5
“Cô đã đọc cuốn Cỗ máy thời gian chưa?”
Họ đang đi bộ dọc hành lang dài và trống trải. Tiếng bước chân vang vọng lẫn trong tiếng huyên thuyên của tay bác sĩ tâm thần lấp kín lỗ tai Diane.
“Chưa,” cô nói.
“H. G. Wells, một nhà xã hội học. Ông ta quan tâm đến các vấn đề phát triển khoa học kĩ thuật, công bằng xã hội và đấu tranh giai cấp. Ông ta là người đầu tiên khám phá các chủ đề kiểu như kĩ thuật di truyền trong Hòn đảo của bác sĩ Moreau hay các nhà bác học điên trong Người vô hình. Ở Cỗ máy thời gian, người dẫn chuyện du hành đến tương lai. Anh ta khám phá ra rằng, nước Anh đã trở thành thiên đường trên mặt đất với người Eloi, những cư dân sống hòa bình và an nhiên.”
Anh ta không rời mắt khỏi cô, đồng thời quẹt thẻ vào một chiếc hộp an ninh khác.
“Người Eloi là hậu duệ của một bộ phận nắm đặc quyền trong giai cấp tư sản. Trải qua hàng nghìn năm, họ đã đạt tới sự sung túc và ổn định đến mức trí tuệ tiêu biến, tư duy chỉ bằng một đứa trẻ 5 tuổi. Vì họ không cần phải nỗ lực làm bất cứ việc gì dù là nhỏ nhất trong hàng thế kỉ, nên họ rất nhanh cảm thấy mệt mỏi. Những sinh vật ngọt ngào, vui vẻ, nhưng cũng thờ ơ đến đáng sợ. Đồng loại của họ có thể chết đuối ngay trước mắt, nhưng chẳng ai thèm đưa, dẫu chỉ là một ngón tay ra để giúp đỡ.”
Diane nghe tai này ra tai kia. Cô đang cố gắng tìm kiếm dấu hiệu của sự sống, sự có mặt của con người, và ghi nhớ đường đi lối lại giữa cái mê cung này.
“Khi đêm xuống, người dẫn chuyện khám phá ra một sự thật khác, còn khủng khiếp hơn. Người Eloi không chỉ có một mình. Bên dưới lòng đất còn một chủng tộc khác nữa, những kẻ gớm guốc và tàn bạo, người Morlock. Bọn họ là hậu duệ của giai cấp vô sản. Từng chút một, vì lòng tham của những người đứng đầu, họ đã tiến hóa xa khỏi tầng lớp thượng lưu để trở thành một giống nòi khác. Những người Eloi kia tốt đẹp bao nhiêu thì họ xấu xí bấy nhiêu. Bọn họ bị ép phải sống chui rúc trong cống ngầm và đường hầm. Bọn họ đã sống trong tăm tối quá lâu tới mức không còn quen với ánh sáng, chỉ có thể rời khỏi hang ổ của mình khi hoàng hôn xuống. Đó là lý do tại sao ngay sau khoảnh khắc mặt trời lặn, người Eloi buộc phải trốn chạy khỏi miền quê yên bình của mình, sợ hãi co cụm lại trong những cung điện đổ nát. Là vì mục đích sinh tồn. Người Morlock, đã trở thành những kẻ ăn thịt người…”
Diane bắt đầu cảm thấy phát cáu với đống chuyện huyên thuyên không dứt của Xavier. Anh ta đang muốn ám chỉ điều gì? Hiển nhiên, anh ta thích lắng nghe chính mình nói.
“Đó chẳng phải một mô tả khá chính xác về xã hội chúng ta đang sống hay sao, cô Berg? Một mặt, người Eloi, với trí tuệ và ý chí bị hao mòn bởi cuộc sống no đủ về vật chất, không có nguy hiểm rình rập, lại phát triển tính thờ ơ và ích kỉ. Mặt khác, những kẻ săn mồi tồn tại để nhắc nhở họ về bài học cũ: nỗi sợ hãi. Cô và tôi là người Eloi, cô Berg… Còn bệnh nhân ở đây là người Morlock.”
