Băng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 15

❊ ❊ ❊

15

“Lạy Chúa, đây là một cơn ác mộng,” tay bác sĩ tâm thần nhỏ thó nhìn họ bằng ánh mắt tuyệt vọng. “Người tiền nhiệm của tôi, bác sĩ Wargnier, đã đấu tranh rất nhiều để thành lập nơi đây. Có không ít người phản đối dự án. Và hiện tại họ vẫn chưa buông bỏ, chỉ là đang đợi thời cơ để tiếp tục chống phá. Nhiều người cho rằng, lũ tội phạm này nên ở trong tù. Và có những người chưa bao giờ chấp nhận sự có mặt của họ trong thung lũng. Nếu tin này truyền ra ngoài, sự tồn tại của Viện sẽ bị đe dọa nghiêm trọng.”

Xavier tháo cặp kính đỏ, rút trong túi ra một mảnh vải nhỏ và bắt đầu run rẩy lau hai mắt kính.

“Những người sa chân vào đây đều không còn chỗ nào khác để đi. Nơi đây là chốn trú ẩn sau cuối của họ. Nếu không có chúng tôi, họ sẽ lâm vào đường cùng. Các bệnh viện tâm thần truyền thống hay nhà tù bình thường sẽ không chứa chấp họ. Chỉ có năm cơ sở dành cho bệnh nhân tâm thần ở Pháp, và Viện là cơ sở duy nhất phù hợp với những bệnh nhân này. Mỗi năm chúng tôi tiếp nhận hàng chục yêu cầu nhập viện. Từ những kẻ tội đồ đã bị phán quyết là thành phần phản xã hội, cho đến những phạm nhân bị rối loạn nhân cách nghiêm trọng đến mức không thể giam giữ trong tù, hay những tên tâm thần quá nguy hiểm để có thể trị liệu tại các bệnh viện truyền thống. Ngay cả những viện tâm thần khác cũng gửi yêu cầu tới chúng tôi. Các đối tượng đó sẽ đi đâu nếu chúng tôi đóng cửa?”

Những ngón tay anh ta đang xoáy tròn trên mắt kính nhanh hơn bao giờ hết.

“Như tôi đã nói, phải hơn ba mươi năm trở lại đây, lấy danh nghĩa đáp ứng các giá trị tư tưởng, khả năng sinh lời, và ưu tiên ngân sách, hệ thống chăm sóc tâm thần ở đất nước này đã bị tàn phá. Viện Wargnier ngốn của chính phủ một khoản lớn. Tất nhiên, không giống các cơ sở điều trị tâm thần bình thường khác, nơi đây là một phần của thực nghiệm ở cấp độ châu lục, được Liên minh châu Âu tài trợ một phần. Nhưng chỉ một phần thôi. Ở Brussels có khá nhiều người bi quan về thực nghiệm này.”

“Chúng tôi không có ý định để lộ thông tin ra ngoài,” Servaz nói.

Xavier nhìn anh, vẻ nghi ngờ. “Sớm muộn gì tin đồn cũng sẽ lọt ra thôi. Làm sao các vị có thể tiến hành điều tra trong bí mật tuyệt đối được?”

Servaz biết rằng anh ta nói đúng.

“Chỉ có một giải pháp,” Confiant nói. “Chúng ta phải giải quyết triệt để càng sớm càng tốt nếu muốn đảm bảo truyền thông không nắm được thông tin và bắt đầu điên cuồng truyền bá chúng. Nếu tìm ra được kẻ nào trong số nhân viên của anh dính líu tới việc này trước khi thông tin về DNA tới tai giới truyền thông, chí ít chúng ta có thể chứng minh rằng chưa có bệnh nhân nào đủ khả năng trốn thoát khỏi đây.”

Xavier gật đầu đồng ý.

“Tôi cũng sẽ tự tiến hành điều tra,” anh ta nói. “Và tôi sẽ cố gắng hết sức để giúp đỡ các anh.”

“Vậy chúng tôi có thể xem qua Khu A được không?” Servaz nói.

Xavier đứng bật dậy. “Tôi sẽ đưa các anh đến đó.”

Diane đang ngồi trước bàn làm việc của mình. Bất động. Nín thở.

Cô nghe được từng tiếng động, từng lời nói, rõ ràng như thể họ đang trò chuyện trong chính văn phòng của cô vậy. Ví dụ như giọng nói của người cảnh sát, vừa mệt mỏi, vừa trĩu nặng áp lực. Anh ta đang đối phó với vụ việc này, liệu chuyện ấy còn kéo dài bao lâu nữa? Từng lời anh ta nói đã khắc sâu vào tâm trí Diane. Cô không theo dõi vụ việc về con ngựa chết, nhưng hoàn toàn hiểu được rằng họ đã tìm thấy DNA của Hirtmann ở hiện trường vụ án. Và cảnh sát nghi ngờ ai đó trong Viện dính líu tới việc này.

