Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

2

Những cây lãnh sam phủ đầy tuyết. Nhìn từ trên xuống, ở phương thẳng đứng, một dải đường thẳng tắp dần hiện ra, dẫn sâu vào giữa đám lãnh sam. Thân cây ngập trong sương mù, ngọn cây ngả nghiêng vi vút. Nơi đó ở tận cuối con đường, chính giữa hàng cây. Chiếc xe Jeep Cherokee như một chú bọ cánh cứng béo mẫm chạy qua những gốc cây lá kim cao lớn. Cặp đèn pha chiếu xuyên qua màn sương mù vấn vít. Xe ủi tuyết đã để lại những đụn tuyết khổng lồ ở cả hai bên đường. Đằng xa, những rặng núi trắng xóa che khuất đường chân trời. Cánh rừng đột ngột kết thúc. Con đường vặn mình thành một khúc ngoặt gấp uốn quanh con dốc đầy sỏi đá rồi tiếp tục chạy dọc theo một dòng nước xiết. Dòng chảy dẫn đến một con đập nhỏ toàn nước đục ngầu. Xa thêm một quãng là cửa vào nhà máy thủy điện nằm phía bên kia miệng núi. Ven đường có một tấm biển chỉ dẫn: SAINT-MARTIN-DE-COMMINGES, XỨ SỞ GẤU, 7 KM.

Servaz nhìn tấm biển khi lái xe ngang qua. Một chú gấu núi Pyrenees được vẽ trên nền núi và lãnh sam.

Gấu núi Pyrenees, phải rồi! Đúng hơn là gấu nâu Slovenia, loài vật sẽ khiến những người chăn cừu địa phương vui sướng vô ngần khi thấy chúng dưới họng súng của mình. Những người chăn cừu nói, lũ gấu lảng vảng quá gần những khu dân cư, chúng tấn công đàn gia súc, thậm chí còn trở thành mối nguy hại với con người. Giống loài duy nhất nguy hiểm đối với con người chính là con người, Servaz thầm nghĩ. Mỗi năm trôi qua anh lại thấy số lượng thi thể tăng thêm trong nhà xác Toulouse. Họ không chết vì lũ gấu. Sapiens nihil affirmat quod non probet (người khôn ngoan không nói điều mình không biết chắc chắn), anh trầm ngâm. Anh giảm tốc khi con đường đánh một vòng rồi dẫn trở vào cánh rừng, không còn những cây lá kim cao lớn, mà đây bụi cây còi cọc nhang nhác nhau. Cách đó không xa vọng đến tiếng suối chảy róc rách. Anh có thể nghe thấy âm thanh đó qua khung cửa sổ đang hé mở bất chấp thời tiết lạnh giá bên ngoài. Hợp âm trong trẻo gần như lấn át thứ nhạc phát ra từ đầu đĩa CD, Bản giao hưởng số 5 của Mahler, tiết tấu nhanh. Một bản nhạc đầy khắc khoải và nồng nhiệt, có vẻ thích hợp với những gì đang chờ đợi anh ở phía trước.

Bỗng nhiên, ánh đèn xoay tít của xe cảnh sát và những cái bóng vẫy dùi cui phát sáng hiện ra trước mắt. Mấy tên sen đầm vô dụng…

Khi lực lượng sen đầm không biết phải bắt đầu một cuộc điều tra từ đâu, họ sẽ dựng rào chắn. Anh nhớ lại lời Antoine Canter nói sáng nay tại tổ hình sự Toulouse, “Chuyện xảy ra vào tối qua, trên dãy Pyrenees. Cách Saint-Martin-de-Comminges vài cây số. Cathy d’Humières cho biết đấy. Tôi nghĩ cậu đã từng làm việc với bà ta rồi phải không?”

Canter là một gã đàn ông to lớn, với chất giọng thô ráp của miền Đông Nam. Một cựu cầu thủ bóng bầu dục thích chơi xấu, chuyên ẩu đả với đối thủ, và là một tên cớm đã leo từ hạng bét lên vị trí phó phòng cảnh sát. Má ông ta đầy vết rỗ li ti, như cát rỗ dưới cơn mưa, đôi mắt cự đà to tướng chăm chú quan sát Servaz.

“Chuyện xảy ra? Cái gì xảy ra?” Servaz hỏi.

Hai khóe miệng bám đầy lớp mốc trắng của Canter hé mở, “Không biết.”

Servaz trân trối nhìn ông ta, “Ý anh là gì?”

“Bà ta không chịu nói qua điện thoại, chỉ bảo là đang đợi cậu và muốn có toàn quyền quyết định trong việc này.”

“Thế thôi?”

Servaz hoang mang nhìn sếp mình. “Saint-Martin, chẳng phải là chỗ có cái trại thương điên sao?”

“Viện Wargnier.” Canter xác nhận, “Một cơ sở điều trị tâm thần đặc biệt ở Pháp, thậm chí cả châu Âu. Đó là nơi họ nhốt bọn sát nhân đã bị kiềm chế đến mất trí.”

Có kẻ đã chạy trốn và gây án dọc đường? Ra là vì thế mà các trạm kiểm soát được dựng lên quanh đây. Servaz chạy chậm lại. Anh nhận ra những khẩu tiểu liên MAT 49 và súng săn Browning BPS-SP trong số vũ khí của mấy người sĩ quan. Anh hạ cửa kính xe xuống. Hàng ngàn bông tuyết đang lơ lửng trong không trung lạnh lẽo. Anh vẫy cái thẻ cảnh sát của mình trước mặt viên sĩ quan.

“Đi đường nào?”

“Anh phải đi tới nhà máy thủy điện.” Người đàn ông lớn giọng để át đi những thông điệp đang phát ra từ những chiếc radio, hơi thở đông lại thành những đám mây trắng đặc quánh. “Cách đây khoảng 12 kilomet, đường núi. Ở vòng xuyến đầu tiên trên đường vào Saint-Martin, anh rẽ phải. Tiếp tục rẽ phải ở vòng xuyến thứ hai. Đi theo biển chỉ đường đến Lac d’Astau. Sau đó cứ việc đi thẳng.”

“Mấy cái rào chắn này là ý tưởng của ai thế?”

“Công tố viên. Thông lệ ấy mà. Chúng tôi mở cốp xe, kiểm tra giấy tờ. Biết đâu đấy.”

“Ra vậy,” Servaz ngờ vực nói.