“Cách nhìn đó không phải có phần quá giản đơn sao?”
Anh ta phớt lờ bình luận của cô. “Cô muốn biết bài học của câu chuyện này là gì không? Chắc chắn có một thông điệp sâu cay ẩn chứa trong đó, Wells nghĩ rằng trí thông minh suy giảm là hệ quả tự nhiên của sự… an toàn quá mức. Loài vật sống trong sự hòa hợp tuyệt đối với môi trường xung quanh là một cơ chế quá đơn thuần. Tự nhiên chỉ kêu gọi trí thông minh khi thói quen và bản năng không đủ để đáp ứng nhu cầu. Trí thông minh chỉ phát triển ở nơi nào có sự thay đổi, và nơi nào có sự đe dọa.”
Anh ta nhìn cô rất lâu, rồi cười nhăn nhở.
“Giới thiệu cho tôi biết về đội ngũ cán bộ ở đây đi,” cô nói. “Cho đến giờ chúng ta vẫn chưa gặp nhiều người lắm. Mọi khâu đều tự động sao?”
“Chúng tôi thuê khoảng ba mươi hộ lý gì đó. Cùng với sáu y tá, một bác sĩ, một chuyên gia tình dục học, một bếp trưởng, bảy phụ bếp và phục vụ căng tin, và chín nhân viên bảo trì. Tất cả đều làm bán thời gian, đương nhiên là vì ngân sách hạn chế. Ngoại trừ ba hộ lý trực đêm, y tá trưởng, đầu bếp và tôi làm toàn thời gian. Như vậy là có sáu người ngủ lại đây. Cộng với bảo vệ, hy vọng họ không ngủ.” Anh ta phá lên cười một tiếng cụt ngủn rồi nói thêm, “Cả cô nữa là bảy người.”
“Sáu người, với… tám mươi tám bệnh nhân?”
Có tất cả bao nhiêu bảo vệ? Cô thắc mắc. Nghĩ đến cảnh về đêm, tòa nhà rộng thênh thang này không hề có nhân viên, với tám mươi tám tên tâm thần nguy hiểm bị giam giữ dọc hành lang trống trải, cô bỗng cảm thấy sống lưng ớn lạnh.
Xavier dường như nhận ra sự bất an ấy. Anh ta cười toét miệng và nhìn cô bằng ánh mắt đen đúa nhớp nháp như một vũng dầu. “Như tôi đã giải thích, hệ thống an ninh ở đây được bố trí rất nhiều lớp, dày đặc, thậm chí còn nhiều hơn mức cần thiết. Từ khi thành lập, Viện Wargnier chưa từng để xảy ra vụ vượt ngục nào, mà dấu hiệu của sự vượt ngục cũng không.”
“Anh sử dụng phương pháp điều trị nào?”
“Như cô đã biết, việc sử dụng các loại thuốc chống ám ảnh đã được chứng minh là hiệu quả hơn so với các chất cổ điển. Phương pháp điều trị căn bản của chúng tôi là kết hợp dùng thuốc gốc hoóc môn thuộc nhóm LHRH với thuốc chống trầm cảm SSRI. Liệu pháp điều trị này trực tiếp tác động đến việc sản xuất hoóc môn tình dục và làm giảm các triệu chứng rối loạn ám ảnh. Dĩ nhiên, liệu pháp này hoàn toàn vô hiệu với bảy bệnh nhân ở Khu A…”
Họ đi vào một sảnh lớn, tới chân cầu thang mà qua kẽ hở mỗi bậc có thể thấy bức tường đá xù xì phía sau. Diane cho rằng đây chính là những bức tường hùng vĩ cô đã thấy trên đường đến, với dãy cửa sổ bé tí như trong nhà tù. Những bức tường đá, cầu thang bê tông, sàn xi măng. Diane tự hỏi mục đích thiết kế ban đầu của tòa nhà này là gì. Nhưng từ một khung cửa sổ lớn có thể trông ra dãy núi đang bị màn đêm chậm rãi nuốt chửng. Cô ngạc nhiên vì bên ngoài trời tối quá nhanh. Cô không để ý đến thời gian. Đột nhiên một cái bóng lặng lẽ phủ lên người cô. Diane đã phải cố nén cơn sửng sốt.
