24
Tay bác sĩ tâm thần giữ im lặng lâu hơn Servaz tưởng. Anh ta cứ nhìn chằm chằm vào Servaz với cặp kính đỏ khác thường của mình, như thể cố gắng xác định xem người cảnh sát này đang có mục đích gì. Cuối cùng anh ta cũng đáp, “Với tư cách là một bác sĩ chuyên khoa thần kinh, câu trả lời của tôi là: Đây không phải vấn đề thuộc phạm trù tâm thần học, mà là triết học. Và cụ thể hơn, là đạo đức. Từ góc độ đó, cái ác không thể thai nghén mà không có cái thiện, anh không thể có cái này mà không có cái kia. Anh đã nghe nói về các giai đoạn phát triển đạo đức của Kohlberg chưa?” Anh ta hỏi.
Servaz lắc đầu.
“Lawrence Kohlberg là một nhà tâm lý học người Mỹ. Lấy cảm hứng từ thuyết phát triển nhận thức của Piaget[1], ông ta phân định sự tồn tại của sáu giai đoạn phát triển đạo đức ở con người.” Xavier ngừng lại, ngả ra lưng tựa ghế và đặt hai tay bắt tréo lên bụng, tập trung suy nghĩ. “Theo Kohlberg, ý thức về đạo đức của một cá nhân được hình thành lần lượt qua các giai đoạn trong quá trình phát triển nhân cách. Lần lượt, không thể nhảy cóc hay rút ngắn. Khi một cá nhân đạt đến một giai đoạn đạo đức nhất định, người ấy không thể quay lui mà sẽ tiến lên hoặc ở lại cấp độ đó cả đời. Tuy nhiên, không phải mọi cá nhân đều đạt đến giai đoạn cuối cùng, gần như không. Rất nhiều người dừng lại ở một giai đoạn đạo đức cấp thấp. Cuối cùng, những giai đoạn này là điểm chung của toàn nhân loại, bất kể văn hóa. Chúng chính là tiếp điểm của văn hóa.”
Servaz cảm nhận được rằng anh đã khơi lên hứng thú ở tay bác sĩ tâm thần.
“Ở cấp độ 1,” Xavier hào hứng bắt đầu. “Cái thiện được tưởng thưởng và cái ác bị trừng phạt. Như khi anh lấy thước kẻ đánh lên bàn tay đứa trẻ để chúng hiểu rằng chúng vừa làm một việc sai trái. Việc nghe lời được nhận thức như một giá trị, và đứa trẻ vâng lời bởi người lớn có sức mạnh để trừng phạt nó. Ở cấp độ 2, đứa trẻ không còn vâng lời chỉ để tuân theo quyền lực, mà để nhận về phần thưởng hoặc sự hài lòng từ người lớn. Điều này đánh dấu sự bắt đầu của một cuộc trao đổi có qua có lại.”
Xavier khẽ cười.
“Ở cấp độ 3, cá nhân tiến tới giai đoạn đầu tiên của đạo đức quy ước, hay nói cách khác là các giá trị đạo đức được toàn xã hội quy ước và chấp nhận, cố gắng đáp ứng kì vọng của người khác và hoàn cảnh của chính mình. Đó là sự phán xét của gia đình hoặc các nhóm người có vị trí quan trọng với cá nhân đó. Đứa trẻ học được sự tôn trọng, trung thành, tin tưởng và biết ơn. Ở cấp độ 4, ý niệm về nhóm mở rộng ra thành xã hội. Đây là lúc xuất hiện sự tôn trọng pháp luật và trật tự. Chúng ta vẫn còn đang trong phạm vi của đạo đức quy ước, và đây là giai đoạn tuân thủ. Cái thiện bao gồm việc thực hiện nghĩa vụ của mình, và cái ác là những gì xã hội lên án.”
Xavier ngả người tới trước.
“Từ cấp độ 5 trở đi, cá nhân được giải phóng khỏi đạo đức quy ước và vượt lên trên nó. Đây là đạo đức hậu quy ước. Hành động của cá nhân vượt lên trên tính vị kỉ để trở thành vị tha. Người đó biết rằng các giá trị chỉ là tương đối, luật pháp phải được tôn trọng nhưng không phải lúc nào cũng là điều tốt. Trên hết, người đó có sự quan tâm đến tập thể. Cuối cùng, ở cấp độ 6, cá nhân tự do lựa chọn những nguyên tắc đạo đức có thể xung đột với luật pháp của đất nước, nếu coi những điều luật ấy là trái đạo đức. Lúc này, lương tâm và lý lẽ của cá nhân sẽ chiếm ưu thế. Ở cấp độ 6, cá nhân có một tầm nhìn rõ ràng, mạch lạc và trọn vẹn về hệ giá trị của chính mình. Một người như thế thường tích cực trong tập thể và các hoạt động từ thiện, là kẻ thù không đội trời chung của thói lừa lọc, ích kỉ và tham lam.”
“Rất thú vị,” Servaz nói.
“Đúng nhỉ! Chắc không nói thì anh cũng biết, đa số con người kẹt lại ở cấp độ 3 và 4. Kohlberg còn vạch ra cấp độ 7. Có cực ít cá nhân từng đạt đến cấp này. Cá nhân ở cấp độ 7 có tình yêu bao la và lòng trắc ẩn đối với tất cả chúng sinh, chẳng khác nào thần thánh, vượt xa người trần mắt thịt thông thường. Kohlberg chỉ đề cập đến vài ví dụ, Jesus, Phật tổ, Gandhi. Dựa vào đó có thể nói, người thái nhân cách tắc lại ở cấp độ 0. Ngay cả khi đối với một bác sĩ chuyên khoa thần kinh, quan niệm này có vẻ không được học thuật cho lắm.”
“Liệu rằng có khả năng đặt ra một thước đo tương tự với cái ác không?”
Đôi mắt của tay bác sĩ ánh lên đằng sau cặp kính khi nghe câu hỏi của Servaz. Anh ta liếm môi vẻ thèm thuồng.
“Đây là một câu hỏi rất thú vị,” anh ta nói. “Tôi thừa nhận bản thân cũng thường băn khoăn tương tự. Với một thước đo như thế, một người như Hirtmann sẽ ở cấp độ cao nhất, hay về cơ bản, là một dạng đối lập với cá nhân cấp độ 7 ở thước đo đạo đức.”
Anh ta nhìn thẳng vào mắt anh qua tròng kính. Trông như đang tự hỏi Servaz đã đạt tới cấp độ nào. Servaz thấy mồ hôi vã ra, tim đập dồn dập. Có thứ gì đó lớn dần trong ngực anh. Nỗi sợ hãi. Một lần nữa anh lại nhìn thấy cặp đèn pha qua gương chiếu hậu, Perrault gào thét trong chiếc cabin, thi thể trần trụi của Grimm treo bên dưới cầu, con ngựa không đầu, tên khổng lồ người Thụy Sĩ chằm chằm nhìn anh, ánh mắt của Lisa Ferney qua những dãy hành lang của Viện. Nỗi sợ hãi đã ở đây ngay từ ban đầu, tận sâu bên trong, như một hạt giống, đòi được nảy mầm và trổ hoa. Anh muốn quay gót, bỏ chạy khỏi nơi này, thung lũng này, những ngọn núi này.
“Cảm ơn, bác sĩ,” anh bật dậy.
Xavier đứng lên theo, mỉm cười và vươn bàn tay qua bàn làm việc.
“Có gì đâu.” Anh ta nắm tay Servaz một lúc. “Trông anh rất mệt mỏi, sĩ quan ạ, không khỏe chút nào cà. Anh nên nghỉ ngơi nhiều hơn.”
“Đây là lần thứ hai có người nói với tôi như vậy.” Servaz cười đáp.
Nhưng đôi chân anh run rẩy khi bước ra cửa.
