Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19

❊ ❊ ❊

19

Servaz khởi động xe. Bầu trời u ám và những con đường trắng xóa. Tuyết đang rơi lác đác. Anh bật cần gạt trên kính chắn gió, lấy di động gọi cho Ziegler.

“Cô đang ở đâu?” Anh hỏi ngay khi cô nhấc máy.

“Với bố mẹ tôi,” cô khẽ nói, và anh hiểu rằng cô đang không ở một mình.

“Ở đâu?”

“Ở ngoại ô thị trấn, sao thế?”

Anh tóm tắt lại cuộc gọi cầu cứu của Perrault.

“Cô đang ở gần hơn tôi,” anh kết luận. “Đến càng nhanh càng tốt! Một phút cũng không thể lãng phí. Perrault đang đợi chúng ta ở trên rồi.”

“Sao không báo với sen đầm?”

“Không có thời gian. Nhanh lên!”

Servaz cúp máy. Anh hạ tấm che nắng có chữ CẢNH SÁT xuống và dính chiếc đèn hiệu gắn nam châm lên nóc xe. Anh bật còi hụ. Mất bao lâu để lên tới đó? Gaspard Ferrand không ở Saint-Martin mà sống trong một ngôi làng cách đó 5 kilomet. Những con phố phủ đầy tuyết. Theo Servaz tính toán, phải mất hơn mười lăm phút mới đến được bãi đỗ xe ở trung tâm thị trấn, cạnh cáp treo du lịch. Vậy còn thời gian đi lên tới nơi? Mười lăm hay hai mươi phút?

Trước sự kinh ngạc của Ferrand, Servaz lao đi như một viên đạn, còi hụ ầm ĩ. Một trụ đèn giao thông ở cuối phố. Đèn đỏ. Anh đã chuẩn bị lao qua thì nhìn thấy một chiếc xe tải khổng lồ từ bên phải đi sang. Anh đạp phanh và lập tức cảm nhận được chiếc xe đang trượt bánh. Chiếc Jeep chệch sang một bên ngay giữa giao lộ, con quái vật thép kia thì tránh khỏi xe anh trong đường tơ kẽ tóc, và giờ đang bấm còi inh ỏi. Tiếng ồn khiến màng nhĩ của anh muốn nổ tung, còn nỗi sợ hãi tấn công anh như một cú đấm vào giữa bụng. Anh nghẹn thở. Những khớp ngón tay trắng bệch trên bánh lái. Anh về số một và tiếp tục lên đường. Không còn thời gian để nghỉ nữa! Không chỉ là ba mươi tám tấn thép suýt đâm vào anh, mà còn là chuyện sống chết trong gang tấc.

Ở giao lộ tiếp theo, anh rẽ phải và rời khỏi ngôi làng. Những cánh đồng trắng xóa trải ra tít tắp, bầu trời vẫn đầy vẻ hăm dọa nhưng tuyết đã ngừng rơi. Anh tăng tốc.

Anh đi vào Saint-Martin từ phía Đông. Ở vòng xuyến đầu tiên anh đã rẽ sai hướng. Anh vòng trở lại, chửi thề và đấm vào vô lăng, những lái xe khác nhìn anh với vẻ nghi ngờ. May mắn là đường không đông. Còn hai vòng xuyến nữa. Anh phóng qua một nhà thờ và đi trên đại lộ d’Étigny, trung tâm thương mại và văn hóa của thị trấn với một loạt khách sạn, cửa hàng quần áo sang trọng, những hàng cây tiêu huyền, một rạp chiếu phim, và vô số quán cà phê, ô tô đỗ dọc suốt đại lộ. Ở ven và giữa đường, tuyết đã biến thành một đám bùn loãng đen ngòm vì hàng tá xe cộ qua lại. Ngay trước khi tới rạp chiếu phim, anh rẽ phải. Một mũi tên chỉ đường: Cáp treo du lịch.

Ở cuối con phố là một bãi đỗ xe lớn, khoảng đất mênh mông dưới cái bóng lờ mờ của dãy núi. Đối diện bãi đỗ xe, những sườn núi vươn thẳng lên trời với tuyến cáp treo đang len qua những cây lãnh sam như một vết sẹo trắng dài. Anh liều lĩnh lái xe thật nhanh qua những dãy xe tới thẳng trạm cáp treo dưới cùng. Anh lại phanh đột ngột, và một lần nữa, chiếc xe trượt bánh. Chỉ tích tắc sau, anh đã ra ngoài, chạy trên những bậc thềm dẫn lên tòa nhà đặt trên hai trụ bê tông khổng lồ. Anh vội vã lao tới cửa sổ bán vé. Một cặp đôi đang mua vé. Servaz chìa thẻ ra.

“Cảnh sát! Mất bao lâu để lên tới đó?”

Người đàn ông đằng sau cửa sổ nhìn anh với ánh mắt dè bỉu, “Chín phút.”

“Có cách nào tăng tốc lên không?”

Người đàn ông trân trân nhìn anh như thể yêu cầu là quá ư điên rồ.

“Làm gì cơ?” Anh ta hỏi.

Servaz cố giữ bình tĩnh, “Tôi không có thời giờ tranh cãi với một người-biết-tuốt như anh. Thế nào?”

“Tốc độ tối đa là 5ms,” người đàn ông sưng sỉa nói. “18kmh.”

“Thế thì làm đi, tốc độ tối đa!” Servaz nói rồi nhảy lên một trong những chiếc cabin hình vỏ trứng được cấu tạo từ vật liệu hỗn hợp với cửa sổ lớn bằng thủy tinh hữu cơ cùng bốn chỗ ngồi nhỏ xíu.

Một cánh tay cơ học bằng kim loại đóng cánh cửa sau lưng anh. Servaz nuốt nước bọt. Chiếc cabin khẽ rung lắc khi rời khỏi đường ray, rồi đu đưa giữa không trung. Servaz quyết định ngồi xuống là lựa chọn tối ưu trong cái vỏ trứng lung lay này. Cabin nhanh chóng chạy về phía trụ tháp đầu tiên, bỏ lại bên dưới những mái nhà trắng của Saint-Martin. Anh liếc nhanh xuống, và giống như trong trực thăng, hối hận ngay lập tức. Dây cáp treo dốc tới mức khiến anh lập tức có ấn tượng rằng đơn vị chủ quản ở đây hẳn phải là một trong những doanh nghiệp trơ tráo và vô trách nhiệm. Dây cáp quá mỏng manh, không đủ để anh yên bụng. Bạt ngàn mái nhà và phố xá dưới kia đang thu nhỏ lại với tốc độ chóng mặt. Những chiếc cabin đằng trước cách nhau khoảng 30 mét và chao đảo trong gió.