Một con ngựa chết… Một dược sĩ bị giết… Viện bị tình nghi…

Cô thấy sợ, nhưng đồng thời, lòng hiếu kì khó kiềm chế cũng đang dần dần hình thành. Kí ức về cái bóng lướt qua cửa phòng cô hồi đêm quay trở lại. Thời sinh viên, Diane từng tình cờ nghe trộm được một gã đàn ông dọa dẫm, đe nẹt cô gái ở phòng kế bên. Gã đến liên tục vài đêm liền, ngay khi Diane chuẩn bị chìm vào giấc ngủ. Lần nào cô cũng nghe thấy cùng một lời đe dọa, cùng một tông giọng khe khẽ, gầm gừ, rằng gã sẽ giết cô gái kia, cắt xẻo cô ta, biến cuộc đời cô ta thành địa ngục, rồi cánh cửa đóng sầm lại và tiếng bước chân nhỏ dần trên hành lang. Tất cả những gì còn lại là tiếng thổn thức nghẹn ngào của cô gái phòng bên, như tiếng vọng buồn của hàng nghìn nỗi cô đơn, hàng nghìn mối sầu đau khác đang bị khóa chặt trong sự im lặng của thành phố.

Cô không biết người đàn ông đó là ai, cô không nhận ra giọng gã, cũng như không thực sự quen biết cô gái phòng bên. Thỉnh thoảng gặp nhau ở hành lang, họ chỉ buông mấy lời chào, chúc ngủ ngon hay tán gẫu xã giao. Diane được biết tên cô gái là Ottilie, cô ta đang học thạc sĩ ngành kinh tế. Người ta từng bắt gặp cô đi cùng một sinh viên râu ria, đeo kính, nhưng hầu hết thời gian đều ở một mình. Không bạn bè, không điện thoại của bố mẹ.

Lẽ ra, Diane không nên can dự vào chuyện ấy, vì đó chẳng phải việc của cô. Nhưng một đêm, cô đã không thể kìm lòng được, bèn lén lút đi theo người đàn ông nọ, khi gã rời khỏi phòng cô gái. Cô phát hiện ra gã sống trong một ngôi nhà nhỏ bé xinh đẹp. Qua khung cửa sổ lớn, cô thấy một người phụ nữ. Đúng ra có thể dừng ở đây, nhưng cô lại quyết định theo dõi gã mỗi khi rỗi rãi. Gã làm quản lý siêu thị, có hai đứa con, một 5 tuổi, một 7 tuổi. Gã chơi cá độ ngựa và lén lút mua hàng tại Globus, chuỗi cửa hàng cạnh tranh với siêu thị gã làm quản lý. Diane phát hiện ra gã quen biết cô gái phòng bên vào thời điểm cô ta đi làm thêm ở siêu thị để trả tiền học. Gã khiến cô ta mang thai, rồi dọa dẫm, đe nẹt, bắt cô ta nạo bỏ. Chưa hết, gã còn có một tình nhân khác, cô nhân viên thu ngân trang điểm lòe loẹt, thường chóp chép nhai kẹo cao su và săm soi từ đầu xuống chân khách hàng. “Tôi phải lòng nữ hoàng của siêu thị,” như Bruce Springsteen đã hát. Một buổi tối, Diane soạn thư nặc danh bằng máy tính và nhét nó dưới khe cửa phòng bên. Nội dung thư vỏn vẹn là: Anh ta sẽ không bao giờ bỏ vợ. Một tháng sau, cô phát hiện ra người hàng xóm của mình đã nạo thai ở tuần thứ mười hai, chỉ vài ngày trước thời hạn phá thai hợp pháp ở Thụy Sĩ.

Giờ đây, Diane lại tự hỏi, phải chăng ước muốn được can thiệp vào cuộc sống người khác của mình là do cô đã lớn lên trong một gia đình nơi sự im lặng, bí mật, và những điều không được phép nói ra lại trở nên quá đỗi bình thường, xuất hiện nhiều hơn cả những khoảnh khắc yêu thương chia sẻ. Cô cũng tự hỏi người bố theo chủ nghĩa Calvin khắc kỉ của cô có bao giờ phản bội mẹ cô không. Còn cô dám chắc về điều ngược lại, rằng trong số những người đàn ông lén lút ghé thăm mẹ cô, một số đã lợi dụng trí tưởng tượng thái quá của bà, tâng bốc những niềm hy vọng vĩnh viễn không thể thỏa mãn của bà.