15:30. Chiều đông đang tàn dần. Những cây lãnh sam đen nổi bật trên nền tuyết, bóng tối mỗi lúc một dày đặc, hình dáng ngọn núi cắt qua bầu trời xám ngắt và trùm xuống thung lũng với vẻ hăm dọa. Servaz ngồi trong xe, nhìn vào danh sách. Mười một cái tên. Anh biết ít nhất hai người trong số đó, Lisa Ferney và chính bác sĩ Xavier. Anh nổ máy, lùi vòng lại để lái xe đi. Bên rìa đường, tuyết đã gần tan hết, thay bằng một lớp màng mỏng màu đen, nhờn, mềm và sáng bóng. Không còn chiếc xe nào khác trên con đường hẹp và tối, nhưng ở vài kilomet tiếp theo, khi đi tới gần trại hè, anh thấy một chiếc xe đỗ gần cổng vào. Một chiếc Volvo 940 đỏ cũ kĩ. Servaz đi chậm lại và cố đọc biển số trong ánh đèn pha sáng rực của xe mình. Chiếc xe bẩn đến nỗi một nửa những con số đã biến mất dưới lớp bùn và dưới những chiếc lá dính vào tấm biển. Chỉ là ngẫu nhiên hay ngụy trang? Nỗi lo lắng dâng lên trong anh.
Servaz liếc vào trong. Không có ai. Anh vượt qua chiếc xe chừng 5 mét rồi đỗ lại, và bước ra ngoài. Không có ai xung quanh. Cơn gió rên rỉ thảm thiết qua những tán cây, giống như âm thanh của những tờ giấy cũ loạt soạt trên một con đường vắng. Tiếng dòng nước cuồn cuộn chảy. Ánh sáng đang yếu dần. Anh với đèn pin trong hộc đựng đồ và đi tới chỗ chiếc Volvo, giẫm lên lớp tuyết bẩn ở rìa đường. Không có gì đặc biệt bên trong chiếc xe, ngoại trừ việc nó bẩn không kém bên ngoài. Anh cố mở cửa xe. Nó đã khóa.
Servaz không quên trải nghiệm ở cáp treo, bèn trở lại lấy súng. Khi băng qua cây cầu nhỏ gỉ sét, anh cảm nhận một luồng không khí lạnh lẽo bốc lên từ dòng nước. Giây phút bàn chân trượt trên con đường lầy bùn, Servaz hối hận vì đã không đi ủng, và anh nhớ lại những dòng nhật kí Alice đã viết. Sải được vài bước thì đôi giày của anh cũng rơi vào tình trạng đáng thương hệt như chiếc Volvo. Anh tiến vào rừng. Trời bắt đầu mưa trở lại. Ban đầu, anh bước đi dưới những tàng cây, nhưng khi con đường dẫn tới một bãi đất trống nơi cỏ và tầm ma đâm xuyên qua tuyết, cơn mưa dội xuống đầu anh như hàng chục ngón tay nhỏ gõ đều đều theo một nhịp điệu ma quỷ. Servaz dựng cổ áo lên che khuất cái cổ ướt đẫm nước. Dưới cơn mưa tầm tã, trại hè trông vô cùng quạnh quẽ.
Tới gần mấy tòa nhà, con đường bắt đầu thoai thoải dốc lên, Servaz trượt chân trên lớp bùn và suýt nữa thì ngã dúi dụi. Anh đánh rơi súng, nó liền trượt xuống một vũng nước. Anh chửi thề và nhặt súng lên, bụng bảo dạ chẳng may có ai đang trốn đâu đây theo dõi, hẳn sẽ cười phá lên vì sự vụng về của anh.
Tòa nhà dường như đang chờ anh tới. Tay và quần anh dính đây bùn, khắp người ướt sũng nước mưa. Servaz gọi to, nhưng không ai trả lời. Tim anh đập điên cuồng trong lồng ngực. Từng tín hiệu báo động, hết đợt này đến đợt khác, đang nháy đỏ. Ai có thể lang thang quanh cái trại hoang liêu này, và tại sao? Nhất là, tại sao không có lời đáp lại tiếng gọi của anh? Chắc hẳn tiếng anh đủ vang để người ta nghe thấy.
Ba tòa nhà xây theo phong cách nhà gỗ vùng núi, nhưng làm bằng bê tông, chỉ có vài chỗ tô điểm bằng gỗ. Mái nhà lợp đá tảng đen. Có nhiều cửa sổ ở mỗi tầng và những ô cửa sổ lớn ở tầng trệt. Ba tòa nhà được nối với nhau bằng hành lang đi bộ có mái che. Không có ánh đèn nào hắt ra từ những ô cửa sổ. Một nửa số kính cửa sổ đã vỡ, vài chỗ được thay bằng ván gỗ dán. Nước mưa trào ra từ những máng dẫn nứt nẻ, bắn tung tóe trên mặt đất. Servaz quét ánh đèn pin qua mặt tiền của tòa nhà ở chính giữa và phát hiện ra một dòng khẩu hiệu đã phai được vẽ bên trên lối vào: Không có kì nghỉ nào trong trường đời. Hay trong tội ác, anh nghĩ.
Đột nhiên anh thấy có gì đó chuyển động qua khóe mắt, ở phía bên trái. Anh quay ngoắt qua. Một phần, anh băn khoăn liệu có thật là mình đã nhìn thấy gì không, hay chỉ là những cành cây rung rinh trước gió? Phần khác anh gần như chắc chắn là đã thoáng thấy một cái bóng vụt qua. Một cái bóng giữa những bóng tối.
Kiểm tra súng để đảm bảo mình đã mở chốt an toàn và trượt một viên đạn vào ổ đạn, Servaz cảnh giác tiến tới. Đi qua góc ngoài cùng bên trái của tòa nhà, anh cẩn thận đặt từng bước chân, vì mặt đất dần dốc xuống, trơn trượt với lớp bùn nhớp nháp. Ở cả hai bên, những thân sồi thẳng tắp vươn cành nhánh đen sẫm vào xa thẳm, ngước mắt nhìn lên, anh trông thấy những mảng trời xám và cơn mưa đang trút xuống. Con dốc bùn lầy nằm giữa đám thân cây và dẫn tới một dòng suối cách đó vài mét.
Đột nhiên, anh trông thấy. Một luồng sáng.
Nhỏ bé và bập bùng như bóng ma trơi. Anh chớp mắt để xua đi nước mưa đọng trên mi. Luồng sáng vẫn còn đó.
Chết tiệt, là cái gì đây? Một ngọn lửa. Nhảy nhót, mong manh, nhỏ bé, cách mặt đất một mét, trên một trong những thân cây thẳng đứng.
Còi báo động bên trong anh tiếp tục kêu vang. Ai đó đã thắp ngọn lửa chắc chắn chưa thể đi xa chỗ này. Servaz nhìn quanh quất, rồi đi xuống con dốc dẫn đến cái cây và suýt trượt ngã tiếp trên lớp bùn lầy. Một ngọn nến. Nến trà, loại được dùng để ủ ấm thức ăn hoặc tạo không khí cho một căn phòng. Nó được đặt trên một cái khay gỗ nhỏ gắn lên thân cây. Luồng sáng đèn pin quét qua lớp vỏ cây xù xì, Servaz khựng lại khi nhìn thấy một trái tim lớn được khắc lên thân cây, bên trên ngọn nến vài centimet. Trong trái tim là năm cái tên:
Ludo + Marion + Florian + Alice + Michael.
Những nạn nhân tự tử. Servaz nhìn chằm chằm vào hình trái tim, sững sờ, câm nín.
Cơn mưa đã dập tắt ngọn nến.