“Cô Berg, xin phép được giới thiệu y tá trưởng của chúng ta, Élisabeth Ferney. Các vị ‘quán quân’ của chúng ta tối nay thế nào, Lisa?”
“Họ khá lo âu. Tôi không biết bằng cách nào, nhưng họ đã biết chuyện về nhà máy điện.”
Một giọng nói lạnh lẽo, uy quyền. Y tá trưởng là người phụ nữ cao lớn tầm 40 tuổi với những đường nét có vẻ nghiêm nghị, nhưng nhìn tổng thể lại không quá khó chịu. Mái tóc màu hạt dẻ, phong thái bề trên và ánh mắt thẳng thắn nhưng đề phòng. Nghe những lời chị ta nói, Diane nhớ lại trạm kiểm soát trên đường đến đây.
“Tôi đã bị sen đầm chặn lại trên đường. Chuyện gì xảy ra vậy?”
Xavier thậm chí không buồn trả lời. Diane có vẻ chẳng mấy quan trọng với anh ta. Lisa Ferney hướng đôi mắt nâu nhìn cô chăm chú, quay sang Xavier. “Anh không định đưa cô ấy đến Khu A tối nay đấy chứ?”
“Cô Berg là… chuyên gia tâm lý mới của chúng ta, Lisa. Cô ấy sẽ ở lại đây một thời gian. Và cô ấy có quyền tiếp cận mọi thứ.”
Một lần nữa, ánh mắt lạnh lùng của người y tá lại dán vào Diane.
“Nếu vậy, tôi tin rằng chúng ta sẽ còn gặp nhau nhiều đấy,” Lisa Ferney nói khi đi lên cầu thang.
Cầu thang bê tông dẫn tới một cánh cửa khác trên đỉnh tòa nhà. Cánh cửa này không làm bằng kính mà bằng thép dày, với một ô nhỏ hình chữ nhật. Nhìn qua đó, Diane thấy một cánh cửa thứ hai y hệt. Cửa kép an ninh, giống như trên tàu ngầm hoặc trong két bạc ngân hàng. Phía trên cánh cửa thép là một chiếc camera đang ghi hình họ.
“Chào buổi tối, Lucas,” Xavier nói, nhìn lên ống kính. “Mở ra.”
Một chiếc đèn LED chuyển từ đỏ sang xanh lá và Xavier kéo mở cánh cửa bọc thép nặng nề. Bước vào bên trong, họ yên lặng đợi tới khi cánh cửa đầu tiên khóa lại như cũ. Giữa không gian đóng kín, ngoài mùi quặng khoáng và kim loại ra, Diane có thể ngửi thấy mùi nước hoa của y tá trưởng. Đột nhiên, từ phía sau cánh cửa thứ hai vang lên một tiếng thét dài khiến cô giật mình. Mất một lúc lâu dư âm của nó mới tan đi.
