27
“Cậu không thể thẩm vấn cô ta,” d’Humières nói.
“Tại sao không?” Servaz hỏi.
“Chúng ta đang đợi hai sĩ quan từ hội đồng kỉ luật của sen đầm. Đợi họ đến mới được tiến hành thẩm vấn. Chúng ta phải tránh mọi khả năng gây ra sơ suất. Đại úy Ziegler phải được thẩm vấn với sự có mặt của người trong tổ chức của cô ta.”
“Tôi không muốn thẩm vấn cô ta, tôi chỉ muốn nói chuyện!”
“Thôi nào, Martin… câu trả lời là không. Chúng ta phải đợi.”
“Thế bao giờ họ tới đây?”
Cathy d’Humières nhìn đồng hồ đeo tay, “Họ sẽ có mặt ở đây sau hai tiếng nữa. Tầm ấy.”
“Hình như tối nay Lisa của chúng ta ra ngoài.”
Diane nhìn về phía cửa căng tin. Cô thấy Lisa Ferney đi tới quầy và gọi một cốc cà phê. Cô y tá trưởng không mặc đồng phục mà diện một chiếc áo chui cổ dài màu hồng nhạt, quần bò, cùng áo khoác trắng cổ lông và đi đôi bốt cao đến đùi. Tóc cô ta buông lơi xuống lớp lông mượt mà và cô ta trang điểm khá kĩ lưỡng, đánh mắt, chải mascara, tô son và phủ bóng.
“Anh có biết chị ta đang đi đâu không?” Diane hỏi.
Alex gật đầu với một nụ cười ranh mãnh. Y tá trưởng thậm chí còn không buồn liếc mắt về phía họ. Cô ta uống hết cốc cà phê và biến mất. Tiếng bước chân vội vã đi vào hành lang.
“Chị ta đang trên đường đi gặp ‘người tình bí ẩn’ của mình,” anh ta nói.
Diane nhìn anh ta chằm chằm. Lúc này, trông anh ta như một cậu bé tinh quái sắp sửa tiết lộ bí mật lớn nhất của mình cho người bạn thân.
“Là sao?”
“Ai cũng biết Lisa có một người tình ở Saint-Martin. Nhưng người ấy thế nào thì không rõ. Chưa ai từng bắt gặp hai người cùng lúc, ở Saint-Martin hay bất cứ đâu. Mỗi lần ra ngoài như thế, phải sáng hôm sau chị ta mới quay về. Vài nhân viên đã cố trêu chọc Lisa nhằm moi thêm chút thông tin, nhưng lần nào cũng bị chị ta đuổi thẳng cổ.”
“Hắn anh ta đã có vợ.”
“Nếu vậy thì vợ anh ta làm đêm rồi.”
“Hoặc công việc đòi hỏi thường xuyên phải đi công tác.”
“Trừ phi việc này xấu hổ đến mức không thể nói ra,” Alex gợi ý, rướn người qua bàn với vẻ ranh mãnh.
Diane cố ra vẻ thờ ơ. Nhưng cô không thể gạt đi những gì mình đã biết, và nỗi căng thẳng cứ bám riết lấy cô, “Ví dụ như?”
“Có lẽ chị ta đi bừa bãi qua đêm. Hoặc chị ta chính là kẻ sát nhân mà mọi người đang tìm kiếm.”
Cô cảm thấy bụng mình thắt lại. Càng lúc càng khó khăn trong việc che giấu nỗi lo âu chưa phút nào rời bỏ mình. Tim cô bắt đầu đập nhanh hơn, Lisa Ferney ra ngoài cả đêm… Đây là cơ hội của cô.
“Không thiết thực lắm, áo khoác trắng với áo chui cổ hồng nhạt, để đi giết người,” cô cố nói đùa. “Có thể sẽ bị dây bẩn một chút, không phải sao? Và cả lớp trang điểm kia chỉ để…”
“Có lẽ chị ta cám dỗ họ trước khi giết. Cô biết đấy, giống bọ ngựa ấy.”
Hình như Alex thấy điều đó rất buồn cười. Diane muốn được chuyển đề tài. Bụng cô ậm ạch, có cảm giác bị một khối bê tông lèn chặt lên. “Rồi chị ta treo nạn nhân của mình dưới cầu? Đấy không phải là bọ ngựa, mà là kẻ hủy diệt.”
“Vấn đề của người Thụy Sĩ các cô là luôn nhìn nhận mọi chuyện từ góc độ quá thực tế,” anh ta trêu chọc.
“Tôi tưởng anh thích khiếu hài hước của người Thụy Sĩ chúng tôi.”
Alex cười. Diane đứng dậy.
“Tôi phải đi đây,” cô nói.
Anh ta gật đầu và ngước mắt nhìn cô. Nụ cười hơi nồng ấm quá mức. “Được rồi. Tôi cũng có việc phải làm. Mong được gặp lại cô.”
18:30. Servaz đã uống quá nhiều cà phê và hút nhiều thuốc tới mức anh bắt đầu buồn nôn. Anh vội vàng đi vào toilet, vã nước lạnh lên mặt và suýt nữa thì nôn vào bồn cầu. Sau đó cơn nôn nao cũng vợi bớt, dù không hoàn toàn hết hẳn.
“Mẹ kiếp, bọn họ đang làm gì thế?” Anh hỏi, trở lại phòng chờ, nơi đội cảnh sát đang kiên nhẫn ngồi đợi trên những chiếc ghế nhựa.
Diane đóng cánh cửa lại sau lưng rồi đứng dựa vào nó, tim đập thình thịch.
Căn phòng cũng tắm trong ánh sáng xanh xám như văn phòng của Xavier hôm trước.
Một mùi nước hoa phảng phất. Diane nhận ra mùi hương này, Lolita Lempicka. Trên mặt bàn nhẵn nhụi, một cái chai phản chiếu ánh sáng lờ mờ từ cửa sổ.
Bắt đầu từ đâu đây?
Cũng có những chiếc tủ đựng tài liệu, như trong văn phòng Xavier. Nhưng theo bản năng, cô quyết định bắt đầu với bàn làm việc.
Không có ngăn kéo nào khóa. Cô bật đèn lên để kiểm tra bên trong và nhìn thấy một vật rất đỗi lạ lùng. Một con kì nhông màu vàng kim, khảm những viên đá quý, hồng ngọc, ngọc bích và ngọc lục bảo. Rõ ràng được dùng để chặn giấy. Dựa vào kích thước, Diane kết luận rằng những viên đá kia chắc chắn là giả và vàng chỉ là lớp mạ ngoài. Cô chuyển sự chú ý sang ngăn kéo. Những cặp tài liệu đủ màu sắc. Cô mở chúng ra. Toàn bộ đều liên quan tới công việc quản lý Viện của cô ta. Ghi chép, hóa đơn, tóm tắt những buổi nói chuyện, báo cáo giám sát. Không thứ gì có vẻ đáng ngờ. Hoặc ít nhất là như thế, cho tới ngăn kéo thứ ba.
Một tập tài liệu cứng đơ, nằm sâu tít trong ngăn kéo. Diane nhấc lên và mở ra. Các mẩu báo. Tất cả đều về những vụ án mạng trong thung lũng. Lisa Ferney đã cẩn thận thu thập mọi nội dung được báo chí ghi lại về những vụ án này.
Đơn thuần là hiếu kì, hay vì điều gì hơn thế?
Cơn gió gào thét bên dưới cánh cửa. Diane ngừng tay trong thoáng chốc. Cơn bão đang mỗi lúc một dữ dội. Cô bỗng rùng mình, nhưng rồi lại tiếp tục tìm kiếm.
Tủ hồ sơ. Vẫn là kiểu hồ sơ treo như trong văn phòng của Xavier. Khi đưa chúng ra ánh sáng để xem từng cái một, Diane cảm thấy mình đang lãng phí thời gian. Cô sẽ không tìm thấy gì ở đây hết. Có ai lại điên rồ hay dại dột đến mức để lại dấu vết phạm tội trong chính căn phòng của mình?
Khi lật qua những trang giấy, cô vô tình nhìn xuống con kì nhông, thấy những viên ngọc và đá ánh lên rực rỡ dưới quầng sáng của chiếc đèn bàn. Diane không phải chuyên gia, nhưng cô phải công nhận đây là một món đồ làm giả rất tinh tế.
Nhưng nếu là thật thì sao? Cô nhìn trân trân vào nó. Nếu món đồ là thật thì nó gợi lên điều gì về y tá trưởng? Một mặt, nó chứng tỏ cô ta tự ý thức được rằng sức mạnh và quyền lực của mình lớn đến nỗi không ai dám vào văn phòng này mà không xin phép. Thứ hai, người tình của cô ta là một người giàu có, vì nếu những viên đá ngọc là thật thì con kì nhông này đáng giá một khoản không nhỏ.
Sau khi xem xét mọi thứ, Diane linh cảm thấy mình đang gần chạm đến một điều gì.
Hai đại diện của hội đồng kỉ luật sen đầm mặc thường phục. Khuôn mặt họ vô cảm như lớp mặt nạ sáp. Họ chào hỏi Cathy d’Humières và Confiant bằng một cái bắt tay xã giao, yêu cầu được thẩm vấn riêng đại úy Ziegler. Servaz định kháng nghị thì bà trưởng công tố chặn ngang bằng việc lập tức chấp thuận yêu cầu của họ. Nửa giờ trôi qua, cánh cửa vào phòng nơi tạm giam Ziegler mới mở ra lần nữa.
“Đến lượt tôi thẩm vấn riêng đại úy Ziegler,” Servaz nói khi họ đi ra ngoài. “Tôi không cần lâu đâu. Sau đó chúng ta có thể đối chiếu quan điểm.”
Cathy d’Humières quay sang, định nói gì thì ánh mắt họ gặp nhau. Bà giữ im lặng. Nhưng một trong hai bức tượng sáp kia như thể đã sống lại, “Đại diện của sen đầm không thể bị thẩm vấn bởi một cảnh…”
Bà trưởng công tố giơ tay ngắt lời. “Các anh đã có thời gian thẩm vấn riêng, không phải sao? Mười phút, Martin. Không hơn một giây. Rồi cuộc thẩm vấn sẽ tiếp tục với sự có mặt của mọi người.”
Anh đi qua khung cửa. Cô sen đầm ngồi một mình trong căn phòng nhỏ, ánh đèn hắt lên một bên mặt. Ngoài cửa sổ, tuyết đang rơi dưới ánh đèn đường, giống hệt lần cuối cùng hai người ở bên nhau trong căn phòng này. Trời bên ngoài tối đen như mực. Anh ngồi xuống và nhìn cô. Với mái tóc vàng cùng bộ quần áo liền thân bằng da màu đen đầy khóa kéo, dây đai và những miếng bảo vệ trên vai, trên đầu gối, trông cô như một nữ anh hùng bước ra từ câu chuyện khoa học giả tưởng.
“Cô không sao chứ?”
Cô gật đầu, môi mím chặt.
“Tôi không nghĩ cô có tội,” anh nói ngay, và cũng tin chắc như thế.
Cô chăm chăm nhìn anh, không nói gì. Anh đợi vài giây rồi mới nói tiếp, không biết phải bắt đầu từ đâu. “Cô không giết Grimm và Perrault. Nhưng nhìn bề ngoài thì tất cả các bằng chứng đều đang chống lại cô, cô biết chứ?”
Một lần nữa, cô gật đầu.
Anh xòe mấy ngón tay để liệt kê lần lượt từng sự kiện. Cô đã nói dối, hoặc giấu giếm sự thật, về trại hè và các nạn nhân tự sát. Cô đã che giấu việc cô biết Chaperon trốn ở đâu.
“Và cô không ở bên cạnh Perrault khi ông ta chết. Cô ở gần nhất, đáng ra phải tới trước tiên.”
“Tôi bị tai nạn xe máy.”
“Cô nên thừa nhận là một cái cớ không mấy thuyết phục. Một vụ tai nạn không có ai làm chứng.”
“Chỉ là sự việc xảy ra đúng như vậy.”
“Tôi không tin cô,” anh trả lời.