Đằng xa bên dưới, cặp đôi kia đã quyết định không lên nữa và quay trở về xe. Servaz chỉ có một mình. Không ai lên, không ai xuống. Những chiếc cabin trống không. Vạn vật im lặng, ngoại trừ cơn gió đang gào thét lớn hơn bao giờ hết.

Tuyết lại tiếp tục rơi. Lên được nửa tuyến, đột nhiên sương mù bao phủ dày đặc. Servaz thấy mình đang ở giữa một khung cảnh mờ ảo, đồng hành với anh chỉ có những cây lãnh sam đang đứng giữa sương mù như một đội quân ma, và gió đã thổi tung những bông tuyết xung quanh chiếc cabin.

Anh đã quên súng! Vì vội vã, anh để quên nó trong hộc đựng đồ. Chuyện gì sẽ xảy ra nếu anh phải đối mặt với tên giết người? Đấy là còn chưa kể đến việc hắn có thể đã đợi sẵn trên đỉnh cáp treo với vũ khí sẵn sàng, và lúc ấy Servaz sẽ chẳng khác nào một con vịt bầu vô dụng. Không chỗ ẩn nấp. Cái vỏ nhựa này chẳng thể chắn được viên đạn nào cả.

Mong là Ziegler đã tới trước. Cô ấy không phải kiểu người bỏ quên súng. Perrault sẽ phản ứng thế nào khi thấy cô? Ông ta đã bảo anh tới một mình.

Đáng ra anh nên hỏi kẻ-biết-tuốt ở cửa bán vé rằng có thấy Ziegler hay không. Giờ thì đã quá muộn. Anh đang tiếp cận điều bí ẩn bằng một tốc độ chậm đến phát điên. Anh lấy di động ra gọi cho Perrault. Cuộc gọi được chuyển vào hộp thư thoại.

Chết tiệt! Tại sao ông ta lại tắt máy?

Anh có thể nhìn ra hai hình dáng mơ hồ trong một chiếc cabin đang đi xuống ở khoảng cách gần 200 mét. Đây là sự hiện diện đầu tiên của con người mà anh gặp kể từ khi rời trạm bên dưới. Anh gọi số của Ziegler.

“Ziegler đây.”

“Cô có ở trên không?” Anh hỏi.

“Không, tôi đang trên đường đến.” Cô ngừng lại. “Xin lỗi, Martin, xe máy của tôi trượt bánh vì tuyết và tôi bị bắn ra khỏi xe. Chỉ xước xát thôi, nhưng tôi phải đi mượn một phương tiện khác. Anh đang ở đâu rồi?”

Chết tiệt!

“Lên được gần nửa đường.”

Cái cabin có hành khách dường như tiến lại phía anh càng lúc càng nhanh. Servaz tính toán rằng nếu hai chiếc cabin đang lại gần nhau với tốc độ 18kmh, thì tổng tốc độ của chúng là 36kmh.

“Liệu có bão tuyết trên đó không?”

“Không,” anh nói. “Tôi không biết. Perrault không trả lời điện thoại.”

“Anh có vũ khí không?”

Ngay cả từ khoảng cách này, anh cũng có thể thấy một trong hai hành khách đang nhìn mình chằm chằm.

“Tôi để quên súng trong xe rồi.”

Theo sau là một khoảng im lặng ngột ngạt.

“Cẩn…”

Lời cô bị ngắt ngang. Servaz nhìn điện thoại. Không có gì hết! Anh quay số lần nữa. Không có sóng. Đúng là tất cả những gì anh cần! Anh thử hai lần nữa, vô ích. Servaz không thể tin vào mắt mình. Khi anh ngẩng lên một lần nữa, chiếc cabin có người đã gần anh thêm một đoạn. Một trong hai hành khách đội mũ len đen trùm kin đầu. Anh chỉ thấy được mắt và miệng gã. Người còn lại đầu trần, đeo kính. Cả hai đều đang chằm chằm nhìn Servaz qua lớp kính và sương mù.

Ánh mắt người đầu tiên trừng trừng giận dữ. Và người còn lại: khiếp sợ.

Trong một tích tắc, Servaz liền hiểu ra. Toàn bộ tình huống khủng khiếp này đã trở nên rõ ràng.

Perrault, người đàn ông cao gầy trong bức ảnh, với mái tóc rậm và mắt kính dày.

Tim Servaz nhảy loạn lên trong lồng ngực. Cứ như ác mộng, chiếc cabin kia đang tiến về phía anh, nhanh một cách đáng sợ. Chưa đầy 20 mét. Trong hai giây nữa nó sẽ đi qua anh. Và một chi tiết khác khiến anh chú ý, ở mặt bên kia của cabin, tấm kính cửa sổ bằng thủy tinh hữu cơ đã biến mất.

Perrault trân trối nhìn Servaz, miệng há hốc, mắt trợn to sợ hãi. Ông ta đang gào thét. Servaz có thể nghe thấy tiếng hét của ông ta dù cách bao nhiêu lớp cửa sổ, dù gió đang gào thét bên ngoài cùng tiếng dây cáp và ròng rọc ầm ầm. Anh chưa từng trông thấy ai kinh hoàng đến vậy. Như thể ông ta sắp bị phanh thây chỉ trong giây lát.

Servaz vô thức nuốt khan. Thời điểm chiếc cabin lướt qua anh và trượt lại phía sau, mọi chi tiết đều trở nên rõ ràng. Perrault bị thắt dây thừng quanh cổ, sợi dây luồn ra ngoài qua khung cửa sổ mắt kính, treo vào một thứ giống như cái móc ngay phía trên khung cửa rồi lại luồn vào và dừng trên tay gã đàn ông trùm đầu. Có lẽ cái móc dùng để cố định hành khách bị thương và đưa xuống đất khi cabin bị kẹt. Servaz cố nhìn vào mắt tên trùm mặt, nhưng hắn đã di chuyển ra sau nạn nhân ngay khi hai chiếc cabin lướt qua nhau.

Rõ ràng là mình biết hắn! Servaz nghĩ. Hắn sợ mình sẽ nhận ra, ngay cả khi đã trùm kín đầu!

