Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

9

Diane ngồi ở bàn làm việc của mình được một giờ đồng hồ thì nghe thấy tiếng cánh cửa đột ngột mở ra và đóng lại. Cô nhìn lên, tự hỏi ai có thể cứ thế đi vào mà không thèm gõ cửa. Cô đoán là Xavier hoặc Lisa Ferney.

Không có ai.

Cô băn khoăn nhìn vào cánh cửa đóng. Tiếng bước chân vang vọng, nhưng căn phòng trống không… Ánh đèn màu xanh xám không phản chiếu gì khác lên ô cửa sổ mờ sương, ngoài mảng giấy dán tường đã phai và một chiếc tủ tài liệu bằng kim loại. Bước chân dừng lại và ai đó kéo ghế. Một tiếng bước chân khác, lần này là gót giày phụ nữ, cũng dừng lại theo.

“Các bệnh nhân của chúng ta hôm nay thế nào?” Là giọng Xavier.

Cô nhìn chằm chằm vào bức tường. Văn phòng Xavier ở ngay bên cạnh, nhưng bức tường ngăn cách rất dày. Mất một lúc cô mới hiểu ra. Âm thanh phát ra từ lỗ thông gió ngay phía dưới trần nhà.

“Lo âu,” Lisa Ferney trả lời. “Họ chỉ nói về chuyện con ngựa. Các tình tiết kích động tất cả bọn họ.”

Hiện tượng âm thanh lạ kì khiến cô có thể nghe rõ từng từ một.

“Tăng liều lượng thuốc lên nếu cần,” Xavier nói.

“Tôi đã làm rồi.”

“Rất tốt.”

Diane có thể nắm bắt từng sắc thái nhỏ nhất trong giọng nói của hai người kia, dù nó không to hơn tiếng rì rầm là mấy. Cô thắc mắc Xavier có biết điều này không. Chắc anh ta chẳng bao giờ để ý. Trước Diane, chưa từng có ai khác làm việc trong căn phòng này và cô cũng không tạo ra nhiều tiếng động. Có lẽ âm thanh chỉ truyền đi theo một chiều. Văn phòng của cô là một không gian nhỏ bụi bặm, 2x4 mét, từng được dùng làm kho chứa đồ, vẫn còn những thùng hồ sơ chồng đống ở một góc. Căn phòng có mùi bụi bặm và cả mùi gì đó khác nữa, khó chịu nhưng chẳng thể gọi tên. Mặc dù, họ đã nhanh chóng bố trí một chiếc bàn, máy tính và ghế bành cho cô, Diane vẫn không khỏi cảm thấy văn phòng mình như nơi để thùng rác.

“Anh nghĩ sao về cô gái mới đến?” Élisabeth Ferney hỏi.

Diane ngồi thẳng dậy, căng thẳng lắng nghe.

“Còn cô, thì sao?”

“Tôi không biết, vấn đề là ở chỗ đó. Anh có cho rằng cảnh sát sẽ đến đây vì con ngựa không?”

“Họ đến thì sao?”

“Thì sẽ đánh hơi khắp nơi. Anh không sợ à?”

“Sợ gì?” Xavier nói.

Một khoảng lặng. Diane quay đầu về phía lỗ thông gió.

“Sao tôi lại phải sợ? Tôi chẳng có gì phải giấu giếm cả.”

Nhưng giọng anh ta, ngay cả qua lỗ thông gió, lại ám chỉ điều ngược lại. Diane đột nhiên cảm thấy bứt rứt. Cô đang vô tình nghe trộm một cuộc nói chuyện mà hai người kia rõ ràng không muốn ai nghe được. Cô lấy chiếc điện thoại di động từ chiếc áo blu và nhanh chóng tắt máy, dù chắc mẩm sẽ chẳng ai gọi tới.

“Nếu là anh, tôi sẽ chỉnh đốn lại để họ thấy càng ít càng tốt,” Lisa Ferney nói. “Anh có định để họ gặp Julian không?”

“Chỉ khi họ yêu cầu.”

“Vậy có lẽ tôi nên đến thăm hắn ta một chút.”

“Được.”

Diane nghe thấy tiếng áo blu của Lisa Ferney sột soạt phía bên kia bức tường. Tiếp đó là một khoảng lặng.

“Đừng,” Xavier đột ngột lên tiếng. “Giờ không phải lúc.”

“Anh quá căng thẳng rồi, tôi có thể giúp anh.”

Giọng người y tá qua lỗ thông gió đã trở nên âu yếm, nựng nịu.

“Ôi, Chúa ơi, Lisa… nếu có ai đến thì sao…”

“Chú rùa nhỏ xấu xa này, chẳng mấy chốc đã ngóc đầu lên rồi.”

“Lisa, Lisa, xin cô… Đừng ở đây… Trời ơi, Lisa…”

Diane cảm thấy má mình ửng đỏ. Xavier và Lisa đã là tình nhân bao lâu rồi? Anh ta mới đến Viện có sáu tháng. Nhưng, không phải cô và Spitzner… Tuy vậy, không thể so sánh tình cảm đó với những gì cô vừa nghe thấy. Có lẽ nguyên nhân nằm ở chính nơi này, tất cả những thôi thúc, thù ghét, rối loạn tâm thần, giận dữ và hưng cảm ninh chung với nhau thành một nồi cháo dơ dáy. Có gì đó rõ ràng rất vô luân trong cuộc đối thoại của bọn họ.

“Anh muốn tôi dừng lại phải không?” Lisa Ferney thì thầm từ phía bên kia bức tường. “Nói đi. Nói đi, tôi sẽ dừng lại.”

“Khôngggg…”

“Đi thôi. Chúng ta đang bị theo dõi.”

Bóng tối dần buông. Ziegler quay đầu lại và cũng nhìn thấy Lombard nơi cửa sổ. Giờ anh ta đang đứng một mình.

Cô nổ máy, quay vòng trên con đường nhỏ. Hệt như khi nãy, hai cánh cổng tự động mở ra trước mặt họ. Servaz liếc nhìn gương chiếu hậu. Anh nghĩ là trông thấy Lombard rời khỏi cửa sổ khi bọn họ đi xa dần.

“Thế còn các dấu vân tay và mẫu phẩm khác?” Anh hỏi.

“Vẫn chưa có kết luận gì vào thời điểm này. Nhưng họ còn kha khá việc phải làm. Có hàng trăm vân tay và các loại dấu vết. Cho đến giờ, tất cả đều là của nhân viên nhà máy. Rõ ràng, nghi phạm đã sử dụng găng tay.”

“Nhưng hắn để lại nước bọt trên cửa sổ.”

“Anh có nghĩ đó là một dạng thông điệp không?” Trong khoảnh khắc, cô rời mắt khỏi con đường để nhìn anh.

“Một lời thách thức… ai mà biết được?” Anh nói. “Chúng ta không thể loại trừ bất cứ điều gì.”

“Hoặc có thể đơn giản chỉ là tình cờ. Những tình huống ngẫu nhiên vẫn thường xảy ra nhiều hơn ta tưởng, tất cả những gì hắn cần làm đó là hắt hơi bên cạnh cửa sổ.”

“Cô biết gì về tên Hirtmann này?”

Ziegler khởi động cần gạt nước. Tuyết đang rơi nhanh và dày hơn dưới nền trời u ám.

“Hắn là một tên giết người có tính toán. Không phải loại rối loạn tâm thần điên loạn như những bệnh nhân khác ở Viện Wargnier. Một tên thái nhân cách nguy hiểm, một kẻ săn mồi phản xã hội đặc biệt thông minh và tàn nhẫn. Hắn bị kết tội giết vợ và tình nhân của vợ một cách man rợ, nhưng hắn cũng là nghi can giết gần bốn mươi người khác. Tất cả đều là phụ nữ. Ở Thụy Sĩ, tỉnh Savoie thuộc Pháp, phía Bắc nước Ý, Áo… Vấn đề là, hắn chưa bao giờ thú tội. Và người ta lại không chứng minh được bất cứ điều gì. Ngay cả vụ án giết vợ, hắn cũng sẽ không bao giờ bị bắt nếu không có quá nhiều diễn biến trùng hợp một cách ngẫu nhiên.”

