghĩ có khả năng nạn nhân là một công dân ở đây. Có lẽ chính ông ta tiết lộ cho báo chí. Chính trị gia, kể cả chức nhỏ, vẫn luôn cần đến nhà báo.”
Cô quay người lại và hướng về phía hiện trường.
“Và có thể là chúng ta đã xác định được nạn nhân. Theo thị trưởng và Maillard, có một dược sĩ tên là Grimm ở Saint-Martin, bà vợ ông ta đã gọi cho sen đầm trình báo là ông chồng mất tích.”
“Mất tích?”
“Theo lời bà vợ, hôm qua Grimm rời nhà để đi chơi poker tối thứ Bảy hàng tuần và lẽ ra phải về nhà lúc nửa đêm. Bà ta gọi để thông báo ông chồng vẫn chưa trở về và không liên lạc được.”
“Bà ta gọi lúc mấy giờ?”
“8 giờ. Sáng nay tỉnh dậy, bà rất ngạc nhiên khi thấy ông chồng không có trong nhà và giường thì lạnh ngắt.”
“Giường của ông chồng?”
“Họ ngủ ở hai phòng tách biệt,” Ziegler xác nhận.
Họ lại gần hơn. Servaz chuẩn bị tinh thần. Những chiếc đèn pha công suất lớn chiếu sáng cả hai bên cầu. Màn sương mù đang xoáy tít trước mặt bọn họ, chẳng khác nào khói phả ra từ những khẩu thần công trên chiến trường. Trong ánh sáng lóa mắt của đèn pha, mọi thứ đều phủ hơi ẩm, sương mù, và bọt nước. Ngay cả dòng suối dường như cũng đang bốc khói, và những vách đá sắc nhọn sáng bóng lên như lưỡi dao. Servaz đến gần. Tiếng nước gầm gào, hòa lẫn tiếng máu sục sôi trong người anh.
Thi thể trần truồng. Béo. Trắng.
Vì độ ẩm cao, làn da ánh lên như thoa dầu dưới quầng sáng lóa mắt của đèn pha. Ý nghĩ đầu tiên của Servaz là tay dược sĩ này béo, thậm chí quá béo. Anh chú ý tới vùng kín rậm lông đen và cơ quan sinh dục nhỏ xíu rụt vào giữa hai bắp đùi đồ sộ toàn những ngấn thịt chảy xệ. Rồi ánh nhìn của anh chuyển lên phần thân trên trương phình, trơn nhẫy và trắng ởn, cũng đầy những ngấn thịt chảy xệ y như chỗ bắp đùi. Tới phần cổ, anh thấy cái đai thít chặt đến nỗi gần như biến vào trong thịt. Cuối cùng là chiếc mũ trùm qua mặt và áo choàng chống thấm màu đen to đùng phủ sau lưng.
“Tại sao kẻ đó lại trùm mũ qua đầu nạn nhân và treo ông ta lên trần truồng thế này?” Espérandieu nói, giọng cậu biến đổi, vừa khàn khàn vừa the thé.
“Vì cái áo mang một ý nghĩa nào đó,” Servaz đáp. “Tình trạng khỏa thân cũng vậy.”
“Quả là một cảnh tượng quái dị,” Espérandieu bổ sung.
Servaz quay ra nhìn cậu. Anh trỏ về phía chàng trai trẻ khoác chiếc áo poncho màu cam đang ngồi xa xa bên dưới. “Mượn một cái xe, rồi chở cậu ta về trụ sở sen đầm để lấy lời khai.”
“Vâng,” Espérandieu nhanh chóng làm theo.
Hai nhân viên khám nghiệm mặc đồ trắng từ đầu đến chân và đeo khẩu trang phẫu thuật đang cúi mình xuống hàng rào sắt. Một trong hai người cầm chiếc bút soi để rọi cơ thể bên dưới. Ziegler chỉ tay vào anh ta. “Chuyên gia giám định cho rằng nguyên nhân cái chết là bị thắt cố. Anh có thấy mấy cái đai đó không?”
Cô chỉ cái đai thẳng đứng tròng quanh cổ người chết và hai đai buộc hai bên cổ tay vào với cây cầu phía trên. Hai cánh tay ông ta giơ lên và dang thành hình chữ V.
“Có vẻ tên giết người đã hạ dần xác xuống bằng cách điều chỉnh độ dài của hai chiếc đai hai bên. Càng thả nhiều dây, cái đai ở giữa càng thắt chặt vào cổ nạn nhân. Chắc hẳn phải rất lâu ông ta mới chết.”
“Một cái chết hãi hùng,” ai đó phía sau họ nói vọng lên.
Họ quay lại. Cathy d’Humières đang nhìn chằm chằm vào thi thể. Trông bà đột nhiên già đi, kiệt quệ.
“Chồng tôi định bán hết cổ phần trong công ty truyền thông của ông ấy và mở một câu lạc bộ lặn ở Corsica. Ông ấy mong tôi nghỉ việc. Vào những buổi sáng thế này, tôi thực chỉ muốn nghe lời ông ấy.”