Và bất thình lình, anh bị tấn công. Hung bạo. Dã man. Đáng sợ. Đột nhiên anh nhận thức rằng anh không chỉ có một mình. Sau một tích tắc, một thứ lạnh lẽo và mềm dẻo chụp xuống đầu anh. Hoảng sợ, anh vùng lên và quyết liệt chống trả, nhưng kẻ tấn công không chịu buông tha. Anh cảm thấy thứ lạnh lẽo kia chụp qua mũi và miệng mình. Bộ não kinh hoàng của anh gào thét trong câm lặng: túi nhựa! Tên kia giáng một cú tàn nhẫn vào khoeo chân anh, làm Servaz đau đớn khuỵu xuống. Anh bất lực nằm dưới đất, mặt ngập trong bùn, toàn bộ trọng lượng của gã đàn ông đè lên anh. Cái túi khiến anh ngạt thở. Qua lớp nhựa, anh cảm thấy chất bùn nhão nhoẹt và nhớp nháp. Kẻ tấn công ấn mặt anh xuống đất, choàng cái túi quanh cổ anh và cố định hai cánh tay anh bằng đầu gối hắn. Vừa cố hớp từng hơi, Servaz vừa nhớ lại vết bùn trên tóc Grimm. Một nỗi sợ hãi buốt giá, không thể kiểm soát choán lấy anh. Anh điên cuồng quơ quào hai chân và thân trên của gã đàn ông, cố hất hắn khỏi lưng mình. Vô ích! Hắn không chịu buông. Cái túi nhựa loạt soạt căng phồng lên, đẩy xa khỏi mặt khi anh thở ra và lại dán sát vào mũi, miệng và răng khi anh hít vào. Anh gần như không thở nối nữa. Và hoảng loạn. Đầu bị giam hãm trong một nhà tù bằng nhựa, Servaz có cảm giác trái tim mình sẽ ngừng đập bất cứ lúc nào. Đột nhiên anh bị giật ngược ra sau một cách hung bạo, một sợi dây thừng siết quanh cổ họng, đồng thời cũng thít cái túi nhựa lại luôn. Một cơn đau như thiêu như đốt hành hạ phần cổ khi anh bị lôi đi trên mặt đất.
Hai chân anh vùng vẫy loạn xạ, cố trượt qua bùn để làm giảm bớt áp lực khủng khiếp trên cổ. Mông anh nhấc lên, rơi xuống và trượt qua đất mềm, hai tay níu lấy sợi dây, cố nới lỏng cái tròng siết cổ trong vô vọng. Anh không biết súng của mình đã rơi đâu mất. Anh bị lôi đi vài mét, bị trật khớp, đau đớn, và ngạt thở, hệt như một con vật bị chất lên xe kéo đến lò mổ.
Không đến hai phút nữa anh sẽ chết.
Anh vẫn đang phải vật lộn để thở. Miệng anh há ra hết cỡ nhưng cái túi nhựa đã chặn không khí lại. Bên trong cái túi, ôxy đang cạn kiệt, thay vào là cacbon dioxit mà anh nhả ra.
Anh sắp phải chịu chung số phận với Grimm.
Chung số phận với Perrault.
Với Alice.
Bọn chúng sẽ treo cổ anh.
Servaz sắp sửa ngất đi thì đột nhiên không khí lại ào ạt tràn vào phổi như thể một cửa xả lũ vừa mở. Làn không khí tinh khiết, không vẩn bụi. Anh cũng cảm nhận được nước mưa đang xối lên mặt mình. Anh hớp lấy một hơi đầy phổi, cả không khí và nước mưa, khiến hơi thở khò khè như một cái ống bễ lò rèn.
“Hít thở! Thở đi!”
Giọng bác sĩ Xavier. Anh quay đầu, mất một lúc để điều chỉnh tiêu cự và thấy anh ta đang cúi xuống đỡ mình. Xavier trông khiếp hãi chẳng khác gì anh.
“Hắn… Hắn đâu rồi?”
“Hắn chạy mất rồi. Tôi thậm chí không kịp nhìn thấy hắn. Im lặng nào, thở đi!”
Đột nhiên họ nghe thấy âm thanh động cơ và Servaz hiểu ra.
Chiếc Volvo!
“Chết tiệt,” anh không biết mình đã lấy đâu ra sức để nói câu ấy.
Servaz ngồi dựa vào một thân cây, để mặc cơn mưa gột rửa mặt mũi và đầu tóc. Ngồi thu lu bên cạnh anh là Xavier, cũng có vẻ chẳng đoái hoài đến cơn mưa đang ngấm ướt sũng bộ com lê, hay đám bùn dính trên đôi giày bóng lộn.
“Tôi đang trên đường xuống Saint-Martin thì nhìn thấy xe của anh. Tôi thắc mắc không biết anh làm gì ở đây. Vì thế tôi quyết định vào xem thế nào.”
Tay bác sĩ tâm thần nhìn anh bằng ánh mắt sắc sảo và mỉm cười dò hỏi.
“Tôi cũng giống những người khác thôi. Cuộc điều tra, những vụ giết người… tất cả đều đáng sợ, nhưng cũng kích thích trí tò mò. Nói tóm lại, tôi đang đi tìm anh, rồi đột nhiên tôi thấy anh nằm quay trên đất, cái túi trùm đầu… và sợi dây! Chắc hung thủ không ngờ đến chuyện bị quấy rầy, nên đã chạy luôn khi nghe thấy tiếng động cơ.”
“Một cái bâ… bẫy,” Servaz lắp bắp, xoa nắn cổ. “Hắn đặt bẫy t… tôi.”
Anh bập môi vào điếu thuốc ướt đẫm. Nó gãy rời. Cơ thể anh run lẩy bẩy, co giật từng hồi. Tay bác sĩ nhẹ nhàng kéo cổ áo vét của anh sang một bên.
“Để tôi xem nào. Trông không được tốt lắm. Tôi sẽ đưa anh đến bệnh viện. Anh phải đi khám ngay. Cần chụp X-quang cổ và thanh quản.”
“Cảm ơn anh vì đã tới… tới đây.”
“Chào buổi sáng,” Ngài Atlas nói.
“Chào buổi sáng,” Diane trả lời. “Tôi đến gặp Julian.”
Ngài Atlas săm soi cô, mày chau lại, đôi bàn tay khổng lồ đặt trên thắt lưng của bộ áo liền quần. Diane bình thản đáp lại ánh mắt anh ta, cố gắng giữ điềm tĩnh.
“Bác sĩ Xavier không đi với cô sao?”
“Không.”
Gương mặt của người đàn ông khổng lồ thoáng chốc tối sầm. Diane tiếp tục nhìn vào mắt anh ta. Cuối cùng, Ngài Atlas nhún vai và quay đi.
Cô đi theo anh ta, tim đập dồn.
“Anh có khách này,” người bảo vệ mở cánh cửa phòng giam.
Diane đi vào. Cô nhận ra sự ngạc nhiên trong ánh mắt Hirtmann.
“Chào buổi sáng, Julian.”
Người đàn ông Thụy Sĩ không trả lời. Tâm trạng hắn có vẻ không tốt. Tinh thần thoải mái lần trước đã bay biến. Giờ cô chỉ ước mình có thể quay gót trở ra trước khi quá muộn.
“Tôi không biết hôm nay mình sẽ có khách,” cuối cùng hắn nói.
“Tôi cũng không biết,” cô trả lời. “Ít nhất là cho đến năm phút trước.”
Lần này Hirtmann chưng hửng, khiến Diane cảm giác có chút tự mãn. Cô ngồi xuống bên chiếc bàn nhỏ và trải giấy tờ ra trước mặt, đợi hắn đến ngồi xuống đối diện mình, nhưng hắn không hề có ý định làm thế mà cứ tiếp tục đi qua đi lại trước cửa sổ như một con quái vật trong lồng.
Cô bắt đầu, “Vì chúng ta sẽ gặp nhau thường xuyên, tôi muốn làm rõ một vài điều, chỉ là để thiết lập khuôn khổ cho những cuộc thảo luận giữa chúng ta và nắm được cơ chế làm việc của cơ sở này.”
Hắn dừng bước, nhìn cô bằng ánh mắt ngờ vực một lúc lâu, rồi tái lập cuộc đi lại mà không nói một lời.