Anh khởi động lại xe, tăng âm lượng đầu đĩa CD. Những tiếng kèn của đoản khúc Scherzo[1] lấp đầy không gian nhỏ bé. Anh rời mắt khỏi con đường trong giây lát để lấy cà phê lạnh đặt sẵn trên giá. Lần nào cũng cùng một nghi thức, anh luôn chuẩn bị sẵn sàng cho mình theo cách đó. Theo kinh nghiệm của anh, ngày đầu tiên và giờ đầu tiên của một cuộc điều tra luôn mang tính chất quyết định. Đó là thời điểm anh buộc phải tỉnh táo, tập trung và sáng suốt. Cà phê để tỉnh táo, âm nhạc để tập trung và giúp đầu óc anh nhẹ nhõm.

Cà phê và âm nhạc… hôm nay, những cây lãnh sam và tuyết, anh vừa nghĩ vừa nhìn vệ đường, cảm nhận những cơn quặn thắt đầu tiên trong dạ dày. Servaz là dân thị thành đúng nghĩa. Với anh, núi non gần như một lãnh thổ thù địch. Tuy vậy, anh nhớ rằng không phải lúc nào cũng thế. Hồi còn nhỏ, năm nào bố cũng đưa anh lên mấy thung lũng này dạo chơi. Như một người thầy, ông giảng giải mọi điều về cây cối, đất đá và cả những đám mây, Martin Servaz bé nhỏ lắng nghe còn mẹ cậu trải một tấm khăn lên thảm cỏ mùa xuân và mở chiếc giỏ dã ngoại, trêu chồng mình là nhà thông thái rởm nhàm chán. Những tháng ngày thanh bình khi thơ ngây ngự trị thế giới. Chăm chú nhìn đường, Servaz tự hỏi phải chăng lý do thực sự cho việc anh không bao giờ trở lại đây chính là vì hồi ức về những thung lũng này gắn chặt với kỉ niệm về bố mẹ.

Vì Chúa, khi nào mày mới chịu bắt tay vào việc dọn sạch đống suy nghĩ hỗn độn, phức tạp đó đây?

Có một khoảng thời gian anh đã đi gặp bác sĩ tâm lý. Tuy nhiên, sau ba năm, chính ông bác sĩ ấy cũng phải giơ cờ trắng, “Tôi rất tiếc, tôi muốn giúp anh nhưng không thể. Tôi chưa gặp trường hợp nào có sức kháng cự lớn như thế.” Servaz cười và nói rằng không vấn đề gì. Thời điểm đó anh nghĩ, ảnh hưởng tích cực nhất trong việc chấm dứt điều trị chính là giữ gìn được túi tiền của mình.

Anh lại nhìn ra xung quanh. Quá đủ cho cái khung rồi, chỉ còn thiếu bức tranh nữa thôi. Canter bảo ông ta không biết gì hết. Còn Cathy d’Humières, trưởng công tố của Saint-Martin, lại khăng khăng bắt anh đến một mình. Tại sao? Tuy vậy, anh sẽ không nói với bà rằng anh thích thế hơn. Anh phụ trách một tổ điều tra gồm bảy người, và bảy người đó (sáu người đàn ông và một phụ nữ) đã có quá đủ việc để làm rồi. Hôm trước, họ vừa nhận điều tra về cái chết của một người vô gia cư. Thi thể được tìm thấy trong hồ với nửa người ngập nước và bị đánh bầm giập. Cái hồ cách không xa đường cao tốc gần làng Noé mà Servaz vừa đi qua. Chưa đầy bốn mươi tám tiếng sau, họ đã tìm ra thủ phạm. Có người nhìn thấy một ông lão lang thang, khoảng hơn 60 tuổi, đi cùng ba thiếu niên trong làng vài giờ trước khi chết. Đứa lớn nhất 17 tuổi, nhỏ nhất 12 tuổi. Ban đầu chúng phủ nhận, nhưng rồi cũng nhanh chóng thú tội. Không có động cơ. Cũng không hề hối lỗi. Đứa lớn nhất chỉ nói, “Lão ta là phế phẩm của xã hội, một tên ăn mày…” Không ai trong số chúng có tên trong hồ sơ lưu của cảnh sát hay bất cứ cơ quan công quyền nào. Con nhà tử tế, được học hành đầy đủ, không giao du với đám côn đồ. Tất cả những người tham gia điều tra đều nói rằng sự bàng quan của bọn trẻ đã biến chúng thành sát thủ máu lạnh. Servaz vẫn có thể hồi tưởng lại khuôn mặt phúng phính của chúng, những đôi mắt to nhạt màu chăm chú nhìn anh không chút sợ hãi, thậm chí còn ngang ngược. Anh đã cố tìm ra tên đầu sỏ, những vụ việc kiểu này luôn có một kẻ cầm đầu, và anh cho rằng anh đã đoán ra. Đó không phải là đứa lớn nhất, mà là đứa ở giữa. Trớ trêu thay, lại là một thằng bé tên là Clément[2]…

“Đứa nào khai ra bọn tôi?” Thằng bé hỏi, trước sự chứng kiến của luật sư bào chữa. Ông này đang gặp trở ngại trong công tác vì thằng bé từ chối nói chuyện với ông theo đúng quyền của nó, với cái cớ ông ta là người ‘có lớn mà không có khôn’.

“Tôi mới là người đặt câu hỏi ở đây,” viên cảnh sát nói.

“Tôi cá là bà già Schmitz, đúng là đồ cặn bã.”

“Bình tĩnh lại và ăn nói cho cẩn thận,” luật sư lên tiếng. Ông ta được bố thằng bé mời về.

“Đây không phải trường học,” Servaz nhắc nhở. “Cháu biết những rủi ro mình phải gánh chịu không, cháu và các bạn của cháu?”

“Đây là trường hợp vị thành niên,” luật sư yếu ớt kháng nghị.

“Bà ta sẽ bị bắn nát sọ, đồ chó cái. Để xem bà ta có bị giết không. Phát điên lên được.”

“Đừng có chửi thề nữa,” luật sư quát, dường như đã mất hết bình tĩnh.

“Cháu có nghe tôi nói không?” Servaz bắt đầu thấy bực mình. “Cháu có thể sẽ phải chịu án hai mươi năm tù giam. Tính thử đi, khi ra tù, cháu đã già rồi.”

“Làm ơn,” ông luật sư nói. “Không…”

“Ý là già như ông á? Ông bao nhiêu tuổi? Ba mươi? Bốn mươi? Không tồi đâu, cái áo khoác nhung ấy! Chắc phải đáng giá cả gia tài ấy nhỉ. Sao ông cứ phải ức hiếp tôi thế? Chúng tôi không làm việc đó! Chúng tôi không làm cái mẹ gì hết! Nói thật luôn đấy. Các ông có phải lũ ngu không vậy?”