Servaz biết bà sẽ không đời nào làm việc đó. Anh có thể dễ dàng hình dung, bà là một người vợ du kích, chiến sĩ nhỏ dũng cảm trong các mối quan hệ xã giao, cho dù sau một ngày làm việc mệt mỏi cũng không hề ngại ngần tổ chức tiệc tùng cho bạn bè và cười đùa với họ. Bà chấp nhận sự thất thường của cuộc sống mà không mảy may chớp mắt, như thể mọi thứ xảy ra, dù tệ hại đến đâu cũng chỉ như ly rượu đổ ra bàn thôi.
“Chúng ta có nhận diện được nạn nhân không?” Ziegler lặp lại với d’Humières những lời đã nói với Servaz.
“Cô có biết tên của giám định viên hiện trường không?” Servaz hỏi.
Ziegler đi tới chỗ người đó rồi trở lại cùng thông tin. Servaz hài lòng gật đầu.
“Bọn họ chuẩn bị kéo cái xác lên,” Ziegler nói.
Không khí lạnh và ẩm hơn nhiều so với bãi đỗ xe. Servaz kéo khăn quàng khít vào cổ, bất thần nghĩ tới cái đai lún sâu trong thịt Grimm, anh lại vội nới lỏng ra.
Đột nhiên, anh nhận thấy mình đã bỏ qua hai chi tiết do bị lấn át bởi ấn tượng rùng rợn ban đầu. Một là, vật duy nhất còn lại trên người nạn nhân, ngoài cái áo choàng ra, là một đôi ủng da nhỏ đến mức kì cục so với một kẻ to béo như vậy. Hai là tay phải của ông ta thiếu mất một ngón. Ngón áp út. Vậy là ngón tay đã bị cắt bỏ.
“Lại đó thôi,” d’Humières nói ngay khi thi thể được nhấc lên và đặt xuống lòng cầu.
Cây cầu sắt rung lên, rền rĩ dưới chân họ. Trong phút chốc, Servaz cảm thấy một cơn sợ hãi bản năng khi nhìn dòng nước đổ ầm ầm xuống khoảng không phía dưới. Các giám định viên pháp y đang cắm cúi xung quanh xác chết, tỉ mẩn gỡ bỏ cái mũ. Và rồi, toàn bộ những người đang theo dõi đột ngột bật lui. Bên dưới cái mũ, khuôn mặt nạn nhân bị bịt bằng băng dính màu bạc. Servaz có thể tưởng tượng ra những tiếng thét gào vì khiếp sợ và đau đớn của ông ta. Thấy hai con mắt lòi ra khỏi hốc mắt, anh xem xét kĩ hơn, và nhận ra không phải tự dưng mà chúng mở lớn như vậy. Tên sát nhân đã vạch mí mắt Grimm về hai hướng, chắc là bằng một cái nhíp, rồi ghim chúng vào má và lông mày. Hắn bắt ông ta phải nhìn… Tên sát nhân còn cắt phá nham nhở khuôn mặt của nạn nhân, chắc hẳn với sự hỗ trợ của một vật nặng như búa hoặc vồ, đến nỗi mũi gần như bị xé toạc, chỉ còn dính trên mặt nhờ một dải thịt và sụn mỏng. Cuối cùng, Servaz thấy những vết bùn trên tóc của người dược sĩ.
Trong phút chốc, không một ai nói gì. Ziegler quay sang phía bờ suối. Cô ra hiệu cho Maillard, anh ta nắm lấy cánh tay ông thị trưởng và kéo tới chỗ cái xác. Servaz nhìn họ tiến lại gần. Chaperon lộ vẻ kinh hãi.
“Chính là ông ta,” thị trưởng lắp bắp. “Là Grimm. Ôi trời ơi! Chúng đã làm gì Grimm thế này?”
Ziegler khẽ đẩy ông thị trưởng qua Maillard, viên sen đầm lại dẫn ông ta đi khỏi chỗ xác chết.
“Đêm hôm qua ông ta chơi poker với Grimm cùng bạn bè của họ,” cô giải thích. “Họ là những người cuối cùng gặp ông ta lúc còn sống.”
“Tôi nghĩ lần này chúng ta gặp một vấn đề,” d’Humières nói và đứng thẳng người lên.
Servaz và Ziegler liếc nhìn nhau.
“Chúng ta sắp có vinh dự được lên báo. Khắp trang nhất. Và không chỉ báo chí địa phương thôi đâu.”
Servaz biết bà ám chỉ điều gì. Bọn họ chuẩn bị đi vào mắt bão, cơn bão truyền thông, nhật báo, tuần báo, mọi bản tin truyền hình. Đây không phải là cách tiến triển tốt nhất cho một cuộc điều tra, nhưng họ cũng không còn lựa chọn nào khác. Anh nhận thấy mình đã bỏ sót một chi tiết, Cathy d’Humières sáng nay trông cực kì thanh lịch. Không quá nổi bật, mà vô cùng tinh tế. Nói chung lúc nào bà trưởng công tố cũng giữ cho bề ngoài không chê vào đâu được, nhưng sáng nay, bà còn chăm chút hơn. Áo cánh, bộ vét, áo khoác, vòng cổ và hoa tai, tất cả đều được phối hợp hoàn hảo, ngay cả cách trang điểm cũng làm nổi bật khuôn mặt nghiêm nghị nhưng dễ chịu. Trông bà rất thanh nhã, chắc đã phải loay hoay khá lâu trước gương cho cố gắng đó.