“Anh không phiền chứ?”
Im lặng.
“Được rồi, để bắt đầu, có nhiều người ghé thăm anh không, Julian?”
Một lần nữa, hắn dừng chân, nhìn cô chằm chằm trước khi tiếp tục đi lại với vẻ bồn chồn, hai bàn tay chắp sau lưng.
“Có người ngoài Viện nào ghé thăm không?”
Không trả lời.
“Và ở đây, ai tới thăm anh, bác sĩ Xavier? Élisabeth Ferney? Hay còn ai nữa?”
Không trả lời.
“Anh có bao giờ nói chuyện với họ về những gì xảy ra bên ngoài không?”
“Bác sĩ Xavier phê duyệt cuộc viếng thăm này chưa?” Đột nhiên hắn lên tiếng hỏi, dừng lại ngay trước mặt cô.
Diane buộc phải nhìn lên. Hắn nhìn xuống chỗ cô đang ngồi với chiều cao lêu nghêu của mình.
“Ừm, tôi…”
“Tôi cá là chưa. Chính xác thì cô đang làm gì ở đây vậy, bác sĩ Berg?”
“Thì, tôi vừa nói với anh, tôi…”
Hắn tặc lưỡi. “Không thể tin nổi bác sĩ tâm lý các cô lại thiếu hiểu biết về tâm lý đến như vậy. Tôi có thể cư xử rất lịch sự, bác sĩ Berg, nhưng tôi không thích bị xem là thằng ngu.” Hắn xẵng giọng.
“Anh có biết chuyện xảy ra bên ngoài không?” Cô hỏi, quyết định bỏ qua giọng điệu chuẩn mực của một bác sĩ tâm lý.
Hắn lại nhìn cô, dường như tư lự. Rồi quyết định ngồi xuống, vươn người về phía trước, hai cánh tay đặt trên bàn, ngón tay đan vào nhau.
“Ý cô là mấy vụ giết người hả? Có, tôi đã đọc báo.”
“Như vậy nghĩa là tất cả thông tin anh nắm được đều bắt nguồn từ báo chí, phải không?”
“Cô đang ám chỉ chuyện gì? Chuyện gì xảy ra ở bên ngoài Viện đã khiến cô trở nên thế này?”
“Trở nên thế nào?”
“Cô có vẻ khiếp sợ. Nhưng không chỉ là khiếp sợ. Cô giống một người đang tìm kiếm thứ gì, hoặc thậm chí, cô giống một con thú nhỏ thích đào hang. Hiện tại trông cô giống như thế đấy, mấy con chuột bẩn thỉu. Giá mà cô trông thấy vẻ mặt mình lúc này! Lạy Chúa, bác sĩ Berg, cô bị làm sao vậy? Cô không thể chịu được nơi này, phải thế không? Cô không sợ mình sẽ phá vỡ sự cân bằng ở đây bằng những câu hỏi của mình sao?”
“Anh nói hệt như bác sĩ Xavier vậy,” cô mỉa mai.
Hắn mỉm cười, “Ôi không, làm ơn! Nghe nhé, lần đầu tiên cô xuất hiện, tôi đã cảm nhận được ngay rằng cô không cảm thấy mình thuộc về nơi đây. Nơi đây… Cô trông đợi sẽ tìm thấy gì? Ác thần hay quỷ dữ? Cô sẽ chẳng tìm thấy gì ngoài các bệnh nhân tâm thần và hoang tưởng đáng thương, bác sĩ Berg ạ. Tôi không do dự gì mà chẳng liệt mình vào đám đó. Khác biệt duy nhất giữa chúng tôi và những người bên ngoài là sự tàn bạo. Tin tôi đi, nó không chỉ giới hạn ở các bệnh nhân thôi đâu.”
Hắn xòe tay ra, “Ồ, tôi biết bác sĩ Xavier nhìn nhận mọi thứ theo cách riêng, có thể nói là lãng mạn. Anh ta coi chúng tôi là những sinh vật hiểm ác, hiện thân của nữ thần báo thù và những thứ rác rưởi na ná thế. Anh ta nghĩ rằng mình đã được giao phó một sứ mệnh. Với anh ta, nơi này là một dạng chén thánh của tâm thần học. Hết sức nhảm nhí!”
Trong khi nói, biểu cảm của Hirtmann trở nên tăm tối và cay nghiệt hơn bao giờ hết. Diane không khỏi co rúm lại.
“Viện Wargnier cũng giống như tất cả các chỗ khác, không có gì ngoài rác rưởi, tầm thường, phương pháp điều trị vô tác dụng và thuốc liều cao. Tâm thần học là quả lừa lớn nhất của thế kỉ 20. Xem phương thuốc mà họ kê đi, bọn họ thậm chí còn không biết tại sao chúng có tác dụng! Hầu hết đều là ngẫu nhiên khám phá ra, nhờ những người nghiên cứu ở các lĩnh vực khác.”
Cô chằm chằm nhìn hắn.
“Cho tôi biết anh lấy thông tin ở đâu,” cô nhắc lại. “Có phải tất cả đều từ báo chí không?”
“Cô không lắng nghe những lời tôi nói!!!”
Hirtmann lớn tiếng bằng giọng độc đoán. Diane nhảy dựng lên. Có cảm giác mình đang tuột mất hắn, đang làm hỏng việc, đang bỏ qua thứ gì. Hắn sẽ không không đời nào hợp tác với cô.
“Tôi có, tôi dang nghe đây…”
“Cô không nghe tôi nói.”
“Sao anh lại nói như vây? Tôi…”
Đột nhiên cô hiểu ra.
“Anh nói, ‘không chỉ giới hạn ở các bệnh nhân’ là ý gì?”
Một nụ cười ruồi nhưng dữ tợn hiện ra trên mặt Hirtmann, “Cô sẽ thấy, khi cô muốn thấy.”
“‘Không chỉ giới hạn ở các bệnh nhân?’ Nghĩa là sao? Anh đang ám chỉ điều gì? Người điên? Biến thái? Tội phạm? Sát nhân? Có những kẻ như thế trong đội ngũ cán bộ, phải thế không?”
“Rốt cuộc, nói chuyện với cô cũng khá thú vị đấy.”
“Anh đang nói đến ai? Kẻ ấy là ai?”
“Cô biết những gì, Diane? Cô đã tìm ra điều gì rồi?”
“Nếu tôi kể thật, làm sao tôi biết được anh sẽ không nhắc lại với ai?”
Hắn bật cười, nghe thật tởm lợm và khó chịu, “Ôi, thôi nào, Diane! Nghe cứ như lời thoại của một bộ phim tệ hại ấy! Cô nghĩ sao? Rằng tôi rất hứng thú muốn biết à? Nhìn tôi xem, tôi sẽ không bao giờ ra khỏi đây. Vì thế tôi cũng chẳng quan tâm, dù ngoài kia có xảy ra động đất đi chăng nữa, hoặc ít nhất là nếu không đủ mạnh để những bức tường này vỡ làm đôi, thì động đất với tôi cũng chẳng có nghĩa lý gì.”
“Họ tìm thấy DNA của anh ở nơi con ngựa bị giết,” cô nói. “Anh có biết không?”
Hirtmann quan sát cô rất lâu, “Còn cô thì sao, làm sao cô biết?”
“Không quan trọng. Sao, anh biết chứ, hay là không?”
Hắn hơi nhăn mặt, hoặc cũng có thể là một điệu cười.
“Tôi biết cô đang tìm kiếm điều gì,” hắn nói. “Nhưng cô sẽ không tìm thấy nó ở đây đâu. Và câu trả lời cho cô là: Tôi biết tất cả, Diane ạ. Mọi chuyện xảy ra ở cả trong này và ngoài kia. Cứ yên tâm, tôi sẽ không tiết lộ với ai về chuyến viếng thăm của cô. Tuy vậy, tôi không chắc Ngài Atlas có được kín miệng hay không. Khác với tôi, anh ta không được tự do làm việc mình muốn. Ngược đời thế đấy. Và bây giờ, ra khỏi đây mau. Mười lăm phút nữa y tá trưởng sẽ đến. Ra khỏi đây! Đi khỏi nơi này, Diane ạ. Cô đang gặp nguy hiểm.”