Xavier tiếp tục, như thể không nghe thấy tiếng thét, “Với bảy bệnh nhân ở Khu A như tôi vừa nói với cô, chúng tôi thực hiện một loại liệu pháp gây ác cảm đặc biệt. Một dạng ‘cải tạo hành vi’.” Đây là lần thứ hai anh ta dùng cách diễn đạt này, và một lần nữa, Diane lại cứng người. “Tôi xin nhắc lại, bọn chúng là những tên thái nhân cách phản xã hội thực sự. Không ăn năn, không thấu cảm, vô phương cứu chữa. Ngoài phương pháp cải tạo này, chúng tôi cũng chỉ áp dụng các phương pháp điều trị tiêu chuẩn, ví dụ như thường xuyên kiểm tra mức serotonin của chúng. Quá ít serotonin trong máu là biểu hiện của bạo lực và bốc đồng. Mặt khác, mục tiêu của chúng tôi là không bao giờ cho chúng cơ hội gây ra tai họa. Những con quái vật này không sợ gì cả. Chúng biết chúng sẽ không bao giờ thoát thân nhưng cũng không có bất cứ mối đe dọa hay quyền lực nào có thể chạm đến chúng.”
Một tiếng bíp, và Xavier đặt những ngón tay được chăm chút kĩ lưỡng lên cánh cửa bọc thép thứ hai. “Chào mừng đến địa ngục, cô Berg! Nhưng không phải tối nay. Không, Lisa nói đúng, không phải tối nay. Tối nay tôi sẽ vào một mình. Để Lisa đưa cô trở lại.”
Servaz nhìn chằm chằm vào người bảo vệ thứ hai.
“Như vậy là anh không nghe thấy gì cả?”
“Không.”
“Vì tiếng tivi?”
“Hoặc là tiếng đài,” người đàn ông trả lời. “Nếu không xem tivi thì chúng tôi luôn bật đài phát thanh.”
“To hết cỡ?”
“Khá to, phải.”
“Thế anh đã xem hoặc nghe cái gì vào đêm hôm qua?”
Giờ đến lượt gã bảo vệ thở dài. Hết sen đầm lại đến cớm, đây là lần thứ ba gã phải thuật lại sự việc.
“Một trận bóng đá, Marseille với Atlético Madrid.”
“Và sau trận đấu thì anh bật đĩa DVD, phải không?”
“Phải.”
Ánh đèn nê ông khiến cái đầu cạo nhẵn thín của gã bóng lên. Servaz trông thấy một vết sẹo lớn. Từ lúc vào phòng, anh đã quyết định chọn cách ứng xử thật tự nhiên. Với kiểu người này, phải làm rõ từ đầu ai là người cầm trịch. “Anh xem phim gì?”
“Một bộ phim kinh dị loại B, Màn đêm có mắt.”
“Âm lượng thế nào?”
“To, như tôi đã nói.”
Những khoảng lặng dài của Servaz khiến gã bảo vệ lo ngại. Gã cảm thấy mình cần phải giải thích, “Đồng nghiệp của tôi hơi điếc. Vả lại chúng tôi ở đây một mình. Nên ai quan tâm chứ?”
Servaz gật đầu hiểu ý. Gần như khớp từng từ một với những gì đồng nghiệp của gã đã nói.
“Một trận bóng đá kéo dài bao lâu, theo lệ thường?”
Gã bảo vệ nhìn anh như thể người ngoài trái đất. “Bốn lăm phút, nhân đôi… cộng với thời gian nghỉ giữa hiệp và ngoài giờ… Hai tiếng. Chừng đó.”
“Còn bộ phim?”
“Không biết… Một tiếng rưỡi, hai tiếng…”
“Trận đấu bắt đầu lúc mấy giờ?”
“Là giải đấu cúp Europa League, 8 giờ 45 phút.”
“Hừm… Như vậy sẽ kéo dài đến khoảng 12 giờ rưỡi… các anh có đi tuần tra không?”
Người bảo vệ nhìn xuống, lúng túng. “Không.”
“Tại sao không?”
“Chúng tôi xem một bộ phim khác.”
Servaz vươn người tới trước. Anh thoáng thấy bóng mình phản chiếu trên cửa sổ. Bên ngoài tối đen như mực. Nhiệt độ hẳn đã giảm xuống dưới 0 độ khá nhiều.