Để dịu bớt cơn giận đang thiêu đốt, Servaz tự nhắc nhở bản thân rằng đây chỉ là một thiếu niên chưa từng gặp bất hạnh trong đời, chưa bao giờ đối mặt với cảnh sát, cũng không vướng phải rắc rối gì ở trường học. Luật sư tái mặt, mồ hôi vã ra như tắm.

“Đây không phải phim truyền hình,” Servaz bình tĩnh nói. “Cháu không thoát được đâu. Mọi thứ đã được định đoạt rồi. Cháu mới là kẻ ngu ở đây.”

Bất cứ thiếu niên nào khác cũng sẽ phản ứng lại. Nhưng không phải đứa trẻ này. Không phải thằng bé Clément này. Nó thậm chí còn có vẻ không nhận ra mình bị cáo buộc vì tội gì. Servaz từng đọc nhiều bài báo nói về trẻ vị thành niên phạm tội cưỡng hiếp hoặc tra tấn nạn nhân nhưng không hề ý thức được sự khủng khiếp trong hành vi của mình, tưởng đâu mình chỉ đang gặp sự cố trong trò chơi điện tử hay game nhập vai mà thôi. Servaz không bao giờ tin trên đời lại có những đứa trẻ như thế, cho đến ngày hôm đó. Truyền thông vẫn thổi phồng như mọi khi. Còn anh phải trực tiếp đương đầu với hiện thực. Nhưng sự vô cảm của ba kẻ sát nhân nhỏ tuổi vẫn chưa phải là điều đáng sợ nhất, mà đáng sợ hơn là, trên thực tế, vụ án ấy đã chẳng còn là trường hợp cá biệt nữa. Thế giới biến thành phòng thí nghiệm khổng lồ cho những thử nghiệm điên rồ, nơi Chúa, ác quỷ, hoặc những hiện tượng siêu nhiên khuấy trộn đủ thứ trong ống nghiệm của họ.

Về đến nhà, Servaz mất một lúc lâu để lau chùi hai tay, cởi quần áo, và tốn hai mươi phút để tắm cho tới lúc hết sạch nước nóng, như thể muốn thanh tẩy chính mình. Sau đó, anh lấy tập thơ của Juvenal[3] trên giá sách xuống và giở bài Satire XIII, “Đến bao giờ con người mới thôi phơi bày thói trộm cắp, bội phản và lọc lừa, lợi lộc sinh ra từ đủ loại tội ác, và tiền bạc kiếm được từ dao găm hoặc độc dược? Bởi người lành thực hiếm hoi, còn không bằng số cổng thành Thebes[4].”

Những đứa trẻ này, chính người lớn đã biến chúng thành như vậy, anh chua xót nghĩ khi đóng quyển sách lại. Tương lai của chúng sẽ ra sao đây? Tuyệt nhiên sẽ chẳng còn tương lai ấy nữa. Mọi thứ đều vứt cho chó gặm. Chúng ta có những thằng khốn chỉ lo lấp đầy két bạc và nhảy quanh màn hình tivi trong khi bố mẹ của lũ trẻ thì bị sa thải và biến thành những kẻ thất bại trong mắt con cái họ. Tại sao họ không nổi dậy? Tại sao họ không đốt hết ngân hàng, những cửa hiệu xa xỉ và các cơ quan công quyền, thay vì trường học và xe buýt?

Mình đang lý sự như một lão già lẩm cẩm, anh tự nhủ. Có phải bởi chỉ vài tuần nữa anh bước sang tuổi bốn mươi? Anh để cấp dưới phụ trách vụ ba đứa trẻ. Đây sẽ là sự chuyển hướng đáng mong đợi, ngay cả khi anh cũng không biết chuyện gì đang chờ mình ở phía trước.

Servaz đi theo chỉ dẫn của viên sen đầm địa phương và vòng qua Saint-Martin. Ngay sau vòng xuyến thứ hai, con đường bắt đầu dốc lên và anh thoáng thấy những mái nhà trăng trắng của ngôi làng phía dưới. Anh tấp vào lề đường rồi ra khỏi xe. Ngôi làng rộng hơn anh tưởng, trải dài khắp thung lũng. Qua bóng tối, anh chỉ lờ mờ nhìn ra những cánh đồng tuyết rộng lớn mình vừa đi qua, một khu công nghiệp và mấy địa điểm cắm trại ở phía Đông nằm bên kia sông. Còn cả mấy khu chung cư với những tòa nhà dài và thấp. Trung tâm thị trấn ken đầy những con phố nhỏ rối rắm nằm dưới chân ngọn cao nhất của dãy núi bao quanh làng. Hai tuyến cáp treo du lịch khảm dọc theo triền dốc mọc dây lãnh sam thành một đường thẳng đứng.

Sương mù và hoa tuyết ngăn cách anh và ngôi làng, làm nhòe đi những chi tiết nhỏ, khiến Servaz có cảm tưởng Saint-Martin không phải là một nơi dễ dàng đón nhận người lạ, và ta phải tiếp cận nó từ một góc độ nào đó không phải là trực diện.

Anh trở lại chiếc xe Jeep. Con đường vẫn hướng lên trên. Vào mùa hè, cây cối rậm rạp, thảm thực vật, bụi gai và rêu ẩm sinh sôi mạnh đến mức khi đông xuống, tuyết cũng không thể che lấp hết màu xanh. Và khắp nơi là âm thanh của nước, những con lạch, dòng chảy, khe suối… Vẫn hạ cửa kính xe, anh đi qua vài ngôi làng có đến một nửa là đóng kín cửa sổ. Một tấm biển chỉ đường hiện ra: NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN, 4 KM.

Những cây lãnh sam biến mất. Sương mù cũng vậy. Không còn cây cối, chỉ có tường băng cao bằng đầu người ở bên kia đường và một tia sáng rùng rợn lóe lên ở phương Bắc. Anh đỗ xe trên nền băng đen.

Cuối cùng nhà máy thủy điện cũng xuất hiện, với lối kiến trúc điển hình của thời đại công nghiệp. Một tòa nhà đá đậm chất Cyclopean với những ô cửa sổ hẹp và dài, bên trên lợp đá phiến đen rộng bản đang níu lại từng tảng tuyết lớn. Đằng sau, ba đường ống khổng lồ chạy thẳng lên như thể khao khát chinh phục được ngọn núi. Bãi đỗ xe chật kín. Xe cộ, người mặc đồng phục, và nhà báo. Một chiếc xe tải của kênh truyền hình địa phương lắp chảo thu phát vệ tinh trên nóc đang đỗ cùng vài chiếc ô tô không dán nhãn. Servaz để ý thấy logo mấy tờ báo phía sau tấm kính chắn gió của chúng. Một chiếc Land Rover, ba chiếc Peugeot bảy chỗ, hai xe tải Transit, tất cả đều sơn màu sắc đặc trưng của cảnh sát Pháp, và một chiếc xe tải có mui đóng mở tự động mà anh nhận ra là phòng thí nghiệm lưu động thuộc tổ nghiên cứu của sen đầm tại Pau. Thêm một chiếc máy bay trực thăng đang đợi trên bãi hạ cánh.