Anh loay hoay một cách tuyệt vọng với chiếc điện thoại. Không có sóng. Hoảng loạn, anh nhìn quanh cabin để tìm nút báo động, điện thoại nội tuyến, hay thứ gì tương tự, nhưng không có gì cả. Chết tiệt! Người ta có thể chết trong một chiếc cabin chạy trên dây cáp với tốc độ 5ms đấy! Servaz quay lại nhìn chiếc cabin đang càng lúc càng xa. Khoảnh khắc cuối cùng, anh bắt gặp ánh mắt kinh hoàng của Perrault. Nếu có một khẩu súng trong tay, ít nhất anh có thể… có thể làm gì chứ? Anh có thể làm gì? Dù sao anh cũng chỉ là một tay súng tồi. Ở các bài kiểm tra thường niên, anh chưa bao giờ thất bại trong việc khiến thanh tra nản lòng bằng kết quả bi thảm của mình.

Chiếc cabin và hai người đàn ông đã mất dạng vào sương mù.

Servaz gằn ra một tiếng cười bi thảm. Rồi chỉ muốn thét lên. Trong cơn phẫn nộ, anh tung một cú đấm vào tấm kính cửa sổ.

Những giây phút tiếp theo là một trong những khoảng thời gian dài nhất cuộc đời anh. Mất hơn năm phút mới đến trạm kế tiếp. Năm phút dài vô tận với cuộc diễu hành ma quái của những cây lãnh sam thẳng tắp như lính bộ binh trong sương mù. Trạm cáp là một tòa nhà thấp và nhỏ, cũng được đặt trên các cột bê tông dày như bên dưới. Trên nữa, Servaz có thể thấy những con dốc trượt tuyết hoang vắng, những tòa nhà chìm trong sương mù. Một người đàn ông đứng trên trạm dừng đang nhìn anh tiến lại. Khoảnh khắc cửa mở, anh vọt ra ngoài. Anh gần như bay trên nền bê tông. Thẻ ngành trên tay, anh lao về phía người đàn ông mặc đồng phục.

“Dừng tất cả lại! Ngay lập tức! Ngừng cái cáp treo lại!”

Dưới chiếc mũ lưỡi trai, đôi mắt người nhân viên nhìn anh kinh ngạc, “Gì cơ?”

“Anh có thể dừng cái cáp treo lại không?”

Gió đang rít lên. Servaz phải hét lớn hơn nữa. Cơn giận dữ và sự nóng vội của anh cuối cùng có vẻ đã gây ấn tượng cho anh ta, “Có, nhưng…”

“Thế thì dừng tất cả lại! Và gọi xuống dưới kia! Anh có đường dây điện thoại không?”

“Có, đương nhiên!”

“Dừng tất cả lại! Ngay lập tức! Và đưa điện thoại cho tôi! Nhanh lên!”

Người nhân viên xông vào bên trong. Anh ta luống cuống nói vào một chiếc micrô, nhìn Servaz bằng ánh mắt lo lắng, rồi kéo cái cần gạt xuống. Cáp treo rùng mình dừng lại, tạo ra một tiếng rít khủng khiếp ở trạm dừng. Anh chụp lấy điện thoại và quay số sen đầm. Một người phụ trách liên lạc trả lời.

“Cho tôi gặp Maillard! Sĩ quan chỉ huy Servaz gọi! Khẩn cấp!”

Một phút sau, Maillard nghe máy.

“Tôi vừa đi qua tên giết người. Hắn đang trên đường xuống, trên một trong những chiếc cabin cùng với nạn nhân tiếp theo. Tôi đã bảo họ dừng cáp treo lại. Đưa người của anh lên trạm cáp treo du lịch ngay bây giờ! Ngay khi anh vào vị trí, chúng tôi sẽ khởi động lại nó.”

Đầu dây bên kia sửng sốt trong giây lát.

“Anh chắc không?” Maillard lắp bắp.

“Chắc chắn. Nạn nhân là Perrault. Ông ta đã gọi cầu cứu hai mươi lăm phút trước, yêu cầu tôi lên gặp. Ông ta ở trong cabin đối diện mà tôi vừa đi ngang qua, bị dây thừng quấn cổ và bên cạnh là một gã đàn ông đội mũ trùm đầu!”

“Chúa ơi! Tôi sẽ báo động. Ngay khi sẵn sàng chúng tôi sẽ gọi cho anh!”

“Cố liên lạc với Ziegler nữa. Điện thoại của tôi không hoạt động.”

Maillard gọi lại sau mười hai phút, trong lúc đó Servaz chỉ còn cách đi đi lại lại trên trạm dừng, xem đồng hồ và hút thuốc liên tục, hết điếu này tới điếu khác.

“Chúng tôi đã sẵn sàng,” viên sen đầm nói trong điện thoại.

“Tốt. Tôi sẽ cho cáp treo chạy tiếp. Perrault và tên sát thủ ở trên một trong những cabin đang trên đường xuống! Tôi đến đây!”

Anh khởi động cần gạt, nhảy lên một trong những chiếc cabin. Ngay khi nó vừa chuyển bánh, anh liền nhận ra điều không đúng. Tên giết người định đẩy Perrault xuống khoảng không và nhìn ông ta lủng lẳng ở cuối đoạn dây thừng, và chắc chắn không muốn tới trạm đỗ bên dưới cùng với nạn nhân. Servaz tự hỏi, liệu có điểm nào mà tên giết người có thể nhảy xuống từ chiếc cabin đang di chuyển hay không. Và anh lập tức biết chắc câu trả lời là có.

Liệu Maillard và người của anh ta có kế hoạch ứng phó cho những tình huống như thế này không? Họ có kiểm tra tất cả những con đường dẫn lên núi không?

Một lần nữa, anh cố gọi vào số của Ziegler, nhưng vô ích. Trên đường lên, anh đã đi qua sương mù. Không thể nhìn thấy bất cứ thứ gì ngoại trừ rừng lãnh sam và những chiếc cabin trống không gặp trên đường. Đột nhiên, anh nghe thấy tiếng phần phật của cánh trực thăng, nhưng không thể nhìn thấy nó. Có điều, âm thanh không vọng xuống từ phía trên mà là từ phía dưới.

Chuyện gì đang xảy ra dưới đó? Mũi dán lên kính cửa sổ, anh cố nhìn qua lớp sương mù. Nhưng anh không thể nhìn xa hơn 20 mét. Cáp treo bỗng dừng lại, đột ngột tới mức anh suýt mất thăng bằng. Vì Chúa! Mũi anh đập mạnh vào cửa sổ, đau đến rớm nước mắt. Bọn họ đang làm gì? Anh nhìn quanh. Những chiếc cabin khẽ đu đưa trên dây cáp như đèn lồng treo ở hội chợ. Gió đã ngừng thổi và tuyết gần như rơi thẳng đứng. Tuyết phủ một lớp áo choàng dày dưới gốc những cây lãnh sam. Anh cố dùng điện thoại, nhưng kết quả cũng chẳng khá hơn lần trước.