Espérandieu ngồi ở bàn làm việc và nghĩ ngợi. Sau cuộc điện thoại của Marissa, một ý tưởng bất chợt nảy ra trong tâm trí cậu. Cậu không thể thôi nghĩ về số tiền cô đã nhắc tới sáng nay, 135.000 đô la. Số tiền có thể tương ứng với cái gì? Thoạt nhìn, con số 135.000 đô la chẳng liên quan tới cuộc điều tra của họ. Thoạt nhìn… và rồi cậu nghĩ tới ý tưởng này.
Thật nực cười, vì ban đầu cậu đã gạt phăng ý tưởng đó. Nhưng nó bướng bỉnh không chịu biến mất. Nếu tìm hiểu thì cũng đâu mất mát gì? Đến khoảng 11 giờ, Espérandieu đi đến quyết định và tìm kiếm thông tin trên máy tính. Sau đó cậu nhấc điện thoại. Người thứ nhất nói chuyện với cậu tỏ ra lưỡng lự, không muốn trả lời thẳng. Những vấn đề thế này không nên trao đổi qua điện thoại, dù là với một cảnh sát. Tuy nhiên khi nhắc đến con số 135.000, cậu đã thu thập được vài mảnh thông tin. Trong hơn nữa giờ cậu gọi thêm năm, sáu cú điện thoại. Mấy cú đầu tiên chẳng đi đến đâu. Mỗi lần nhận được câu trả lời ‘Không, không có gì như thế vào ngày hôm ấy!’, ý tưởng của cậu lại càng tỏ ra nực cười. Con số 135.000 đô la tương ứng với quá nhiều thứ. Và giờ là cuộc điện thoại cuối cùng! Cậu lắng nghe câu trả lời với cảm giác đan xen giữa hoài nghi và kích thích. Phải chăng cậu đã đoán trúng? Có khả năng không? Một giọng nói nhỏ trong đầu cậu lên tiếng như cố kiềm chế cơn hưng phấn. Đương nhiên, có thể chỉ đơn giản là một sự trùng hợp. Nhưng cậu không nghĩ vậy. Không thể vào đúng ngày hôm ấy. Khi cúp máy, cậu vẫn không tin nổi. Không thể tin nổi! Chỉ bằng vài cú điện thoại, cậu đã giúp cho cuộc điều tra có những bước nhảy vọt.
Espérandieu nhìn đồng hồ đeo tay, 16:50. Biết là mình phải báo cho Servaz biết, nhưng cuối cùng lại đổi ý. Cần có bằng chứng xác thực đã. Cậu chụp lấy điện thoại và cuống cuồng gọi tới một số khác. Lần này đã có định hướng.
“Anh cảm thấy thế nào?”
“Không tốt lắm.”
Ziegler đang chăm chú nhìn anh, vẻ buồn bã. Các y tá đi ra đi vào. Một bác sĩ đã khám cho anh và chụp vài hình X-quang trước khi để anh nằm trên cáng và đẩy anh về phòng, dù anh hoàn toàn có khả năng đi lại.
Xavier ngồi trong hành lang bệnh viện đợi Ziegler đến lấy lời khai. Còn có một viên sen đầm gác bên ngoài cửa phòng Servaz. Cánh cửa đột nhiên mở tung.
“Vì Chúa, chuyện gì xảy ra thế?” Cathy d’Humières kêu lên, sải bước vào phòng bệnh và đến bên giường.
Servaz cố thuật lại thật ngắn gọn.
“Và cậu không nhìn thấy mặt hắn à?”
“Không.”
“Chắc không?”
“Tất cả những gì tôi có thể nói là hắn khỏe khủng khiếp. Và hắn biết làm thế nào để vô hiệu hóa một người.”
Cathy d’Humières nhìn anh rất lâu bằng ánh mắt tăm tối.
“Không thể tiếp tục như thế này được,” bà nói rồi quay sang Ziegler. “Tạm ngừng những vụ việc không cấp bách lắm và tập trung tất cả nhân viên vào việc này. Chúng ta có tin tức gì về Chaperon rồi?”
“Bà vợ cũ không biết ông ta có thể ở đâu,” Ziegler trả lời.
Servaz nhớ lại rằng Ziegler phải đến Bordeaux để gặp vợ cũ của ông thị trưởng.
“Bà ta thế nào?” Anh hỏi.
“Trịch thượng. Trưởng giả. Rám nắng nhân tạo, trang điểm quá đậm.”
Anh không thể nhịn cười, “Cô có hỏi bà ta về chồng cũ không?”
“Có. Rất thú vị. Khi tôi nhắc tới Chaperon, bà ta liền câm như hến. Tôi chỉ thu thập được những chuyện vặt vãnh. Việc leo núi, chính trị, những người bạn thao túng ông ta, cuộc ly dị từ cả hai phía, cuộc sống của họ đã rẽ sang hai hướng khác nhau và vân vân. Nhưng tôi có cảm giác bà ta đang giấu giếm một điều quan trọng.”
Servaz nhớ lại căn nhà của Chaperon, hai phòng ngủ riêng biệt. Giống như Grimm và vợ. Tại sao? Phải chăng vợ bọn họ đã phát hiện ra bí mật khủng khiếp kia? Sự khinh miệt của bà Grimm đối với chồng, việc bà toan tự sát, cùng với sự miễn cưỡng của vợ cũ Chaperon khi nói về đời tư của ông thị trưởng đều có chung một ngọn nguồn. Mấy người đàn bà biết chồng họ xấu xa và đồi bại, dù không rõ mức độ kinh tởm đến đâu.
“Cô có hỏi bà ta về những thứ chúng ta tìm thấy trong ngôi nhà không?” Anh hỏi Ziegler.
“Không.”
“Vậy hỏi đi. Không có thời gian đâu. Gọi và nói rằng nếu bà đang giấu giếm điều gì, mà chẳng may chúng tôi phát hiện ra chồng bà đã chết thì bà sẽ là nghi phạm số một.”
“Được. Tôi phát hiện ra một điều khá thú vị,” cô nói thêm.
Servaz chờ đợi.
“Élisabeth Ferney, y tá trưởng của Viện Wargnier từng có tiền án hồi còn trẻ. Tội lặt vặt. Ăn cắp xe máy, lăng mạ người thi hành công vụ, ma túy, đe dọa và hành hung, tống tiền. Phải ra tòa vài lần.”
“Và cô ta kiếm được việc ở Viện bất chấp lý lịch như vậy sao?”
“Chuyện xảy ra rất lâu rồi. Cô ta hoàn lương, đi học, công tác tại vài bệnh viện tâm thần khác, rồi bác sĩ Wargnier tiền nhiệm của Xavier đã thu nhận cô ta. Ai cũng xứng đáng có cơ hội thứ hai mà.”
“Thú vị đấy!”
“Còn nữa, Lisa Ferney thường xuyên lui tới một câu lạc bộ thể hình ở Saint-Lary, cách đây 20 kilomet. Cô ta còn là thành viên của một câu lạc bộ bắn súng.”
Servaz và d’Humières lập tức cảnh giác. Một ý nghĩ nảy ra trong đầu Servaz. Trực giác ban đầu của anh có thể đã đúng. Lisa Ferney có lý lịch thích hợp… Dù là ai đã treo con ngựa lên thì cũng phải là người cực kì khỏe mạnh.
“Cô cứ tiếp tục tìm hiểu,” anh nói. “Rất có thể sẽ tìm ra gì đấy.”
“À đúng rồi, suýt nữa tôi quên mất. Mấy cái băng cát xét.”