Trước khi ra khỏi xe, anh ngắm mình trong tấm gương chiếu hậu. Đôi mắt thâm quầng và hai má hõm sâu, như thường lệ, trông anh giống một gã đã qua đêm trên phố, dù chuyện đó gần như là không thể, nhưng Servaz biết chẳng có ai nghĩ anh 40 tuổi cả. Anh lấy tay chải mái tóc nâu dày sao cho trông tử tế nhất có thể, chà xát bộ râu hai ngày chưa cạo cho tỉnh người, và xốc lại quần. Lạy Chúa lòng lành, anh lại sụt mất vài cân.

Mấy bông tuyết mơn trớn hai má anh nhưng không hề giống với tuyết dưới thung lũng, chúng lạnh buốt. Anh lập tức nhận ra đáng lẽ mình nên mặc thêm quần áo ấm. Cánh phóng viên, cùng đám máy quay và micrô, quay ra phía anh, nhưng không ai nhận ra anh và sự tò mò của họ lập tức tiêu tan. Anh tiến về phía tòa nhà, bước lên ba bậc thềm và xuất trình thẻ.

“Servaz!” Một giọng nói vọng qua sảnh ngoài như cú đại bác bắn đạn tuyết. Servaz quay về phía người đang tiến đến chỗ anh. Một phụ nữ cao và mảnh dẻ, khoảng ngoài 50 tuổi, trang phục thanh lịch, tóc nhuộm vàng, một chiếc khăn quàng cổ vắt qua áo choàng bằng lông lạc đà. Thay vì cử một cấp dưới, Catherine d’Humières đã đích thân đến, Servaz bỗng cảm thấy adrenaline đột ngột trào lên.

Nét mặt và đôi mắt sáng quắc trông hệt như chú chim săn mồi. Những người không biết bà chắc sẽ sợ chết khiếp. Mà những người đã biết cũng vậy. Có lần ai đó đã nói với Servaz rằng d’Humières làm món spaghetti alla puttanesca[5] tuyệt ngon. Servaz tự hỏi không biết bà cho gì vào đó. Máu người chăng?

Bà nắm tay anh một cách dứt khoát, một cái bắt tay mạnh mẽ như giữa hai người đàn ông.

“Nói lại tôi nghe, cậu thuộc cung nào, Martin?”

Servaz cười. Lần gặp đầu tiên, khi anh mới vào làm việc tại tổ hình sự Toulouse và bà mới chỉ là phó công tố như rất nhiều người khác, bà đã hỏi anh cùng câu hỏi đó.

“Cung Ma kết.”

D’Humières giả vờ không nhận ra nụ cười của anh.

“Phải rồi, điều đó lý giải cho tính thận trọng, tự chủ và phớt tỉnh của cậu phải không?” Bà nhìn anh thăm dò. “Cứ để xem cậu có còn giữ được vẻ tự chủ và phớt tỉnh sau vụ này không.”

“Sau vụ gì?”

“Đi theo tôi, tôi sẽ giới thiệu với cậu.”

D’Humières dẫn anh xuyên qua sảnh ngoài, tiếng bước chân của họ vang vọng trong không gian rộng lớn. Tất cả những tòa nhà trên núi này được xây lên để phục vụ ai vậy? Một chủng tộc siêu nhân của tương lai chăng? Mọi thứ nơi đây dường như đều toát ra sự vững tin vào một tương lai rạng rỡ với nền công nghiệp tân tiến. Nhưng anh thầm nghĩ, kỉ nguyên của niềm tin vào tương lai đã biến mất từ lâu rồi.

Họ tiến về phía một gian phòng kính. Bên trong là những ngăn tủ đựng hồ sơ và cả tá bàn làm việc. Họ len qua chúng để nhập hội với một nhóm nhỏ ở giữa phòng. D’Humières giới thiệu: Đại úy Rémi Maillard, tổ trưởng tổ sen đầm tại Saint-Martin; Đại úy Irène Ziegler từ tổ nghiên cứu Pau; Thị trưởng Saint-Martin (một gã thấp lùn, vai rộng với mái tóc bờm xờm như sư tử và khuôn mặt bóng nhẫy); Và giám đốc nhà máy điện, một kĩ sư điển hình (tóc ngắn, đeo kính, dáng điệu thể thao, mặc áo len cổ lọ và áo khoác dài có mũ trùm đầu).

“Tôi đã đề nghị sĩ quan chỉ huy Servaz tới trợ giúp chúng ta. Khi còn là phó công tố của Toulouse, tôi vẫn thường nhờ cậy cậu ấy. Đội điều tra mà cậu ấy phụ trách đã hỗ trợ chúng tôi truy ra gốc rễ một số vụ án phức tạp.”

“Hỗ trợ chúng tôi truy ra gốc rễ…” Đúng là rất d’Humières. Luôn coi mình là trung tâm. Nhưng anh lập tức tự nhủ rằng ý nghĩ đó thật không công bằng. Anh biết bà là một phụ nữ yêu công việc, không màng đến thời gian cũng như mồ hôi nước mắt của chính mình. Đó là điều anh trân trọng. Servaz thích những người tận tâm. Anh nhận ra mình cũng thuộc nhóm đó, tận tụy, cứng cỏi, và gần như nhàm chán.

“Sĩ quan Servaz và đại úy Ziegler sẽ cùng nhau đảm trách vụ án này.”

Servaz nhác thấy khuôn mặt thanh tú của đại úy Ziegler cau lại. Một lần nữa anh tự nhủ vụ việc này hẳn phải rất nghiêm trọng. Một cuộc hợp tác điều tra giữa cảnh sát và lực lượng sen đầm, nguồn cơn vô tận của những mối bất hòa, ganh đua và độc chiếm bằng chứng, nhưng đó cũng là dấu hiệu cho thấy thời cơ đã đến. Và Cathy d’Humières đủ tham vọng để không bao giờ bỏ qua hơi hướng chính trị nào. Bà đã leo qua đủ các nấc thang, trợ lý công tố viên, phó công tố… và đảm nhận vị trí trưởng công tố tại Saint-Martin đã được năm năm nay, nhưng Servaz dám chắc bà không định dừng lại ở đó dẫu đang làm công việc ấy rất tốt. Văn phòng ở Saint-Martin quá nhỏ, quá xa tâm điểm đối với một người có tham vọng như bà. Anh tin chắc rằng chỉ trong vòng một hay hai năm tới, bà sẽ ngồi lên ghế chánh án một tòa án cấp cao nào đó.