Mười lăm phút. Anh trở thành tù nhân trong quả bóng nhựa này, quan sát khung cảnh mịt mùng của lãnh sam và sương mù bao quanh. Sau nửa giờ, chiếc cabin đột nhiên lắc mạnh, di chuyển về phía trước thêm 3 mét và dừng lại một lần nữa. Servaz chửi thề. Bọn họ định làm gì vậy? Anh đứng lên, ngồi xuống, rồi lại đứng lên. Ở đây thậm chí không đủ chỗ cho anh duỗi chân. Rồi rốt cuộc, cabin cũng nảy về phía trước. Anh tưởng như mình đã ngồi cam chịu và chờ đợi rất lâu.

Khi anh về tới trạm phía dưới, sương mù bỗng tan đi và những mái nhà thị trấn lộ ra. Servaz thấy ánh sáng chớp lóe của đèn hiệu và rất nhiều xe cộ của lực lượng sen đầm trên bãi đỗ. Các sen đầm mặc cảnh phục đi qua đi lại, những dáng hình mặc đồ trắng của đội khám nghiệm hiện trường. Một cơ thể được đặt nằm trên cáng, phủ vải bạt chống thấm màu bạc, cạnh chiếc xe cứu thương đang mở cửa sau.

Anh chết sững.

Perrault đã chết.

Bọn họ đã dừng cáp treo lại để thực hiện khám xét sơ bộ. Họ đưa ông ta xuống và khởi động lại cáp treo. Servaz ngay lập tức hiểu rằng tên giết người đã trốn thoát. Ngay khi cửa mở, anh lao ra khỏi cabin và vội vã băng qua sàn bê tông. Anh thấy Ziegler, Maillard, Confiant và d’Humières ở những bậc thềm dưới cùng. Ziegler đang mặc bộ đồ bó liền thân bằng da, nhưng lớp da đã bị rách ở một số nơi. Đầu gối và khuỷu tay cô sưng lên, đầy vết thâm tím và vảy máu khô. Rõ ràng cô không kịp băng bó vết thương. Cô vẫn đang cầm mũ bảo hiểm trong tay, kính che mặt đã nứt.

“Chuyện gì xảy ra vậy?” Anh hỏi.

“Chúng tôi phải hỏi anh câu đó mới đúng,” Confiant vặn lại.

Servaz trừng mắt nhìn cậu ta. Trong khoảnh khắc, anh ước gì tay thẩm phán trẻ chỉ là một bức tượng mong manh còn anh là một cái búa. Anh quay sang Cathy d’Humières.

“Có phải Perrault không?” Anh hỏi, chỉ vào thi thể dưới tấm bạt chống thấm.

Bà gật đầu.

“Ông ta gọi vào di động của tôi,” anh giải thích. “Ông ta muốn đích thân nói chuyện với tôi. Giọng ông ta có vẻ hoảng sợ, chắc hẳn đã cảm thấy mình đang gặp nguy hiểm. Ông ta bảo tôi lên gặp. Tôi đã cấp báo với Ziegler và cố gắng lên nhanh nhất có thể.”

“Và anh cảm thấy không cần yêu cầu tiếp viện sao?” Confiant hỏi.

“Không có thời gian. Ông ta muốn tôi lên một mình. Ông ta muốn nói chuyện riêng với tôi.”

Confiant nhìn anh chằm chằm, đôi mắt sáng quắc lên vì giận dữ. Cathy d’Humières trầm tư. Servaz lại liếc nhìn cái xác trên cáng. Nhân viên hiện trường đang gập bánh lại và đưa lên xe cứu thương. Anh không thấy giám định viên pháp y, chắc hẳn ông ta đã rời đi. Một đám người tò mò đứng sau dải băng cảnh sát ở cuối bãi đỗ xe. Một ánh đèn flash chợt nháng lên. Thêm một ánh đèn flash nữa.

Chiếc trực thăng chắc hẳn đã hạ cánh bởi anh không hề nghe thấy tiếng cánh quạt.

“Còn tên giết người?” Anh nói.

“Hắn thoát rồi.”

“Bằng cách nào?”

“Khi chúng tôi thấy chiếc cabin, thì một tấm kính cửa sổ đã mất và Perrault bị treo cổ bên dưới,” Maillard nói. “Chúng tôi liền phong tỏa tất cả các ngả đường. Có một chỗ, cáp treo đi qua một con đường mòn dẫn tới khu nghỉ dưỡng. Đường mòn khá rộng, tuyết phủ kín vào mùa đông khiến con đường rộng ra gấp đôi, biến thành một đường trượt tuyết nếu anh muốn trượt xuống Saint-Martin. Điểm hạ xuống thấp nhất giữa cáp treo và con đường là 4 mét. Chắc gã giết người đã tiếp đất bằng cách sử dụng đầu kia của sợi dây dùng để treo Perrault. Sau đó, một tay trượt tuyết giỏi chỉ cần ba phút là xuống tới đây.”

“Đường mòn thông ra đâu?”

“Đằng sau khu tắm suối nước nóng.” Maillard chỉ về phía ngọn núi. “Nó nằm ở phía Đông núi này. Con đường chạy quanh núi và kết thúc sau một tòa nhà lớn, khuất khỏi tầm nhìn.”

Servaz hình dung ra tòa nhà lớn mà mình đã có dịp đi qua hai lần. Chỗ có khu suối tắm nước nóng, một con đường dạo mát rộng thênh thang với hồ tắm nằm giáp núi, chúng được xây dựng vào thế kỉ 19, về sau nâng cấp để thêm vào một khu vực hiện đại quây bằng kính. Ba mặt xung quanh con đường lớn ấy mọc lên vô số khách sạn và quán cà phê. Ở giữa là một bãi đỗ xe chứa đủ hàng tá ô tô.

“Đó là nơi chúng tôi đã mất dấu hắn,” Maillard nói.

“Anh có phong tỏa đường mòn không?”

“Có, chúng tôi đã quây kín toàn bộ khu vực và một đội hiện trường đang lục soát từng ngóc ngách từ cáp treo tới bãi đỗ xe ở khu tắm nước nóng.”

“Hắn đã tính toán mọi khả năng,” Ziegler nhận xét.

“Tuy vậy, hắn không có nhiều thời gian.”

“Làm sao hắn biết Perrault đã gọi điện cầu cứu?” Viên sen đầm hỏi.

Bọn họ nghĩ một lúc, nhưng không ai có được lời giải thích thỏa đáng.