Bà biết báo chí sẽ vào cuộc nên đã có sự chuẩn bị. (Không như Servaz, anh thậm chí còn chưa chải đầu. May mà nhớ cạo râu.) Nhưng có một điều bà không chuẩn bị nổi. Đó là tình trạng xác chết. Nó khiến bà choáng váng. Ở một mức độ nào đó, mọi cố gắng của bà đã tan biến. Giờ trông bà rã rời, kiệt quệ và già cỗi, bất chấp nỗ lực tự kiềm chế. Servaz đi tới chỗ giám định viên hiện trường. Anh ta đang chụp xác chết, hết kiểu ảnh này đến kiểu ảnh khác, flash lóe sáng liên tục.
“Tôi tin là anh biết cách sử dụng số ảnh theo đúng quy định.” Anh nói. “Đừng để chúng lọt ra ngoài.”
Người kia gật đầu. Anh ta đã hiểu thông điệp chưa nhỉ? Nếu bất cứ tấm ảnh nào trong số đó tới tay nhà báo, Servaz sẽ bắt anh ta phải chịu trách nhiệm.
“Giám định viên đã xem bàn tay phải của ông ta chưa?” Anh hỏi Ziegler.
“Rồi. Anh ta nghĩ là ngón tay đã bị cắt đứt bằng một vật sắc, như kìm hoặc kéo tỉa cành. Sẽ kiểm tra kĩ hơn để xác minh.”
“Ngón áp út ở tay phải,” Servaz nói.
“Tuy vậy, các ngón khác không hề bị đụng vào,” Ziegler quan sát.
“Cô có nghĩ đến điều tôi đang nghĩ không?”
“Một chiếc nhẫn khắc dấu, hoặc một loại nhẫn nào đó.”
“Liệu có phải tên giết người muốn cướp về làm chiến lợi phẩm, hoặc muốn đảm bảo không ai khác thấy nó nữa?”
Ziegler kinh ngạc nhìn anh, “Sao hắn lại muốn che giấu nó? Vả lại, tất cả những gì hắn cần làm chỉ là tháo nó ra.”
“Có lẽ hắn không thể. Những ngón tay của Grimm rất béo.”
Trên đường đi xuống, Servaz thấy các nhà báo cùng đám người hiếu kì đã xúm đông xúm đỏ. Anh muốn quay lại ngay lập tức. Tuy nhiên, con dốc bê tông đằng sau siêu thị là đường ra duy nhất. Nếu không thì anh phải leo qua núi. Anh trưng ra một biểu cảm thích hợp và đang chuẩn bị đối mặt với đám đông thì bị một bàn tay chặn lại.
“Để tôi.”
Cathy d’Humières đã lấy lại phong độ. Servaz lùi lại sau, thầm thán phục màn trình diễn của bà. Bà lảng tránh vấn đề trong khi vẫn gây ấn tượng rằng bà đang tiết lộ thông tin cho họ. Bà trả lời tất cả các câu hỏi của nhà báo, nghiêm trang nhìn thẳng vào mắt họ, nhấn mạnh từng câu với một nụ cười nhàn nhạt tinh khôn nhưng thận trọng, tuy vậy vẫn tập trung vào sự rùng rợn của tình huống vụ án. Đó là một nghệ thuật vĩ đại.
Servaz len qua đám nhà báo để ra xe, không đợi nghe hết bài diễn văn ấy. Xe anh đang đỗ ở phía xa của bãi, cạnh mấy dãy xe đẩy siêu thị. Anh gần như không nhìn thấy nó qua màn sương. Từng đợt gió mạnh tạt qua, anh dựng cổ áo khoác lên, nghĩ đến tên nghệ sĩ đã sáng tác ra bức tranh khủng khiếp trên kia. Nếu chính hắn cũng là tác giả của vụ con ngựa thì tức là hắn thích những chỗ trên cao.
Servaz đi tới chỗ chiếc xe, bỗng dưng cảm thấy có điều không ổn. Anh nhìn cái xe chằm chằm cho tới khi hiểu ra. Lốp xe lún xuống đường nhựa như những quả bóng xịt. Chúng đã bị chọc thủng. Cả bốn bánh… Và thân xe bị cào xước bằng một chiếc chìa khóa hay vật nhọn gì đó.
Chào mừng đến Saint-Martin, anh nghĩ.
❀ ❀ ❀
[1] : Trượt tuyết ở bên ngoài đường trượt được chuẩn bị sẵn (những chỗ tuyết đã được nén xuống từ trước).