“Cô có vẻ nằm rõ vụ án của hắn.”

“Mười sáu tháng trước, trong lúc rảnh rỗi, đột nhiên tôi cảm thấy hứng thú khi hắn bị chuyển đến Viện Wargnier. Có rất nhiều bài bình luận trên báo ở thời điểm đó. Nhưng tôi chưa bao giờ nhìn thấy hắn.”

“Dù gì, việc này đã thay đổi mọi thứ. Từ giờ phải căn cứ vào giả thuyết rằng Hirtmann chính là người chúng ta muốn bắt. Ngay cả khi thoạt nhìn sẽ thấy đấy là chuyện là bất khả. Chúng ta biết gì về hắn? Điều kiện giam giữ ở Viện thế nào? Cần bắt đầu từ đó.”

Ziegler gật đầu, mắt vẫn chăm chú nhìn đường.

Servaz nói thêm. “Cũng phải suy xét về những câu hỏi cần đặt ra cho hắn. Chúng ta phải có sự chuẩn bị trước khi đến. Tôi không biết rõ vụ việc như cô, nhưng hiển nhiên Hirtmann không chỉ là một tên sát nhân thông thường.”

“Còn cả nghi vấn liệu hắn có đồng phạm trong Viện hay không,” Ziegler tiếp lời. “Và liệu có bất cứ lổ hổng an ninh nào không.”

Servaz gật đầu, “Phải tổ chức một cuộc họp trù bị. Mọi việc bỗng dưng trở nên rõ ràng hơn nhưng cũng phức tạp hơn. Ta cần dự tính mọi khả năng trước khi đến đó.”

Ziegler đồng ý. Hiện tại Viện đã trở thành mối ưu tiên hàng đầu, nhưng họ không có đủ nguồn lực cần thiết và vẫn chưa nắm được toàn bộ manh mối.

“Tôi được biết, một bác sĩ tâm lý chuyên về tội phạm học sẽ từ Paris đến đây vào thứ Hai,” cô nói. “Ngày mai tôi phải dự một cuộc họp báo quan trọng ở Bordeaux. Tôi không định hủy lịch chỉ vì một con ngựa. Tôi đề nghị chúng ta đợi đến thứ Hai mới tới Viện.”

Servaz nói, “Bên cạnh đó, nếu Hirtmann thực sự đứng sau vụ việc này và có thể trốn ra khỏi Viện, chúng ta phải đảm bảo bằng mọi giá rằng những bệnh nhân khác sẽ không làm được như vậy.”

“Tôi đã xin tiếp viện từ cảnh sát khu vực ở Saint-Gaudens. Bọn họ đang trên đường đến.”

“Chúng ta cần thiết lập trạm kiểm soát ở mọi lối ra vào của Viện, lục soát tất cả xe cộ, thậm chí là xe của cán bộ nhân viên và bố trí các tổ canh gác bí mật trên núi để theo dõi khu vực xung quanh.”

Ziegler gật đầu, “Đội tiếp viện sẽ đến nhận nhiệm vụ vào đêm nay. Tôi cũng đã yêu cầu một số thiết bị quan sát ban đêm và thiết bị hồng ngoại. Cùng với giấy phép tăng gấp đôi lực lượng mặt đất. Nhưng tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu được chấp thuận. Chúng tôi cũng đang đưa hai tổ quân khuyển vào hoạt động. Dù sao thì một số ngọn núi quanh Viện cũng không thể vượt qua được mà không có dụng cụ hỗ trợ. Chỉ có thể đi dọc theo đường cái hoặc dọc theo thung lũng. Lần này, kể cả Hirtmann có thành công vượt qua hệ thống an ninh của Viện, hắn cũng không thể qua được cửa của chúng ta.”

Không còn đơn thuần là vấn đề con ngựa. Đột nhiên sự việc trở nên nghiêm trọng hơn nhiều.

“Còn một chuyện nữa chúng ta phải tìm hiểu.” Cô nhìn anh với ánh mắt thăm dò. “Mối quan hệ giữa Hirtmann và Lombard là gì? Và vì sao hắn lại nhắm vào con ngựa?”

Đến nửa đêm, Servaz vẫn chưa ngủ. Anh tắt máy tính và đèn bàn. Chiếc máy tính là một cỗ máy khủng long vẫn chạy Windows 98 mà anh thừa hưởng từ cuộc ly hôn. Anh đi qua một căn phòng khác, mở cửa kính và bước ra ngoài ban công. Dưới ba tầng lầu, con phố thật hoang liêu, thi thoảng mới có một chiếc ô tô đơn độc tìm lối len qua hai hàng xe đỗ san sát. Như đa số các thành phố khác, nơi đây rất nhạy với những khoảng trống có thể lấp đầy. Và cũng như đa số các thành phố khác, ngay cả khi cư dân đã đi ngủ, bản thân thành phố vẫn thức. Bất kể thời điểm nào, thành phố cũng kêu vo vo và rung lên như một cỗ máy. Tiếng bát đĩa loảng xoảng từ nhà hàng phía dưới. Tiếng chuyện trò, đúng hơn là cãi vã giữa một người đàn ông và một phụ nữ. Ai đó dạo trên phố cho con chó của mình tè lên một chiếc ô tô. Servaz quay trở vào phòng khách, tìm trong bộ sưu tập đĩa CD và bật Bản giao hưởng số 8 của Mahler do Bernstein chỉ huy với âm lượng khá lớn. Thời điểm này, hàng xóm bên dưới đã say giấc từ lâu. Những tiếng búa nện của bản số 6 hay hợp âm nghịch tai của bản số 10 không thể đánh thức nổi họ.

Julian Hirtmann…

Cái tên như vang vọng trong không gian. Từ vài giờ trước, sau khi Irène Ziegler phát âm nó trên xe, hai từ đó đã đọng lại trong không khí. Cả mấy tiếng qua, Servaz đã cố tìm hiểu hết những gì có thể về tên bệnh nhân ở Viện Wargnier này. Không phải không bất ngờ khi anh phát hiện ra Julian Hirtmann cũng thích Mahler giống mình. Một điểm chung giữa bọn họ. Anh dành vài giờ lướt Internet và ghi chú. Hệt như cách anh tìm hiểu về Éric Lombard, nhưng vì mục đích khác. Có cả hàng trăm trang web viết riêng về tên sát nhân người Thụy Sĩ này.

Linh cảm bất an ban đầu giờ lan ra như một đám mây độc. Trước đó, bọn họ chỉ đơn thuần đối phó với một sự việc kì lạ, cái chết bất thường của một con ngựa, và sẽ chẳng có gì nghiêm trọng nếu chủ con ngựa là một nông dân địa phương chứ không phải ngài tỉ phú. Nhưng giờ, mặc dù anh không hiểu tại sao và bằng cách nào, vụ án lại dính líu tới một trong những tên sát nhân man rợ nhất trong lịch sử. Servaz bỗng cảm thấy như thể mình đang đứng giữa một hành lang dài đầy những cánh cửa phong kín. Đằng sau mỗi cánh cửa là một khía cạnh đáng sợ và không thể ngờ tới của vụ án. Anh kinh hãi bước vào hành lang đó và mở từng cánh cửa. Trong tâm trí anh, hành lang lạ lùng ấy được thắp sáng bằng ánh đèn đỏ, đỏ như máu, đỏ như cơn thịnh nộ, đỏ như quả tim đang đập. Anh vã nước lạnh lên mặt, nỗi âu lo thắt lại trong dạ dày. Chắc chắn rất nhiều cánh cửa khác sẽ sớm mở ra, để lộ một loạt những căn phòng mà căn sau lại mờ mịt và quái đản hơn căn trước. Và đây mới chỉ là khởi đầu…

Julian Alois Hirtmann đã bị giam gần mười sáu tháng ở Khu A của Viện Wargnier, khu vực dành riêng cho những tên phản xã hội nguy hiểm và chỉ bao gồm bảy bệnh nhân cả thảy. Nhưng Hirtmann khác hẳn sáu tên còn lại ở chỗ:

1. Hắn thông minh, tự chủ và là nghi can của một loạt vụ án chưa bao giờ sáng tỏ;

2. Hắn từng là người có địa vị trong xã hội, hiếm nhưng không hẳn là trường hợp ngoại lệ trong số các tội phạm giết người hàng loạt. Tại thời điểm bị bắt, hắn đang là công tố viên của tòa án Geneva;

3. Hắn bị bắt giữ sau một loạt các diễn biến trùng hợp như Ziegler đã đề cập, việc xét xử hắn dẫn tới tình trạng rối ren về chính trị và hình sự chưa từng có trong lịch sử luật pháp ở Thụy Sĩ.