“Hắn sử dụng thừng động[1],” Maillard nói. “Một dụng cụ leo núi rất tốt. Có thể ngay từ đầu hắn đã chở nó theo xe cùng với ván trượt tuyết rồi cất trong ba lô khoác theo người.”

“Một người chơi thể thao,” Ziegler nói. “Một gã ngầu.”

Servaz gật đầu, “Chắc hẳn hắn có mang vũ khí. Nếu không Perrault sẽ không bao giờ lên với hắn. Nhưng tôi không thấy vũ khí, ván trượt tuyết hay ba lô nào cả. Diễn biến quá nhanh. Và tôi thực sự không nhận ra có gì khác ở trong cabin.”

Gương mặt Perrault biến dạng vì sợ hãi. Anh không thể thoát khỏi hình ảnh đó.

“Hắn ở vị trí nào trong chiếc cabin so với Perrault?” Ziegler hỏi.

“Perrault ở gần tôi hơn, và tên giết người đứng đằng sau ông ta.”

“Perrault có thể bị gí súng ở sau lưng. Hoặc một lưỡi dao.”

“Có thể. Lại một màn dàn dựng thông minh. Dù rất ít thời gian. Hắn nhanh nhẹn và ngạo mạn. Có lẽ là quá ngạo mạn. Khi chiếc cabin đến gần tôi, hắn nấp ra sau Perrault,” Servaz chau mày.

“Tại sao hắn làm thế, khi đã đội mũ trùm đầu rồi?”

“Để tôi không thấy được mắt hắn.”

Ziegler sắc sảo nhìn anh, “Ý anh là hắn sợ anh sẽ nhận ra hắn?”

“Phải. Nghĩa là tôi đã từng nhìn thấy hắn. Nhìn cận mặt!” Servaz nói. “Chúng ta phải thẩm vấn người đàn ông ở cửa bán vé. Hỏi anh ta xem có thấy ai không.”

“Chúng tôi làm rồi. Anh ta nhận ra Perrault, và quả quyết là trước anh không còn ai lên nữa.”

“Sao có thể như thế được?”

“Vì còn một đường khác lên Saint-Martin 2000. Đường bộ. Đi từ cực Nam thị trấn lại chỉ mất chừng mười phút. Tên giết người có nhiều thời gian nên có thể đã lên bằng đường ấy.”

Từ khu tắm nước nóng ở cực Nam thị trấn, có một ngả đường dài chừng 12 kilomet chạy về hướng Tây Ban Nha và kết thúc ở gần biên giới, nơi có thung lũng anh từng đến để xem ngôi nhà gỗ của Grimm. Còn một ngả đường khác thì dẫn lên khu trượt tuyết nghỉ dưỡng.

“Nếu thế thì hắn cần hai chiếc xe,” Servaz nói. “Một để đi lên, và một chiếc đợi phía dưới.”

“Phải. Và nhiều khả năng có người đợi sẵn hắn ở khu tắm nước nóng. Nếu không thì cũng là chiếc xe thứ hai phải đỗ ở đó từ trước,” Ziegler nói.

“Chiếc xe thứ nhất của hung thủ có thể vẫn còn trên Saint-Martin 2000. Các anh đã bố trí chốt chặn ở đường vào khu nghỉ dưỡng chưa?” Anh hỏi Maillard.

“Có, chúng tôi đang kiểm tra tất cả xe cộ đi xuống. Và sẽ kiểm tra ngay những phương tiện đỗ bên trên.”

“Hung thủ gồm hai người,” Ziegler nói.

Servaz nhìn cô, “Phải. Hai tên ở nhà máy điện, và lần này cũng là hai tên.”

Có điều gì đó đột nhiên nảy ra trong tâm trí anh, “Chúng ta phải gọi cho Viện, ngay lập tức.”

“Chúng tôi gọi rồi, Hirtmann ở yên trong buồng giam. Hắn ở đó suốt cả sáng nay. Có hai người ở Viện đã nói chuyện với hắn. Chính Xavier cũng đã tới kiểm tra.”

Confiant chằm chằm nhìn Servaz, như thể muốn nói: Tôi đã bảo rồi.

“Lần này, báo chí sẽ đến thị trấn,” d’Humières dặn. “Chúng ta sẽ lên khắp các trang nhất, và không chỉ là truyền thông địa phương. Tôi không muốn ai tự tiện hành động hay phát ngôn quá khích.”

Servaz và Ziegler không nói gì.

“Thẩm phán Confiant và tôi sẽ lo việc quan hệ với báo chí. Những người còn lại, tuyệt đối giữ im lặng. Cuộc điều tra đang tiến triển và chúng ta đã có vài manh mối. Chỉ vậy thôi. Nếu họ muốn biết chi tiết, hãy để họ gặp tôi hoặc Confiant.”

“Với điều kiện là cậu ta không có những phát ngôn phá hoại công việc của các điều tra viên,” Servaz nói.

Cathy d’Humières lạnh lùng nhìn anh, “Cậu nói thế là có ý gì?”

“Bác sĩ Propp và tôi đã trải qua một khoảng thời gian không dễ chịu với sĩ quan chỉ huy Servaz trên đường từ Viện về ngày hôm kia,” Confiant giải thích. “Anh ấy đã mất bình tĩnh, có vẻ như anh ấy có vấn đề với mọi người.”

Bà trưởng công tố quay sang Servaz, “Martin?”

“‘Mất bình tĩnh’… là quá lời,” Servaz mỉa mai. “Tôi chỉ biết là ngài thẩm phán đây đã tự tiện mách nước cho bác sĩ Xavier biết rằng chúng tôi đang đến, mà chẳng hề bàn bạc trước với chị hay chúng tôi. Dù tất cả đã nhất trí với nhau là sẽ bất ngờ ghé thăm.”

“Có đúng như thế không?” d’Humières quay sang Confiant, lạnh lùng hỏi.

Mặt cậu ta xịu xuống, “Xavier là bạn tôi, tôi không thể xuất hiện cùng cảnh sát mà không báo trước với anh ấy.”

“Nếu vậy thì tại sao cậu không nói với chúng tôi?” Cathy lớn tiếng, giọng run lên vì giận dữ.

Confiant nhìn xuống, lúng túng, “Tôi không biết… việc có vẻ không quan trọng lắm.”

“Nghe đây! Chúng ta sắp sửa trở thành trung tâm của sự chú ý,” Bà điên tiết hắt cằm về phía các phóng viên đang tụ tập bên ngoài dải băng cảnh sát. “Không được phép phô ra cho họ thấy chúng ta là một nhóm rã đám. Vì mọi sự đã rồi, chúng ta phải cùng chung một tiếng nói, tôi sẽ là người đại diện! Tôi hy vọng chúng ta sẽ sớm có được tiến triển nhất định với cuộc điều tra này,” bà bắt đầu bước đi. “Và tôi muốn họp lại trong ba mươi phút nữa để xem chúng ta đã có những gì.”