Anh cất tiếng hỏi, “Tìm thấy thi thể ở đây, tại nhà máy à?”

“Không,” Maillard trả lời và trỏ lên trần nhà. “Trên đó, trạm cuối của cáp treo ở độ cao 2.000 mét.”

“Ai đi cáp treo?”

“Công nhân đi lên để bảo trì máy móc,” giám đốc nhà máy trả lời. “Đó là một dạng nhà máy tự động được xây ngầm trong lòng đất, với hệ thống ống dẫn đưa nước từ hồ phía trên vào ba đường ống áp suất anh có thể thấy ở ngoài kia. Đi cáp treo là cách duy nhất để lên đó trong tình huống thông thường. Đương nhiên cũng có sân bay, nhưng chỉ được dùng trong trường hợp cứu thương khẩn cấp.”

“Không có đường mòn nào sao?”

“Có một con đường lên đó vào mùa hè. Nhưng vào mùa đông, lối ấy bị tuyết phủ lấp vài mét.”

“Ý anh là cho dù ai đã làm chuyện đó thì y bắt buộc phải sử dụng cáp treo? Nó hoạt động thế nào?”

“Không thể đơn giản hơn. Mở khóa bằng chìa, sau đó nhấn nút để khởi động. Còn một nút bấm to màu đỏ nữa để tạm dừng nếu có sự cố.”

“Chìa khóa được để trong một cái két sắt, ở đây.” Maillard ngừng lại, chỉ một hộp kim loại được phong kín. “Khóa đã bị cạy mở. Và cửa bị phá. Thi thể được treo lên trụ tháp cuối cùng trên đỉnh cáp treo. Không còn nghi ngờ gì nữa, thủ phạm chắc chắn đã sử dụng cáp treo để vận chuyển cái xác.”

“Không có dấu vân tay?”

“Không thấy bất cứ dấu vết nào. Chúng tôi đã thu thập hàng trăm dấu vân tay trong cabin. Và đều đã được gửi đến phòng thí nghiệm. Chúng tôi đang trong quá trình lấy dấu vân tay của toàn bộ nhân viên để so sánh.”

Anh gật đầu, “Thế còn thi thể trông như thế nào?”

“Không đầu. Và bị chặt thành nhiều mảnh. Da ở hai bên thân bị lột và kéo ra sau như một đôi cánh lớn. Anh sẽ thấy trong đoạn băng, một cảnh tượng thực sự rùng rợn, các công nhân vẫn chưa hoàn hồn.”

Servaz nhìn viên sen đầm chằm chằm, mọi giác quan đột nhiên đề cao cảnh giác. Dù hiện giờ có là thời đại bạo lực cực đoan dâng cao đi nữa, sự việc này vẫn quá ư bất thường. Anh để ý thấy đại úy Ziegler không nói gì, chỉ chăm chú lắng nghe.

“Có điểm trang không?” Anh lắc lắc tay. “Đầu ngón tay có bị cắt không?”

Trong ngôn ngữ của cảnh sát Pháp, ‘điểm trang’ để chỉ việc phá hoại công tác nhận dạng nạn nhân bằng cách hủy hoại hoặc loại bỏ các bộ phận thường được dùng để nhận dạng như, mặt, ngón tay, răng…

Viên sen đầm mở to mắt kinh ngạc, “Sao… họ chưa nói gì với anh à?”

Servaz cau mày, “Nói với tôi cái gì?”

Anh thấy Maillard hoảng sợ nhìn về phía Ziegler, rồi đến bà trưởng công tố.

“Cái xác…” Viên sen đầm lắp bắp.

Servaz cảm thấy mình sắp không giữ được kiên nhẫn, nhưng anh vẫn đợi nghe tiếp.

“Nó là một con ngựa.”

“Một con ngựa?” Servaz ngờ vực nhìn những người còn lại.

“Phải. Một con ngựa. Một con ngựa nòi, khoảng một tuổi, theo những gì chúng tôi biết.”

Giờ Servaz nhìn Cathy d’Humières, “Chị bắt tôi lên tận đây chỉ vì một con ngựa?”

“Tôi tưởng cậu đã biết,” bà tự vệ. “Canter không nói gì với cậu sao?”

Servaz nhớ lại bộ mặt giả ngu của Canter lúc ở văn phòng. Ông ta biết. Và ông ta cũng hiểu rằng Servaz hẳn sẽ từ chối lên tận đây chỉ vì một con ngựa. Anh còn đang vướng vụ án mạng của người đàn ông vô gia cư.

“Tôi đang phải lo chuyện ba đứa trẻ ranh giết một ông già mà chị lôi tôi lên đây vì một con ngựa sao?”

Câu trả lời của d’Humières đến ngay tức thì, hòa hoãn nhưng kiên định, “Nó không giống những con ngựa khác. Một con ngựa Thuần Chủng[6]. Là một con vật cực kì đắt tiền, nhiều khả năng thuộc sở hữu của Éric Lombard.”

Ra là thế, anh nghĩ. Éric Lombard, con trai của Henri Lombard và cháu của Édouard Lombard… Một đế chế tài chính, các lãnh tụ của nền công nghiệp, những doanh nhân thống trị toàn Pyrenees, danh tiếng vượt ra ngoài biên giới quốc gia, thậm chí cả khu vực, trong vòng ít nhất sáu mươi năm qua. Và tất nhiên, họ cũng có quyền tiếp cận không giới hạn với các cơ quan công quyền. Ở nơi này, những con ngựa nòi của Éric Lombard hiển nhiên quan trọng hơn một lão già vô gia cư bị sát hại.

“Và mong cậu nhớ rằng cách đây không xa là một nhà thương điên đầy những kẻ mất trí nguy hiểm. Nếu một trong số chúng gây ra việc này, có nghĩa hắn đang lảng vảng đâu đó ngoài kia.”

“Viện Wargnier… Chị đã gọi cho họ chưa?”