Những diễn biến trùng hợp ấy là một câu chuyện khó tin, vô cùng rùng rợn, nếu không muốn nói là đê tiện và hơn hết, là bi thảm. Vào ngày 21 tháng Sáu năm 2004, khi một cơn bão dữ dội quét qua hồ Geneva, Julian Hirtmann, bằng cử chỉ rất mực long trọng, đã mời tình nhân của vợ đến ăn tối tại tư trang bên hồ của hắn. Mục đích lời mời này là, muốn ‘làm rõ mọi chuyện và thu xếp sự ra đi của Alexia một cách hào hiệp’.

Cô vợ đẹp mê hồn trước đó đã nói với hắn rằng cô ta muốn rời đi và sống với tình nhân, một thẩm phán tại tòa án Geneva, đồng nghiệp của Hirtmann. Suốt bữa ăn, họ nghe bản nhạc trác tuyệt Kindertotenlieder của Mahler và thảo luận về các điều khoản của vụ ly hôn (Servaz điếng người khi đọc được thông tin này, thắc mắc không biết điều tra viên nhiệt huyết nào lại chú thích rằng ‘Khúc ca cho những đứa trẻ đã chết này là một trong những bản nhạc yêu thích của hắn ta’). Nhưng cuối cùng, Hirtmann rút ra một khẩu súng và ép đôi tình nhân đi xuống tầng hầm. Hirtmann và vợ hắn đã biến căn hầm thành một cái ‘động thỏa mãn lạc thú bạo dâm’, nơi cặp đôi tổ chức những cuộc truy hoan cùng đám bạn bè thượng lưu ở Geneva. Có vẻ Hirtmann thích nhìn người vợ xinh đẹp của mình bị vài người đàn ông quan hệ và đánh đập cùng một lúc, cũng như chịu đủ mọi hình thức tra tấn tinh vi, còng tay, xích, roi vọt, hay bị gắn vào những cỗ máy kì quái chỉ bán tại mấy cửa hàng chuyên dụng ở Đức và Hà Lan. Tuy vậy hắn lại phát điên vì ghen tuông khi phát hiện cô ta muốn rời bỏ hắn để đến với người khác. Một tình tiết khiến mọi chuyện nghiêm trọng hơn, đó là hắn luôn coi tình nhân của vợ là một thằng cha vô cùng ngu xuẩn và tẻ nhạt.

Trên một trong rất nhiều bài báo, Servaz đã trông thấy tấm ảnh chụp chung tại tòa án Geneva của Hirtmann và gã tình địch mà sau này đã trở thành nạn nhân của hắn.

Gã nhân tình có vẻ thấp bé khi đứng cạnh tay công tố viên cao gầy. Dựa vào bức ảnh, Servaz có thể xác định giờ hắn khoảng ngoài 40 tuổi. Gã khổng lồ thân thiện đặt một bàn tay lên vai kẻ vừa là tình địch vừa là đồng nghiệp, chăm chú nhìn người kia với ánh mắt hau háu theo cách con hổ quan sát con mồi. Servaz tự hỏi ở thời điểm ấy, Hirtmann có biết rằng hắn ta sắp sửa giết người kia không. Lời chú thích viết: Công tố viên Hirtmann với nạn nhân tương lai, thẩm phán Adalbert Berger, trong bộ áo choàng quan tòa tại đại sảnh.

Vào đêm 21 tháng Sáu, Hirtmann bắt vợ và tình nhân cởi hết đồ và nằm xuống chiếc giường dưới hầm, uống champagne cho đến khi cả hai đều say khướt. Rồi hắn ra lệnh cho gã nhân tình đổ một chai rượu cỡ lớn lên cơ thể Alexia trong khi cô ta nằm run lẩy bẩy, còn hắn tiếp tục đổ champagne lên khắp người tên kia. Khi cuộc rượu kết thúc, hắn đưa cho gã nhân tình một vật lăn lóc gần đó. Đồ vật này tương tự một chiếc khoan điện, với mũi khoan được thay bằng dương vật giả. Một món đồ như vậy, người bình thường sẽ cảm thấy vô cùng dị hợm, nhưng lại không hề hiếm lạ trong các cửa hàng chuyên bán đồ chơi người lớn và với những vị khách của các bữa tiệc bên hồ. Ban chiều, Hirtmann đã cẩn thận chỉnh sửa món đồ, để nếu có chuyên gia đa nghi nào đó kiểm tra đường dây điện thì vụ việc vẫn sẽ giống một tai nạn ngẫu nhiên. Hắn cũng thay thế chiếc cầu dao đang hoạt động bình thường bằng một cái đã hoàn toàn bị vô hiệu hóa, loại có thể tìm được ở những cửa hàng kiểu mới. Ngay khi gã tình nhân đưa vật thể ướt sũng vào âm đạo của vợ hắn, Hirtmann, tay đeo găng cao su cách điện, liền bật công tắc. Tác dụng đến ngay tức thì. Rõ ràng champagne là một chất dẫn điện rất tốt. Chắc chắn Hirtmann đã đạt được khoái cảm trả thù trước cảnh tượng hai cơ thể run lên bần bật mất kiểm soát, tóc họ dựng ngược lên như mạt sắt bị nam châm hút, nếu lúc đó không xảy ra ‘nhiều diễn biến trùng hợp’ kia.

Vì chiếc cầu dao bị lỗi, dù có cắt điện cũng sẽ không thể cứu được đôi tình nhân nhưng điện áp tăng đột ngột đã gây ra một hậu quả mà Hirtmann không thể lường trước. Nó kích hoạt hệ thống báo động của ngôi nhà. Thời điểm Hirtmann lấy lại được bình tĩnh, lực lượng cảnh sát mẫn cán của Thụy Sĩ đã có mặt trước cửa nhà hắn do được báo động bởi tiếng còi rít và láng giềng quanh đó.