Ziegler mở to mắt.
“Anh nghĩ lại đi,” cô nói. “Anh cho rằng tôi vô tội hay có tội?”
“Vô tội. Nhưng cô đang nói dối về vụ tai nạn.”
Cô có vẻ kinh ngạc trước sự thấu suốt của anh. Nhưng lần này cô lại khiến anh ngạc nhiên, cô mỉm cười.
“Ngay từ đầu tôi đã biết anh là người tốt,” cô nói.
Anh tiếp tục, “Đêm hôm qua, tôi biết cô đi tới quán bar sau nửa đêm, và tới khi cô quay về thì tôi đang trốn dưới gầm giường. Tôi ra ngoài lúc cô đang tắm. Cô nên trang bị thêm khóa cửa, chứ đừng chỉ dùng một loại khóa tiêu chuẩn. Cô đã làm gì ở quán bar ấy?”
Cô cố tiêu hóa những gì anh vừa nói và trầm tư nhìn anh rất lâu.
“Tôi tới gặp một người bạn,” cuối cùng, cô trả lời.
“Vào lúc nửa đêm, khi cuộc điều tra đang diễn ra sao? Khi cuộc điều tra ấy đòi hỏi chúng ta phải dồn tất cả tâm trí và sức lực? Khi ai cũng đều kiệt quệ cả tinh thần và thể xác sao?”
“Việc khẩn cấp.”
“Việc gì mà khẩn cấp đến thế?”
“Rất khó giải thích.”
“Tại sao?” Anh hỏi. “Vì tôi là một gã đàn ông, một tay cớm đực rựa, và cô chỉ yêu phụ nữ sao?”
Cô ngang ngạnh nhìn anh, “Anh thì biết gì về những chuyện này?”
“Không gì cả, cô nói đúng. Nhưng tôi không phải người có nguy cơ bị kết tội gây ra hai vụ án mạng. Và tôi không phải kẻ thù của cô, Irène. Hay một thằng ngu cục súc nhỏ nhen kì thị người đồng tính mà cô vẫn thường gặp. Thế nên cứ thử xem nào.”
Cô vẫn điềm tĩnh nhìn anh, không hề lay chuyển. “Về nhà đêm qua, tôi nhận được một lời nhắn. Của Zuzka, bạn gái tôi, người Slovakia. Cô ấy nói muốn giữ khoảng cách. Cô ấy làm khó tôi, chê trách tôi quá đắm chìm vào công việc, rằng tôi đang bỏ bê cô ấy, rằng tôi ở bên nhưng không thực sự ở bên. Đại loại như vậy. Tôi nghĩ anh cũng từng trải qua chuyện như thế, vì anh đã ly hôn, nên anh hiểu được ý tôi đấy. Có rất nhiều cuộc hôn nhân đổ vỡ và chia tay trong giới cảnh sát, ngay cả cảnh sát đồng tính. Tôi cần giải thích. Ngay lập tức. Tôi không muốn cô ấy bỏ đi như vậy mà không có cơ hội nói rõ ràng cho cô ấy hiểu. Bấy giờ, tôi không thể chịu đựng nổi. Thế nên tôi chẳng kịp suy nghĩ gì, vội vã đến ngay Chuối Hồng. Zuzka là quản lý ở đấy.”
“Các cô quen nhau lâu chưa?”
“Một năm rưỡi.”
“Và hai người rất yêu nhau?”
“Phải.”
“Hãy quay trở lại vụ tai nạn. Hoặc cái gọi là tai nạn. Vì không có vụ tai nạn nào hết, có phải không?”
“Đương nhiên là có! Anh không thấy tình trạng quần áo của tôi sao? Và những vết sây sát? Anh nghĩ vì sao tôi lại bị thế?”
“Trong khoảnh khắc tôi đã tin rằng là vì cô nhảy xuống từ chiếc cabin,” anh trả lời. “Sau khi cô đẩy Perrault ra ngoài.”
Cô vặn vẹo trên chiếc ghế. “Và anh không tin như thế nữa?”
“Phải, vì cô vô tội.”
“Làm sao anh biết?”
“Vì tôi nghĩ tôi biết là ai. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng, dù có thể cô đã gặp tai nạn thật, nhưng cô vẫn không hề cho tôi biết toàn bộ sự thật.”
Một lần nữa cô lại sửng sốt trước sự thấu suốt của anh. Rốt cuộc cô nói, “Sau vụ tai nạn, tôi cố tình đến muộn. Tôi không vội.”
“Tại sao?”
“Perrault, tôi muốn lão chết. Hoặc đúng hơn, tôi muốn kẻ sát nhân có cơ hội tóm được lão.”
Servaz trân trân nhìn cô một lúc. Anh gật đầu.
“Vì những việc họ đã làm với cô,” anh nói. “Grimm, Chaperon, Mourrenx và ông ta.”
Cô không trả lời nhưng gật đầu.
“Tại trại hè,” anh tiếp tục.
Cô kinh ngạc nhìn lên.
“Không, là rất lâu sau đó. Hồi tôi học luật ở Pau. Vào một ngày cuối tuần, tôi tình cờ gặp Perrault tại hội làng. Lão đề nghị cho tôi đi nhờ xe. Grimm và Mourrenx đợi chúng tôi ở cuối một đường mòn, cách đó vài kilomet. Đêm ấy không có Chaperon, tôi không biết tại sao. Chỉ biết bởi thế tôi không liên hệ lão ta với những tên còn lại cho tới khi anh tìm ra bức ảnh. Lúc… thấy Perrault lái chệch khỏi đường cái và chạy vào đường mòn, tôi lập tức đoán được ý định của lão. Tôi muốn thoát ra nhưng lão đánh tôi tới tấp ngay trong khi lái xe, và cả khi đã dừng lại. Lão bảo tôi là đồ đong trai, là con điếm. Người tôi đầy máu. Sau đó…”
Cô im bặt. Anh do dự rất lâu rồi mới hỏi, “Sao cô không…”
“Tố cáo? Tôi… quan hệ khá bừa bãi vào thời điểm đó. Đàn ông, phụ nữ… Thậm chí cả với một trong các giảng viên ở đại học của tôi, một phụ nữ đã có chồng con. Bố tôi lại là sen đầm. Tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra, người ta sẽ tiến hành điều tra, rồi bê bối. Tôi nghĩ tới bố mẹ và phản ứng của họ. Cả anh ruột cùng chị dâu tôi nữa, họ đều không biết gì về đời sống cá nhân của tôi.”
Thì ra đây là lý do giúp bọn chúng giữ kín bí mật của mình lâu như vậy, anh thầm nghĩ. Linh cảm ban đầu của anh tại nhà Chaperon đã đúng. Bọn chúng tin tưởng rằng 90% nạn nhân bị hiếp dâm sẽ không trình báo vụ việc. Ngoại trừ các thiếu niên ở trại hè chưa từng nhìn thấy mặt chúng, con mồi chúng lựa chọn phải là những mục tiêu dễ bị công kích, những người có lối sống buông thả, khiến họ không dám tìm đến cảnh sát. Những kẻ săn mồi thông minh. Nhưng vợ của chúng đã nhìn thấu chúng, đã nghi ngờ và tách ra ngủ riêng, hoặc ly dị hẳn.
Anh lại nghĩ tới tay giám đốc trại hè đã chết trong một vụ tai nạn xe cộ. Đối với hắn có khi thế lại hay.
“Cô có nhận ra chính cô đã suýt đẩy tôi tới chỗ chết không?”
“Tôi xin lỗi, Martin. Thực lòng đấy. Nhưng để trả giá, tôi đang bị buộc tội giết người đây,” cô nở một nụ cười buồn.
Cô nói đúng. Anh sắp phải tham gia một cuộc chơi khó khăn. Confiant sẽ không dễ dàng buông tay như vậy, nhất là khi cậu ta đã nắm trong tay một nghi phạm lý tưởng. Và chính Servaz là người đã dâng cô lên cho cậu ta.
Anh nói, “Điều khiến tình hình phức tạp là cô đã lợi dụng sự vắng mặt của tôi để lần theo dấu vết Chaperon, mà không nói cho ai cả.”
“Tôi không muốn giết lão. Tôi chỉ muốn… dọa cho lão sợ. Tôi muốn nhìn thấy nỗi khiếp sợ trong mắt lão, tương tự như cách lão từng vui sướng khi được nhìn thấy nỗi sợ trong mắt các nạn nhân. Tôi muốn đích thân tìm thấy lão trong khu rừng ấy và nhét nòng súng vào miệng lão, để lão nghĩ rằng mạng lão đã tận. Rồi tôi sẽ bắt giữ lão.”
Giọng cô nhạt dần, như tiếng một dòng nước nhỏ mỏng manh và lạnh buốt, trong phút chốc anh băn khoăn có phải mình đã nghe nhầm.
“Một câu hỏi nữa,” anh nói. “Cô phát hiện mọi chuyện từ khi nào?”
Cô nhìn thẳng vào mắt anh. “Ngay từ vụ án mạng đầu tiên tôi đã nghi ngờ. Rồi khi Perrault chết và Chaperon lặn mất tăm, tôi biết có người đang bắt chúng phải trả giá cho những tội ác của mình. Nhưng tôi không biết là ai.”
“Tại sao cô lại giấu danh sách lũ trẻ ở trại hè?”
“Đó là một hành động ngu xuẩn, có tật giật mình. Tôi bắt gặp nó khi đang xem xét cái hộp chết tiệt. Mà anh thì lộ rõ hứng thú với những thứ bên trong. Tôi không muốn bị tra hỏi, tôi không muốn người ta đào bới quá khứ của mình.”
“Câu hỏi cuối cùng. Tại sao cô đặt hoa lên mộ Maud Lombard vào sáng nay?”
Irène Ziegler im lặng một lúc. Lần này cô không ngạc nhiên một chút nào. Cô đã nhận ra mình bị theo đuôi cả ngày.
“Maud Lombard cũng tự tử.”
“Tôi biết.”
“Tôi luôn biết rằng cô ấy cũng là nạn nhân của chúng. Thậm chí tôi còn nghĩ tới việc giải thoát bằng cách tương tự. Có một thời gian, Maud và tôi thường cùng nhau tới dự tiệc, trước khi tôi vào đại học, và trước khi cô ấy gặp phải lũ khốn nạn. Chúng tôi khá thân thiết, không hẳn là bạn bè, chỉ là người quen, nhưng tôi rất quý cô ấy. Maud là một cô gái kín đáo, độc lập và ít nói, nhưng luôn nỗ lực thoát ra khỏi hoàn cảnh của mình. Vì vậy hằng năm, vào đúng ngày cô ấy mất, tôi lại mang hoa đến viếng. Hôm nay thì tôi muốn gửi cho Maud một lời nhắn nho nhỏ, trước khi bắt giữ kẻ cuối cùng còn sống sót.”
“Nhưng Maud Lombard chưa bao giờ đi nghỉ ở trại hè.”
“Thế thì sao? Cô ấy đã bỏ nhà đi vài lần, thường xuyên giao du với những thành phần bất hảo. Và luôn về muộn. Chắc hẳn cô ấy đã đụng phải chúng ở đâu đó, giống như tôi.”
Servaz lại vắt óc suy nghĩ. Giả thuyết của anh càng lúc càng sáng tỏ. Một hướng đi không thể tin nổi… Anh không còn câu hỏi nào nữa. Đầu anh lại xoay mòng mòng. Anh xoa bóp hai thái dương và khổ sở đứng lên.
“Có thể còn một giả thuyết khác mà chúng ta chưa tính đến,” anh nói.
D’Humières và Confiant đang đợi anh trong hành lang. Servaz đi về phía họ, vật lộn với cảm giác những bức tường cùng sàn nhà đang xoay tròn và anh sắp sửa mất thăng bằng. Anh xoa bóp gáy và hít một hơi thật sâu, nhưng không đủ để tống khứ cảm giác choáng váng chao đảo.
“Thế nào?” Bà trưởng công tố hỏi.
“Tôi không nghĩ là cô ta.”
“Cái gì?” Confiant hét lên. “Tôi hy vọng là anh đang đùa!”