“Một bộ phim kinh dị khác?”
“Không…”
“Thế thì là gì?”
“Một phim khiêu dâm…”
Servaz nhướng một bên lông mày và phô ra nụ cười dữ tợn đểu cáng nhất của mình. Trong khoảnh khắc, trông anh giống một nhân vật hoạt hình. “Hừm, ra thế… Cho đến mấy giờ?”
“Không biết. 2 giờ sáng, tôi nghĩ vậy…”
“Thế à! Và rồi?”
“Rồi?”
“Rồi các anh có đi tuần không?”
Lần này gã chùng vai xuống thấy rõ. “Không.”
“Xem phim khác?”
“Không, chúng tôi đi ngủ.”
“Không phải các anh phải đi tuần đêm sao?”
“Phải.”
“Thường xuyên không?”
“Cứ hai hoặc ba tiếng một lần.”
“Và đêm qua các anh không đi lần nào, có đúng không?”
Gã bảo vệ chỉ nhìn chăm chăm vào mũi giày. Dường như gã đang hoàn toàn say mê ngắm nghía một điểm bé tí xíu nào đó. “Đúng…”
“Tôi không nghe thấy tiếng anh.”
“ĐÚNG!”
“Tại sao các anh không đi?”
Lần này gã ngẩng đầu lên. “Thì… ai… ai lại nghĩ đến việc lên đây giữa mùa đông chứ? Không một ai hết… Hoàn toàn hoang vắng… Đi tuần để làm gì?”
“Nhưng dù sao anh cũng được trả tiền cho việc đó, không phải sao? Thế còn những hình vẽ graffiti trên tường?”
“Bọn trẻ con thỉnh thoảng lên đây… Nhưng chỉ khi nào thời tiết tốt…”
Servaz vươn tới gần hơn, mặt anh chỉ cách gã cỡ chục phân. “Như thế là nếu một chiếc ô tô đi lên đây giữa bộ phim, thì anh cũng không nghe thấy?”
“Phải.”
“Còn cáp treo?”
Gã ngập ngừng trong giây lát. Đủ để Servaz nhận ra. “Cũng vậy.”
“Anh chắc không?”
“Ừm… có.”
“Còn cơn chấn động?”
“Chấn động nào?”
“Cáp treo gây ra chấn động. Tôi đã cảm nhận được. Anh không cảm thấy nó đêm qua à?”
Tiếp tục ấp úng. “Chúng tôi bị cuốn vào bộ phim.”
Gã đang nói dối. Servaz có thể chắc chắn. Một tấm màn dối trá mà bọn họ cùng nhau thêu dệt, trước khi lực lượng sen đầm đến. Trả lời như nhau, ấp úng như nhau.
“Một trận đấu cộng với hai bộ phim, mất khoảng năm tiếng,” Servaz tính toán, như thể một ông chủ nhà hàng đang nhẩm tính hóa đơn. “Nhưng khi các anh xem phim thì đâu phải lúc nào cũng có tiếng, đúng không? Phải có những khoảng lặng chứ. Ngay cả một bộ phim kinh dị… Đặc biệt là phim kinh dị… Khi căng thẳng leo thang, khi hồi hộp lên đến cao trào…” Servaz vươn đến gần hơn nữa. Mặt anh gần như đã chạm vào mặt gã bảo vệ. Anh có thể ngửi thấy hơi thở hôi hám và cả nỗi sợ hãi của gã. “Đâu phải các diễn viên chỉ gào thét và bị cắt cổ từ đầu chí cuối, đúng chứ? Và cái cáp treo, mất bao lâu để nó lên đến trên đó? Mười lăm, hai mươi phút? Đi xuống cũng thế. Anh hiểu tôi muốn nói gì không? Sẽ là một sự trùng hợp khủng khiếp nếu tiếng ồn của cáp treo hoàn toàn bị át đi bởi bộ phim, không phải chứ? Anh nghĩ sao?”