Ánh mắt Martial Confiant dành cho Servaz lúc rời đi hệt như ánh mắt chiến sĩ Taliban khi thấy một ngôi sao khiêu dâm.

“Được rồi, anh thật biết cách kết giao,” Ziegler dõi theo d’Humières và Confiant. “Anh bảo là người này đứng sau người kia trong chiếc cabin đúng không?”

“Perrault và kẻ giết người? Phải.”

“So với Perrault, tên giết người thấp hơn hay cao hơn?”

Servaz suy nghĩ, “Thấp hơn.”

“Nam hay nữ?”

Servaz cân nhắc một chút. Anh đã thẩm vấn bao nhiêu nhân chứng trong suốt sự nghiệp của mình? Anh biết đối với một số người, trả lời dạng câu hỏi này cũng là điều vô cùng khó khăn. Giờ thì tới lượt anh và anh nhận ra trí nhớ của mình dễ lung lạc đến mức nào.

“Đàn ông,” anh đáp sau một khoảng lưỡng lự.

“Tại sao?” Ziegler đã nhận thấy sự do dự ấy.

“Tôi không biết,” anh ngừng lại. “Vì cách hắn di chuyển, thái độ của hắn…”

“Hay nói đúng hơn, phải chăng anh thấy khó lòng tưởng tượng nổi một người đàn bà lại làm một việc như thế?”

Anh nhìn cô, gượng cười, “Có lẽ vậy. Theo cô thì tại sao Perrault lại cho rằng cần phải lên Saint-Martin 2000?”

“Dựa vào những gì ta thấy thì ông ta đang chạy trốn.”

“Dù sao thì chúng ta lại có thêm một vụ treo cổ nữa.”

“Nhưng lần này không có ngón tay nào bị chặt.”

“Đơn giản là tên giết người không có đủ thời gian.”

“Năm 1993 có một ca sĩ tóc vàng để râu, đôi mắt to ướt át, tên là Kurt. Theo cô có thể là ai?”

“Kurt Cobain,” Ziegler trả lời ngay lập tức. “Anh thấy hình Kurt ở phòng riêng của một trong mấy đứa trẻ à?”

“Alice.”

“Theo kết luận chính thức thì Kurt Cobain đã tự sát,” cô sen đầm khập khiễng đi tới xe của Servaz.

“Khi nào?” Anh khựng lại.

“Tôi nghĩ là năm 1994. Anh ta tự sát bằng súng.”

“Cô nghĩ hay cô chắc chắn?”

“Tôi chắc chắn. Ít nhất là về thời gian. Thời điểm đó tôi cũng là fan, và có tin đồn anh ta bị ám sát.”

“1994… nếu vậy, những cái chết không phải là tự sát kiểu bắt chước,” anh kết luận. “Cô đã đi gặp bác sĩ chưa?”

“Tôi sẽ giải quyết sau.”

Anh chuẩn bị nổ máy thì điện thoại reo.

“Servaz nghe.”

“Vincent đây. Điện thoại của anh làm sao thế? Em đã cố liên lạc với anh cả sáng nay!”

“Có việc gì đấy?” Anh bỏ qua câu hỏi của Espérandieu.

“Nhẫn triện, bọn em đã tìm ra chữ khắc trên đó.”

“Là?”

“Hai chữ cái, một chữ C và một chữ S.”

“CS?”

“Phải.”

“Cậu nghĩ nó nghĩa là gì?”

“Em không biết.”

Servaz suy nghĩ một lát, rồi một chuyện khác nảy ra trong đầu anh.

“Cậu chưa quên việc tôi nhờ cậu chứ?” Anh nói.

“Việc gì?”

“Về Margot.”

“Ôi, trời ạ, khốn kiếp, chết tiệt. Phải, em quên thật.”

“Thế tin mới nhất về lão già vô gia cư thế nào rồi?”

“À, vâng, chúng ta đã nhận được kết quả kiểm tra dấu vân tay. Cả ba đứa trẻ đều có mặt ở hiện trường. Nhưng điều đó không thay đổi được gì mấy, theo Samira, thẩm phán đã nghiêng về giả thuyết chết đuối.”

Mặt Servaz tối sầm lại, “Chắc hẳn có người đang gây áp lực với ông ta. Kết quả giải phẫu sẽ quyết định. Xem ra bố của Clément là người có quan hệ rộng.”

“Trong khi hai đứa kia chắc chắn không có được lợi thế. Thẩm phán muốn thẩm vấn đứa lớn nhất thêm một lần nữa, con trai gã thất nghiệp ấy. Ông ta nghĩ nó là đứa chủ mưu.”

“Được lắm, quả là bất ngờ. Có tin gì về Lombard chưa?”

“Em vẫn đang nghiên cứu.”

Một căn phòng lớn không có cửa sổ, được chiếu sáng bằng đèn nê ông và chia thành nhiều lối đi nhờ đống giá sách kim loại cao tít cùng những chồng hồ sơ bụi bặm. Gần cửa ra vào có hai bàn làm việc, trên một chiếc đặt bộ máy tính ít nhất phải năm năm tuổi, chiếc còn lại đặt một đầu đọc vi phim[2], một cỗ máy nặng nề và cồng kềnh. Những chiếc hộp đựng vi phim xếp chồng lên nhau trên kệ.

Toàn bộ lịch sử của Viện Wargnier.

Diane hỏi rằng các tài liệu ở đây đã được lưu hết vào máy tính chưa, và người nhân viên gần như cười vào mặt cô.

Cô biết có hồ sơ điện tử của những người bệnh ở Khu A. Nhưng hôm qua, Xavier còn giao thêm cho cô tám bệnh nhân nữa, để ‘nhập môn’. Hiển nhiên bọn họ không đủ quan trọng để người ta mất công nhập dữ liệu vào máy tính. Cô đi dọc dãy tủ và bắt đầu nghiên cứu các tập tài liệu, cố xác định cách lưu trữ chúng. Theo kinh nghiệm của cô, không phải lúc nào ta cũng hiểu được phương pháp đang sử dụng. Có thể nói, chuyên viên lưu trữ, cán bộ thư viện và kĩ sư thiết kế phần mềm quả là có bộ óc phức tạp và suy nghĩ rối rắm.