“Rồi. Họ nói không có bệnh nhân nào mất tích. Và dù sao thì không ai được phép ra ngoài, ngay cả trong giây lát. Họ quả quyết rằng vượt ngục là điều không thể, an ninh được đảm bảo cực kì nghiêm ngặt. Có vài lớp tường ngăn, an ninh sinh trắc, nhân viên được tuyển chọn kĩ càng, vân vân… Đương nhiên, chúng tôi cũng sẽ xác minh lại. Nhưng viện tâm thần đó rất nổi danh, dựa vào tai tiếng và mức độ bất thường của các bệnh nhân ở đấy.”

“Một con ngựa!” Servaz nhắc lại.

Qua khóe mắt, anh thấy đại úy Ziegler cuối cùng cũng nở một nụ cười mờ nhạt trên gương mặt nãy giờ vẫn lãnh đạm. Nụ cười chỉ mình anh nhận thấy, bằng cách nào đó đã làm nguôi bớt cơn giận dữ đang muốn bùng lên trong anh. Đại úy Ziegler có đôi mắt màu lục thăm thẳm như hồ nước sâu. Dưới vành mũ đồng phục, mái tóc vàng được búi gọn ra sau, anh nghĩ hẳn phải đẹp lắm. Màu môi cô phơn phớt hồng.

“Vậy những chiếc rào chắn được dựng lên để làm gì?”

“Chúng ta sẽ duy trì cho tới khi chắc chắn không có bất cứ bệnh nhân nào của Viện Wargnier trốn ra ngoài,” d’Humières nói. “Tôi không muốn bị buộc tội tắc trách.”

Servaz không nói gì nhưng trong đầu anh, dòng suy nghĩ đang cuộn lên như sóng. D’Humières và Canter nhận lệnh của cấp trên. Luôn là như vậy. Bất kể họ có những nhà lãnh đạo xuất sắc, giỏi giang đến đâu, và dù họ có hơn đứt tất cả đám người tham vọng đầy rẫy trong các cơ quan công quyền, thì cũng như bao người khác, họ phát triển khả năng cảm nhận nguy hiểm cực kì nhạy bén. Một lãnh đạo cấp cao nào đó, có khi chính thủ tướng cũng nên, đã quyết định rằng hành động ngớ ngẩn này ắt hẳn là một ý kiến hay, để giúp ích cho Éric Lombard, người bạn thân tình của các nhà chức trách tối cao trong chính phủ.

“Thế ngài Lombard mà chúng ta nhắc tới đang ở đâu rồi?”

“Đi Mỹ công tác. Trước khi liên hệ, chúng tôi muốn xác nhận xem có đúng đây là một trong những con ngựa của anh ta không.”

“Quản gia nhà anh ta đã báo mất một con ngựa vào sáng nay,” Maillard giải thích. “Chuồng nó trống không. Các mô tả đều khớp. Không lâu nữa ông ta sẽ đến đây.”

“Ai tìm thấy con ngựa? Mấy người công nhân?”

“Phải, trên đường lên trạm, vào sáng nay.”

“Họ có hay lên không?”

“Ít nhất hai lần một năm, vào đầu đông và ngay trước khi tuyết tan,” giám đốc nhà máy trả lời. “Đây là một nhà máy cũ, máy móc cũng cũ. Vì thế chúng tôi phải bảo dưỡng định kì ngay cả khi chúng vẫn tự vận hành mà không cần giám sát. Lần cuối công nhân lên đó là ba tháng trước.”

Servaz nhận thấy đại úy Ziegler không hề rời mắt khỏi anh.

“Chúng ta có biết thời điểm tử vong không?”

“Theo kết quả kiểm tra ban đầu thì vào khoảng nửa đêm,” Maillard nói. “Khám nghiệm tử thi sẽ cho kết quả chi tiết và chính xác hơn. Dù gì, cứ như thể thủ phạm đã biết từ trước rằng sắp có công nhân lên đó.”

“Vào nửa đêm? Nhà máy không có nhân viên an ninh sao?”

“Có. Có hai bảo vệ, phòng của họ ở cuối tòa nhà này. Họ nói rằng không hề nghe hay nhìn thấy bất cứ thứ gì bất thường.”

Servaz ngập ngừng, mày nhíu lại. “Nhưng không thể cứ thế mà di chuyển con ngựa đi đúng không? Ngay cả khi nó đã chết. Ít nhất vẫn cần phương tiện gì đó. Xe tải chẳng hạn. Không có khách viếng thăm hay ô tô nào đến đây sao? Không gì hết à? Phải chăng họ ngủ gật và không dám nói ra? Có thể họ đang theo dõi một trận đấu trên tivi? Hoặc một bộ phim? Và cứ hình dung xem, làm sao để chất cái xác lên cáp treo rồi kéo lên kia, treo lơ lửng, và đi xuống, tất cả đều mất thời gian. Với lại, cần bao nhiêu người để vác một con ngựa? Cáp treo có phát ra tiếng ồn khi hoạt động không?”

“Có,” đại úy Ziegler lần đầu tiên phát biểu. “Không thể không nghe thấy tiếng.”

Servaz quay đầu. Đại úy Ziegler cũng đang thắc mắc y như anh. Có điều gì đó không đúng.

“Cô có cách giải thích nào không?”

“Vẫn chưa.”

“Chúng ta sẽ phải thẩm vấn riêng hai gã bảo vệ,” anh nói. “Trong ngày hôm nay, trước khi thả họ về.”

“Chúng tôi đã tách họ ra rồi,” Ziegler bình tĩnh trả lời trong thẩm quyền của mình. “Họ đang được giám sát chặt chẽ trong hai căn phòng riêng biệt. Họ… đang đợi anh.”

Servaz chú ý thấy ánh mắt băng giá của Ziegler liếc qua d’Humières. Đột nhiên, mặt đất bắt đầu rung chuyển, như thể cơn chấn động đang lan khắp tòa nhà. Trong giây lát, tâm trí anh hoàn toàn lạc đi nơi khác, anh tưởng đó là một vụ tuyết lở, hoặc một trận động đất, cuối cùng anh hiểu ra, là cáp treo. Ziegler đã đúng, không thể không nghe thấy tiếng. Cánh cửa căn phòng mở ra.

“Họ đang trên đường xuống,” một nhân viên cấp dưới thông báo.

“Ai cơ?”

“Với cái xác,” Ziegler giải thích. “Đội của tôi, cùng các chuyên viên khám nghiệm. Họ đã xong việc của mình trên ấy.”

Chuyên viên khám nghiệm hiện trường, họ tới đây với phòng thí nghiệm di động. Trong đó, họ có thiết bị chụp ảnh, quay phim, các dụng cụ bảo quản và đóng gói mẫu sinh học để gửi đến phân tích ở IRCGN, Viện Nghiên cứu Hình sự của Lực lượng Sen đầm Quốc gia tại Rosny-sous-Bois, Paris. Bắt buộc phải có cả tủ giữ lạnh cho những mẫu phẩm dễ phân hủy. Đủ thứ nhặng xị vì một con ngựa.