Tay bảo vệ nhìn anh, như nhìn một con thú săn mồi.
“Tôi không biết,” gã nói. “Có lẽ nó xảy ra trước… hoặc trong trận đấu. Dù sao thì chúng tôi cũng không nghe thấy gì hết.”
“Anh còn giữ đĩa DVD không?”
“Ừ… còn…”
“Được, chúng ta sẽ tái dựng một chút để xem thực chất bộ phim có lấn át được âm thanh đó hay không. Và chúng ta cũng sẽ thử với trận bóng. Cả bộ phim khiêu dâm nữa, tại sao không? Phải làm mọi thứ ra đầu ra đũa chứ.”
Servaz có thể thấy mồ hôi vã ra trên mặt gã bảo vệ.
“Chúng tôi có uống một chút,” gã lẩm bẩm, khẽ đến nỗi Servaz phải yêu cầu gã nhắc lại.
“Gì cơ?”
“Chúng tôi đã uống…”
“Nhiều không?”
“Kha khá.”
Gã bảo vệ giơ hai tay, lòng bàn tay hướng lên như đầu hàng.
“Anh xem… Anh không thể tưởng tượng được trên này thế nào đâu, giữa mùa đông, sĩ quân ạ. Anh đã nhìn xung quanh chưa? Khi trời tối, anh cảm thấy mình đơn độc giữa nơi hoang vắng. Như thể… như thể anh ở chốn vô cùng… trên một hoang đảo, phải… một hòn đảo lạc giữa biển băng tuyết,” gã nói tiếp, văn vẻ đến bất ngờ. “Không ai ở nhà máy quan tâm chúng tôi làm cái quái gì ở đây ban đêm hết. Đối với họ, chúng tôi vô hình, chúng tôi không tồn tại. Tất cả những gì họ muốn là đảm bảo không ai tới phá hoại thiết bị.”
“Đầu tiên, là sĩ quan, không phải sĩ quân. Dù có nói thế nào thì ai đó đã lên được đến đây, phá cửa, khởi động cáp treo và cho con ngựa lên,” Servaz kiên nhẫn nói. “Tất cả những việc đó đều mất thời gian. Và đều gây chú ý.”
“Chúng tôi đã đóng cửa chớp. Có một trận bão tuyết đêm qua. Hệ thống sưởi không ổn định. Vì thế chúng tôi túm tụm lại, uống một chút cho ấm người và bật tiếng tivi hoặc nhạc thật lớn để không phải nghe tiếng gió. Vì say khướt, nên rất có thể chúng tôi nghĩ đó là âm thanh do cơn bão gây ra. Vậy là chúng tôi đã không làm tròn trách nhiệm, dễ hiểu thôi. Nhưng chúng tôi không liên quan gì tới con ngựa cả.”
Một điểm cộng cho gã bảo vệ, Servaz nghĩ. Không khó để tưởng tượng một cơn bão tuyết ở nơi này đáng sợ đến thế nào. Những cơn gió giật, tuyết xối xả, những tòa nhà cũ kĩ hoang liêu hút gió, tiếng kẽo kẹt của cửa chớp và cửa ra vào… Một nỗi sợ hãi bản năng, giống như nỗi sợ hãi đã kìm hãm tổ tiên xa xưa nhất của loài người khi lần đầu chạm trán với cơn thịnh nộ bất trị của thiên nhiên. Dù có cứng đầu bặm trợn như hai gã này.
Anh do dự. Hai lời khai giống hệt nhau, nhưng anh vẫn không tin họ. Dù gã kia có xoay chuyển vấn đề thế nào, Servaz vẫn chắc chắn ít nhất một điều, bọn họ nói dối.
“Sao?”
“Câu chuyện của họ khớp nhau.”
“Phải.”
“Hơi gọn gàng quá.”