“Hiện tại, tôi không có thời gian để giải thích. Chúng ta phải nhanh chóng hành động. Trong lúc đó, cứ giữ Ziegler lại nếu các vị muốn. Chaperon đâu?”
“Chúng tôi đang tìm cách buộc ông ta phải thừa nhận việc cưỡng bức những thiếu niên ở trại hè,” d’Humières lãnh đạm trả lời. “Nhưng lão không hé răng nửa lời.”
“Không giới hạn thời gian thi hành án chứ?”
“Không, chừng nào vẫn nảy sinh những yếu tố mới khiến chúng ta phải tái điều tra. Martin, tôi hy vọng cậu biết mình đang làm gì.”
Họ trao đổi một ánh mắt.
“Tôi cũng hy vọng như vậy,” anh nói.
Đầu óc anh quay cuồng. Anh ra lễ tân xin một chai nước, uống viên thuốc mà Xavier kê cho rồi đi ra xe đang đỗ ngoài bãi.
Làm sao anh có thể trình bày giả thuyết của mình mà không khiến Confiant phát điên và không đặt bà trưởng công tố vào tình thế khó xử? Vẫn còn một câu hỏi đeo bám anh. Anh muốn tuyệt đối chắc chắn trước khi ngả bài. Và anh cần một người cho anh ý kiến, một người có thể nói với anh rằng anh đang đi đúng hướng, và trên hết, rằng anh có thể đi xa tới đâu mà không quá dấn thân vào nguy hiểm. Anh nhìn đồng hồ đeo tay. 21:12.
Máy tính.
Cô bật nó lên. Không giống của Xavier, có yêu cầu nhập mật mã. Chà chà. Cô nhìn đồng hồ đeo tay. Cô đã ở trong này được một tiếng.
Vấn đề là, cô không phải hacker. Mất hơn mười phút, cô vắt óc tìm mật mã, cố đánh tên Julian Hirtmann và Lisa Ferney theo mọi kiểu có thể, nhưng vô ích. Cô lục lại ngăn kéo cất giữ hồ sơ cá nhân. Dựa vào đó, cô nhập các số điện thoại và số hiệu sổ phúc lợi xã hội, hết ngược lại xuôi, đến ngày sinh, kết hợp giữa tên và tên đệm của y tá trưởng, kết hợp giữa ba chữ cái đầu tên và ngày sinh, nhưng tất cả đều vô ích. Chết tiệt!
Mắt cô vô tình lướt xuống con kì nhông.
Cô nhập ‘kinhong’ và ‘gnohnik’.
Không có gì.
Cô kiểm tra đồng hồ trên góc màn hình. 21:28.
Cô nhìn con kì nhông một lần nữa. Và với một thôi thúc mãnh liệt, cô nhấc nó lên rồi lật lại. Trên bụng nó khắc chữ Van Cleef & Arpels, New York. Cô nhập dòng chữ vào máy. Không có gì. Chết tiệt! Thật vớ vẩn! Chẳng khác gì mấy bộ phim điệp viên ngu ngốc khốn kiếp! Cô thử đảo các chữ cái. Cũng không thấy gì. Mày trông đợi cái gì hả? Đây không phải là phim chiếu rạp! Hoàn toàn thất bại, cô thử viết tắt những chữ cái đầu, VC&ANY. Không có gì. Thế thì ngược lại đi, YNA&VC.
Màn hình đột nhiên nhấp nháy. Trúng phóc! Diane không thể tin vào mắt mình. Cô đợi màn hình nền và tất cả các biểu tượng hiện ra.
Cuộc chơi tiếp tục. Nhưng thời gian đang trôi đi. 21:32.
Cầu mong sao Lisa Ferney thực sự qua đêm bên ngoài.
Những bức thư điện tử.
Có khoảng hơn một trăm thư, từ một người bí ẩn có tên Demetrius.
Tiêu đề của các thư đều là: E-mail mã hóa.
Cô mở một bức thư nhưng không thấy gì ngoài những thông số khó hiểu. Diane hiểu đây là cái gì, vì cô đã từng gặp phải hồi đại học. Đó là dấu hiệu cho thấy mã hóa thông điệp đã hết hạn và người nhận không thể giải mã được nữa.
Bộ não cô đang hoạt động hết tốc lực.
Thông thường, nhằm giải quyết vấn đề này, người ta sẽ lưu luôn nội dung thư vào đâu đó, chẳng hạn ở dạng HTML. Cô sẽ làm thế nếu là Lisa Ferney. Cô mở phần My Documents, rồi đến My Inboxy và lập tức trông thấy nó. Một tệp tin đề tên ‘Demitrius’.
Lisa Ferney không có thêm biện pháp phòng ngừa nào khác. Máy tính của cô ta đặt mật khẩu và cô ta biết chẳng ai dám tới đây mở nó ra.
Lisa,
Anh sẽ ở New York cho tới Chủ nhật. Công viên Trung tâm chỉ toàn một màu trắng và thời tiết lạnh đến giá băng. Thật lộng lẫy. Anh nghĩ tới em. Thỉnh thoảng, nửa đêm anh lại tỉnh giấc, mồ hôi đầm đìa, và anh biết mình vừa mơ thấy cơ thể và làn môi của em. Anh hy vọng mười ngày nữa có thể trở về Saint-Martin.
Éric
Lisa
Thứ Sáu anh sẽ đi Kuala Lumpur. Trước đó chúng ta có thể gặp nhau không? Anh sẽ ở lâu đài đợi em. Đến nhé.
Éric
Em đâu rồi, Lisa?
Sao anh không nhận được tin của em? Có phải em vẫn giận anh vì lần trước không? Anh có một món quà cho em. Anh mua nó của Boucheron. Rất đắt tiền. Em sẽ thích.
Thư tình. Hàng chục bức. Thậm chí hàng trăm bức. Trải dài suốt mấy năm trời.
Lisa Ferney đã cẩn thận lưu chúng lại. Toàn bộ. Và chúng đều được kí tên một người, ‘Éric’. Éric đi du lịch rất nhiều, Éric giàu có và những ý muốn của Éric có vẻ giống mệnh lệnh. Éric thích sử dụng hình ảnh so sánh ấn tượng và là một người tình ghen tuông tới mức bệnh hoạn.
Những đợt sóng ghen tuông cuốn anh đi và khiến anh ngạt thở. Anh tự hỏi em đang ngủ với ai. Anh hiểu em, Lisa. Em có thể sống thiếu một cục thịt nhoi giữa hai chân trong bao lâu? Hãy thề với anh là không có ai khác.
Và thỉnh thoảng, khi cả đe dọa và trách móc đều có vẻ vô tác dụng, Éric lại chìm đắm trong việc tự thóa mạ mình.
Chắc em nghĩ rằng anh là một thằng cặn bã khốn nạn, một thằng đần chính hiệu. Anh không xứng đáng với em, Lisa. Anh đã sai khi nghĩ rằng anh có thể mua em bằng đồng tiền bẩn thỉu của mình. Em có thể tha thứ cho anh không?
Diane kéo xuống dưới cùng, dò đến thời điểm hiện tại. Cô thấy giọng điệu anh ta dần thay đổi. Không đơn thuần là chuyện tình nữa. Còn một việc khác đang diễn ra.
Em nói đúng. Đã đến lúc phải hành động. Anh đã chờ đợi quá lâu. Nếu chúng ta không ra tay bây giờ thì sẽ là không bao giờ. Anh vẫn chưa quên những giao ước của chúng ta, Lisa ạ. Và em cũng biết lời anh nói luôn là cam kết.
Thấy em mạnh mẽ và quyết tâm như thế, anh như được tiếp thêm can đảm, Lisa ạ. Anh nghĩ em nói đúng, không có hệ thống luật pháp nào trên trái đất trả lại tâm hồn thanh thản cho chúng ta. Chúng ta phải tự giành lấy.
Chúng ta phải chờ đợi quá lâu. Và anh nghĩ, thời điểm đang chín muồi.
Đột nhiên, ngón tay cô đông cứng trên con chuột. Tiếng bước chân trong hành lang. Cô nín thở. Dù là ai đi nữa thì người đó cũng biết Lisa đã ra ngoài. Họ sẽ ngạc nhiên khi thấy ánh đèn dưới cánh cửa.
Nhưng tiếng bước chân đi qua không hề dừng lại. Diane thở ra và tiếp tục kéo qua những tin nhắn, khẽ chửi thề với chính mình. Cô càng lúc càng tuyệt vọng. Cho tới giờ, cô hoàn toàn không thu được điều gì chắc chắn, chỉ có những lời ám chỉ và bóng gió.
Sau năm phút nữa, cô sẽ biến khỏi đây. Cô lần lượt xem qua ba mươi bức thư cuối cùng.
Chúng ta phải nói chuyện, Lisa. Anh có một kế hoạch. Một kế hoạch kinh khủng. Em biết thí quân là gì không, Lisa? Trong cờ vua, thí quân là sự hy sinh của một quân cờ ở ngay đầu trận để thu được lợi thế chiến lược. Anh đã sẵn sàng thực hiện. Thí một quân mã. Nhưng sự hy sinh làm tan vỡ trái tim anh.
Con ngựa, Diane nín thở.
Trái tim cô dường như sắp sửa bắn ra khỏi ngực, nhưng khi cô mở ra bức thư tiếp theo, cô còn chìm sâu hơn nữa vào bóng tối.
Em đặt hàng được chưa? Em chắc chắn rằng anh ta sẽ không nhận ra em đã giao dịch bằng tên anh ta chứ?
Mắt mở trừng trừng, miệng khô khốc, Diane nhìn thời gian trên bức thư. Mùng 6 tháng Mười hai… Không có câu trả lời nào trong thư mục, hay ở bất cứ bức thư nào khác, nhưng cô không cần. Mảnh ghép cuối cùng vừa mới khớp vào đúng chỗ của nó. Hai giả thuyết của cô đã hợp làm một. Xavier điều tra đơn giản vì anh ta vô tội. Anh ta không phải người đã đặt hàng những loại thuốc mê kia. Là Lisa Ferney, lấy tên của anh ta.
Diane ngả lưng ra ghế và suy xét việc này. Câu trả lời đã rõ ràng. Lisa và người đàn ông tên Éric đã giết con ngựa, và chắc hẳn là cả ông dược sĩ nữa.
Dưới danh nghĩa một lời hứa giữa họ từ rất lâu trước đây, một lời hứa mà cuối cùng họ đã quyết tâm thực hiện.
Đầu óc cô điên cuồng chạy đua với thời gian.
Những gì cô biết đã đủ để báo cảnh sát. Tên của viên cảnh sát đã tới Viện là gì nhỉ? Servaz. Cô đặt lệnh in nội dung bức thư cuối cùng và nhấc điện thoại lên.
Dưới ánh sáng đèn pha, những hàng cây hiện ra trong đêm như một đội quân thù địch. Thung lũng này yêu bóng tối và bí mật, ghét người bên ngoài đến chõ mũi lung tung. Servaz chớp mất, mỏi mệt nhìn qua kính chắn gió ra con đường hẹp uốn lượn xuyên rừng. Cơn đau đầu của anh càng lúc càng tệ hơn, và anh có cảm tưởng hai thái dương chỉ chực nổ tung. Bão tuyết không dứt, những đợt gió mạnh thổi tuyết bay tứ phía. Tuyết lao nhanh về chiếc xe, bắt sáng như những ngôi sao chổi chóng vánh vụt qua. Anh bật nhạc của Mahler với âm lượng lớn nhất, Bản giao hưởng số 6. Với những nốt nhấn nhá mang giai điệu bi thương, và ngập đầy điềm báo đáng sợ. Đây là bản nhạc đệm hoàn hảo cho tiếng gào thét của cơn bão tuyết.
Anh đã chợp mắt được bao lâu trong bốn mươi tám tiếng vừa qua? Anh kiệt sức. Không hiểu sao anh lại nghĩ tới Charlène. Ý nghĩ này, cùng sự dịu dàng cô trao cho anh trong phòng trưng bày nghệ thuật khiến anh ấm lòng. Điện thoại trên xe bắt đầu kêu lên rì rì.