Tuy nhiên, hắn không hề luống cuống, bởi đã chuẩn bị sẵn kế hoạch cho mọi tình huống. Chỉ có điều, thực tế, sự việc lại xảy ra sớm hơn so với những gì hắn dự tính. Hắn đã kể với cảnh sát về sở thích cá nhân quái đản và chức vụ công tố viên của mình, đồng thời thông báo vụ tai nạn thảm khốc vừa xảy ra trong hầm, với vẻ mặt bối rối và quẫn trí, hổ thẹn và kinh hoàng. Hắn mời các sĩ quan cảnh sát đi theo mình xuống dưới hầm. Đây là lúc diễn biến thứ hai khởi phát. Để tắt còi báo động và tỏ ra như thể đã cố gấng giúp đỡ đôi tình nhân, Hirtmann buộc phải ngắt hết toàn bộ hệ thống điện. Nhưng thật không ngờ, viên sĩ quan Christian Gander, thuộc sở cảnh sát bang Geneva, đã tuyên bố rằng khi anh và đồng nghiệp bước vào căn hầm u ám, một trong hai nạn nhân vẫn còn sống. Đó là vợ của Hirtmann, Alexia. Trong ánh đèn pin yếu ớt, cô ta đột nhiên tỉnh lại, vừa đủ thời gian để chỉ vào kẻ hành hình mình với ánh mắt khiếp sợ trước khi gục xuống mãi mãi. Hai vị cảnh sát lập tức chĩa súng vào gã khổng lồ và còng tay hắn lại, lờ đi những lời kháng nghị và đe dọa của hắn. Họ gọi hai cuộc điện thoại, cuộc đầu tiên tới bệnh viện để yêu cầu xe cấp cứu, cuộc thứ hai tới đơn vị điều tra hình sự Geneva. Quân tiếp viện ập đến ngôi nhà sau mười lăm phút, tiến hành lục soát kĩ lưỡng và nhanh chóng khám phá ra một khẩu súng ngắn tự động, được nạp sẵn đạn và mở chốt an toàn, nhét dưới một món đồ nội thất. Hirtmann bị giải đi và một đội khám nghiệm hiện trường được cử đến. Phân tích thức ăn thừa từ bữa tối cũng cho thấy gã công tố viên sát nhân kia đã chuốc thuốc cho các nạn nhân.

Những mẩu tài liệu và tin tức được tìm thấy trong văn phòng của Hirtmann chính là cơ sở để điều tra viên xâu chuỗi các vụ mất tích không thể lý giải nổi của hơn hai mươi phụ nữ trẻ trong vòng mười lăm năm trước đó. Bỗng dưng tính chất vụ án mang một diện mạo hoàn toàn khác. Một kẻ giết người vì tình lại trở thành tên giết người hàng loạt. Khi khám xét két tiền, người ta còn phát hiện được vài cặp tài liệu đầy những mẩu tin cắt ra từ những bài báo viết về nhiều vụ mất tích khác, trải rộng khắp năm quốc gia. Dãy Alps của Pháp, dãy Dolomites của Ý, vùng Bavaria của Đức, Áo và Thụy Sĩ. Tổng cộng hơn bốn mươi vụ án trong vòng hai mươi lăm năm. Không vụ mất tích nào trong số đó được tháo gỡ. Hiển nhiên, Hirtmann khai rằng hắn quan tâm đến những vụ án đó từ góc độ nghề nghiệp đơn thuần, thậm chí còn tỏ ra hài hước khi tuyên bố rằng hắn nghi ngờ tất cả những cô gái trẻ đó đều là nạn nhân của cùng một tên sát nhân. Tuy vậy, không thể xác định được bất cứ mối liên hệ có căn cứ pháp lý nào giữa những vụ mất tích nói trên và vụ án ban đầu, vì chúng khác nhau cả về động cơ và bản chất tội ác.

Ở tòa, Hirtmann cuối cùng cũng bộc lộ bản chất thật sự. Thay vì tìm cách tiết chế thái độ, hắn lại trưng ra một nụ cười tự mãn. Một loạt những vụ bê bối động trời đã vỡ lở trong phiên xử, vì hóa ra vài thành viên trong tòa án và giới thượng lưu Geneva đều từng tham gia những buổi dạ tiệc tại nhà hắn. Hirtmann thích thú tiết lộ tên tuổi từng người và hủy hoại không biết bao nhiêu thanh danh. Vụ án gây chấn động kinh hoàng về cả chính trị và hình sự, dính dáng đến tình dục, ma túy, tiền bạc, công lý, và truyền thông. Không ít ảnh chụp vẫn còn được lưu lại từ thời đó, được đăng nguyên bản trên các trang báo khắp thế giới với những dòng tít như: Ngôi nhà kinh dị (chụp một dinh thự lớn bên hồ với mặt tiền phủ đầy dây thường xuân), Quái vật rời khỏi trụ sở tòa án (Hirtmann xuất hiện trong chiếc áo chống đạn, cao hơn một cái đầu so với các cảnh sát xung quanh), Geneva dậy sóng, Nhiều người bị cáo buộc đã tham gia vào những cuộc truy hoan của Hirtmann…

Servaz nhận thấy một bộ phận dân mạng lại tôn thờ Hirtmann. Vô số trang web mở ra dành riêng cho hắn. Thay vì mô tả hắn như một tên tội phạm điên cuồng, chúng lại xây dựng một tượng đài của chủ nghĩa thông dâm và bạo dâm hay một biểu tượng của ý chí sức mạnh, một ngôi sao sáng chói trong thiên hà của quỷ Satan, một siêu nhân theo trường phái Nietzche[1] Các diễn đàn còn tồi tệ hơn. Ngay cả Servaz, thân là cảnh sát, cũng chưa bao giờ tưởng tượng được lại có nhiều người điên đang chưa bị bắt vào trại đến vậy. Những cá nhân với các tên hiệu kiểu như 6-Borg[2], Đồng cảm với Quỷ dữ hay Nữ thần Kali[3] diễn giải các học thuyết rối rắm và điên rồ như chính tên hiệu mà họ chọn. Các diễn đàn và trang web trong thế giới ảo này khiến anh sầu não. Anh tự nhủ, nếu là ngày xưa, hẳn tất cả những kẻ điên này đã sớm nhận ra chúng chỉ là thiểu số và phải trốn cho thật kĩ. Nhưng ngày nay, nhờ các phương tiện truyền thông hiện đại, vốn khởi nguồn với mục đích trao đổi sự ngu dốt, điên rồ và tí chút kiến thức bủn xỉn, bọn chúng phát hiện ra chúng không đơn độc. Chúng có thể liên hệ với nhau và cảm thấy sự điên rồ của mình được tiếp thêm sức mạnh. Servaz nhớ lại những gì anh từng nói với Marchand, và tự chỉnh lại trong đầu: Sự điên rồ quả thực là một dịch bệnh, con đường lây nhiễm ưa thích của nó là truyền thông và Internet.

Anh chợt nhớ tin nhắn của cô con gái hỏi anh có thể xin nghỉ ngày thứ Bảy không. Anh nhìn đồng hồ, 1:07. Đã sang thứ Bảy rồi. Servaz do dự. Anh gọi vào số con gái để gửi tin nhắn vào hộp thư thoại.

“A lô?”

Anh ngạc nhiên. Con bé nhấc máy ngay lập tức, giọng rất khác thường ngày. Anh thắc mắc không biết có phải mình vừa gọi nhầm số không.

“Margot?”

“Bố đấy à?” Con bé thốt lên. “Bố biết mấy giờ rồi không?”

Anh lập tức đoán ra, con bé đang chờ một cuộc gọi khác. Nó phải bật điện thoại cả đêm, trùm chăn nghe để không cho mẹ và bố dượng biết. Bạn trai kiểu gì lại gọi vào giờ này cơ chứ? Rồi anh chợt nhớ ra tối thứ Sáu lũ học sinh được chơi thả ga.

“Bố có làm con mất giấc không?”

“Bố nghĩ sao?”

“Bố chỉ muốn nói với con là bố nhận được tin nhắn rồi. Bố sẽ cố gắng nghỉ vào buổi chiều. 5 giờ, có tiện cho con không?”

“Bố chắc mình vẫn ổn chứ? Nghe giọng bố là lạ…”

“Bố không sao, con yêu. Chỉ là… hiện tại bố có rất nhiều việc.”

“Lúc nào bố cũng nói thế.”

“Vì đó là sự thật. Con biết không, đừng nghĩ chỉ những người kiếm được rất nhiều tiền mới làm việc nhiều. Toàn dối trá hết.”

“Con biết mà bố.”

“Đừng bao giờ tin bọn chính trị gia,” anh buột miệng. “Bọn họ đều là lũ giả dối.”

“Bố, bố biết mấy giờ rồi không? Chúng ta có thể nói chuyện này vào lúc khác được không?”