Diane vật vã không yên trên ghế. Chuyện gì đang xảy ra ở đây? Cô cảm thấy càng lúc càng không thoải mái khi cố gắng chắp nối vài yếu tố mình nắm được. Tồi tệ nhất là vụ việc ở Saint-Martin. Một tội ác kinh khủng. Nhưng nghĩ đến chuyện rất có thể vụ việc đó dính dáng tới Viện, cảm giác bất an của cô kể từ khi đến đây lại tăng lên thấy rõ. Cô thấy tiếc vì không có ai để giãi bày, chia sẻ những hoài nghi của mình. Bạn thân của cô. Hoặc Pierre.

Rồi cả người cảnh sát đó. Cô không biết gì về anh ta, trừ những biến âm và chất giọng khi anh ta nói. Và một điều gần như chắc chắn, anh ta đang chịu áp lực. Có căng thẳng, lo lắng. Nhưng đồng thời có cả sức mạnh, quyết tâm. Và sự hiếu kì nữa. Một người lý trí và tự tin, cô thấy chính mình trong hình ảnh anh cảnh sát.

“Cho phép tôi giới thiệu Élisabeth Ferney, y tá trưởng của chúng tôi.”

Servaz thấy một phụ nữ cao ráo đang tiến lại phía họ. Gót giày của cô ta đập lộp cộp trên nền gạch lát. Cô ta thả tóc xõa trên vai, dẫu không dài như tóc của Charlène Espérandieu. Cô ta chào họ bằng một cái gật đầu, không nói cũng không cười, và ánh mắt nấn ná lâu hơn mức cần thiết trên người Irène Ziegler. Servaz thấy cô sen đầm trẻ cụp mắt xuống.

Có một vẻ sống sượng, độc đoán ở Élisabeth Ferney. Servaz nghĩ cô ta ở độ tuổi bốn mươi, mà cũng có thể mới ba lăm hay đã gần năm mươi. Chiếc áo blu lùng thùng và thái độ cay nghiệt khiến anh khó xác định được tuổi tác. Anh nghĩ cô ta là người cực kì mạnh mẽ, với một ý chí thép. Và nếu hung thủ thứ hai là một phụ nữ thì sao? Bỗng dưng anh tự hỏi. Rồi anh giật mình nhận ra mình mới quẫn trí làm sao. Nếu mọi người đều trở nên đáng nghi, điều đó có nghĩa không ai là nghi phạm cả. Họ không có manh mối nào thỏa đáng.

“Lisa là linh hồn của Viện Wargnier,” Xavier nói. “Cô ấy biết rõ nơi này hơn ai hết, và không có một phương pháp trị liệu hay khía cạnh thực tiễn nào mà cô ấy không quen thuộc. Cô ấy cũng hiểu rõ từng người một trong số tám mươi tám bệnh nhân. Ngay cả các bác sĩ tâm thần cũng phải báo cáo công việc của mình cho Lisa xem xét.”

Gương mặt y tá trưởng vẫn lạnh tanh. Cô ta di chuyển về phía Xavier, và anh ta ngay lập tức ngừng lời để lắng nghe. Cô ta thì thầm gì đó vào tai viên bác sĩ. Servaz tự hỏi liệu có phải người mình vừa được giới thiệu mới thực sự đứng đầu cơ sở này. Xavier trả lời cô ta theo phong thái vốn có, trong khi những người khác im lặng chờ đợi cuộc hội đàm riêng tư của họ kết thúc. Cuối cùng cô ta ưng thuận, gật đầu đáp lễ với các vị khách và rời đi.

“Tiếp tục thôi,” bác sĩ tâm thần nói tiếp.

Khi họ tiến về hướng đối diện, Servaz dừng bước và ngoái lại quan sát Lisa Ferney. Áo blu của cô ta căng chặt trên bờ vai rộng, gót giày cao nện lên gạch lát sàn. Tới cuối hành lang, trước khi biến mất sau góc ngoặt, cô ta cũng ngoái lại và ánh mắt họ gặp nhau. Servaz nghĩ cô ta thoáng mỉm cười.

Xavier nói, “Điều quan trọng là phải tránh mọi thái độ có thể gây ra xung đột.”

Họ đang đứng bên ngoài cánh cửa an ninh cuối cùng dẫn vào Khu A. Không còn lớp sơn bóng loáng trên những bức tường. Chỉ có đá trần, ánh đèn nê ông nhợt nhạt, sàn nhà bê tông, tạo cảm giác như một pháo đài Trung cổ nếu không có những cánh cửa bọc thép.