“Ừ?”
“Chúng chỉ là tiếng chim hót.”
“À.”
“Được rồi, sau đây tôi sẽ tới tòa thị chính xem họ có danh sách những đứa trẻ đã đi trại hè không,” cô kết luận.
“Thưa bà và cô, tôi buộc phải yêu cầu mọi người để cho sĩ quan đây nghỉ ngơi một chút,” một giọng nói oang oang vang lên từ ngoài cửa.
Họ quay lại. Một bác sĩ tầm ngoài ba mươi khoác áo blu trắng vừa đi vào. Anh ta có làn da sẫm màu với lông mày đen và rậm, gần như giao nhau ở giữa trán và một cái mũi to. Trên áo khoác, Servaz đọc được chữ BS. Saadeh. Anh ta mỉm cười đi tới chỗ họ. Nhưng đôi mắt không cười, lông mày đan vào nhau thể hiện sự răn đe để họ biết rằng ở đây, thẩm phán và sen đầm phải khuất phục trước một quyền uy lớn hơn, là y bác sĩ. Về phần Servaz, anh đã bắt đầu kéo tấm chăn ra sau.
“Không đời nào tôi ở lại đây đâu,” anh nói.
“Và không đời nào tôi để anh đi như thế,” bác sĩ Saadeh vặn lại, đặt một bàn tay thân thiện nhưng kiên quyết lên vai anh. “Chúng tôi vẫn chưa khám xong.”
“Thế thì nhanh lên,” Servaz tỏ vẻ cam chịu, nằm phịch xuống gối.
Tuy vậy ngay sau khi họ đã đi hết, anh nhắm mắt lại và chìm vào giấc ngủ.
Trong lúc đó, một sĩ quan cảnh sát nhấc máy ở tổng hành dinh khổng lồ của Interpol tại số 200, Charles-de-Gaulle, Lyon. Người đàn ông đang đứng giữa một văn phòng thoáng rộng, đầy máy tính, điện thoại, máy in và máy pha cà phê, với tầm nhìn toàn cảnh trông ra sông Rohne. Còn có một cây thông trang trí khá cao, ngôi sao trên đỉnh vươn lên phía trên vách ngăn giữa các gian phòng làm việc.
Anh ta chau mày khi nhận ra giọng của người ở đầu dây bên kia.
“Vincent? Là cậu đấy phải không? Đã bao lâu rồi, anh bạn? Cậu có việc gì?
Đứng thứ hai chỉ sau Liên Hợp Quốc về số lượng quốc gia thành viên, Interpol có mặt tại 187 nước. Tuy nhiên, đây không phải là một tổ chức cảnh sát thực sự, mà đúng hơn là một cơ quan tình báo, cố vấn cho lực lượng cảnh sát của các nước thành viên bằng nghiệp vụ chuyên môn và cơ sở dữ liệu của mình, gồm có hồ sơ về 178.000 tù nhân và 4.500 kẻ vượt ngục. Một cơ quan ban hành vài nghìn lệnh bắt giữ quốc tế mỗi năm, ‘Lệnh truy nã đỏ’ nổi tiếng. Người đàn ông vừa trả lời điện thoại là Luc Damblin. Espérandieu biết Damblin, cũng như Marissa, tại học viện cảnh sát. Hai người đàn ông trao đổi vài lời hỏi thăm xã giao rồi Espérandieu vào thẳng vấn đề.
“Tôi cần nhờ anh một việc.”
Damblin lơ đãng nhìn những tấm chân dung gắn trên vách ngăn bên chiếc máy photocopy trước mặt mình, mấy tên xã hội đen người Nga, lũ ma cô Albania, những tên trùm ma túy Mexico và Colombia, những tay trộm châu báu Serbia và Croatia, bọn ấu dâm quốc tế hoành hành ở những nước nghèo. Ai đã thêm cái mũ đỏ của Santa Claus và chòm râu trắng lên những tấm ảnh, nhưng chẳng khiến bọn chúng trông vui nhộn hơn chút nào. Damblin kiên nhẫn lắng nghe lời giải thích của người đồng nghiệp.
“Cậu may mắn đấy,” rốt cuộc anh ta trả lời. “Một tay FBI ở Washington đang nợ tôi một vụ. Tôi đã gợi ý cho cuộc điều tra của gã đi đúng hướng. Tôi sẽ gọi cho gã xem thế nào. Nhưng sao cậu lại cần thông tin này?”
“Cho một cuộc điều tra tôi đang tiến hành.”
“Có liên quan gì đến Mỹ?”
“Tôi sẽ giải thích. Đây, tôi vừa gửi ảnh cho anh,” Espérandieu nói.
Người đàn ông ở Interpol kiểm tra đồng hồ đeo tay, “Sẽ mất một khoảng thời gian đấy. Gã khá bận. Cậu cần thông tin này sớm không?”
“Khá gấp, phiền anh.”
“Ừ, lúc nào chả gấp,” Damblin trả lời. “Đừng lo. Tôi sẽ ưu tiên việc cậu nhờ. Vì tình bạn của chúng ta. Thêm nữa, Giáng sinh sắp đến. Đây sẽ là quà của tôi.”
Hai tiếng sau Servaz tỉnh dậy. Mất một lúc anh mới nhận ra chiếc giường bệnh viện, căn phòng trắng, khung cửa sổ lớn với tấm rèm màu xanh dương. Khi biết mình đang ở đâu, anh tìm kiếm quần áo tư trang và thấy chúng trong túi nhựa đặt trên một chiếc ghế. Anh nhảy ra khỏi giường và mặc đồ nhanh nhất có thể. Ba phút sau, anh đã ra ngoài và gọi tới một số trên di động.
“Alô?”
“Là Martin đây. Nhà trọ có mở cửa tối nay không?”
Ở đầu dây bên kia, người đàn ông cao tuổi cười lớn, “Tôi rất mừng vì cậu đã gọi. Tôi đang chuẩn bị bữa tối.”
“Tôi cũng có vài câu hỏi cho anh.”
“Thế mà tôi lại tưởng cậu gọi cho tôi vì đồ ăn tôi nấu. Thật thất vọng! Cậu đã tìm thấy cái gì sao?”
“Tôi sẽ giải thích.”
“Tốt. Hẹn gặp lại.”
Màn đêm đã buông xuống nhưng con phố bên ngoài trường trung học vẫn sáng đèn. Ngồi trong chiếc xe không gắn mác cảnh sát cách đó 10 mét, Espérandieu thấy Margot Servaz ra khỏi trường. Cậu gần như không nhận ra cô bé. Mái tóc đen đã biến mất nhường chỗ cho một mái tóc vàng kiểu Scandinavia. Hai bím tóc nhỏ hai bên khiến cô bé chẳng khác nào bức tranh biếm họa vẽ một Madchen[2] người Đức. Và chiếc mũ bê rê kì quái.
Khi cô bé quay nghiêng, dù ở khoảng cách này, cậu vẫn có thể nhận ra cô bé có một hình xăm mới trên cổ giữa hai bím tóc. Một hình xăm lớn, nhiều màu. Espérandieu nghĩ tới con gái mình. Cậu sẽ phản ứng thế nào, nếu sau này Megan cũng làm thế với cơ thể mình? Sau khi kiểm tra xem máy ảnh có ở đúng chỗ trên ghế hành khách không, cậu nổ máy. Cũng như hôm trước, Margot đứng trên vỉa hè tán gẫu với bạn học một lúc và cuốn một điếu thuốc lá. Người đón rước tận tụy với chiếc scooter lại xuất hiện.