“À phải. Hơn nữa, bố mẹ không nên cố điều khiển con cái, ngay cả khi họ nghĩ những gì mình nói là đúng. Họ nên dạy cho chúng tự biết suy nghĩ. Dẫu con cái của họ không nghĩ rằng cách họ…”

Có vẻ là một bài diễn văn hơi dài vào lúc đêm muộn thế này.

“Bố không hề điều khiển con. Đây gọi là đối thoại, và con cũng biết tư duy độc lập rồi mà.”

Servaz bỗng cảm thấy dớ dẩn. Nhưng cảm giác đó khiến anh mỉm cười.

“Bố có một cô con gái tuyệt vời,” anh nói.

Con bé bật cười khúc khích, “Bố có vẻ đang vui nhỉ.”

“Bố cảm thấy rất tuyệt và giờ là 1 giờ 15 phút sáng. Cuộc đời vẫn đẹp. Con gái bố cũng vậy. Chúc con ngủ ngon. Hẹn gặp con ngày mai.”

“Chúc bố ngủ ngon.”

Servaz lại quay trở ra ban công. Ánh trăng đang tỏa sáng trên tháp chuông nhà thờ Saint-Sernin. Lũ học sinh xô đẩy nhau đi qua đường. Chúng hò hét, cười đùa, ồn ã như một đội kỵ binh, rồi tan biến vào đêm. Tiếng cười của chúng vương vất mãi như một tiếng vọng xa xôi từ tuổi trẻ của chính anh. Khoảng 2 giờ sáng, cuối cùng Servaz cũng nằm xuống giường và chìm vào giấc ngủ.

Sáng hôm sau, thứ Bảy ngày 13 tháng Mười hai, Servaz triệu tập một cuộc họp nội bộ để tìm phương án giải quyết vụ án mạng của người đàn ông vô gia cư. Samira Cheung đi đôi tất cao đến gối sọc đỏ trắng, quần soóc da ôm sát và đôi bốt cao mười hai phân với một hàng khóa kim loại ở phía sau. Servaz đoán cô thậm chí không cần cải trang nếu muốn thâm nhập vào một ổ mại dâm địa phương, rồi lại nghĩ đây chính là kiểu bình luận của những kẻ như Pujol hay Simeoni, hai tên đực rựa hẹp hòi trong đơn vị đã gây khó dễ cho trợ lý của anh. Còn Espérandieu mặc áo len chui cổ kẻ ngang dày dặn khiến cậu trông càng trẻ trung và không giống cảnh sát một chút nào. Trong khoảnh khắc, Servaz lo lắng tự hỏi không biết mình đang chịu trách nhiệm một cuộc điều tra hay vừa dịch chuyển tức thời sang một lớp văn ở trường đại học. Cả Samira và Espérandieu đều lôi laptop ra. Như thường lệ, cô gái trẻ vắt tai nghe mp3 trên cổ, Espérandieu đang lướt ngón tay trên chiếc iPhone, với Servaz, nó chỉ như một chiếc điện thoại di động siêu mỏng, như thể đang lật giở những trang sách. Theo yêu cầu của anh, Samira một lần nữa chỉ ra những điểm yếu của lời cáo buộc. Bọn họ không có bằng chứng chứng minh ba thằng bé trực tiếp liên quan đến cái chết của lão già vô gia cư. Kết quả pháp y xác minh nạn nhân đã chết đuối ở mức nước cao chừng 50 phân sau khi bất tỉnh, rất có khả năng do bị đánh tới tấp, trong đó có một cú đập mạnh vào đầu. Cụm từ ‘rất có khả năng’ khiến vấn đề trở nên khiên cưỡng. Vì ông già vô gia cư còn có chỉ số cồn trong máu là 1,9 gam tại thời điểm xảy ra tai nạn. Servaz và Espérandieu hoàn toàn ý thức được báo cáo pháp y sẽ được bên biện hộ sử dụng nhằm định lại tội trạng thành ‘hành vi bạo lực cố ý, vô tình dẫn đến chết người’, hoặc thậm chí bác bỏ lập luận rằng chính những cú đánh là nguyên nhân dẫn đến chết đuối, khi hoàn toàn có thể quy kết cho tình trạng say xỉn của nạn nhân. Nhưng cho đến giờ, bọn họ vẫn cẩn thận né tránh đề cập đến vấn đề này.

“Kết luận cứ để quan tòa,” cuối cùng Servaz nói. “Giới hạn lại theo những gì ta biết từ báo cáo, tránh suy diễn.”

Cùng ngày thứ Bảy hôm đó, anh hoang mang nhìn vào bản danh sách cô con gái đưa cho mình.

“Cái gì đây?”

“Danh sách quà Giáng sinh của con.”

“Tất cả sao?”

“Đấy là danh sách thôi. Bố không phải mua tất cả,” con bé càu nhàu.

Anh nhìn nó. Chiếc khuyên bạc vẫn nguyên xi ở môi dưới, chiếc vòng hồng ngọc trên lông mày trái, tai trái vừa kết nạp thêm chiếc khuyên thứ năm. Servaz thoáng nghĩ về người đồng đội của mình trong vụ án hiện tại. Anh cũng nhận thấy Margot bị va đập vào đâu đó, con bé có một vết thâm tím trên gò má phải. Anh lướt qua danh sách một lần nữa, một cái iPod, một khung ảnh kĩ thuật số (con gái anh giải thích đây là loại khung ảnh chiếu những bức hình lưu trong thẻ nhớ trên một cái màn hình), một máy điện tư Nintendo DS cầm tay (với Chương trình huấn luyện não bộ của bác sĩ Kawashima), một máy ảnh du lịch (tích hợp cảm biến 7 megapixel, ống kính zoom 3X và chế độ chống rung, nếu có thể), một laptop màn hình 17 inch (ưu tiên loại gắn chip Intel Core 2 Duo thông số 2GHz, RAM 2 GB, ổ cứng 250 GB và ổ ghi CD-DVD). Con bé cân nhắc một chiếc iPhone, nhưng sau cùng quyết định rằng có lẽ nó ‘hơi đắt’. Servaz không biết tí gì về giá cả của những thứ này hay ý nghĩa mấy từ như “RAM 2 GB”. Nhưng anh biết một điều, rằng không có món đồ công nghệ nào vô hại. Trong thế giới công nghệ ngày nay, những giây phút của tự do và suy tưởng thực sự đang trở nên ngày càng khan hiếm. Việc mua sắm điên cuồng, lòng mê đắm các công cụ thừa thãi… rốt cuộc những thứ này mang lại lợi ích gì? Tự nhiên anh thấy, một thổ dân của bộ lạc nào đó ở New Guinea dường như lại sở hữu trí tuệ khôn ngoan và tinh thần lành mạnh hơn đa số những người đang sống bên cạnh anh. Chỉ mình anh nghĩ thế, hay anh giống như một nhà triết học cổ hủ trong cái hộp của chính mình, đang nhìn một thế giới điên cuồng? Anh nhét danh sách vào túi áo và hôn lên trán cô bé.

“Bố sẽ suy nghĩ.”

Qua buổi chiều, thời tiết đã thay đổi. Trời mưa, một trận gió mạnh nổi lên, họ trú dưới một mái hiên phủ bạt đang bay phần phật trước dãy cửa sổ trưng bày được thắp sáng rực rỡ giữa trung tâm thành phố. Những con phố chật ních người, xe cộ và đồ trang trí Giáng sinh.

Thời tiết trên đó thế nào nhỉ? Anh bỗng dưng tự hỏi. Tuyết có đang rơi trên Viện không? Servaz hình dung cảnh Julian Hirtmann trong phòng giam của hắn, đang thả lỏng thân hình cao lớn để ngắm tuyết rơi bên ngoài cửa sổ. Kể từ hôm nghe được thông tin Ziegler cung cấp trong xe, tâm trí anh hiếm khi ngừng nghĩ về gã khổng lồ người Thụy Sĩ ấy.

“Bố, bố có nghe con nói không thế?”