“Vui lòng cho tôi gặp sĩ quan chỉ huy Servaz.”
“Cho hỏi ai đấy?”
“Tên tôi là Diane Berg. Tôi là chuyên gia tâm lý tại Viện Wargnier và tôi…”
“Anh ấy hiện tại không thể nghe máy được,” viên sen đầm ở đầu dây bên kia ngắt lời.
“Nhưng tôi cần phải nói chuyện với anh ta!”
“Cho tôi số của cô, anh ấy sẽ gọi lại cho cô.”
“Là việc gấp!”
“Xin lỗi, anh ấy đã ra ngoài rồi.”
“Vậy anh có thể cho tôi số của anh ta.”
“Nghe này, tôi…”
“Tôi làm việc ở Viện,” cô nói, giọng tỏ ra biết điều và kiên định nhất có thể, “Và tôi biết ai đã mang DNA của Julian Hirtmann ra khỏi đây. Anh hiểu ra chưa?”
Một khoảng lặng kéo dài ở đầu dây bên kia, “Cô nói lại lần nữa được không?”
Cô làm theo.
“Đợi chút. Tôi sẽ nối dây để cô nói chuyện với một người.”
Điện thoại reo ba tiếng, “Đại úy Maillard xin nghe, tôi có thể giúp được gì?”
“Nghe này,” cô tuyên bố, “tôi không biết anh là ai nhưng tôi cần nói chuyện với sĩ quan chỉ huy Servaz ngay lập tức. Là chuyện vô cùng quan trọng.”
“Cô là ai?”
Cô giải thích lần thứ hai.
“Cô cần gì ở anh ấy, bác sĩ Berg?”
“Về những vụ án mạng ở Saint-Martin. Như tôi đã nói với anh, tôi làm việc ở Viện, và tôi biết ai mang DNA của Hirtmann ra khỏi đây.”
Thông tin cuối cùng khiến viên đại úy nín lặng. Diane tự hỏi phải chăng anh ta đã cúp máy.
“Được,” rốt cuộc anh ta nói. “Cô có gì để ghi lại không? Tôi sẽ cho cô số của anh ấy.”
“Servaz nghe.”
“Chào buổi tối,” một giọng phụ nữ ở đầu dây bên kia. “Tên tôi là Diane Berg, tôi là chuyên gia tâm lý ở Viện Wargnier. Anh không biết tôi nhưng tôi biết anh. Tôi ở ngay căn phòng bên cạnh khi anh tới văn phòng của bác sĩ Xavier. Và tôi đã nghe được toàn bộ cuộc đối thoại của các anh.”
Servaz định nói với cô ta rằng anh không có thời gian, nhưng có điều gì trong giọng điệu và việc cô ta nói rằng mình làm việc ở Viện đã ngăn anh không ngắt lời.
“Anh nghe thấy tôi nói không?”
“Tôi đang nghe đây. Bà muốn gì, thưa bà Berg?”
“Là cô. Tôi biết ai đã giết con ngựa. Và gần như chắc chắn cũng là kẻ đã mang DNA của Julian Hirtmann ra khỏi đây. Anh có muốn biết là ai không?”
“Đợi một lát,” anh nói.
Anh đi chậm lại và tấp vào lề đường. Xung quanh, cơn gió đang xoáy qua đám cây, nào cành nào nhánh giương nanh múa vuốt trước ánh sáng đèn pha, giống như trong một bộ phim cổ theo chủ nghĩa biểu hiện của Đức[1].
“Tiếp tục đi. Kể cho tôi nghe tất cả xem nào.
"Cô nói tác giả của các e-mail tên là Éric?”
“Phải. Anh biết là ai không?”
“Tôi nghĩ là có.”
Servaz đỗ xe ven đường, ngay giữa cánh rừng, nghĩ về thông tin vừa nhận được. Giả thuyết nhen nhóm sau khi anh đến nghĩa trang đã được củng cố một lần khi Irène Ziegler tiết lộ rằng Maud từng bị hãm hiếp, giờ được củng cố lần hai nhờ người phụ nữ ở Viện. Và củng cố theo cách bất ngờ nhất. Éric Lombard… Anh nhớ đến hai gã bảo vệ ở nhà máy điện cùng sự im lặng và những lời nói dối của họ. Ngay từ đầu, anh đã chắc chắn họ đang có điều giấu giếm. Giờ thì anh biết họ nói dối không phải vì có tội, mà vì bị ép buộc. Hoặc bị tống tiền hoặc được mua sự im lặng, có lẽ là cả hai. Bọn họ đã nhìn thấy sự thật, nhưng lựa chọn giữ im lặng và nói dối, ngay cả khi việc này khiến chính họ bị tình nghi, bởi họ biết rằng mình không thể làm gì khác.
“Cô tìm hiểu được lâu chưa, cô Berg?”
Mất một lúc cô mới trả lời, “Tôi mới tới Viện vài ngày.”
“Có thể nguy hiểm đấy.”
Lại im lặng. Servaz băn khoăn cô Berg đang gặp nguy hiểm tới mức nào. Cô ta không phải cảnh sát, chắc hẳn sẽ phạm sai lầm. Và cô ta đã dấn thân vào một môi trường tàn bạo, nơi bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra.
“Cô đã nói với ai khác chưa?”
“Chưa.”
“Nghe kĩ này,” anh nói. “Đây là việc cô sẽ phải làm. Cô có xe không?”
“Có.”
“Tốt. Lập tức rời khỏi Viện, lên xe và lái đến Saint-Martin trước khi bị cơn bão tuyết ngăn lại. Đi thẳng tới trụ sở sen đầm và yêu cầu nói chuyện với trưởng công tố. Nói với bà ấy là tôi bảo cô đến. Và nói với bà ấy mọi điều cô vừa nói với tôi. Cô hiểu không?”
“Hiểu.”
Anh cúp máy rồi, cô mới nhớ ra xe của mình không khởi động được.
Dưới ánh đèn pha, Servaz nhìn thấy những tòa nhà của trại. Trông tối tăm và quạnh quẽ. Chẳng thấy ngựa cũng chẳng thấy người. Những gian chuồng đã đóng lại về đêm, hoặc vì mùa đông. Anh dừng lại trước tòa nhà lớn xây bằng gỗ và gạch rồi ra khỏi xe.
Những bông tuyết cuộn xoáy như muốn nuốt chửng anh khi gió rít qua những rặng cây. Servaz dựng cổ áo lên và hướng về phía lối vào. Những con chó bắt đầu sủa và giật xích trong bóng tối. Có ánh đèn bên trong một ô cửa sổ và anh thấy một bóng người nhìn ra.
Servaz bước vào tòa nhà. Cánh cửa khép hờ với ánh đèn ở giữa hành lang. Anh bị choáng vì mùi phân ngựa. Ở bên phải, ngay dưới một hàng đèn, anh thấy một con ngựa và một kị sĩ đang đi vòng quanh trường cưỡi rộng lớn trong nhà, dù đêm đã khuya. Marchand bước ra từ cánh cửa đầu tiên phía bên trái.
“Chuyện gì thế?” Ông ta nói.
“Tôi có vài điều cần hỏi ông.”
Ông ta dẫn anh tới một cánh cửa khác ở phía trước một đoạn. Servaz đi vào. Vẫn là văn phòng bày đầy cúp, những cuốn sách về ngựa và những kẹp tài liệu anh đã nhìn thấy vào hôm đầu tiên ghé thăm. Trên màn hình laptop là ảnh một con ngựa. Một con vật tuyệt mỹ với bộ lông nâu đỏ của ngựa hồng. Có lẽ là con Tự Do. Marchand đi lướt qua anh và Servaz ngửi thấy mùi whisky trong hơi thở của ông ta. Một chai Label 5 đặt trên kệ, đã vơi quá nửa.
“Là về Maud Lombard,” anh nói.
Marchand nhìn anh bằng ánh mắt ngạc nhiên và cảnh giác. Đôi mắt ông ta hơi sáng quá mức.
“Tôi biết cô ấy đã tự tử,” Servaz nói.
“Phải,” ông già huấn luyện ngựa nói. “Một việc tồi tệ.”
“Ý ông là gì?”
Anh thấy Marchand lưỡng lự. Trong chốc lát, người đàn ông nhìn ra chỗ khác rồi cuối cùng cũng quay lại phía Servaz. Ông ta chuẩn bị nói dối.
“Cô ấy đã cắt cổ tay…”
“Nhảm nhí!” Servaz hét lớn, đột ngột túm lấy cổ áo ông ta. “Ông đang nói dối, Marchand! Ông xem, một người vô tội vừa bị buộc tội giết Grimm và Perrault. Nếu ông không nói ra sự thật ngay bây giờ thì tôi sẽ tố cáo ông là đồng phạm giết người. Ông nghĩ và quyết định nhanh đi, tôi không có cả đêm đâu!” Mặt anh tái đi vì giận dữ, tay chực lấy cái còng.
Marchand khiếp sợ trước cơn tức giận của Servaz. Ông ta tái dại đi khi nghe thấy tiếng chiếc còng tay. Đôi mắt ông ta trợn trừng, nhưng vẫn cố thăm dò viên cảnh sát.
“Anh đừng có bịp tôi.”
Một tay chơi poker rất cừ, không dễ bị đưa vào tròng. Servaz nắm lấy cổ tay ông ta và vặn ngược ra sau.
“Anh định làm gì?” Marchand kinh ngạc hỏi.
“Tôi đã cảnh cáo ông.”
“Anh không có bằng chứng!”
“Ông có biết bao nhiêu người đã bị bắt giữ không cần bằng chứng và đang chết mục trong trại tạm giam không?”
“Đợi đã! Anh không thể làm thế!” Marchand đột nhiên hoảng sợ chống đối. “Anh không có quyền!”
“Tôi cảnh cáo ông, có phóng viên ảnh bên ngoài trụ sở sen đầm,” Servaz nói dối, thô bạo lôi ông ta về phía cửa. “Nhưng chúng tôi sẽ trùm áo khoác lên đầu ông khi đưa ông ra khỏi xe. Tất cả những gì ông phải làm là nhìn xuống đất và để chúng tôi dẫn ông đi.”
“Đợi đã! Mẹ kiếp, đợi đã!”
Nhưng Servaz đã ghìm chặt ông ta lại. Họ đã ra bên ngoài hành lang. Gió đang rít lên, tuyết cuốn vào bên trong khung cửa mở.
“Được rồi! Được rồi! Tôi đã nói dối! Bỏ ra đi!”
Servaz ngừng lại. Con ngựa và người kị sĩ đã dừng lại và quan sát họ từ trường cưỡi.
“Đầu tiên, hãy nói sự thật,” Servaz thì thào vào tai ông ta.
“Cô ấy đã treo cổ. Trên xích đu trong khu vườn ở lâu đài. Chết tiệt!”
Servaz nín thở. Một vụ treo cổ nữa. Chính là nó. Anh tháo còng. Theo bản năng, Marchand xoa xoa cổ tay.
“Tôi không bao giờ quên được,” ông ta nói, đầu cúi xuống. “Đó là lúc hoàng hôn, mùa hè. Cô ấy mặc một chiếc váy trắng, gần như trong suốt. Cô ấy lơ lửng như một con ma phía trên bãi cỏ, cổ gãy gập, dưới ánh hoàng hôn. Giờ tôi vẫn mơ thấy hình ảnh ấy. Gần như mỗi đêm.”
Mùa hè. Mùa cô gái đã chọn để kết thúc cuộc đời mình, như những người khác. Một bộ váy trắng. Tìm màu trắng, Propp đã nói như vậy.
“Tại sao ông nói dối?”
“Vì có người đã yêu cầu tôi làm thế, tất nhiên rồi,” Marchand vẫn cúi mặt. “Đừng hỏi tôi treo cổ với cứa cổ tay thì khác gì nhau, tôi không biết. Ông chủ không muốn người khác biết.”
“Khác nhau rất nhiều đấy,” Servaz trả lời, hướng về phía cửa.