Nhưng cô vui mừng phát hiện ra nhân viên ở đây là kiểu người logic, đã phân loại mọi thứ theo bảng chữ cái. Cô vớ lấy những kẹp tài liệu thích hợp và đi tới ngồi xuống bên chiếc bàn làm việc nhỏ bé. Trong căn phòng rộng lớn lặng im, cách xa những khu vực khác của Viện, Diane đột nhiên nhớ lại tình cảnh đêm trước dưới tầng hầm, và một cơn ớn lạnh cứ thế chạy dọc sống lưng. Từ khi tỉnh dậy, cô thường xuyên nhớ lại dãy hành lang u ám, nhớ đến sự ẩm ướt lạnh lẽo cùng thứ mùi bốc ra từ căn hầm. Cô như sống lại khoảnh khắc thấy mình ngập trong bóng tối.

Ai là người hằng đêm vẫn tới Khu A? Ai là người đàn ông đã gào thét và khóc lóc mà cô thấy ở trại hè? Ai là người dính líu tới những vụ án xảy ra ở Saint-Martin? Có quá nhiều câu hỏi… Hết câu này tới câu khác đang càn quét qua tâm trí bồn chồn của cô hệt như sóng biển. Và cô tha thiết muốn biết câu trả lời.

Cô mở tập hồ sơ đầu tiên. Thông tin về các bệnh nhân được ghi chép vô cùng tỉ mỉ, từ những dấu hiệu bệnh lý đầu tiên và chẩn đoán sơ bộ đến quá trình điều trị ở vô số bệnh viện trước khi đến Viện Wargnier, có cả danh mục dược phẩm đã kê cho họ cùng mọi tác dụng phụ có thể phát sinh. Hồ sơ nhấn mạnh vào sự nguy hiểm của các bệnh nhân và yêu cầu phải hành xử thận trọng trước mặt họ. Điều đó nhắc nhở Diane, trong trường hợp cô đã quên, rằng ở Viện không có cậu bé ngây thơ nào hết.

Diane ghi chú vài dòng trên tập giấy và tiếp tục đọc những mô tả về quá trình điều trị ở Viện. Cô không hề ngạc nhiên khi phát hiện ra thuốc an thần được kê với liều lượng cực kì lớn, cao hơn rất nhiều so với quy định hiện hành. Điều này đã xác nhận lời kể của Alex. Một dạng bom nguyên tử trong dược phẩm, nghĩ mà rùng mình. Cô sẽ chẳng muốn thấy não mình bị đám hóa chất này oanh tạc. Cô biết, chúng có thể gây ra những tác dụng phụ khủng khiếp. Chỉ nghĩ tới đã thấy ớn lạnh. Mỗi hồ sơ chứa một trang riêng trình bày tỉ mỉ việc phát dược phẩm, liều lượng, số lần, thay đổi trong điều trị, quá trình phát thuốc. Bất cứ khi nào phòng ban phụ trách một bệnh nhân nhận được thuốc mới từ khoa dược của Viện, đơn thuốc phải có chữ kí của y tá điều trị và được trưởng khoa dược phê chuẩn.

Thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc bình thần… Nhưng không có liệu pháp tâm lý, ít nhất là trước khi cô đến. Bùm bùm bùm bùm… Cô thoáng tưởng tượng ra cái búa khổng lồ đang nhịp nhàng giáng xuống những cái sọ đang dần bẹp rúm theo mỗi cú nện.

Đọc sang đến bộ hồ sơ thứ tư, Diane bỗng thấy thèm cà phê nhưng cô quyết định đọc cho xong đã. Cuối cùng, cô đọc mấy trang rời. Giống như những hồ sơ trước, liều lượng được kê khiến cô ớn lạnh.

Clozapine, 1200 mgngày 3 viên 100 mg X 4 lần một ngày. Zuclopenthixol acetate, 400 mg tiêm bắp mỗi ngày. Tiapride, 200 mggiờ. Diazepam, dạng ống. Tiêm bắp 20 mgngày. Meprobamate, 400 mg.

Lạy Chúa! Những bệnh nhân này sẽ biến thành người như thế nào? Cô sực nhớ Alex còn nói với cô một điều rằng, sau hàng thập kỉ dùng thuốc liều cao, hầu hết bệnh nhân ở Viện đều kháng thuốc. Những người đàn ông này vẫn đang đi lại quanh đây với lượng hợp chất trong mạch máu đủ để làm bất tỉnh một con khủng long bạo chúa, nhưng họ gần như không biểu lộ bất kì dấu hiệu đờ đẫn nào. Đang chuẩn bị đóng tập hồ sơ lại, cô tình cờ thấy một dòng chữ viết bên lề: Sao lại là phác đồ điều trị này? Đã hỏi Xavier. Không trả lời.

Chữ viết ngoáy. Đọc xong, cô có thể hình dung ra sự thất vọng, khó chịu, và cả kinh ngạc, mà người viết đã cảm thấy. Cô chau mày và nhìn lại danh sách dược phẩm và liều lượng. Cô nhớ ra clozapine được sử dụng khi những loại thuốc an thần khác đã vô hiệu. Vậy tại sao lại kê zuclopenthixol? Trong việc điều trị chứng rối loạn tâm lý do lo âu thái quá, không cần thiết phải trộn lẫn hai loại thuốc an thần hay hai loại thuốc ngủ. Tuy nhiên nó lại được áp dụng trong trường hợp này. Có thể cô đã bỏ qua vài chi tiết bất thường, dù gì cô cũng không phải là bác sĩ chuyên môn hay nhà tâm thần học, nhưng tác giả của lời ghi chú thì không. Có vẻ Xavier không buồn trả lời. Diane băn khoăn tự hỏi liệu điều này có thực sự đáng ngại không. Rồi cô lý luận rằng hồ sơ thuộc về một trong những bệnh nhân do cô phụ trách, kể từ giờ trở đi. Vậy nên, trước khi bắt đầu bất cứ liệu pháp tâm lý nào, cô phải biết tại sao người ta đi pha chế những loại cocktail điên rồ như thế. Hồ sơ đề cập tới chứng rối loạn tâm thần phân liệt, tình trạng mê sảng cấp tính và lú lẫn, nhưng không còn gì cụ thể hơn.

Cô có nên hỏi Xavier không? Ai đó đã làm việc ấy rồi, nhưng vô ích. Cô lấy những hồ sơ trước ra, rà từng chữ kí của bác sĩ chỉ đạo chuyên môn và trưởng khoa dược. Cuối cùng cô tìm thấy kết quả mình cần. Bên trên một trong những chữ kí, ai đó đã viết: Giao thuốc chậm trễ, do đình công trong ngành vận tải. Cô so sánh hai từ ‘đình’ và ‘điều’. Hình dạng của các chữ cái giống hệt nhau. Ghi chú bên lề do y tá phụ trách vật tư y tế viết. Cô sẽ phải bắt đầu bằng việc đặt câu hỏi với anh ta.