“Có, đương nhiên rồi.”

“Bố sẽ không quên cái danh sách con đưa chứ?”

Anh hứa với con rằng không. Rồi anh đề nghị đến một quán cà phê ở quảng trường Capitole uống chút gì đó. Trước sự ngạc nhiên của anh, con bé gọi bia. Trước giờ con bé luôn gọi coca không đường. Servaz hiểu ra một sự thật tàn nhẫn rằng, Margot đã 17 tuổi mà anh vẫn coi nó là cô nhóc lên năm, dẫu có cao lớn đến đâu đi nữa. Có lẽ vì sự thiển cận này mà thỉnh thoảng anh không biết phải xử sự thế nào với con chăng. Con bé có quầng thâm dưới mắt, rầu rĩ nhìn cốc bia. Anh chợt thấy hoài nghi. Điều gì làm con bé buồn? Con bé đợi điện thoại của ai vào lúc 1 giờ sáng? vết thâm trên má là sao? Những nghi vấn của một tên cớm, anh thầm nghĩ. Không, nghi vấn của một người cha…

“Vết thâm kia là sao vậy?” Anh hỏi.

Con bé ngước lên. “Sao ạ?”

“Vết thâm trên gò má con… làm sao mà có?”

“Ừm… con va vào đâu đó. Sao thế ạ?”

“Ở đâu?”

“Có nghiêm trọng không ạ?”

Con bé gắt lên. Mặt anh đỏ lựng. Thẩm vấn một nghi phạm còn dễ dàng hơn hỏi chuyện con gái mình.

“Không,” anh nói.

“Mẹ bảo vấn đề của bố là nhìn thấy điều xấu ở khắp mọi nơi. Rằng bố bị bệnh nghề nghiệp.”

“Chắc mẹ con nói đúng đấy.” Giờ đến lượt anh nhìn xuống cốc bia của mình.

“Nửa đêm con tỉnh dậy đi vệ sinh và va vào cánh cửa. Câu trả lời thế đã được chưa ạ?”

Anh chăm chú nhìn con bé, băn khoăn không biết có nên tin hay không. Lời giải thích hoàn toàn hợp lý, chính anh cũng từng bị một vết bầm trên trán vào lúc nửa đêm. Tuy nhiên, có gì đó trong giọng nói và sự cáu bẳn khi con bé trả lời khiến anh không thoải mái. Phải chăng chỉ là do anh tưởng tượng ra? Tại sao anh có thể nhìn thấu các đối tượng thẩm vấn mà lại thấy con gái mình khó hiểu đến vậy? Và tại sao khi đương đầu giải quyết một vụ án, anh như cá gặp nước nhưng lại vô dụng đến thế trong quan hệ giữa người với người? Anh biết một bác sĩ tâm lý sẽ trả lời thế nào. Đáng ra anh nên kể với anh ta về tuổi thơ của mình…

“Bố con mình đi xem phim đi,” anh nói.

Đêm hôm đó, anh đặt đồ ăn nhanh vào lò vi sóng và nhấp một ngụm cà phê (khi anh phát hiện ra hết sạch cà phê thì đã quá muộn nên đành sờ tới hũ cà phê hòa tan cũ kĩ quá hạn từ bao giờ), anh lại đắm mình vào tiểu sử của Julian Alois Hirtmann. Đêm đã buông xuống Toulouse. Bên ngoài, một trận gió dữ dội quét qua và trời đang mưa, nhưng không gian trong phòng tràn ngập âm nhạc của Gustav Mahler, Bản giao hưởng số 6. Sự tập trung của anh được hưởng ứng nhờ đêm khuya thanh vắng và khung cảnh lờ mờ dưới ánh sáng hắt ra từ chiếc đèn bàn nhỏ và màn hình máy tính. Servaz lấy sẵn quyển sổ tay và tiếp tục ghi chép. Các ghi chú của anh đã dài tới vài trang. Trong khi tiếng đàn vĩ cầm từ phòng khách vọng sang, anh lại cày cụi với sự nghiệp của tên giết người hàng loạt. Thẩm phán tại Thụy Sĩ yêu cầu đánh giá tâm thần nhằm cấu thành trách nhiệm hình sự. Sau vô số cuộc thẩm vấn, các chuyên gia được bổ nhiệm đều nhất trí rằng nghi phạm ‘không đủ năng lực pháp lý’, viện dẫn các triệu chứng mê sảng, ảo giác, sử dụng ma túy liều cao đã ảnh hưởng đến khả năng phán đoán và làm trầm trọng thêm chứng tâm thần phân liệt của hắn, và hoàn toàn không có sự thấu cảm. Điểm cuối cùng khỏi cần bàn cãi, ngay cả Servaz cũng tán thành. Theo báo cáo, bệnh nhân của họ có ‘khiếm khuyết về tâm lý nên không thể kiểm soát hành động của mình, không đủ khả năng tự chủ để đưa ra lựa chọn và quyết định’.

Dựa vào các dữ liệu tra cứu được trên một số trang web về tâm thần học pháp y, Servaz nhận thấy các chuyên gia được bổ nhiệm đã sử dụng một phương pháp cổ điển, nhằm hạn chế sự can thiệp của đánh giá chủ quan, họ cho Hirtmann làm một tập hợp các bài kiểm tra đã được chuẩn hóa, giải thích rằng họ căn cứ vào hướng dẫn chẩn đoán và thống kê các chứng rối loạn tâm thần. Servaz thầm nghĩ, biết đâu Hirtmann cũng quen thuộc với hướng dẫn này chẳng kém gì mấy chuyên gia kia.

Tuy vậy, ý thức rõ mức độ nguy hiểm của đối tượng, họ đã đề xuất lệnh bắt giữ và tống giam tại một cơ sở chuyên môn trong khoảng thời gian ‘không xác định’. Hirtmann từng lưu trú tại hai bệnh viện tâm thần ở Thụy Sĩ trước khi được chuyển đến Viện Wargnier. Khu A không phải chỉ có mình hắn là bệnh nhân nước ngoài. Viện này là cơ sở duy nhất tại châu Âu thử nghiệm vai trò của trại giam tâm thần đa quốc gia trong khuôn khổ pháp lý chung của châu Âu trong tương lai. Servaz chau mày khi đọc được thông tin ấy. Hệ thống pháp luật ở châu Âu quá khác nhau về điều lệ, thời gian thi hành án và ngân sách. Số tiền Pháp chịu chi trả cho hệ thống hành pháp tính trên đầu người chỉ bằng một nửa so với Đức, Hà Lan hay thậm chí là Anh. Vậy hệ quả của thử nghiệm kia là gì đây?

Anh đứng dậy để ra tủ lạnh lấy bia, chợt nghĩ đến sự mâu thuẫn rõ ràng giữa tính cách hòa đồng trong xã hội và học thức được mọi người công nhận với chân dung đen tối do các chuyên gia phác họa về một nạn nhân của nỗi ghen tuông bệnh lý và những huyễn tưởng giết người không thể kiểm soát. Jekyll và Hyde[4] sao? Hay nhờ tài thao túng của mình, Hirtmann đã thành công trong việc thoát khỏi án tù? Servaz sẵn lòng đặt cược cho giả thuyết thứ hai. Anh tin chắc rằng, trong lần đầu tiên xuất hiện trước mặt các chuyên gia Hirtmann đã biết phải hành xử và nói năng thế nào. Nghĩa là giờ Servaz và đội của anh phải giáp mặt với một kẻ giỏi thao túng đồng thời là diễn viên siêu cấp? Làm sao để họ có thể nhìn thấu hắn? Liệu nhà tâm lý học tội phạm do lực lượng sen đầm cử đến có thành công với kẻ đã cho các chuyên gia người Thụy Sĩ ăn quả lừa hay không?