“Đi thôi,” anh nói. “Tôi muốn xem ngôi sao của ngày hôm nay, quán quân giải Grand Prix de Saint-Martin.”

Khi quay trở ra, Servaz kinh ngạc trước số lượng phóng viên. Anh có thể hiểu được nếu họ có mặt vì một vụ giết người, nhưng vì một con ngựa! Cứ như thể nỗi âu lo vặt vãnh của một tỉ phú như Éric Lombard là đề tài đáng săn đón với những tờ báo về người nổi tiếng cùng độc giả của họ.

Anh tiến bước, cẩn thận hết sức để tuyết không làm ướt giày. Trong lúc đó vẫn cảm nhận được đại úy Ziegler đang chăm chú quan sát mình.

Rồi bất thình lình, anh nhìn thấy nó.

Một cảnh tượng của địa ngục… Nếu địa ngục được làm bằng băng.

Anh bắt mình phải nhìn, bất chấp nỗi ghê tởm đang dâng lên trong lòng. Những mẩu xác của con ngựa được chắp lại với nhau bằng những chiếc đai to bản và cố định vào một máy nâng hàng hóa hạng nặng trang bị động cơ nhỏ và kích thủy lực. Servaz biết có thể một cái máy nâng cùng loại đã được dùng để treo con ngựa lên đó… Họ đang gỡ nó ra khỏi cáp treo. Cabin rất lớn. Anh nhớ lại cơn chấn động lúc trước. Làm sao mấy gã bảo vệ có thể không nhận thấy gì cả?

Anh miễn cưỡng tập trung sự chú ý của mình vào con ngựa. Tuy không biết gì về ngựa nhưng anh cũng cảm thấy đây là một sinh vật tuyệt đẹp. Cái đuôi dài của nó giống như một cái chổi đen, từng sợi lông sáng bóng và sẫm hơn so với nền lông mao trên phần thân màu cà phê ánh đỏ anh đào. Con vật đẹp đẽ dường như được tạc ra từ một thân cây miền nhiệt đới trơn láng, bóng mượt. Bốn chân cùng màu than đen với đuôi và phần bờm còn sót lại. Vô số giọt băng li ti đọng trắng xác con vật. Servaz nhận ra nếu nhiệt độ ở dưới này đã thấp hơn mức 0°, thì trên đó phải lạnh hơn vài độ. Có lẽ đội sen đầm đã dùng một cái khò lửa hoặc mỏ hàn để làm tan chỗ băng đóng xung quanh những mối buộc thì mới gỡ nó xuống được. Trông con vật không khác gì một vết thương hở, với hai vạt da lột ngược ra và áp sát dọc hai bên sườn như đôi cánh đang gập lại.

Nỗi kinh hoàng trùm xuống tất cả những người đang tập trung ở đây.

Chỗ da bị lột trơ ra từng thớ cơ, rõ mồn một như trên tiêu bản giải phẫu. Servaz liếc nhìn xung quanh, Ziegler và Cathy d’Humières tái mét mặt, giám đốc nhà máy trông như vừa gặp ma. Bản thân Servaz cũng hiếm khi chứng kiến điều gì ngoài sức chịu đựng thế này. Trong lúc tưởng như tinh thần suy kiệt, anh chợt nhận ra mình đã quá quen với các bi kịch của con người, đến nỗi khi chứng kiến thảm cảnh của một con vật, anh lại còn thấy sửng sốt và khó chịu hơn.

Rồi đến phần đầu. Hay đúng hơn là chỗ đã từng là cái đầu, chỉ còn vết thương hở hoác nơi cổ họng, khiến toàn bộ cảnh tượng trở nên kì dị đến mức khó tiêu hóa nổi. Như một tác phẩm nghệ thuật với tuyên ngôn về sự điên cuồng tuyệt đối của người nghệ sĩ. Và quả thực, nó chứng minh cho sự loạn trí không thể chối cãi. Một lần nữa, Servaz không khỏi nghĩ đến Viện Wargnier. Khó mà lờ đi mối liên hệ, bất chấp lời quả quyết của viện trưởng rằng không bệnh nhân nào có thể đào thoát.

Theo bản năng, anh cũng phải thừa nhận rằng nỗi sợ hãi của Cathy d’Humières là hoàn toàn có cơ sở. Đây không chỉ là vấn đề về một con ngựa. Cách con vật đó bị giết khiến người ta lạnh sống lưng.

Tiếng động cơ bất ngờ gầm lên khiến họ quay đầu lại. Một chiếc ô tô dẫn động bốn bánh kích cỡ khủng của Nhật phi tới, cán nát con đường và dừng khựng lại cách đó vài mét. Các máy quay lập tức chuyển hướng chĩa vào chiếc xe. Có vẻ họ đang hy vọng sẽ chộp được hình ảnh của Éric Lombard. Nhưng họ chẳng cần phải mong đợi đến thế. Người đàn ông bước ra khỏi chiếc xe lắp kính màu khoảng 60 tuổi, với mái tóc hoa râm được húi cua. Chiều cao và hình thể ông ta nhang nhác một quân nhân hoặc một tay đốn gỗ đã về hưu. Ông ta còn mặc chiếc áo kẻ ca rô bằng vải dệt thô của thợ đốn củi. Tay áo xắn lên để lộ cánh tay mạnh mẽ, như thể không biết đến cảm giác rét buốt. Ông ta không rời mắt khỏi cái xác, có vẻ còn không nhận thấy sự hiện diện của bọn họ, cứ thế đi vòng qua, sải bước rất nhanh tới chỗ con ngựa. Sau đó, Servaz thấy đôi vai rộng của ông chùng xuống.

Người đàn ông quay ra nhìn bọn họ, con mắt đỏ ngầu sáng quắc. Vì đau đớn, và cả vì phẫn nộ.

“Thằng khốn nào đã làm việc này?”

“Ông có phải là André Marchand, quản gia của anh Lombard không?”

“Tôi đây.”

“Ông có nhận ra con vật này không?”

“Có, nó là con Tự Do.”

“Ông có chắc không?” Servaz hỏi.

“Dĩ nhiên.”

“Ông có thể nói rõ ràng hơn được không? Nó bị mất đầu.”