Espérandieu vừa tắt laptop thì điện thoại reo lên. Cậu thở dài, nhìn giờ, 22:40, rồi nhấc máy. Cậu hơi dựng thẳng lưng khi nhận ra giọng Luc Damblin, người quen ở Interpol. Cậu đã đợi cuộc điện thoại này kể từ khi trở về Toulouse và đang mất dần hy vọng.
“Cậu nói đúng,” Damblin nói luôn. “Chính là y. Cậu đang điều tra cái gì thế? Tôi không biết rõ chuyện đang xảy ra nhưng, vì Chúa, tôi có cảm giác cậu giật được một con cá lớn rồi. Cậu có thể nói thêm được không? Một tay như y sao lại dính dáng tới án hình sự?”
Espérandieu suýt chút nữa thì ngã ra khỏi ghế. Cậu nuốt nước bọt và ngồi thẳng lại.
“Cậu chắc không? Cái gã FBI đã xác nhận điều đó? Hỏi cho tôi xem anh ta lấy thông tin từ đâu?”
Năm phút tiếp theo, Luc Damblin đi vào giải thích tường tận. Ôi Chúa ơi! Espérandieu nghĩ khi cúp máy. Đã đến lúc gọi cho Martin. Ngay lập tức.
Servaz cảm thấy như thể mọi thứ đều đang cấu kết với nhau chống lại anh. Tuyết xoáy tít dưới luồng đèn pha và những thân cây đang bị nhuộm thành màu trắng bên mặt hướng về phía Bắc. Một trận bão tuyết thực sự. Lại đúng vào đêm nay. Anh lo lắng liệu cô bác sĩ tâm lý có thể xuống được tới Saint-Martin không. Vài phút trước, khi rời khỏi trường luyện ngựa, anh đã gọi cuộc điện thoại cuối cùng.
“A lô?”
“Tôi phải gặp anh. Ngay tối nay. Và tôi hơi đói một chút. Có muộn quá không?”
Một tiếng cười ở đầu dây bên kia. Nhưng rồi đột nhiên im bặt.
“Diễn biến mới sao?” Gabriel Saint-Cyr hỏi, không giấu nổi tò mò.
“Tôi biết ai rồi.”
“Thật sao?”
“Phải, thật.”
Đầu bên kia bỗng im lặng
“Cậu có lệnh bắt giữ không?”
“Chưa có. Tôi muốn biết ý kiến của anh trước.”
“Cậu tính làm gì?”
“Đầu tiên tôi cần phải làm rõ vài vấn đề pháp lý với anh. Rồi tôi sẽ hành động.”
“Cậu không muốn nói cho tôi biết là ai à?”
“Hãy ăn tối trước, chúng ta sẽ nói chuyện sau.”
Một lần nữa, anh nghe thấy một tiếng cười nhỏ phát ra từ đầu dây bên kia. “Phải công nhận là cậu làm tôi tò mò chết đi được. Qua đi. Tôi vẫn còn một ít thịt gà.”
“Tôi đang đến đây,” Servaz nói, rồi cúp máy.
Những khung cửa sổ của cối xay tỏa ra ánh sáng và sự ấm áp bất chấp cơn bão khi anh đỗ xe bên dòng nước. Trên đường đến, Servaz không gặp chiếc xe hay người đi bộ nào. Anh khóa xe lại và gập người trước từng đợt gió mạnh đầy tuyết, vội vã tiến về phía cây cầu nhỏ. Cánh cửa lập tức mở ra. Mùi thơm hấp dẫn của gà quay, củi cháy trong lò sưởi, rượu và gia vị. Saint-Cyr cầm lấy áo khoác của anh và mắc lên giá, rồi dẫn anh xuống phòng khách phía dưới.
“Bắt đầu bằng một ly vang nóng nhé? Gà sẽ sẵn sàng sau hai mươi phút nữa. Như vậy chúng ta có thể nói chuyện.”
Servaz nhìn đồng hồ đeo tay. 10 giờ rưỡi. Những giờ phút tiếp theo sẽ mang tính quyết định. Anh phải nghĩ sẵn đường đi nước bước trước khi vào vị trí chiến đấu, nhưng tâm trí anh đã đủ tỉnh táo chưa? Vị thẩm phán già cùng kinh nghiệm của ông ta có thể sẽ giúp anh tránh được mọi sai sót. Kẻ địch của anh vô cùng ghê gớm. Servaz không muốn trượt chân vào lỗ hổng pháp lý nào dù là nhỏ nhất. Anh cũng đói kinh khủng. Mùi gà nướng khiến bụng anh sôi sục.
Ngọn lửa nhảy múa trong lò sưởi, chiếu những cái bóng và ánh sáng lập lòe lên tường và xà nhà. Căn phòng chỉ còn tiếng gỗ cháy tanh tách, tiếng gió than vãn trong ống khói và tiếng dòng nước cuồn cuộn chảy ngoài kia. Lần này không có Schubert. Rõ ràng Saint-Cyr không muốn bỏ sót một từ nào mà Servaz sắp sửa nói ra.
Hai ly rượu màu hồng ngọc rót đầy đến nửa đang đợi trên bàn trà giữa hai chiếc ghế bành sắp sẵn trước lò sưởi. Ly rượu bốc khói nghi ngút.
“Ngồi đi,” vị thẩm phán nói, chỉ về phía một trong hai chiếc ghế.
Servaz cầm ly rượu gần mình nhất. Nó nóng bỏng. Anh xoay xoay ly rượu và hít hà hương thơm quyến rũ. Anh có thể ngửi thấy mùi cam, quế và nhục đậu khấu.
“Rượu vang nóng,” Saint-Cyr nói. “Tiếp thêm sinh lực và calo cho một đêm thế này. Hơn hết, nó là một phương thuốc chữa mệt mỏi tuyệt hảo. Đêm nay hẳn sẽ rất dài đây, phải không?”
“Rõ ràng như vậy sao?” Servaz hỏi.
“Cái gì rõ ràng?”
“Sự mệt mỏi của tôi.”
Ánh mắt của ông thẩm phán nấn ná trên người anh. “Trông cậu như sắp kiệt sức.”
Servaz uống rượu. Anh nhăn mặt khi thấy lưỡi mình nóng rẫy. Vị nồng đượm của rượu và gia vị tràn đầy miệng và cổ họng anh. Saint-Cyr sắp thêm vài lát bánh mì gừng nho nhỏ để nhấm nháp cùng rượu. Servaz ăn hết lát đầu tiên, rồi thêm miếng nữa. Anh đang chết đói.
“Sao?” Saint-Cyr nói. “Cậu không định nói với tôi sao? Là ai?”
“Cậu chắc không?” Cathy d’Humières nói qua loa ngoài điện thoại.
Espérandieu nhìn chằm chằm vào mũi đôi giày Converse, hai tay chống lên bàn làm việc trong văn phòng của mình ở đại lộ Embouchure.
“Nguồn tin của tôi đã khẳng định như vậy. Anh ta làm việc tại tổng hành dinh của Interpol ở Lyon. Một người đàn ông tên là Luc Damblin. Anh ta lấy thông tin từ một mối quan hệ ở FBI. Anh ta chắc chắn, 200%.”
“Trời đất!” Bà trưởng công tố kêu lên. “Và cậu không liên lạc được với Martin phải không?”
“Tôi đã gọi hai lần và cả hai lần máy đều bận. Tôi nhận được thư thoại của anh ấy. Vài phút nữa tôi sẽ thử gọi lại.”
Cathy d’Humières nhìn đồng hồ đeo tay, một chiếc Chopard màu vàng kim mà người chồng làm bên truyền thông tặng bà nhân dịp kỉ niệm hai mươi năm ngày cưới. 22:50. Bà thở dài.
“Tôi muốn cậu làm việc này giúp tôi, Espérandieu. Cậu cứ tiếp tục gọi cho Martin. Gọi tới bao giờ được thì thôi. Rồi bảo với cậu ta rằng tôi muốn lên giường trước bình minh, và chúng ta sẽ không đợi cậu ta cả đêm đâu!”
Ở bên này, Espérandieu giơ tay chào kiểu quân đội, “Đã rõ, thưa bà.”
Irène Ziegler lắng nghe tiếng gió rít ngoài chấn song cửa sổ. Một trận bão tuyết thực sự. Cô đã bước xa khỏi chỗ vẫn đứng, tai áp lên tường. Là giọng của d’Humières, rõ ràng chi phí xây dựng có hạn, những bức tường ở đây mỏng như bìa các tông, cũng giống như hàng trăm trụ sở sen đầm khác trên khắp nước Pháp.
Ziegler đã nghe được tất cả. Có vẻ Espérandieu đã thu được tin tức trọng yếu, thay đổi toàn bộ vụ điều tra. Ziegler thầm nghĩ cô biết là việc gì. Về phần Martin, anh đã mất tăm mất tích. Cô biết một nơi anh có thể đến, để xin lời khuyên trước khi tiếp tục hành động. Cô gõ vào cánh cửa và nó mở ra gần như ngay lập tức.
“Tôi cần đi vệ sinh,” cô nói.
Viên sĩ quan đóng cửa lại trước mặt cô. Rồi cửa lại mở ra, một cô gái trẻ mặc cảnh phục ngờ vực nhìn cô. “Đi theo tôi, đại úy. Đừng có lộn xộn đấy.”
Ziegler đứng lên, để hai cổ tay bị còng trước mặt.
“Cảm ơn,” cô nói. “Tôi cũng muốn được nói chuyện với bà trưởng công tố. Chuyển lời tới bà ấy. Nói với bà ấy đây là việc quan trọng.”
Cơn gió đang rít lên trong ống khói, bạt cả ngọn lửa. Servaz kiệt sức. Anh đặt ly xuống và thấy tay mình run rẩy. Anh thu tay về sát người, sợ Saint-Cyr nhận thấy. Rượu nấu cùng gia vị rất ngon, nhưng để lại dư vị đăng đắng. Anh chuếnh choáng, nhưng giờ không phải lúc đi nằm. Anh tự bảo mình sẽ không uống gì ngoài nước lọc trong nửa giờ tới, rồi anh sẽ xin một cốc cà phê đặc.
“Trông cậu có vẻ không ổn lắm,” ông thẩm phán già nói, đặt ly của mình xuống và chăm chú quan sát.
“Tôi khá hơn rồi, và tôi sẽ ổn thôi.”
Thực lòng mà nói, anh nhớ mình chưa từng cảm thấy kiệt sức và căng thẳng như thế bao giờ. Mệt mỏi rã rời, đầu óc mụ mị, váng vất. Thế nhưng anh sắp phá được vụ án kì lạ nhất trong toàn bộ sự nghiệp của mình.
“Vậy cậu không cho rằng Irène Ziegler có tội?” Saint-Cyr tiếp tục. “Tuy vậy, mọi chỉ dấu dường như đều hướng vào cô ta.”
“Tôi biết. Nhưng có tình tiết mới.”
Cặp lông mày của ông thẩm phán nhíu chặt tạo thành hình chữ V ngược.
“Tối nay tôi nhận được cuộc gọi của một bác sĩ tâm lý làm việc tại Viện Wargnier.”
“Và?”
“Tên cô ta là Diane Berg, người Thụy Sĩ. Cô ta mới đến ít lâu, nghĩ rằng có điều bất thường đang diễn ra và đã tự tiến hành điều tra bí mật. Rồi cô ta phát hiện ra y tá trưởng của Viện đã kiếm được thuốc mê cho ngựa… và người phụ nữ này là tình nhân của một Éric nào đó, một người đàn ông giàu có thường xuyên đi xa, dựa vào những e-mail mà anh ta gửi cho cô ả.”
“Làm thế nào cô bác sĩ tâm lý ấy có thể phát hiện ra toàn bộ chuyện này?” Ông thẩm phán ngờ vực hỏi.
“Là một câu chuyện dài.”
“Thêm nữa, tay Éric này, cậu nghĩ là…? Nhưng anh ta đang ở Mỹ vào cái đêm con ngựa bị giết.”
“Bằng chứng ngoại phạm hoàn hảo,” Servaz nói. “Ngoài ra, ai lại đi nghi ngờ nạn nhân là hung thủ chứ?”