Bên cạnh đó, mối liên hệ giữa Hirtmann và Lombard có thể là gì? Sợi dây rõ ràng nhất là địa lý. Có khả năng Hirtmann chỉ ngẫu nhiên nhắm vào con ngựa hay không? Phải chăng hắn nảy ra ý tưởng này khi đi ngang qua trường luyện ngựa? Nơi đó cách xa đường lớn. Không có lý do gì để Hirtmann đến đấy cả. Và nếu hắn là kẻ giết con ngựa, tại sao lũ chó không đánh hơi được sự có mặt của hắn? Và tại sao hắn không lợi dụng cơ hội để trốn đi? Làm cách nào hắn vượt qua được hệ thống an ninh của Viện? Câu hỏi này lại dần tới câu hỏi khác.

Tâm trí Servaz đột ngột sang số. Con gái anh có quầng thâm dưới mắt và ánh nhìn buồn bã. Tại sao? Tại sao trông con bé lại buồn và mệt mỏi như thế? Con bé trả lời điện thoại vào lúc 1 giờ sáng. Con bé đang chờ điện thoại của ai? Và vết thâm trên má, đời nào anh lại tin những lời giải thích của Margot. Anh sẽ nói chuyện này với mẹ con bé.

Servaz tiếp tục đào bới quá khứ của Julian Hirtmann cho đến tận những phút đầu tiên của ngày mới. Anh nằm xuống, Chủ nhật ngày 14 tháng Mười hai. Anh có cảm tưởng trong tay đang cầm những mảnh ghép của hai câu đố tách biệt. Chúng không ăn khớp.

Con gái anh có quầng thâm dưới mắt và ánh nhìn buồn bã. Và con bé có một vết thâm tím trên gò má. Điều đó có nghĩa là gì?

Đêm hôm đó, Diane Berg nghĩ về bố mẹ cô. Bố cô là một người đàn ông sống kín đáo, thuộc tầng lớp trung lưu, kiểu người theo phái Calvin cứng nhắc và xa cách mà đất nước Thụy Sĩ vẫn đều đều sinh ra như sôcôla và két sắt. Mẹ cô sống trong thế giới của riêng bà, một thế giới vô hình bí mật, nơi bà nghe thấy âm nhạc của thiên thần, nơi bà là trung tâm, là lẽ sống, tâm trạng của bà dao động liên miên giữa trầm uất và hưng phấn. Một người mẹ quá chú ý đến bản thân đến nỗi không thể cho con cái bất cứ thứ gì ngoài những vụn thừa tình cảm. Diane đã sớm nhận ra thế giới kì dị của bố mẹ cô không có cô trong đó.

Cô bỏ nhà đi lần đầu tiên vào năm 14 tuổi. Cô không đi được xa lắm. Cảnh sát Geneva đã đưa cô về nhà sau khi cô bị bắt quả tang ăn cắp một chiếc đĩa CD của Led Zeppelin cùng cậu bé bằng tuổi mới gặp hai tiếng trước. Trong một môi trường hòa hợp như thế, nổi loạn là điều không thể tránh khỏi. Diane đã trải qua các thời kì hoang mang, kiếm tìm sự công nhận và nổi loạn trước khi vào khoa tâm lý ở trường đại học, nơi cô học tập để khám phá chính bản thân và bố mẹ mình, ngay cả khi cô không thể hiểu nổi họ.

Cuộc gặp gỡ của cô với thầy Spitzner chẳng khác nào định mệnh. Trước ông, cô không có nhiều người yêu lắm. Dù vẻ ngoài của cô để lại ấn tượng về một phụ nữ trẻ chủ động, tự tin, nhưng với Spitzner thì khác. Ông nhanh chóng nhìn thấu cô. Ngay từ đầu, cô đã nghi ngờ mình không phải là người đầu tiên ông chinh phục trong số các sinh viên, sau này ông cũng đã xác nhận điều đó, nhưng cô không quan tâm. Cũng như cô chẳng buồn để ý đến cách biệt về tuổi tác giữa họ hay việc ông đã có vợ và là bố của bảy đứa trẻ. Nếu phải áp dụng tài năng tâm lý học vào chính trường hợp của bản thân, cô sẽ coi mối quan hệ của họ là mô típ cũ rích, Pierre Spitzner đại diện cho mọi thứ cô không thấy ở bố mẹ mình. Và mọi thứ mà họ căm ghét. Cô nhớ lại một cuộc đối thoại dài và nghiêm túc giữa họ.

Cuối cùng ông nói, “Tôi không phải bố hay mẹ em. Đừng đòi hỏi ở tôi những gì tôi không thể cho em.”

Với ly rượu Jack Daniels trong tay, ông duỗi người trên chiếc ghế bành trong một nhà xưởng nhỏ mà trường đại học giao cho ông tùy ý sử dụng. Ông không cạo râu, ngực trần, phô bày cơ thể, đặc biệt rắn chắc đối với một người đàn ông ở tuổi đó.

“Ví dụ như?”

“Chung thủy.”

“Hiện tại thầy ngủ cả với những phụ nữ khác?”

“Phải, vợ tôi.”

“Ý em là, những phụ nữ khác.”

“Không, không phải hiện tại. Hài lòng chưa?”

“Em không quan tâm.”

“Em đang nói dối.”

“Ồ, được rồi, em có quan tâm.”

“Còn tôi chẳng quan tâm em ngủ với ai,” ông đáp.

Nhưng có một điều mà chính ông hay bất kì ai khác đều không nhận ra, Diane đã lớn lên cùng những bí mật của mẹ cô, trong một ngôi nhà với những cánh cửa đóng kín và những căn phòng gắn mác ‘con không được phép vào’. Có điều, sự cấm cản ấy chỉ có tác dụng kích thích tính hiếu kì quá mức của cô mà thôi. Một đặc điểm có ích đối với nghề này, nhưng đôi lúc cũng khiến cô rơi vào hoàn cảnh trớ trêu. Diane thoát khỏi dòng suy tưởng và dõi theo vầng trăng đang lẩn trốn sau những đám mây bị xé ra như gạc trắng. Vài giây sau, nó xuất hiện ở một chỗ rách mới của tầng mây, rồi lại biến mất thêm lần nữa. Gần cửa sổ phòng cô, trong khoảnh khắc, dường như một nhánh lãnh sam nặng tuyết vừa phát ánh lân tinh trong dòng sữa trắng từ trên trời đổ xuống, rồi mọi thứ lại trở về với bóng tối.

Cô quay đi khỏi khung cửa sổ hẹp và sâu. Những cây kim màu đỏ trên đồng hồ báo thức của cô phát sáng trong bóng đêm mờ mịt. 12 giờ 25 phút đêm. Khắp nơi đều yên ắng. Cô biết rằng ít nhất phải có một hoặc hai bảo vệ đang thức ở tầng trên, nhưng chắc hắn họ đang nằm ườn trên ghế bành xem tivi ở đầu kia của tòa nhà.

Bên này Viện, vạn vật tĩnh lặng trong giấc ngủ.

Nhưng không phải tất cả mọi người…

Cô đi tới cánh cửa phòng mình. Cô đã tắt đèn từ lâu. Một kẽ hở vài milimet bên dưới cánh cửa khiến luồng khí lạnh buốt quét qua đôi chân trần làm cô run lên. Vì cái lạnh, nhưng cũng vì adrenaline xộc vào các mạch máu. Thứ gì đó đã khơi dậy sự hiếu kì trong cô.

12 giờ rưỡi đêm.

Âm thanh nhẹ đến mức gần như không nghe thấy. Giống như đêm hôm trước. Và những đêm khác nữa.

Một cánh cửa mở ra. Rất chậm. Rồi không còn gì nữa. Có người không muốn bị bắt gặp.

Thinh lặng một lần nữa.

Giống như cô, người đó đang chờ đợi.