Xavier ngẩng đầu về phía chiếc camera bên trên cánh cửa. Một chiếc đèn điện tử hai cực chuyển từ đỏ sang xanh và những then khóa kêu đánh tách bên trong lớp sắt dày. Anh ta kéo mở cánh cửa nặng trĩu và dẫn họ vào một khoảng hẹp giữa hai cánh cửa bọc thép. Họ đợi cánh cửa đầu tiên chậm rãi tự đóng và khóa lại với một tiếng cách. Tới lượt những then khóa của cánh cửa thép thứ hai bật mở, cũng tạo ra từng ấy âm thanh. Giống như bên trong khoang động cơ của một con tàu, mọi thứ chìm trong tối tăm. Nguồn sáng duy nhất đến từ những lỗ cửa sổ hai bên thành tàu. Mùi của kim loại. Xavier trang nghiêm nhìn lần lượt từng người họ. Servaz ngờ rằng đây là mánh cũ anh ta bày ra mỗi khi có vị khách nào đó đi qua cánh cửa này.

“Chào mừng tới địa ngục,” anh ta tuyên bố cùng một nụ cười.

Một phòng kính. Bên trong có một bảo vệ. Một hành lang ở bên tay trái. Servaz di chuyển về phía trước và nhìn thấy một tiền sảnh màu trắng, những tấm thảm lông cừu màu xanh dương dày dặn, một dãy cửa ra vào cùng những ô cửa sổ nhỏ ở phía bên trái và đèn tường phía bên phải.

Người bảo vệ đặt tờ tạp chí đang đọc xuống và ra khỏi phòng kính. Xavier khách sáo bắt tay anh ta. Trông anh ta như một gã khổng lồ, phải cao hơn 1m90.

“Cho phép tôi được giới thiệu Ngài Atlas[1],” Xavier nói. “Những người ở Khu A đã đặt biệt hiệu này cho anh ấy.”

Ngài Atlas cười lớn. Anh ta bắt tay họ. Một cái bắt tay nhẹ như lông hồng, như thể anh ta sợ sẽ làm gãy xương họ.

“Sáng nay bọn họ thế nào?”

“Bình tĩnh,” Ngài Atlas nói. “Sẽ là một ngày tốt lành.”

“Có thể là không,” Xavier nhìn những vị khách.

“Cốt yếu là đừng kích động họ,” Ngài Atlas giải thích, nhắc lại những gì tay bác sĩ tâm thần đã nói. “Giữ khoảng cách. Có một giới hạn các vị phải tôn trọng. Nếu các vị vượt quá giới hạn, họ có thể cảm thấy bị tấn công và sẽ phản ứng theo hướng tiêu cực.”

“Tôi e rằng các vị ấy đến đây hôm nay để vượt quá giới hạn,” Xavier nói. “Bọn họ là cảnh sát.”

Biểu cảm của Ngài Atlas đanh lại. Anh ta nhún vai và trở lại phòng kính.

“Mời qua đây,” Xavier nói.

Họ đi vào một hành lang, tiếng bước chân bị tấm thảm xanh dày hút lấy. Xavier chỉ vào cánh cửa thứ nhất.

“Andreas, người Đức. Hắn đã giết bố và mẹ trong lúc họ đang ngủ bằng hai phát đạn súng trường. Vì sợ phải sống một mình, hắn chặt đầu họ và tống vào tủ lạnh. Mỗi đêm hắn lại bỏ đầu họ ra để có người xem tivi cùng. Hắn đặt đầu họ lên những người rơm cụt đầu và cho ngồi cùng trên xô pha phòng khách.”

Servaz chăm chú lắng nghe, rùng mình hình dung ra cảnh tượng đó. Anh thoáng nghĩ đến cái đầu Tự Do tìm thấy đằng sau trường luyện ngựa.

“Một hôm, viên bác sĩ của gia đình tới nhà để xem bố mẹ hắn ra sao, do ngạc nhiên là đã lâu họ không đến khám. Andreas đã dùng búa đánh ông ta đến chết, và lại chặt đầu. Hắn nói như vậy không phải rất tuyệt sao, giờ bố mẹ hắn đã có người bầu bạn, viên bác sĩ là một người tốt và giỏi khoản tâm tình. Trong lúc đó cảnh sát bắt đầu xem xét vụ mất tích của viên bác sĩ. Khi họ đến thẩm vấn Andreas và bố mẹ hắn, vì họ là những người có trong danh sách bệnh nhân của ông ta, Andreas để họ vào nhà và nói: ‘Họ ở đây.’ Và thực sự, họ ở đó. Ba cái đầu nằm trong tủ lạnh, đợi đến tối mới được lấy ra.”