“Cậu tin cô ta? Làm sao cậu biết cô ta đáng tin? Cái Viện đó hẳn phải khiến người ta loạn thần kinh nếu không quen với nó.”
Servaz nhìn Saint-Cyr. Trong giây lát, anh cảm thấy hoài nghi. Nếu ông thẩm phán nói đúng thì sao?
“Anh có nhớ từng bảo với tôi rằng mọi chuyện xảy ra trong thung lũng này đều bắt rễ từ quá khứ không?” Servaz nói.
Saint-Cyr im lặng gật đầu.
“Chính anh đã nói với tôi, em gái của Éric Lombard tự tử ở tuổi 22.”
“Đúng như vậy,” Saint-Cyr trả lời. “Vậy cậu nghĩ vụ tự tử này có liên quan tới những vụ khác? Cô ấy chưa bao giờ đến trại hè.”
“Có hai nạn nhân tự sát cũng chưa từng đến.” Tim Servaz bắt đầu đập thình thịch chẳng rõ vì lý do gì. “Grimm và Perrault chết bằng cách nào?”
“Bọn họ bị treo cổ.”
“Chính xác. Khi tôi hỏi rằng em gái của Éric Lombard tự tử bằng cách nào, anh bảo tôi rằng cô ấy cắt cổ tay. Vì gia đình họ thông báo như thế. Tối nay tôi vừa phát hiện ra, cô ta cũng treo cổ. Tại sao Lombard phải nói dối về việc đó? Nếu không phải để phòng ngừa có người liên hệ vụ tự tử của Maud với những vụ giết người kia?”
“Cô bác sĩ tâm lý có nói chuyện này với ai khác không?”
“Chắc là không. Tôi đã dặn cô ta xuống Saint-Martin và liên hệ với Cathy d’Humières.”
“Vậy là cậu cho rằng…”
“Tôi cho rằng Éric Lombard đứng đằng sau vụ án mạng của Grimm và Perrault,” Servaz nói, cảm thấy lưỡi mình như dính vào vòm miệng và cơ hàm cứng lại. “Tôi nghĩ y đang trả thù cho những gì em gái phải chịu, người em gái mà y hết mực yêu thương. Lombard kết án thay cho em và cho cả bảy đứa trẻ từng là nạn nhân của bộ tứ Grimm-Perrault-Chaperon-Mourrenx. Tôi cho rằng y đã nghĩ ra một âm mưu quỷ quyệt để tự mình thực thi công lý, đồng thời loại bỏ mọi hiềm nghi liên quan tới mình với sự giúp đỡ của một đồng phạm ở Viện Wargnier, và có thể có thêm một người nữa ở trường luyện ngựa.”
Anh nhìn tay trái của mình. Nó đang trượt ra khỏi tay vịn ghế. Anh cố giữ yên, nhưng vô ích. Khi ngước mắt lên, anh thấy Saint-Cyr đang nhìn chằm chằm vào tay mình.
“Lombard là một người đàn ông cực kì thông minh. Y hiểu rằng sớm muộn gì người điều tra những vụ án mạng này rốt cuộc cũng liên hệ nó với những vụ tự tử diễn ra mười lăm năm trước, bao gồm cả cái chết của cô em gái. Chắc hẳn y đã phát hiện ra cách tốt nhất để làm chệch hướng điều tra là biến mình thành một trong những nạn nhân. Như vậy vụ án đầu tiên phải lấy y làm mục tiêu. Nhưng làm sao để thực hiện điều đó? Không thể tự dưng đi giết một người vô tội. Rồi Lombard chợt nảy ra ý hay. Có thể gây ra một vụ án mà không ai nghi ngờ được, bằng cách tiêu diệt một thứ mà y yêu quý hơn hết thảy, đó là con ngựa ưa thích. Chắc là y đã rất đau buồn khi đi đến quyết định này, nhưng còn bằng chứng ngoại phạm nào tốt hơn việc vụ sát hại xảy ra khi, như y đã nói, y đang ở Mỹ? Đó là lý do tại sao lũ chó không sủa, và con ngựa không hí. Thậm chí y có thể có một đồng phạm khác nữa ở trường luyện ngựa, bên cạnh y tá trưởng của Viện Wargnier. Vì cần có ít nhất hai người để đưa con ngựa lên trên. Và chuông báo động ở trường luyện ngựa cũng không kêu. Tuy nhiên, để chắc chắn rằng con Tự Do không phải chịu đựng đau đớn, y sẽ không đời nào để ai khác giết nó. Không phải là phong cách làm việc của người nhà Lombard, và Éric Lombard lại là một người yêu thể thao, ưa mạo hiểm. Y còn là một chiến binh, đã quen với những thử thách khắc nghiệt nhất, quen gánh vác trách nhiệm. Và hoàn toàn không ngại bẩn tay.”
Là vì kiệt sức, hay thiếu ngủ? Mắt anh bắt đầu nhòe đi, như thể bỗng nhiên đeo một cặp kính lệch độ.
“Tôi cũng nghĩ rằng Lombard, hoặc một trong những tay chân của y, đã đe dọa hai gã bảo vệ ở nhà máy điện, dọa sẽ đuổi việc hoặc mua chuộc sự im lặng của họ. Hơn nữa, Lombard chắc chắn đã sớm nhận ra manh mối ở chỗ Hirtmann sẽ không dẫn đi xa được. Nhưng vấn đề cũng không khiến y bận tâm. Đó chỉ là đòn tung hỏa mù đầu tiên. Trong lúc nguy cấp, việc chúng ta đào bới lại những vụ tự tử mười lăm năm trước cũng không đáng kể gì với Lombard, trái lại, nó còn khiến số đối tượng tình nghi tăng lên theo cấp số nhân. Kẻ thủ ác có thể là bất cứ phụ huynh nào, hoặc thậm chí là chính những thiếu niên từng bị bộ tứ hãm hiếp mà giờ đây đã trở thành người lớn. Tôi thắc mắc không biết y nắm bắt được bao nhiêu về Ziegler, về việc cô ấy từng ở trại hè. Cô ấy sẽ là nghi can lý tưởng. Hoặc có lẽ đơn giản chỉ là trùng hợp.”
Saint-Cyr không đáp lại, trông ông có vẻ rầu rĩ, như thể đang tập trung vào việc gì. Servaz lấy cổ tay áo lau mồ hôi đang chảy ròng ròng xuống mắt.
“Như vậy, về lâu dài, chắc hẳn y đã tính toán được rằng ngay cả khi sự việc không xảy ra chính xác như dự tính, thì y cũng đã xáo bài kĩ đến mức người ta gần như không thể lần ra sự thật, hoặc truy tới y.”
“Gần như thế,” Saint-Cyr đồng ý với một nụ cười buồn bã. “Nhưng hiển nhiên Lombard đã không thể tính đến việc sẽ phải đối đầu với một người như cậu.”
Servaz nhận thấy giọng điệu của ông thẩm phán đã thay đối. Nụ cười của người đàn ông cao tuổi vừa có vẻ cảm phục, vừa có vẻ ganh ghét đan xen. Servaz cố cử động bàn tay, nó không còn run rẩy nữa, nhưng cánh tay anh lại nặng như chì.
“Cậu là một điều tra viên xuất chúng,” Saint-Cyr lạnh nhạt nói. “Nếu có một người như cậu làm việc cho tôi, có Chúa mới biết tôi sẽ phá thêm được bao nhiêu vụ án đã phải khép lại vì thiếu bằng chứng.”
Điện thoại của Servaz bắt đầu rung lên trong túi áo. Anh cố lấy nó ra nhưng lại cảm giác cánh tay mình đang bị bó lại trong một lớp xi măng. Hình như phải mất vô tận thời gian mới di chuyển cánh tay đi được vài phân. Di động kêu rất lâu, phá vỡ sự tĩnh lặng bao trùm hai người đàn ông. Cuộc gọi chuyển sang chế độ thư thoại, và tiếng chuông dừng lại. Ông thẩm phán đang chằm chằm nhìn anh.
“Tôi… tôi… cảm… cảm thấy… rất lạ,” Servaz lắp bắp, bất lực để cánh tay buông thõng.
Chết tiệt! Có chuyện gì với anh vậy? Hàm anh cứng lại và gần như không thể phát âm cho rõ ràng. Anh ráng sức vươn dậy khỏi ghế và cố đứng lên. Căn phòng lập tức chao đảo. Sức cùng lực kiệt, anh lại ngồi sụp xuống chiếc ghế bành. Anh nghĩ mình thoáng nghe thấy Saint-Cyr nói, “Đưa Hirtmann vào là một sai lầm…” Anh thắc mắc liệu mình có nghe nhầm không. Anh vật lộn, cố vén màn sương mù đang vây lấy trí óc, tập trung vào những lời lẽ phát ra từ miệng ông thẩm phán.
“… cũng dễ dự đoán. Cái tôi của Hirtmann đã chiếm thế thượng phong. Hắn dùng DNA của mình để moi thông tin từ Élisabeth. Hắn để cậu lần theo dấu vết những thiếu niên tự tử đơn giản chỉ vì niềm sung sướng được thể hiện rằng hắn là người cầm trịch. Và để thỏa mãn niềm kiêu hãnh và tính tự cao tự đại vô hạn của bản thân. Hắn có vẻ thích cậu đấy.”
Servaz cố nhíu mày. Có thật là Saint-Cyr đang nói không? Trong tích tắc anh nghĩ người đối diện mình là Lombard. Anh nháy mắt, cố gạt đi những giọt mồ hôi cay sè trong mắt, và thấy vẫn là ông thẩm phán. Saint-Cyr lấy điện thoại ra khỏi túi áo và bấm số gọi, “Lisa? Gabriel đây. Hình như kẻ rình mò cháu vẫn chưa nói với ai đâu. Cô ta chỉ kịp gọi cho Martin. Có, bác chắc chắn… Phải, tình huống vẫn nằm trong tầm kiểm soát của bác.”
Saint-Cyr cúp máy và lại quay về Servaz.
“Tôi sẽ kể cho cậu một câu chuyện,” ông ta nói. Servaz cảm thấy giọng nói như vẳng tới chỗ anh từ cuối một đường hầm. “Chuyện về một cậu bé là con trai của một người đàn ông chuyên chế, bạo ngược. Một cậu bé cực kì thông minh, một cậu bé kì diệu. Khi tới gặp chúng tôi, thằng bé luôn mang theo một bó hoa hái được trên đường, hoặc những viên sỏi lượm được ở bờ suối. Vợ chồng tôi không có con. Vì thế cậu có thể hình dung được rằng việc Éric bước vào cuộc đời chúng tôi chính là một món quà của Thượng đế, một tia nắng mặt trời soi sáng màn đêm tăm tối.”
Saint-Cyr giơ tay như thể muốn giữ khoảng cách với kí ức, để không đánh mất mình trước cảm xúc.
“Nhưng có một đám mây đen trên bầu trời xanh ấy. Bố của Éric, Henri Lombard nổi tiếng. Lão khủng bố mọi người xung quanh, cả ở các nhà máy và ở nhà, tòa lâu đài mà cậu đã biết. Và mặc dù có lúc lão cũng thể hiện tình yêu và sự âu yếm với các con, nhưng những lúc khác lão lại khiến chúng khiếp sợ bằng những cơn giận dữ, những tràng quát tháo, và những trận đánh như mưa trút lên mẹ của chúng. Không cần phải nói, tâm lý của cả Éric và Maud đều bị rối loạn trước bầu không khí bạo lực bao trùm tòa lâu đài.”
Servaz cố nuốt nước bọt, nhưng không thể. Anh cố cử động. Một lần nữa, điện thoại reo lên hồi lâu rồi lại rơi vào im lặng.