Espérandieu thở dài. Ít nhất lần này nếu chúng bỏ xa cậu thì cậu cũng biết phải tìm chúng ở đâu. Cậu sẽ không lái xe liều lĩnh như lần trước. Cậu đánh xe ra và bắt đầu đi theo chúng. Thằng bé lái chiếc scooter tiếp tục theo đuổi thú vui nhào lộn của mình. Trên chiếc iPhone của Espérandieu, The Gutter Twins đang hát, “Ôi bố ơi, con không thể tin nổi bố lại bỏ đi…”
Đèn đỏ tiếp theo, cậu giảm tốc và dừng lại. Chiếc ô tô trước mặt cậu đã dừng lại và chiếc scooter đang đỗ cách cậu bốn chiếc ô tô. Espérandieu biết chúng sẽ đi thẳng qua giao lộ, cậu thả lỏng người.
Giọng hát khàn khàn trong tai nghe đang tuyên bố “Mẹ của tôi, bà ấy không hiểu tôi. Và bố tôi, ông ấy không thể kiểm soát tôi…” thì đèn đột ngột chuyển xanh, chiếc scooter rẽ phải, ống bô xả khói tít mù. Espérandieu tức đến xì khói theo. Giờ bọn chúng đang giở trò quỷ gì đây? Đây không phải đường về nhà. Mấy chiếc xe dừng đèn đỏ trước mặt cậu mất một thời gian dài tới khó chịu mới nhúc nhích. Espérandieu thấy lo lắng. Đèn chuyển vàng, rồi đỏ. Cuối cùng cũng qua được đèn đỏ, cậu thoáng thấy thấy chiếc scooter rẽ trái ở nút giao thông tiếp theo cách đó 200 mét. Quỷ tha ma bắt! Bọn chúng đi đâu mà vội vàng như thế? Cậu vừa kịp đi qua giao lộ tiếp theo, khi đèn đã chuyển vàng, cố bắt kịp chúng.
Chúng đang hướng về phía trung tâm.
Giờ thì Espérandieu đã tới gần chúng. Đường sá đông đúc hơn nhiều, trời đang mưa và luồng sáng từ đèn pha hắt lên vỉa hè ướt át. Trong hoàn cảnh này, không dễ gì theo đuôi chiếc xe đang lạng lách. Cậu vớ lấy iPhone, mở ứng dụng thông tin giao thông và phóng to trạm dừng tiếp theo, trượt ngón cái và ngón trỏ qua màn hình cảm ứng. Mười sáu phút sau, chiếc scooter thả người ngồi phía sau xuống phố d’Alsace-Lorraine và lập tức phóng mất. Espérandieu dừng ở nơi cấm đỗ xe, kéo tấm che nắng đề chữ Cảnh sát xuống, và ra ngoài. Trực giác mách bảo cậu rằng lần này ắt hẳn phải có chuyện. Nhớ ra mình đã bỏ quên máy ảnh trên ghế hành khách, cậu chửi thề và quay lại lấy rồi chạy vội lên để bắt kịp mục tiêu.
Không cần cuống. Margot Servaz đang bình tĩnh đi bộ phía trước, xuyên qua đám đông. Cậu vừa chạy theo cô bé vừa bật máy ảnh lên để đảm bảo nó vẫn hoạt động.
Cô bé rẽ vào quảng trường Esquinol. Những khung cửa sổ rực rỡ cùng ánh đèn Giáng sinh mang đến vẻ lộng lẫy cho cây cối và mặt tiền những tòa nhà cổ kính. Chỉ còn vài ngày nữa là đến Giáng sinh, quảng trường nhộn nhịp đông đúc. Và rất thích hợp cho Espérandieu, vì sẽ ít khả năng bị cô bé để ý thấy. Đột nhiên, cô bé dừng lại, nhìn khắp xung quanh rồi rẽ vào Nhà hàng Père Léon. Còi báo động của Espérandieu réo lên. Đây không phải hành vi của một người không có gì phải che giấu. Cậu vội vã đi theo vào cửa quán. Giờ thì tiến thoái lưỡng nan. Cậu đã gặp Margot sáu, bảy lần hoặc hơn. Cô bé sẽ phản ứng thế nào nếu thấy cậu đi vào ngay sau mình?
Cậu nhìn qua cửa sổ đúng lúc bắt gặp cô bé hôn môi một người và ngồi xuống chiếc ghế đối diện. Trông cô rạng rỡ, vui cười trước những lời người ấy nói.
Cậu chuyển ánh mắt sang người ta.
Ôi, mẹ kiếp!
Vào buổi tối tháng Mười hai lạnh lẽo ấy, sao trời rải rác bên trên dãy núi và ánh đèn cối xay phản chiếu dưới nước hứa hẹn một sự chào đón nồng nhiệt. Gió lộng tạt qua má anh, cơn mưa một lần nữa lại chuyển thành tuyết. Chủ cối xay mở cửa và vị khách thấy mặt ông cứng đờ vì sửng sốt.
“Lạy Chúa lòng lành! Chuyện gì xảy ra với cậu thế?”
Servaz đã nhìn mình trong gương bệnh viện, và anh biết trông rất kinh khủng. Đồng tử giãn ra đen sẫm, hai mắt đỏ ngầu như trong bộ phim Dracula của Christopher Lee, cổ anh thâm tím tới tận mang tai, môi và lỗ mũi tấy lên vì cọ xát vào túi nhựa, chưa kế vết sẹo khủng khiếp màu đỏ tía nơi cổ họng do bị sợi dây thừng siết lại. Mắt anh ầng ậng nước vì lạnh, hoặc vì căng thẳng thần kinh.
“Tôi đến muộn,” anh khó nhọc nói. “Nếu anh không phiền, tôi vào trong luôn được không. Tối nay bên ngoài lạnh quá.” Cả người anh vẫn run lẩy bẩy.
Vào đến nhà, Saint-Cyr lo lắng xem xét anh kĩ hơn.
“Lạy Chúa tôi! Xuống đây sưởi ấm đi,” vị thẩm phán già nói, đưa vị khách đi xuống những bậc thang dẫn tới phòng khách rộng lớn.
Giống như lần trước, bàn đã được bày biện chu tất. Ngọn lửa rực rỡ cháy lách tách trong lò sưởi. Saint-Cyr kéo ghế cho Servaz ngồi. Ông nhấc một chai rượu và đổ đầy ly.
“Uống đi. Từ từ thôi. Cậu chắc mình ổn chứ?”
Servaz gật đầu. Anh uống một ngụm. Rượu có màu đỏ thảm, gần như đen, nặng nhưng tuyệt hảo. Ít nhất là theo Servaz cảm nhận, anh thực sự không phải người sành rượu.
“Somontano,” Saint-Cyr nói. “Tôi mang nó về từ bên kia dãy Pyrenees, vùng cao nguyên Aragon. Nào, kể cho tôi nghe chuyện gì đã xảy ra.”
Servaz bắt đầu kể. Anh không thể ngừng nghĩ tới trại hè ấy, và lần nào một luồng adrenalin cũng trào lên khiến toàn thân nhức nhối, như cái xương cá đâm sâu xuống cổ họng con mèo. Ai đã cố thắt cổ anh? Anh tua lại cuộc tấn công trong đầu. Gaspard Ferrand? Élisabeth Ferney? Hay Xavier? Nhưng Xavier đã tới cứu anh. Trừ phi tay bác sĩ ấy từ bỏ ý tưởng giết một cảnh sát vào phút cuối. Một phút trước, Servaz đang bị tấn công dã man, và liền đó Xavier xuất hiện bên cạnh. Có thể nào là cùng một người? Không, không thể, bởi anh đã nghe thấy tiếng chiếc Volvo lái đi mất! Anh tổng kết lại từng sự kiện trong hai ngày vừa qua. Chaperon đột ngột tháo chạy, ngôi nhà trống không, phát hiện áo choàng và nhẫn, hộp đạn trên bàn làm việc.
“Cậu đang đến rất gần sự thật,” Saint-Cyr kết luận, lo âu nhìn anh. “Cậu đã tới gần rồi.”
Ông dừng mắt ở cổ Servaz và tiếp tục, “Nhưng việc này… những gì hắn làm với cậu là tàn bạo không sao tả xiết, chừng như hiện tại không gì có thể cản hắn lại. Hắn sẵn sàng giết một cảnh sát nếu cần.”