“Hấp dẫn thật,” Confiant nói.

Xavier tiếp tục, “Vấn đề là, tại bệnh viện tâm thần nơi hắn bị giam giữ, Andreas đã cố chặt đầu một trong những y tá trực đêm. Người phụ nữ khốn khổ ấy không chết, nhưng cô ta không còn nói năng được trừ phi có máy móc hỗ trợ, chưa kể cả cuộc đời sẽ phải quàng khăn và mặc áo cổ lọ để che đi vết sẹo khủng khiếp mà con dao rọc giấy của Andreas để lại.”

Bắt gặp ánh mắt của Ziegler, anh thấy cô đang có cùng suy nghĩ với mình. Đây rõ ràng là người có xu hướng thích chặt đầu. Và buồng giam của hắn không xa chỗ Hirtmann. Servaz nhìn qua khung cửa sổ nhỏ. Andreas là một gã khổng lồ phải nặng gần 150 cân, với vòng bụng hơn 100 phân và cỡ giày tầm 46 hoặc 47, cái đầu to tướng kẹt giữa hai bả vai như thể không có cổ. Mặt hắn sưng sỉa đáng sợ.

Xavier chỉ vào cánh cửa thứ hai ở phía trước một chút.

“Bác sĩ Jaime Esteban đến với chúng tôi từ Tây Ban Nha. Hắn đã giết ba cặp đôi trong hai mùa hè, ở bên kia biên giới, trong vườn quốc gia Aiguestortes và Ordesay Monte Perdido. Trước đó, hắn là một công dân gương mẫu, một người độc thân nhưng cực kì tôn trọng những phụ nữ tìm đến mình để phẫu thuật. Ở địa phương, hắn là một cố vấn pháp luật và luôn nói lời tử tế với mọi người.”

Anh ta đi tới một ô cửa sổ nhỏ rồi bước sang bên cạnh và ra hiệu cho những người khác lại gần.

“Chúng tôi vẫn không biết tại sao hắn làm thế. Hắn nhằm vào những người leo núi riêng lẻ. Luôn là những cặp đôi, luôn là người trẻ. Đầu tiên, hắn sẽ dùng gậy hoặc đá đập vỡ sọ người nam, cưỡng hiếp và bóp cổ người nữ trước khi ném thi thể bọn họ xuống khe núi. Ồ, và hắn uống máu bọn họ. Giờ hắn nghĩ mình là ma cà rồng. Trong bệnh viện nơi hắn bị giam giữ ở Tây Ban Nha, hắn đã từng cắn cổ hai y tá nam.”

Servaz đi tới cửa sổ. Anh thấy một người đàn ông gầy gò với bộ râu đen được cắt tỉa gọn ghẽ đang ngồi trên giường, mặc bộ áo liền quần ngắn tay màu trắng, tóc chải sáp bóng mượt. Phía trên chiếc giường là một cái tivi đang bật.

“Và giờ, bệnh nhân nổi tiếng nhất của chúng ta,” Xavier tuyên bố, như một nhà sưu tập giới thiệu tác phẩm quý giá nhất của mình.

Anh ta gõ mật mã lên cái hộp an ninh cạnh cửa.

“Chào buổi sáng, Julian,” Xavier nói khi bước vào.

Không có tiếng trả lời. Servaz bước theo anh ta.

Anh ngạc nhiên trước kích cỡ của căn phòng. Nó có vẻ rộng hơn nhiều so với những phòng giam trước. Còn lại những bức tường và sàn trắng cũng tương tự như vậy. Ở cuối phòng là một cái giường, sát tường đặt chiếc bàn nhỏ cùng hai cái ghế. Hai cánh cửa bên trái trông như thể dẫn tới một phòng tắm hay một cái tủ tường. Khung cửa sổ trông ra dãy núi và đỉnh của một cây lãnh sam đọng tuyết.

Servaz còn ngạc nhiên trước sự sơ sài của căn phòng. Anh thắc mắc đây có phải là chủ ý áp dụng riêng cho tên tù nhân người Thụy Sĩ này không. Căn cứ vào hồ sơ của hắn, Hirtmann là một người đàn ông ham hiểu biết, thông minh, quảng giao. Một độc giả ưu tú đã hấp thu đủ tinh hoa văn hóa khi còn sống cuộc đời tự do và cũng là kẻ sát nhân bí mật. Ở đây không có gì ngoại trừ một bộ đầu đĩa CD trên bàn. Tuy nhiên, khác với các phòng giam trước, đồ đạc không được bọc nhựa hay gắn chặt trên sàn. Như thể họ không coi Hirtmann là mối nguy hiểm với chính bản thân hắn hay với những người khác.