“Thời gian đó, vợ chồng tôi sống ở một ngôi nhà trong rừng, cách tòa lâu đài không xa.” Saint-Cyr tiếp tục, không thèm đếm xỉa đến tiếng chuông điện thoại của Servaz. “Henri Lombard mặc dù có thể rất bạo ngược, đa nghi, hoang tưởng và vô cùng điên rồ, nhưng ông ta chưa bao giờ quây điền sản của mình lại bằng hàng rào, dây thép gai hay camera, như ngày nay người ta vẫn làm. Nói chung thời ấy không ai làm thế. Không có tội ác, không có đe dọa. Dù mọi người có nói gì đi nữa, thì thế giới chúng tôi từng sống vẫn còn rất nhân văn. Tóm lại, nhà chúng tôi chính là nơi ẩn náu của Éric nhỏ bé, thường là vào những buổi chiều. Thỉnh thoảng thằng bé sẽ đưa Maud đi cùng, cô bé thật xinh đẹp, nhưng có khuôn mặt buồn bã, và gần như không bao giờ mỉm cười. Éric vô cùng yêu thương em gái. Khi mới lên 10, thằng bé dường như đã quyết định sẽ bảo vệ em mình cả đời.”
Ông ta dừng lại một lúc.
“Công việc của tôi rất vất vả, và tôi thường xuyên vắng nhà. Nhưng kể từ thời điểm Éric bước vào cuộc sống của hai vợ chồng, tôi đã cố gắng dành ra nhiều thời gian rỗi nhất có thể. Tôi luôn hạnh phúc mỗi khi nhìn thấy thằng bé đi trên con đường từ lâu đài tới nhà chúng tôi, dù đi một mình hay cùng cô em gái lẽo đẽo theo sau. Trên thực tế, tôi đóng vai người bố mà thằng bé không có. Tôi nuôi lớn cậu bé ấy như chính con đẻ của mình. Không có gì khiến tôi thấy hãnh diện hơn. Thành công lớn nhất của đời tôi đấy. Tôi đã dạy thằng bé mọi điều tôi biết. Nó là một đứa trẻ có khả năng lĩnh hội phi thường. Đền đáp tôi gấp trăm lần những gì tôi cho đi. Hãy xem nó đã trở thành người thế nào! Không chỉ là nhờ đế chế được thừa kế. Không phải, mà là nhờ những bài học của tôi, và tình yêu của chúng tôi.”
Servaz chết trân nhìn ông thẩm phán già bật khóc, nước mắt trào xuống hai gò má nhăn nheo.
“Rồi sự việc tồi tệ xảy đến. Tôi vẫn nhớ cái ngày chúng tôi thấy Maud treo cổ trên xích đu. Từ đó, Éric không còn là chính mình nữa. Thằng bé thu mình lại, trở nên cau có và ngoan cố. Dường như đã tự làm bản thân chai sạn. Tôi nghĩ cũng phù hợp với ngành kinh doanh. Nhưng thằng bé không còn là Éric mà tôi biết nữa.”
“Thế chuyện… chuyện gì… đã xảy ra với… với…?”
“Với Maud? Éric không kể chi tiết, nhưng tôi nghĩ con bé đã gặp phải lũ khốn.”
“Không… sau đó…”
“Éric vừa thừa kế đế chế thì Maud tự tử, Henri cũng mới chết năm trước. Thằng bé ngập trong công việc, hôm trước ở Paris, hôm sau đã ở New York hoặc Singapore. Thằng bé không có đến một phút dành cho bản thân. Rồi mọi ngờ vực và nghi vấn về cái chết của em gái bỗng dưng trở lại. Tôi nhận ra điều đó vài năm về trước, khi thằng bé tới gặp tôi và bắt đầu đặt câu hỏi. Tự nhiên nó quyết định phải tìm ra sự thật, và thuê một số thám tử tư. Những kẻ không câu nệ cách thức làm việc hay đặt nặng vấn đề đạo đức, những gã mà ta có thể mua sự im lặng của chúng bằng một cái giá ngất ngưởng. Bọn họ chắc hẳn cũng lần theo những manh mối giống như cậu, và họ khám phá ra sự thật về bốn gã kia. Không khó để Éric hình dung được những gì đã xảy ra với em gái mình và các cô gái khác. Thằng bé quyết định tự tay tìm lại công lý. Éric có tiềm lực để làm việc đó. Thằng bé biết quá rõ hệ thống pháp luật của đất nước này chỉ có thể tín nhiệm được đến chừng ấy. Thằng bé cũng có sự hỗ trợ quý báu của Élisabeth Ferney. Cô ấy cũng là người lớn lên trong vùng này. Không chỉ là người yêu của Éric Lombard, cô ấy còn là nạn nhân của bộ tứ.”
Ánh sáng từ những ngọn nến và đèn điện như những cây kim sắc nhọn khiến mắt Servaz đau đớn. Người anh đầm đìa mồ hôi.
“Tôi đã là một lão già và thời gian của tôi sắp hết,” Saint-Cyr nói. “Một năm, năm năm, mười năm, có khác gì nhau đâu? Cuộc đời đã ở sau lưng. Và bất kể thế nào, thời gian sau cuối của tôi chỉ còn là chuỗi ngày mòn mỏi chờ đợi giây phút cuối cùng. Tại sao không rút ngắn nó lại nếu cái chết của tôi có thể giúp ích cho ai hoặc điều gì đó? Nhất là với một người toàn diện và quan trọng như Éric Lombard.”
Servaz cảm thấy nỗi sợ hãi choán lấy anh. Trái tim đập thình thịch, mạnh đến nỗi anh tưởng chừng lồng ngực mình sắp nổ tung. Nhưng anh không cử động được. Và căn phòng xung quanh giờ chỉ còn những hình dáng lờ mờ, nhòe nhoẹt.
“Tôi sẽ để lại một bức thư, nhận toàn bộ trách nhiệm về mình,” Saint-Cyr tuyên bố bằng một giọng kiên định và bình tĩnh đáng kinh ngạc. “Cuối cùng công lý cũng được thực thi. Rất nhiều người biết những vụ tự tử đã ám ảnh tôi thế nào. Sẽ chẳng ai ngạc nhiên đâu. Tôi sẽ nói rằng tôi giết con ngựa vì nghĩ Henri, bố của Éric, cũng tham gia vào những vụ hãm hiếp. Tôi giết cậu vì cậu đã phát hiện ra tôi chính là hung thủ. Nhưng tôi nhận ra rằng đằng nào mình cũng không còn đường thoát, và trước mặc cảm ăn năn, tôi quyết định tốt hơn nên thú tội rồi mới kết liễu đời mình. Một bức tâm thư tuyệt vời, vừa cảm động vừa tôn nghiêm. Tôi đã viết xong rồi.”
Ông ta vẫy vẫy lá thư ngay trước mặt Servaz. Trong giây lát, Servaz cảm thấy nỗi sợ hãi đã xua tan màn sương mù giăng trong não anh nãy giờ.
“Vô… vô ích thôi. Diane… Diane Berg có bằng chứng… phạm tội… nói với Cathy… d’Humières…”
“Dù sao thì,” Gabriel Saint-Cyr không hề tỏ ra nao núng, “Đêm nay cô bác sĩ tâm lý cũng sẽ chết. Trong đống giấy tờ của nạn nhân, người ta sẽ tìm thấy bằng chứng chứng minh rằng cô ta từ Thụy Sĩ đến đây vì một mục đích duy nhất. Để giúp người đồng hương, đồng thời cũng là tình cũ của cô ta, Julian Hirtmann, đào thoát.”
“Tại sao… ông… lại làm… việc này?”
“Tôi đã nói với cậu rồi, Éric là niềm kiêu hãnh hạnh phúc của cuộc đời tôi. Tôi đã nuôi lớn thằng bé. Người đã tạo ra Éric của ngày hôm nay. Không chỉ là một doanh nhân xuất sắc, mà còn là một người đàn ông hoàn hảo không chê vào đâu được. Là đứa con trai mà tôi chưa từng có.”
“Y… liên can… biển thủ… công quỹ… tham nhũng… bóc lột trẻ… trẻ em…”
“Đó là những lời dối trá!” Saint-Cyr hét lên, nhảy dựng khỏi ghế bành.
Với một khẩu súng trong tay. Một khẩu súng lục tự động.
Servaz trố mắt. Mồ hôi đang nhỏ giọt từ lông mày xuống mắt, làm giác mạc anh bỏng rát. Giọng của Saint-Cyr cùng mọi âm thanh và mùi vị khác đều đã trở nên dữ dội tới mức đau đớn. Tất cả các giác quan của anh đều quá tải vì bị đẩy tới cực điểm, khiến đầu anh như muốn nổ tung.
“Chất gây ảo giác,” Saint-Cyr khẽ mỉm cười. “Cậu không thể hình dung hết được khả năng của chúng đâu. Cứ yên tâm, những thứ thuốc mà cậu đã ăn vào bụng mấy bữa ở đây không gây chết người, mà chỉ để gây suy giảm trí năng và thể lực của cậu, cũng như khiến hành động của cậu trở nên đáng ngờ với chính cậu và những người xung quanh thôi. Còn với thứ thuốc tôi bỏ vào rượu, nó sẽ làm cậu tê liệt một thời gian. Nhưng cậu cũng chẳng có cơ hội để hồi phục đâu, bởi cậu đã chết trước đó rồi. Tôi vô cùng xin lỗi vì đẩy sự việc đến nước này, Martin ạ. Lâu lắm rồi tôi chẳng gặp ai thú vị như cậu.”
Miệng Servaz há ra, như một con cá bị bắt ra khỏi nước. Anh đờ đẫn nhìn Saint-Cyr. Trong lòng bất chợt trào lên một cơn phẫn nộ. Thứ thuốc ôn vật này khiến anh trông giống hệt một thằng ngu khi chết!
“Tôi đã dành trọn cuộc đời mình để đấu tranh với tội ác, và giờ tôi chuẩn bị kết liễu đời mình trong cái lốt của một kẻ giết người,” ông thẩm phán cay đắng nói. “Nhưng cậu không cho tôi lựa chọn nào khác, Éric Lombard phải được tự do. Thằng bé có biết bao nhiêu dự định. Nhờ những hiệp hội mà thằng bé tài trợ, những đứa trẻ sẽ được ăn no, các nghệ sĩ có thể sáng tác, các sinh viên nhận được trợ cấp… Tôi sẽ không để mấy tên cớm quèn phá hủy cuộc đời của một trong những cá nhân ưu tú nhất thời đại. Một người đàn ông không làm gì quá đáng, ngoài việc đảm bảo rằng công lý được thực thi, theo cách của mình, trong một đất nước nơi mà bản thân cụm từ ấy đã mất đi ý nghĩa của nó từ lâu rồi.”
Servaz tự hỏi liệu có phải họ đang nói về cùng một người hay không, kẻ đã cấu kết với tất cả những công ty dược lớn nhất để ngăn chặn các nước châu Phi sản xuất thuốc chống AIDS hay viêm màng não, kẻ khuyến khích những nhà thầu phụ bóc lột phụ nữ và trẻ em ở Ấn Độ hay Bangladesh, kẻ thuê luật sư để mua lại Polytex nhằm lấy bằng sáng chế sa thải toàn bộ công nhân. Ai mới là Éric Lombard thật sự? Một doanh nhân vô lương tâm bất chấp đạo lý hay là nhà hảo tâm và người bảo trợ cho nghệ thuật? Là cậu bé thương yêu em gái hết mực, hay là một kẻ hút máu lạm dụng nỗi bất hạnh của con người? Servaz không còn suy nghĩ tỉnh táo được nữa.
“Tôi… bác sĩ tâm lý,” anh lắp bắp. “Những kẻ giết người… ông quay lại… những nguyên tắc… kết thúc cuộc đời… làm một… một kẻ giết người.”
Anh thấy một tia hoài nghi lướt qua gương mặt của ông ta. Saint-Cyr lắc đầu dữ dội, như thể để xua nó đi.
“Tôi sẽ ra đi không một chút hối tiếc. Chắc chắn một điều, có những nguyên tắc mà tôi chưa bao giờ thỏa hiệp trong suốt cuộc đời mình. Nhưng ngày nay, ngay cả những nguyên tắc cũng bị chà đạp. Sự tầm thường, gian manh và chủ nghĩa hoài nghi đã trở thành luật lệ. Con người thời nay muốn giống như những đứa trẻ bất trị. Vô trách nhiệm. Ngu ngốc. Tội lỗi. Khờ dại, và vô đạo đức. Một làn sóng của sự man rợ sẽ sớm quét qua chúng ta, với mức độ tàn bạo chưa từng thấy. Những dấu hiệu đầu tiên đã xuất hiện rồi. Và thành thực mà nói, ai sẽ thương tiếc cho số phận chúng ta? Sự ích kỉ và tham lam đã khiến nhân loại phung phí các di sản do tổ tiên để lại. Chỉ còn vài người như Éric là vẫn đang tiếp tục vùng vẫy giữa vũng bùn lầy.”