“Chính là điều tôi nghĩ.”
Maillard, Ziegler và Servaz họp lại trong một căn phòng nhỏ không cửa sổ và chỉ có một bóng đèn nê ông lờ mờ chiếu sáng. Trên tường là một tấm áp phích đề ‘Y tế lao động, phòng tránh và đánh giá các mối nguy hiểm nghề nghiệp’ với các chỉ dẫn và một số điện thoại. Mệt mỏi hiện rõ trên khuôn mặt của hai viên sen đầm. Servaz biết trông mình cũng chẳng khá hơn. Tại lúc này và ở nơi này, bọn họ đều có cảm giác như đã đi đến tận cùng của mọi sự: tận cùng mỏi mệt, tận cùng thế giới, tận cùng đêm đen.
Những cốc cà phê đầy đã được mang tới. Servaz nhìn đồng hồ đeo tay. 5:32. Giám đốc nhà máy đã về nhà từ hai tiếng trước, với bộ mặt xám ngoét và đôi mắt đỏ ngầu, sau khi nói lời tạm biệt với mọi người. Servaz cau mày khi thấy Ziegler đang gõ gõ gì đó trên chiếc laptop nhỏ. Bất chấp cơn mỏi mệt, cô vẫn đang tập trung vào bản báo cáo.
“Họ đã thống nhất phải khai những gì trước khi chúng ta có thời gian tách họ ra,” anh kết luận, nuốt ngụm cà phê. “Hoặc họ là thủ phạm gây ra vụ án, hoặc họ muốn giấu giếm điều gì đó.”
“Giờ chúng ta phải làm gì?” Ziegler hỏi.
Anh ngẫm nghĩ trong chốc lát, vò nát cái cốc nhựa và quẳng về hướng sọt rác, nhưng trượt.
“Chúng ta chẳng thu được gì từ bọn họ,” anh nhoài người qua để nhặt cái cốc lên. “Hãy thả họ đi.”
Servaz mường tượng lại hai gã bảo vệ. Anh đã gập vô số kẻ như vậy suốt mười bảy năm trong ngành. Trước cuộc thẩm vấn, Ziegler cho anh biết tên bọn họ đã xuất hiện trong STIC (hệ thống xử lý tội phạm hình sự), nhưng cũng không có gì đáng bận tâm. Không dưới 26 triệu người từng được lưu tiền án tiền sự ở STIC. Một phần trong số đó được xếp vào loại phạm tội nhẹ, trong sự bất mãn hết sức của các nhà hoạt động tự do bảo vệ nhân quyền, những người đã trao tặng lực lượng cảnh sát Pháp giải thưởng Big Brother[1] vì đã dựng lên ‘tháp theo dõi thời đại công nghệ thông tin’.
Nhưng anh và Ziegler phát hiện ra hai gã bảo vệ này có tiền án. Cả hai đều từng chịu vài án tù tương đối ngắn so với những hành vi phạm tội của mình, tấn công và hành hung, đe dọa giết người, giam giữ trái phép, tống tiền và hàng loạt các hành vi bạo lực. Một vài vụ còn có cả đồng phạm. Dù hồ sơ phạm tội dài dằng dặc như danh sách Who’s Who[2], tính tổng cộng, mỗi người cũng chưa ngồi quá năm năm tù. Cuộc thẩm vấn nào cũng vậy, họ tỏ ra ngoan ngoãn như cừu, thề thốt đã rút ra bài học và trở về với con đường hoàn lương chân chính. Nhưng cuối cùng, tất cả chỉ là giả tạo. Những lời ba hoa thường thấy mà chỉ mấy tay luật sư mới có thể vờ tin được.
Theo bản năng, Servaz cảm thấy nếu anh không phải là cảnh sát, hoặc nếu anh hỏi bọn họ cùng những câu như thế trong một bãi đỗ xe vắng vẻ, hẳn họ đã gây khó dễ, chưa biết chừng còn dùng bạo lực với anh mà chẳng ngại ngần gì.