Servaz rùng mình nhận ra giai điệu phát ra từ đầu đĩa CD. Bản giao hưởng số 4 của Gustav Mahler.

Hirtmann nhìn xuống tờ báo đang đọc. Servaz hơi ngả người tới trước. Anh nhận ra gã đàn ông Thụy Sĩ đã gầy đi so với bức ảnh lưu trong hồ sơ. Da hắn trắng hơn, gần như trong suốt, tương phản với mái tóc cứng sậm màu được cắt ngắn, lưa thưa vài sợi bạc. Mớ râu đen lâu ngày không cạo đã mọc lún phún, che hết cằm, nhưng vẫn toát lên phong thái gia giáo và lịch thiệp, dù hắn có thể mặc quần áo của một gã lang thang và sống chui rúc dưới một cây cầu ở Paris. Gương mặt hắn toát lên vẻ nghiêm khắc và đôi lông mày nhíu chặt có lẽ đã từng khiến người khác nể sợ ở tòa án. Hắn mặc bộ áo liền quần phanh cổ và chiếc áo thun trắng đã ngả xám vì giặt nhiều lần. Hắn cũng già đi một chút, so với trong ảnh.

“Cho phép tôi giới thiệu sĩ quan chỉ huy Servaz, thẩm phán Confiant, đại úy Ziegler và giáo sư Propp,” Xavier nói.

Trong ánh sáng rọi lại từ ô cửa sổ phía sau, gã đàn ông Thụy Sĩ nhìn lên và lần đầu tiên, Servaz thấy được đôi mắt hắn sáng tới mức nào. Chúng không phản chiếu thế giới bên ngoài, mà đang bùng cháy một ngọn lửa nội tâm. Hiệu ứng đó chỉ kéo dài một giây rồi tan biến và gã đàn ông Thụy Sĩ một lần nữa lại trở thành vị công tố viên trước đây ở Geneva, tao nhã, lịch sự và tươi cười.

Hắn đẩy ghế ra sau và duỗi khung xương dài đuột của mình. Trông hắn còn cao hơn trong ảnh. Servaz áng chừng cũng phải gần 1m90.

“Xin chào,” hắn nói.

Hắn nhìn vào Servaz. Trong khoảnh khắc, hai người đàn ông quan sát nhau trong im lặng. Rồi Hirtmann có một cử chỉ kì lạ. Hắn đột ngột chìa tay về phía Servaz khiến anh gần như nhảy dựng. Hắn bắt lấy bàn tay viên cảnh sát và lắc mạnh. Servaz rùng mình. Tay Hirtmann lạnh và ươn ướt, như thớ thịt cá, có lẽ do ảnh hưởng của thuốc.

“Mahler,” viên cảnh sát nói, tỏ vẻ điềm tĩnh.

Hirtmann kinh ngạc ra mặt, “Anh cũng thích Mahler?”

“Phải. Bản số 4, chương đầu tiên,” Servaz nói.

“Bedachtig… Nicht eilen… Recht gemachlich…”

“Từ từ, không vội vàng. Thong dong vừa phải,” Servaz dịch lại.

Hirtmann vẫn ngạc nhiên, nhưng đã thêm vui mừng, “Adorno đã so sánh phần này với cụm từ ‘ngày xửa ngày xưa’ của một câu chuyện cổ tích.”

Servaz rơi vào thinh lặng, lắng nghe bản nhạc.

“Mahler đã sáng tác nó trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn,” Hirtmann tiếp tục. “Anh có biết không?”

Chắc chắn là tôi biết.

“Có,” Servaz trả lời.

“Ông ấy đi nghỉ dưỡng. Một kì nghỉ ác mộng, thời tiết tồi tệ…”

“Liên tục bị quấy nhiễu bởi tiếng kèn đồng của ban nhạc trong làng.”

Hirtmann cười, “Quả là một hình ảnh đầy tượng trưng, không phải sao? Một thiên tài âm nhạc bị một ban nhạc kèn đồng trong làng làm phiền.”

Giọng hắn sâu lắng và kiên định. Rất êm tai. Giọng nói của một diễn viên, một nhà hùng biện. Có một nét nữ tính trên gương mặt hắn, đặc biệt là khuôn miệng rộng và mỏng, cả đôi mắt nữa. Nhưng ngược lại, hắn sở hữu cái mũi to dày và một vầng trán cao.

Xavier đi tới chỗ cửa sổ và nói tiếp, “Như anh thấy đấy không thể trốn khỏi đây, trừ khi anh là Superman. Cửa số gắn khung thép cách mặt đất 14 mét.”

“Ai biết mật mã mở khóa cửa?” Ziegler hỏi.