Người đàn ông trân trối nhìn anh. Sau đó ông ta nhún vai và quay trở lại chỗ cái xác, “Anh nghĩ là có nhiều con non như nó ở trong vùng à? Tôi có thể nhận ra nó dễ dàng như anh nhận ra anh em của mình ấy. Dù có đầu hay không.”

Ông ta chỉ vào chân trước bên trái của con ngựa, “Vết lang trắng lan đến nửa cổ chân này chẳng hạn.”

“Cái gì cơ?” Servaz hỏi.

“Sọc trắng trên móng,” Ziegler giải thích. “Cảm ơn, ông Marchand. Chúng tôi đang chuẩn bị đưa xác nó đến trại ngựa ở Tarbes để giải phẫu. Con Tự Do có đang phải điều trị bệnh gì không?”

Servaz không thể tin vào tai mình, họ định làm xét nghiệm độc chất cho một con ngựa.

“Nó hoàn toàn khỏe mạnh.”

“Ông có mang giấy tờ của nó theo không?”

“Tôi để trong xe.” Người quản gia lục hộc đựng đồ và trở lại với một xấp giấy tờ. “Đây là thẻ đăng kí và sổ đi kèm.”

Ziegler xem qua tập tài liệu. Qua vai cô, Servaz có thể thấy vô số hàng cột, bảng biểu và ô trống được điền đầy đủ bằng chữ viết tay nắn nót. Có cả những bức phác họa ngựa, chính diện và nhìn nghiêng.

“Cậu Lombard rất mê con ngựa này,” Marchand nói. “Nó là con ngựa yêu thích của cậu ấy. Nó được sinh ra tại trường ngựa. Một con ngựa hồng xuất chúng.” Giọng ông ta tràn ngập sự phẫn nộ và bi thương.

“Ngựa hồng?” Servaz hỏi nhỏ Ziegler.

“Ngựa Thuần Chủng chưa đầy một năm tuổi.”

Trong khi Ziegler xem xét xấp tài liệu, Servaz không thể không thầm khen ngợi nét mặt nhìn nghiêng của cô. Cô rất hấp dẫn, với phong thái uy nghiêm và hiểu biết. Anh đoán cô khoảng hơn 30 tuổi. Cô không đeo nhẫn cưới. Servaz thắc mắc không biết cô có người yêu chưa hay vẫn đang độc thân. Hoặc cũng đã ly dị, giống như anh.

“Chắc là ông phát hiện ra con ngựa đã biến mất khỏi chuồng vào sáng nay,” anh nói với viên quản gia.

Marchand nhìn anh bằng ánh mắt bén nhọn tỏ rõ sự khinh thị của một chuyên gia đối với kẻ ngoại đạo.

“Tất nhiên là không. Ngựa của chúng tôi không ngủ trong chuồng,” ông ta khịt mũi. “Bọn chúng đều có gian thả riêng. Hoặc trong nhà, hoặc ngoài bãi cỏ có mái che để tiện quây quần với nhau. Đúng là tôi thấy gian thả của nó trống không, điều đó là sự thật. Và thấy các dấu hiệu chứng tỏ khu trại bị đột nhập.”

Servaz không hiểu sự khác nhau giữa chuồng và gian thả nhưng điều này có vẻ khá quan trọng với Marchand.

“Tôi hy vọng anh sẽ tìm ra bọn khốn đã làm việc này,” Marchand nói.

“Sao ông lại cho là bọn?”

“Vì Chúa, anh nghĩ rằng chỉ một người mà có thể mang con ngựa lên đây sao? Tôi nghĩ phải có hệ thống an ninh xung quanh nhà máy chứ.”

Xem chừng không ai chuẩn bị câu trả lời cho thắc mắc ấy. Cathy d’Humières nãy giờ vẫn đứng sang một bên bỗng tiến về phía người quản gia, “Xin ông vui lòng nói với anh Lombard rằng chúng tôi sẽ cố gắng hết sức để tìm ra hung thủ. Anh ta có thể gọi cho tôi bất cứ lúc nào. Mong ông chuyển lời hộ.”

Marchand săm soi vị quan chức cấp cao trước mặt mình như nhà dân tộc học đứng trước đại diện của một bộ lạc kì bí ở Amazon.

“Tôi sẽ nói với cậu ấy,” ông nói. “Tôi cũng muốn nhận lại thi thể nó sau khi khám nghiệm xong. Cậu ấy chắc chắn sẽ muốn chôn nó ở tư dinh.”

Tarde venientibus ossa,” Servaz tuyên bố.

Anh nghĩ là anh nhìn ra tia kinh ngạc trong mắt đại úy Ziegler.

“Là tiếng La tinh,” cô nói. “Có nghĩa là gì?”

Trâu chậm uống nước đục. Tôi muốn lên trên đó.”

Ziegler nhìn sâu vào mắt Servaz. Cô cao gần bằng anh. Servaz có thể nhận thấy một cơ thể rắn rỏi, săn chắc, dẻo dai đằng sau lớp áo đồng phục. Một cô gái xinh đẹp, khỏe mạnh, và thuần phác. Anh nghĩ tới Alexandra khi còn trẻ.

“Trước hay sau khi anh thẩm vấn hai gã bảo vệ?”

“Trước.”

“Tôi sẽ đưa anh đi.”

“Tôi có thể tự đi,” anh chỉ về phía cáp treo.

Cô khẽ xua tay.

“Đây là lần đầu tiên tôi gặp một cảnh sát biết nói tiếng La tinh,” cô cười. “Cáp treo đã bị rào lại rồi. Chúng ta sẽ đi bằng trực thăng.”

Servaz tái mặt, “Cô làm phi công sao?”

“Bất ngờ phải không?”

❀ ❀ ❀

[1] : Khúc nhạc mạnh mẽ, sinh động trong một tác phẩm lớn.

[2] : nghĩa là khoan dung, nhân từ.

[3] : Nhà thơ trào phúng La Mã, sống ở cuối thế kỷ thứ nhất và đầu thế kỷ thứ hai sau công nguyên.

[4] : Một thành phố cổ đại ở Boeotia, đóng vai trò quan trọng trong thần thoại Hy Lạp, tương truyền có bảy cánh cổng.

[5] : Món mì Ý ăn cùng xốt cà chua, dầu ô liu, cá, quả ô liu đen, nụ bạch hoa và tỏi.

[6] : tên một giống ngựa lai phối từ ngựa đực Ả Rập và ngựa cái của Anh từ thế kỷ 17 và 18 chủ yếu phục vụ cho việc đua ngựa, khác với ngựa thuần chủng đơn thuần. Giống ngựa này được coi là ngựa ‘máu nóng’, nổi tiếng với sự lanh lợi, tốc độ và khí thế.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.