Servaz đưa tay vuốt mặt. Dưới đôi mắt xinh đẹp của Irène Ziegler đã hiện quầng thâm, anh lại càng thấy cô thêm cuốn hút. Cô đã cởi áo vét đồng phục, ánh đèn nê ông nhảy nhót trên mái tóc vàng. Anh ngắm nhìn cổ cô. Có một hình xăm nhỏ lấp ló nơi cổ áo. Một chữ Hán.
“Chúng ta nên đi nghỉ và chợp mắt vài tiếng. Kế hoạch ngày mai là gì?”
“Trường luyện ngựa,” cô nói. “Tôi đã cho người quây kín gian thả. Giám định viên hiện trường ngày mai sẽ lo liệu.”
Servaz nhớ ra việc gian thả đã bị đột nhập.
“Chúng ta sẽ bắt đầu với các nhân viên chuồng trại. Chắc phải có người đã nghe hoặc nhìn thấy gì đó chứ.” Anh nói rồi quay sang Maillard, “Đại úy, khỏi cần phiền anh hỗ trợ. Chúng tôi sẽ cập nhật tình hình với anh sau.”
Maillard gật đầu.
“Có hai câu hỏi chính. Cái đầu của con ngựa đi đâu? Và tại sao phải mất công treo con ngựa lên đỉnh cáp treo như thế? Việc này hẳn phải có ý nghĩa gì đó.”
“Nhà máy thuộc về tập đoàn Lombard. Tự Do là con ngựa yêu thích của Éric Lombard. Thế nên rõ ràng anh ta là mục tiêu của bọn chúng,” Ziegler nói.
“Một lời buộc tội?” Maillard gợi ý.
“Hoặc trả thù.”
“Trả thù cũng có thể là một lời buộc tội,” Servaz nói. “Một người như Lombard nhất định phải có kẻ thù, nhưng tôi không tưởng tượng được một đối thủ làm ăn đơn thuần có thể đi xa đến thế. Tôi nghĩ tốt hơn hết chúng ta cần phải tra xét trong số những nhân viên của anh ta, những người đã bị sa thải, hoặc những người có tiền sử bệnh tâm thần.”
“Còn một giả thuyết khác,” Ziegler gập chiếc laptop lại. “Lombard là một tập đoàn đa quốc gia có công ty con ở rất nhiều nước, Nga, Nam Mỹ, Đông Nam Á… Rất có thể họ đã từng qua lại với xã hội đen hoặc ổ nhóm tội phạm có tổ chức.”
“Ý hay đấy. Cứ lưu ý những khả năng ấy và tạm thời chưa quyết định vội. Có khách sạn tử tế nào quanh đây không?”
“Có khoảng mười lăm khách sạn hoặc hơn ở Saint-Martin,” Maillard trả lời. “Còn tùy xem anh muốn tìm nơi như thế nào. Nếu là anh tôi sẽ thử khách sạn Russell.”
Servaz ghi nhớ thông tin, dù đầu óc vẫn còn nghĩ đến hai gã bảo vệ, sự im lặng và lúng túng của họ.
“Những gã đó đang sợ,” anh đột nhiên nói.
“Gì?”
“Hai gã bảo vệ. Có ai hoặc cái gì đó đã làm họ sợ hãi.”
❀ ❀ ❀
[1] : danh hiệu dành cho chính phủ và các tổ chức trong khối tư nhân có ‘đóng góp’ to lớn nhất trong việc đe dọa đến quyền riêng tư cá nhân. Giải thưởng này được đặt tên theo nhân vật Big Brother (Anh Cả) trong tiểu thuyết 1984 của George Orwell.
[2] : tên thường đặt cho những ấn phẩm tổng hợp thông tin và tiểu sử của một nhóm cá nhân nào đó.