Với tài liệu kẹp dưới cánh tay, Diane đi cầu thang lên tầng ba. Khoa dược của Viện do một nam y tá ngoài 30 tuổi điều hành. Anh ta mặc quần bò bạc phếch, áo blu trắng và đi giày thể thao sờn cũ. Râu ria chắc đã ba ngày chưa cạo, tóc tai dựng đứng như lông nhím. Hai quầng thâm dưới mắt anh ta khiến Diane ngờ rằng người này có một cuộc sống về đêm hết sức vui thú ở bên ngoài Viện.

Khoa dược gồm hai phòng. Khu vực tiếp tân có chuồng cạnh quầy hàng chất đầy giấy tờ và những chiếc hộp rỗng. Một phòng khác kê đầy những chiếc tủ khóa có chia ngăn bằng kính để lưu trữ thuốc. Người y tá, tên là Dimitri theo nhãn tên thêu trên túi áo ngực, quan sát Diane bước vào. Nụ cười của anh ta tươi quá mức cần thiết.

“Ê này,” anh ta nói.

“Xin chào,” cô trả lời. “Tôi muốn xin thông tin về việc quản lý dược phẩm.”

“Đương nhiên rồi. Cô là chuyên gia tâm lý mới phải không?”

“Đúng vậy.”

“Cô muốn biết điều gì?”

“Ừm, phương pháp quản lý dược phẩm.”

“Được ngay,” anh ta tí toáy chiếc bút trong túi áo ngực. “Đi lối này.”

Cô đi ra phía sau quầy hàng. Anh ta vớ lấy một quyển sổ lớn bằng bìa cứng trông như cuốn sổ kế toán.

“Đây là sổ ghi chép. Chúng tôi theo dõi toàn bộ vật tư y tế vào và ra. Công việc của khoa dược là dự trù nhu cầu của Viện, tiến hành đặt hàng, tiếp nhận, bảo quản, phân phối dược phẩm tới vô số phòng ban trong Viện. Khoa dược có ngân sách riêng. Đại khái chúng tôi đặt hàng theo từng tháng, nhưng thi thoảng cũng có những đơn đặt hàng đặc biệt.”

“Ngoài anh ra thì có ai biết về khâu nhập và phân phối dược phẩm không?”

“Bất cứ ai cũng có thể tra cứu sổ theo dõi. Nhưng toàn bộ biên bản giao nhận và đơn đặt hàng phải do chính bác sĩ Xavier, hoặc thường xuyên hơn, là Lisa hoặc bác sĩ Lepage, bác sĩ chỉ đạo chuyên môn, kí phê chuẩn. Bên cạnh đó, mỗi loại thuốc có thẻ kho riêng.”

Anh ta lấy xuống một chiếc kẹp tài liệu lớn và mở ra, “Tất cả dược phẩm sử dụng trong Viện đều ở đây và nhờ hệ thống quản lý như vậy, chúng tôi biết chính xác số lượng còn lại trong kho. Chúng tôi phân phối thuốc tới những phòng ban khác nhau. Đơn phân phối được y tá phụ trách mỗi phòng ban và tôi kí phê chuẩn.”

Diane mở hồ sơ trong tay ra, cho anh ta xem ghi chú bên lề giấy.

“Đây là chữ viết tay của anh phải không?”

Cô thấy anh ta cau mày.

“Phải,” anh ta trả lời, sau khi lưỡng lự trong giây lát.

“Anh có vẻ không đồng tình với phác đồ điều trị của bệnh nhân này.”

“Thì, tôi… Tôi không thấy được lợi ích… của việc kê hai loại thuốc an thần hay zuclopenthixol acetate và clozapine cùng lúc là gì. Tôi, ừm, có hơi… nguyên tắc.”

“Anh đã hỏi bác sĩ Xavier?”

“Phải.”

“Và anh ta nói gì?”

“Rằng tôi phụ trách vật tư, không phải bác sĩ chuyên môn.”

“Tôi hiểu rồi. Có phải tất cả các bệnh nhân đều được kê thuốc liều cao như thế không?”

“Hầu hết là vậy. Cô biết đấy, sau nhiều năm điều trị, hầu hết bọn họ đều trở nên…”

“Kháng thuốc, phải, tôi biết. Anh có phiền không nếu tôi xem qua?” Cô chỉ vào quyển sổ theo dõi và kẹp tài liệu chứa thẻ lưu trữ của từng loại thuốc.

“Không, đương nhiên là không. Cô cứ xem. Đây, mời ngồi.”

Dimitri biến sang phòng bên cạnh. Diane nghe tiếng anh ta thẽ thọt gọi điện cho ai đó. Chắc là bạn gái. Anh ta không đeo nhẫn cưới. Cô mở cuốn sổ theo dõi và bắt đầu lật giở. Tháng Giêng… Tháng Hai… Tháng Ba… Tháng Tư… Tồn kho tháng Mười hai dài tới hai trang. Ở trang thứ hai, Diane chú ý đến dòng chữ ngay ở giữa: Giao hàng, Xavier đặt, đề ngày mùng 7 tháng Mười hai. Trên cùng một dòng là tên của ba loại thuốc. Diane không biết loại nào trong số đó. Chắc chắn chúng không phải thuốc điều trị tâm thần. Vì tò mò, cô chép lại mấy cái tên vào tập ghi chú của mình và gọi Dimitri. Cô nghe thấy anh ta thì thầm ‘Yêu em’ rồi quay lại căn phòng.

“Những thuốc này là gì?”

Anh ta nhún vai, “Tôi không biết. Không phải tôi viết. Thời gian đó tôi đang nghỉ phép.” Anh ta lật giở đám thẻ lưu trữ và chau mày. “Kì lạ! Không hề có thẻ lưu trữ riêng cho ba loại thuốc này. Chỉ có hóa đơn. Người điền vào sổ theo dõi chắc là không biết mình phải làm gì.”

Đến lượt Diane nhún vai, “Quên đi. Cũng chẳng quan trọng.”

❀ ❀ ❀

[1] : Đường kính 10-11 mm, thường dùng trong leo núi, có độ đàn hồi tốt, giúp giảm va đập khi rơi.

[2] : Sử dụng để lưu trữ một khối lượng tài liệu khổng lồ những tấm ảnh nhỏ xíu, những trang sách hoặc tài liệu khác… trên một tấm phim có diện tích rất nhỏ.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.