“Ừm, tôi, Élisabeth Ferney, và người bảo vệ khu A.”

“Có nhiều người đến thăm anh ta không?”

“Julian?” Xavier quay sang tên tù nhân người Thụy Sĩ.

“Vâng?”

“Anh có nhiều người viếng thăm không?”

Hirtmann cười. “Có anh, thưa bác sĩ, và quý cô Ferney, Ngài Atlas, gã thợ cắt tóc, giáo sĩ, đội trị liệu, bác sĩ Lepage…”

“Ông ta là bác sĩ chỉ đạo chuyên môn,” Xavier giải thích.

“Anh ta có bao giờ rời khỏi phòng không?”

“Cứ sáu tháng một lần anh ta lại rời khỏi phòng. Để chữa sâu răng. Chúng tôi nhờ cậy một nha sĩ ở Saint-Martin lên đây vì đã có đầy đủ trang thiết bị cần thiết để khám chữa tại chỗ.”

“Còn hai cánh cửa kia?” Ziegler hỏi.

Xavier mở chúng ra. Một tủ quần áo với vài chồng đồ lót cùng một dãy mắc treo áo liền quần màu trắng. Một phòng tắm nhỏ không có cửa sổ.

Servaz kín đáo quan sát Hirtmann. Ở hắn toát ra sức lôi cuốn không thể phủ nhận. Anh chưa từng gặp ai ít giống một tên giết người hàng loạt đến thế. Hirtmann vẫn hệt như người đàn ông trong quá khứ khi còn tự do. Một công tố viên không nhượng bộ, một người đàn ông có phong thái lịch thiệp, biết tận hưởng cuộc sống, có thể thấy điều đó ở đôi môi và cái cằm của hắn. Thứ duy nhất có vẻ không mấy phù hợp là ánh mắt hắn. Tối. Chòng chọc. Đôi tròng đen láy phát ra thứ ánh sáng tinh nhạy, mi mắt nhỏ nhưng không hấp háy. Ánh nhìn như một khẩu súng phóng điện. Servaz đã từng gặp những tên tội phạm có ánh mắt như vậy. Nhưng anh chưa bao giờ có cảm giác này, cảm giác mình đang đứng trước một nhân cách vừa sáng chói lại vừa mơ hồ. Nếu là ngày xưa, có lẽ một người như Hirtmann đã bị hỏa thiêu vì tội dùng yêu thuật. Còn ngày nay, hắn được đem ra nghiên cứu, người ta tìm cách để hiểu hắn. Nhưng Servaz đủ kinh nghiệm để biết cái ác không cách nào đong đếm được, hay có thể quy về một nguyên lý khoa học, một học thuyết tâm lý, hay một nguyên nhân sinh học. Những người tự nhận mình có tư tưởng cách tân cho rằng cái ác không tồn tại, họ coi đó là một dạng mê tín dị đoan, một niềm tin cảm tính dành cho những tinh thần yếu đuối. Nhưng đó chỉ đơn giản bởi họ chưa bao giờ bị hành hạ đến chết trong ngục, chưa bao giờ xem các đoạn phim trên Internet về những đứa trẻ bị cưỡng hiếp, chưa bao giờ bị bắt cóc, chưa bị đánh đập, bị ép phải dùng ma túy, hay cùng lúc bị hàng chục người đàn ông cưỡng hiếp trong hàng tuần liền trước khi được thả, lang thang trên vỉa hè của những thành phố lớn tại châu Âu, hay bị tẩy não thành những kẻ tự làm mình phát nổ giữa đám đông. Và họ chưa bao giờ nghe tiếng mẹ mình la hét ở bên kia cánh cửa, khi mới 10 tuổi…

Servaz cố thoát khỏi dòng suy tưởng. Tóc gáy anh dựng ngược khi nhận ra Hirtmann đang quan sát mình.

“Anh có thích chỗ này không?” Propp hỏi.

“Tôi nghĩ là có. Người ta đối xử tốt với tôi.”

“Nhưng theo lẽ tự nhiên, anh sẽ muốn ở ngoài hơn chứ?”

Rõ ràng nụ cười của Hirtmann có ý mỉa mai.

“Đó là một câu hỏi lạ lùng,” hắn trả lời.

“Phải, rất lạ lùng,” Propp đồng ý. “Anh không phiền nếu chúng ta nói một chút về việc đó chứ?”

“Tôi không phản đối,” Hirtmann lặng lẽ trả lời, mắt nhìn ra cửa sổ.

“Anh làm những gì trong ngày?”

“Còn anh?” Hắn nháy mắt khi quay đầu lại.

“Anh vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi.”