Tiếng tách của công tắc đèn, rồi một tia sáng lóe lên bên dưới cánh cửa phòng. Tiếng bước chân trong hành lang. Nhẹ đến mức gần như bị át đi bởi nhịp tim đập của cô. Trong khoảnh khắc, một bóng đen chặn lại ánh sáng lọt qua khe cửa. Cô chần chừ. Đột ngột ra quyết định. Mở cửa. Quá muộn. Cái bóng đã biến mất.

Một lần nữa mọi thứ lại rơi vào thinh lặng, ánh sáng vụt tắt.

Diane ngồi bên mép giường trong bóng tối, run rẩy trong bộ đồ ngủ mùa đông và chiếc áo choàng có mũ. Cô thắc mắc, ai là người có thể đi lại quanh Viện hằng đêm? Và hơn hết, vì mục đích gì cơ chứ? Rõ ràng, việc đó tuyệt đối bí mật, vì người kia vô cùng thận trọng tránh để kẻ khác nghe thấy.

Hôm đầu tiên, Diane tưởng là một hộ lý hay y tá thấy đói và không muốn ai biết mình đi đột kích cái tủ lạnh lúc nửa đêm. Nhưng chứng mất ngủ khiến cô không thể chợp mắt và ánh đèn hành lang chỉ bật sáng trở lại hai giờ sau đó. Đêm sau, vì mệt mỏi, cô đã thiếp đi mất. Nhưng đêm qua, sự việc kia tái diễn. Cơn mất ngủ quay về cùng tiếng cửa mở rất khẽ, ánh sáng ngoài hành lang và cái bóng lén lút lướt về phía cầu thang.

Tuy vậy, do quá mệt, cô đã thiếp đi trước khi người đó trở về.

Cô trốn bên dưới lớp chăn lông vịt và nhìn ra khung cửa sổ hình chữ nhật mờ ảo đang phản chiếu hình ảnh căn phòng nhỏ lạnh lẽo của mình. Cô phải ngủ một chút. Ngày mai là Chủ nhật, cô được nghỉ. Cô sẽ tranh thủ thời gian xem lại các ghi chép của mình, xuống Saint-Martin. Nhưng thứ Hai là ngày quan trọng, bác sĩ Xavier đã nói với cô rằng thứ Hai anh ta sẽ đưa cô đến Khu A…

Cô phải ngủ một chút.

Bốn ngày… Cô đã đến Viện được bốn ngày. Cảm tưởng như chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, các giác quan của cô đều được gọt giũa sắc bén. Liệu cô có thể thay đổi chỉ trong thời gian ngắn như vậy không? Nếu vậy, cô sẽ trở thành người như thế nào sau một năm nữa, khi rời nơi này trở về nhà? Cô tự mắng mình. Phải dừng ngay ý nghĩ đó lại. Cô có hàng tháng trời chờ đợi trước mắt.

Cô vẫn không thể hiểu nổi tại sao họ có thể nhốt tội phạm ở một nơi thế này, chắc chắn là nơi quái gở và dị thường nhất mà cô từng đến.

Nhưng nơi đây sẽ là nhà của mày trong vòng một năm tới, cô gái ạ. Ý nghĩ đó làm cơn buồn ngủ của cô bay biến.

Cô ngồi ở đầu giường và bật đèn bàn. Cô mở máy tính để kiểm tra hòm thư. May sao, Viện có kết nối Internet không dây.

[Bạn không có thư mới.]

Cảm xúc lẫn lộn. Cô có thực sự mong ông sẽ viết thư cho cô không? Sau những gì đã xảy ra? Cô là người quyết định chấm dứt, ngay cả khi nó làm cô suy sụp. Ông đã đồng ý với thái độ khắc kỉ như thường lệ, và cô thấy mình bị tổn thương. Cô chìm vào vực sâu đau khổ đến mức chính cô cũng phải ngạc nhiên.

Cô do dự trong chốc lát rồi gõ lên bàn phím.

Cô biết ông không thể hiểu được sự im lặng của cô. Cô đã hứa sẽ kể tỉ mỉ và sớm viết thư cho ông. Như mọi chuyên gia tâm lý pháp lý khác, Pierre Spitzner luôn khát khao tìm hiểu mọi điều có thể về Viện Wargnier. Khi nghe tin đơn xin việc của Diane được chấp nhận, ông không chỉ coi đó là cơ hội của riêng cô mà còn của cả chính ông để biết thêm về một nơi khởi phát vô số lời đồn đại.

Cô gõ những chữ đầu tiên:

Pierre thân,

Em rất ổn. Nơi này…

Tay cô dừng lại.

Một hình ảnh đột nhiên xuất hiện… Ánh chớp rõ ràng, sắc nét như băng…

Ngôi nhà lớn của Spitzner trông ra hồ, căn phòng tranh tối tranh sáng, tĩnh lặng và trống trải. Pierre và cô trên chiếc giường rộng rãi. Ban đầu, họ chỉ đến để lấy tài liệu mà ông để quên. Vợ ông đang ở sân bay, đợi chuyến bay tới Paris, nơi bà sẽ diễn thuyết trong một buổi tọa đàm với chủ đề ‘Nhân vật và góc nhìn’ (vợ Spitzner là tác giả của mười mấy bộ tiểu thuyết trinh thám phức tạp và đẫm máu với yếu tố tình dục rất mạnh, đã đạt được những thành công nhất định). Pierre nhân dịp này đưa cô đi tham quan ngôi nhà. Khi họ đi qua phòng ngủ của hai vợ chồng, ông đã đẩy cửa và nắm tay Diane kéo vào. Ban đầu, cô cự tuyệt làm tình ở đó, nhưng ông cứ khăng khăng nài nỉ hệt như một đứa trẻ và cuối cùng đã lay động được cô như bao lần vẫn thế. Ông còn thuyết phục Diane mặc đồ lót của vợ ông. Bộ đồ lót được mua ở những cửa hiệu đắt đỏ nhất Geneva… Diane do dự. Nhưng bầu không khí nhuốm hơi hướng tội lỗi và gia vị của trái cấm quá cám dỗ để có thể ngoan đạo được lâu. Cô nhận ra cô mặc cùng cỡ với bà vợ của người tình. Cô nằm dưới ông, mắt nhắm lại, cơ thể bọn họ gắn kết hoàn hảo và hòa hợp, khuôn mặt đỏ gay của Pierre phía trên cô. Bỗng một tiếng nói, tách bạch, sắc lẹm, đay nghiến, vọng vào từ ngưỡng cửa căn phòng:

“Mang con điếm của ông cút khỏi đây.”

Diane đóng máy tính lại. Mọi ham muốn viết lách đã bay biến. Cô quay đầu để tắt đèn. Rùng mình. Cái bóng ở ngay bên dưới cửa phòng cô… bất động… Cô nín thở, không thể nhúc nhích dù chỉ một phân. Sự hiếu kì và tức tối đã chiến thắng. Diane lao vọt ra cửa.

Nhưng cái bóng lại một lần nữa biến mất.

❀ ❀ ❀

[1] : nhà triết học người Đức biện luận rằng các giáo lý đạo Cơ Đốc nhấn mạnh vào thế giới bên kia khiến những con chiên không còn cố gắng trong cuộc sống hiện tại, và những nhà lãnh đạo lý tưởng phải là người dẫn dắt và truyền hứng khởi cho người khác chứ không phải cấm cản họ.

[2] : chủng tộc người ngoài hành tinh xấu xa được giới thiệu trong bộ phim truyền hình Star Trek - The Next Genercition.

[3] : Trong Hindu giáo (Ấn Độ), Kali là nữ thần mang tới sự sống, cái chết và sự hồi sinh. Bà là vợ của thần Shiva tối cao và được coi là một trong những vị thần hiếu chiến nhất trong thần thoại.

[4] : tiểu thuyết ra đời năm 1886 của Robert Louis Stevenson. Câu chuyện phác họa hai nhân cách trong một con người là Jekyll và Hyde, đồng thời đưa ra những khái niệm đầu tiên về hội chứng rối loạn nhân dạng phân ly hay còn gọi là đa nhân cách.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.