Ông ta vẫy khẩu súng trước mặt Servaz. Người anh như bị dính chặt vào ghế, nhưng anh có thể cảm thấy sự phẫn nộ dâng trào trong cơ thể như một liều thuốc giải cho chất độc đang chảy từ dạ dày ra khắp huyết mạch. Anh lao tới trước, nhấc được mình lên khỏi ghế, rồi lập tức nhận ra nỗ lực của mình là hoàn toàn vô ích. Hai chân anh khuỵu xuống, không đỡ nổi cơ thể. Saint-Cyr đứng sang một bên và nhìn anh ngã xuống.
Servaz va phải chiếc bàn bên cạnh, đụng rơi lọ hoa và đèn trên đó. Lọ hoa vỡ tan, ánh đèn chói lòa làm mắt anh nhức nhối. Anh nằm sấp mặt, sõng soài trên chiếc thảm Ba Tư. Trán anh toác ra vì đập vào cạnh bàn và máu rỉ xuống lông mày.
“Thôi nào, Martin, vô ích thôi,” Saint-Cyr tỏ vẻ bao dung.
Servaz đau đớn chống khuỷu tay để cố ngồi dậy. Cơn giận dữ trong anh đang cháy rực như một cục than hồng. Ánh sáng chói lòa, những đốm đen nhảy nhót trước mắt. Tất cả những gì anh có thể thấy là những cái bóng và những tia sáng yếu ớt.
Anh chậm rãi trườn tới và vơ lấy chân Saint-Cyr, nhưng ông ta lùi lại. Giữa hai chân ông ta, Servaz nhìn thấy ngọn lửa trong lò sưởi. Anh thấy quáng mắt.
Rồi mọi chuyện xảy đến rất nhanh.
“Bỏ vũ khí xuống!” Một giọng nói vang lên từ phía bên trái, một giọng nói anh nhớ đã nghe thấy ở đâu, nhưng anh không thể định danh, tâm trí anh gần như tê liệt.
Phát đạn đầu tiên vang lên, rồi phát thứ hai. Anh thấy Saint-Cyr nảy lên rồi ngã về phía lò sưởi. Cơ thể ông ta đập vào mặt lò sưởi bằng đá rồi đổ nhào về phía Servaz, anh cố cúi đầu xuống. Khi ngước lên nhìn, anh thấy ai đã kéo cơ thể nặng nề ấy sang một bên, như một cái thây ngựa.
“Martin! Martin! Anh không sao chứ?”
Anh nháy mắt, như thể đang cố gạt đi một sợi lông mi. Một khuôn mặt mờ nhòe hiện ra trước đôi mắt ứa nước của anh. Irène. Ai đó đang đứng đằng sau cô. Maillard.
“Nước,” anh nói.
Irène Ziegler vội vã lao vào căn bếp thông với phòng khách, rót một cốc nước, trở lại và đặt nó lên môi anh. Servaz chậm rãi nuốt, cơ hàm anh đau nhức.
“Giúp… tôi… nhà… tắm.”
Hai viên sen đầm đỡ dưới cánh tay, nhấc anh lên và giúp anh đi chuyển. Servaz tưởng như mình sắp ngã quỵ sau mỗi bước đi.
“Lom… bard,” anh lắp bắp.
“Sao cơ?”
“Chặn… đường…”
“Xong rồi,” Irène vội vàng trả lời. “Tất cả đường vào thung lũng đều đã bị chặn lại từ lúc chúng tôi nhận được cuộc gọi từ trợ lý của anh. Không thể ra khỏi thung lũng bằng đường bộ.”
“Vin… cent?”
“Phải. Anh ấy đã tìm được bằng chứng cho thấy Éric Lombard đã nói dối, y không hề ở Mỹ vào cái đêm con Tự Do bị giết.”
“Trực…”
“Không thể. Hắn không thể cất cánh trong thời tiết này.”
Anh chúi người xuống cái bồn rửa. Ziegler vặn vòi và vã nước lạnh lên mặt anh. Servaz cúi lại gần hơn và nhúng mặt mình vào dòng nước lạnh giá. Nó lập tức có tác dụng như một cú sốc điện. Anh ho và khạc nhổ. Anh đã đứng chúi đầu vào bồn rửa trong bao lâu? Anh không biết nữa.
Khi đứng dậy, anh cảm thấy khá hơn nhiều. Tác dụng của thuốc đang tan dần. Trên hết, anh cảm nhận được từng tế bào trong cơ thể đang cố gắng chiến đấu chống lại trạng thái mê mệt. Họ phải hành động. Càng nhanh càng tốt.
“Cath…”
“Họ đang đợi chúng ta. Ở trụ sở sen đầm.” Ziegler nhìn anh. “Ổn rồi. Đi thôi! Chúng ta không được chậm trễ.”
Lisa Ferney cúp điện thoại. Tay kia của cô ta đang cầm một khẩu súng ngắn. Diane không biết gì về vũ khí nhưng cô đã xem đủ phim để hiểu vật hình trụ lớn ở đầu nòng súng chính là bộ giảm thanh.
“Tôi e là sẽ không có ai đến giúp cô đâu, Diane ạ,” y tá trưởng nói. “Không đầy nửa giờ nữa, tay cảnh sát đã nói chuyện với cô cũng sẽ chết. May cho cô là buổi đi chơi tối của tôi đã bị hủy vì tên cớm.”
“Cô có biết dùng nó không?” Diane chỉ vào khẩu súng.
Lisa Ferney cười nhạt, “Tôi đã học. Tôi có tham gia một câu lạc bộ bắn súng. Éric đã giới thiệu cho tôi môn này. Éric Lombard.”
“Tình nhân của cô,” Diane nhận xét. “Và đồng phạm của cô.”
“Đào bới đời sống của người khác là không hay đâu,” y tá trưởng mỉa mai. “Tôi biết cô sẽ thấy khó tin, Diane, nhưng Wargnier cũng có một số ứng viên để lựa chọn, khi ông ta thấy mình cần có một trợ lý. Tiện đây tôi nói luôn rằng, tôi đã rất mếch lòng khi ông ta ám chỉ rằng tôi không đủ năng lực cho vị trí đó, và tôi chính là người đã lựa chọn cô, tôi là người đã gây áp lực để ông ta chọn cô.”
“Tại sao?”
“Vì cô là người Thụy Sĩ.”
“Cái gì?”
Lisa Ferney mở cửa và liếc ra hành lang im ắng, nòng súng vẫn nhắm vào Diane.
“Giống như Julian. Khi tôi nhìn thấy hồ sơ của cô trong chồng đơn xin việc, tôi lập tức biết rằng đây là điềm tốt cho kế hoạch của chúng tôi.”
Diane bắt đầu hiểu ra lời giải thích này sẽ dẫn tới đâu. Và nó khiến cô lạnh sống lưng.
“Kế hoạch gì?”
“Giết lũ khốn,” Lisa trả lời.
“Ai?”
“Grimm, Perrault và Chaperon.”
“Vì những gì họ đã làm ở trại hè,” Diane bỗng nhớ lại tờ giấy ghi chú trong văn phòng của Xavier.
“Chính xác. Ở trại hè và cả những nơi khác. Thung lũng này là bãi săn của chúng.”
“Tôi đã thấy một người ở trại hè. Một người đàn ông, khóc lóc và la hét. Anh ta có phải là một trong những nạn nhân trước đây của họ không?”
Lisa nhìn cô bằng ánh mắt sắc lẻm, có lẽ đang tự hỏi rốt cuộc Diane biết được bao nhiêu, “Phải, Mathias. Cậu trai khốn khổ chưa bao giờ bình phục. Cậu ta hóa điên rồi. Nhưng hoàn toàn vô hại.”
“Tôi vẫn không hiểu việc này thì liên quan gì tới tôi.”
“Không quá quan trọng,” Lisa Ferney nói. “Cô từ Thụy Sĩ đến để giúp Hirtmann trốn thoát, Diane ạ. Cô là người sẽ phóng hỏa đốt Viện và dẫn hắn tới nơi an toàn. Nhưng rủi thay, ra ngoài, tên Julian vô ơn bạc nghĩa sẽ không thể kiềm chế những thôi thúc mà hắn đã phải kìm nén quá lâu, và chẳng cưỡng lại nổi cám dỗ muốn giết chết người đồng hương và tòng phạm của mình. Hết chuyện.”
Diane bất động, một nỗi sợ hãi thuần khiết choán lấy tâm trí.
“Ban đầu, chúng tôi nghĩ ra vài cách để tung hỏa mù. Nhưng tôi lập tức nghĩ tới Julian. Cuối cùng lại là một sai lầm. Một kẻ như Julian luôn so đo có đi có lại. Để đổi lấy nước bọt và máu của hắn, chúng tôi phải cho hắn biết lý do. Nhưng đòi hỏi của hắn không dừng lại ở đây. Tôi phải hứa hẹn với hắn một thứ khác. Và đó là lúc cô lên sân, Diane ạ.”
“Vô lý. Ở Thụy Sĩ người ta biết rõ tôi. Không ai đi tin một câu chuyện như thế.”
“Nhưng cảnh sát Thụy Sĩ không phải là người sẽ tiến hành điều tra. Bên cạnh đó, mọi người đều biết nơi này có thể gây rối loạn thần kinh với một người có tinh thần yếu ớt. Bác sĩ Wargnier thực sự đã có những nghi ngại về cô. Trong những cuộc đàm luận và e-mail trao đổi giữa hai người, ông ta có thể nhận thấy mức độ ‘dễ tổn thương’ nhất định ở cô. Và khi thời cơ đến, tôi sẽ chỉ ra điều ấy với cảnh sát, để họ thẩm vấn Wargnier. Và Xavier, người ngay từ đầu đã không muốn cô ở đây, sẽ không làm trái ý tôi đâu. Thế nên cô thấy đấy, rốt cuộc sẽ có rất nhiều lời khai chống lại cô. Đáng ra cô không nên ngáng chân tôi, Diane ạ. Tôi đã định tha cho cô con đường sống. Cô sẽ chỉ phải dành vài năm trong tù, thế là xong.”
“Nhưng cô không thể gán vụ DNA cho tôi,” Diane đánh bạo cãi lại trong tuyệt vọng.
“Đúng vậy. Vì thế chúng tôi đã tìm được một ứng viên khác cho việc này. Trong vài tháng vừa rồi chúng tôi đã nhét tiền cho Ngài Atlas. Đổi lại, gã nhắm mắt cho qua việc tôi lén lút vào Khu A cùng với âm mưu nho nhỏ của mình. Vấn đề duy nhất là số tiền sẽ chống lại gã khi cảnh sát phát hiện ra nó được chuyển khoản từ Thụy Sĩ. Và họ cũng sẽ tìm thấy một ống tiêm vẫn còn lưu dấu máu của Julian ở nhà riêng của gã.”
“Vậy là cô định sẽ giết cả anh ta nữa sao?” Diane cảm thấy choáng váng, như thể rơi xuống một vực sâu không đáy.
“Cô nghĩ sao? Cô cho rằng tôi muốn dành hết phần đời còn lại của mình trong tù ư? Đi thôi,” Lisa nói. “Chúng ta phí phạm thời gian đủ rồi.”
❀ ❀ ❀
[1] : Khuynh hướng của nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, điện ảnh, văn học… được hình thành và phát triển ở Đức trong hai thập niên đầu của thế kỷ 20. Trong lĩnh vực điện ảnh, phong cách này có đặc trung là hình thức tự sự vô cùng độc đáo và mới lạ, đa dạng hóa cách nhìn và cách thể hiện của các nghệ sĩ đối với hiện thực.