“Hắn, hoặc họ,” Servaz nói.
Saint-Cyr nhìn anh bằng ánh mắt sắc bén, “Rất đáng lo cho Chaperon.”
“Anh không có ý tưởng gì về nơi ông ta có thể ẩn nấp sao?”
Ông trầm ngâm, “Không. Nhưng Chaperon rất thích đi bộ và leo núi. Anh ta biết mọi nẻo đường và mọi nơi trú ẩn ở cả hai bên biên giới. Cậu nên tìm sự giúp đỡ của sen đầm vùng núi.”
Hẳn nhiên rồi. Tại sao anh không nghĩ tới điều đó sớm hơn nhỉ?
“Tôi đã làm một món ăn nhẹ,” Saint-Cyr nói. “Theo yêu cầu của cậu. Cá hồi sốt hạnh nhân. Món Tây Ban Nha. Đảm bảo cậu sẽ thích.”
Ông đi vào bếp và trở lại với hai chiếc đĩa bốc khói nghi ngút. Servaz uống thêm một ngụm rượu rồi bắt đầu thưởng thức món cá hồi. Món ăn tỏa hương hấp dẫn. Nước xốt thanh nhẹ, được nêm nếm rất vừa miệng, thoáng vị hạnh nhân, gừng, chanh và mùi tây.
“Cậu có nghĩ rằng ai đó đang trả thù cho những thiếu niên kia không?”
Servaz nhăn mặt gật đầu. Cổ họng anh đau đớn mỗi khi nuốt. Chẳng mấy chốc anh đã mất cảm giác ngon miệng và đẩy chiếc đĩa ra.
“Tôi xin lỗi, chỉ là tôi không thể,” anh nói.
“Đương nhiên rồi. Tôi sẽ lấy cà phê cho cậu.”
Servaz đột nhiên nhớ ra hình trái tim được khắc trên vỏ cây. Với năm cái tên. Năm trong bảy nạn nhân tự tử.
“Như vậy những tin đồn là sự thật,” Saint-Cyr nói khi quay trở lại với cà phê của Servaz. “Thật không thể tin nổi chúng tôi đã bỏ qua những cuốn nhật kí. Và chúng tôi cũng không tìm được chứng cứ gì dù là nhỏ nhất xác nhận cho giả thuyết ấy.”
Servaz hiểu Saint-Cyr. Một mặt, ông cựu thẩm phán nhẹ nhõm vì cuối cùng sự thật cũng được phơi bày, mặt khác ông đang cảm thấy điều mà bất cứ ai cũng cảm thấy khi đã theo đuổi một thứ hàng năm trời, cam chịu trước thực tế rằng mình sẽ không bao giờ thành công được thì bất thần có kẻ giành lấy nó. Cảm giác rằng mình đã bỏ qua điểm then chốt của vấn đề, rằng mình đã lãng phí thời gian cho một việc vô ích.
“Cuối cùng thì linh cảm của anh đã đúng,” Servaz nói. “Hình như các thành viên bộ tứ không bao giờ cởi áo choàng khi thực hiện những việc làm bỉ ổi đó, và chưa bao giờ lộ mặt với các nạn nhân.”
“Nhưng cứ nghĩ mà xem, không một nạn nhân nào từng lên tiếng cả!”
“Thường là như vậy, anh cũng biết rõ như tôi thôi. Rất nhiều năm sau, sự thật mới phơi bày, khi những nạn nhân đã trưởng thành, khi họ đã có thêm tự tin và không còn sợ hãi những kẻ hành hạ mình nữa.”
“Chắc là cậu xem danh sách trẻ em tham gia trại hè rồi phải không?” Saint-Cyr hỏi.
“Danh sách nào?”
Ông thẩm phán ngạc nhiên nhìn anh, “Danh sách những đứa bé từng đến Les Isards, tôi đã liệt kê đầy đủ và để trong hộp tài liệu mà tôi đưa cho cậu.”
“Không có danh sách nào trong hộp cả,” Servaz trả lời.
Saint-Cyr có vẻ mếch lòng, “Đương nhiên là có! Cậu nghĩ tôi mất trí sao? Tất cả các văn kiện cần thiết đều ở trong hộp, tôi đảm bảo đấy. Bao gồm cả danh sách vừa nói. Bấy giờ tôi cố tìm kiếm một mối liên hệ giữa các nạn nhân tự sát và những đứa trẻ đến trại hè, như tôi từng trao đổi với cậu. Tôi nhận ra rằng có thể còn những vụ tự tử khác xảy ra từ trước nhưng chưa được để ý tới vì chúng rời rạc, tách biệt nhau. Nhằm xác nhận linh cảm của mình về mối liên quan giữa loạt tự tử và Les Isards, tôi đã đến tòa thị chính lấy tên tất cả những đứa trẻ từng ở trại hè, từ lúc thành lập cho tới thời điểm xảy ra vụ việc. Danh sách để ở trong hộp.”
Saint-Cyr không thích người khác nghi ngờ những lời ông ta nói, Servaz thầm nghĩ. Hoặc nghi ngờ năng lực suy luận của ông ta. Người đàn ông này hết sức tin tưởng vào bản thân.
“Tôi xin lỗi, nhưng chúng tôi không tìm thấy bất cứ danh sách nào như thế trong hộp.”
Ông thẩm phán già chằm chằm nhìn anh và lắc đầu, “Cậu đã có tất cả các bản sao. Hồi ấy tôi cực kì kĩ tính. Không như bây giờ. Tôi đã sao lại từng văn kiện trong tập hồ sơ. Tôi chắc chắn danh sách ở trong hộp.”
Ông đứng lên, “Theo tôi.”
Bọn họ đi dọc một hành lang với sàn được lát bằng những viên gạch lâu đời làm từ đá xám. Ông thẩm phán già đi qua một khung cửa thấp và bật đèn. Servaz thấy mình bị bao vây bởi một đống hỗn độn, một văn phòng nhỏ phủ bụi với đủ thứ hổ lốn. Giá sách, ghế và bàn cà phê, tất cả đều chất đầy sách về luật, những tập hồ sơ và hàng xấp tài liệu được buộc vào nhau một cách tạm bợ. Thậm chí còn có một ít rải rác trên sàn và trong góc phòng, Saint-Cyr vừa càu nhàu vừa lục lọi chồng tài liệu trên một chiếc ghế cao khoảng 30 phân. Vô ích. Lại một chồng khác. Rốt cuộc, sau năm phút, ông đứng thẳng dậy với một tập tài liệu được ghim lại và dưa cho Servaz với vẻ đắc thắng. “Đây.”
Servaz nhìn danh sách. Hàng chục cái tên trên hai cột dọc của ba trang giấy. Anh lơ đãng lướt mắt qua các cột, và ban đầu không cái tên nào khiến anh dừng lại. Cái tên quen thuộc đầu tiên xuất hiện, Alice Ferrand. Anh tiếp tục đọc, Ludovic Asselin. Một nạn nhân tự tử khác. Cách dó là cái tên thứ ba, Florian Vanloot. Anh đang tìm tên của hai thiếu niên còn lại trong năm nạn nhân tự tử thì ánh mắt bắt được một tên khác, một cái tên hoàn toàn không ngờ tới. Một cái tên không bao giờ nên nằm trong danh sách.
Nó khiến anh choáng váng. Servaz rùng mình như thể vừa bị sốc điện. Thoạt tiên, anh tưởng mình hoa mắt. Anh chớp chớp mi rồi mở mắt ra lần nữa. Cái tên vẫn ở đó, cùng với những đứa trẻ khác.
Irène Ziegler.
Chết tiệt, không thể nào!
❀ ❀ ❀
[1] : nhà tâm lý học, triết học nối tiếng người Thụy Sĩ.
[2] : Bé gái, trinh nữ (tiếng Đức).