“Tôi đọc báo, nghe nhạc, tán gẫu với các cán bộ, tôi nhìn phong cảnh, tôi ngủ, tôi mơ…”

“Anh mơ về cái gì?”

“Người ta hay mơ về cái gì?” Gã tù nhân Thụy Sĩ nhắc lại, như thể đó là một câu hỏi triết học.

Trong hơn mười lăm phút, Servaz lắng nghe Propp dồn dập đặt câu hỏi cho Hirtmann. Hắn trả lời hoàn toàn bộc phát, thản nhiên và luôn mỉm cười. Cuối cùng, Propp cảm ơn hắn và Hirtmann nghiêng đầu như muốn nói, “Không có gì.” Đến lượt Confiant. Hiển nhiên, cậu ta đã chuẩn bị trước câu hỏi. Vị thẩm phán trẻ đã làm bài tập về nhà, Servaz nghĩ, nhưng anh thích những phương pháp tự nhiên hơn. Anh gần như không nghe cuộc đối thoại tiếp theo đó.

“Anh đã biết chuyện xảy ra bên ngoài chưa?”

“Tôi có đọc trên báo.”

“Và anh nghĩ sao?”

“Ý cậu là gì?”

“Anh có nghĩ được người nào có thể gây ra một việc như thế không?”

“Cậu đang ám chỉ… rằng đó có thể là một người như tôi?”

“Đó có phải là những gì anh nghĩ không?”

“Không, đó là những gì cậu nghĩ.”

“Thế anh nghĩ sao về việc đó?”

“Tôi không biết. Tôi chẳng nghĩ gì cả. Có thể là ai đó ở đây…”

“Điều gì khiến anh nói như vậy?”

“Có hàng tá người làm được việc tương tự, không phải sao?”

“Những người như anh?”

“Những người như tôi.”

“Và anh nghĩ rằng ai đó đã ra khỏi đây và gây án?”

“Tôi không biết. Cậu nghĩ sao?”

“Anh có biết Éric Lombard không?”

“Anh ta là chủ của con ngựa bị giết.”

“Và Grimm, ông dược sĩ?”

“Tôi hiểu.”

“Anh hiểu cái gì?”

“Các cậu tìm thấy ở hiện trường thứ gì đó liên quan đến tôi.”

“Điều gì khiến anh nói như vậy?”

“Là gì nhỉ? Một thông điệp kiểu như ‘Tôi là người đã giết ông ta’, kí tên Julian Alois Hirtmann chăng?”

“Theo anh thì tại sao lại có kẻ muốn đổ tội cho anh?”

“Điều đó là hiển nhiên, không phải sao?”

“Anh vui lòng giải thích thêm được không?”

“Bất cứ người bệnh nào trong cơ sở này đều là thủ phạm lý tưởng.”

“Anh có nghĩ thế không?”

“Sao cậu không nói thẳng từ đó ra?”

“Từ gì?”

“Từ mà cậu đang nghĩ ấy.”

“Từ gì?”

“Điên.”

Confiant im lặng.

“Loạn óc.”

Confiant im lặng.

“Khùng. Rồ dại. Thần kinh. Mất trí. Cuồng loạn. Tâm thần…”

“Được rồi, tôi nghĩ thế là đủ,” bác sĩ Xavier xen ngang. “Nếu các vị không còn câu hỏi nào khác, vui lòng để bệnh nhân của tôi được yên tĩnh một mình.”

“Xin đợi một lát.”

Họ quay lại. Hirtmann không cao giọng, nhưng âm điệu đã thay đổi. “Tôi cũng có điều muốn nói với các vị.”

Họ lần lượt nhìn nhau và quan sát hắn với vẻ thắc mắc. Hắn không cười nữa. Gương mặt nghiêm lại.

“Các vị tới đây để thẩm tra tôi ở đủ mọi góc độ. Các vị nghi ngờ rằng tôi có liên quan tới chuyện đang xảy ra ngoài kia, dĩ nhiên, điều đó thật ngớ ngẩn. Các vị cảm thấy thuần khiết, lương thiện, trong sạch, tâm hồn không vướng chút tội lỗi, bởi các vị đang ở trước mặt một con quái vật. Điều đó, cũng thật ngớ ngẩn.”

Servaz và Ziegler thấy được vẻ kinh ngạc trong ánh mắt nhau. Xavier bối rối. Chỉ còn Confiant và Propp vẫn điềm nhiên đợi hắn nói tiếp.

“Các vị tưởng tội ác của tôi khiến cái ác trong thâm tâm các vị bớt đáng trách hơn sao? Khiến sự đồi bại và những hành vi đê tiện của các vị bớt ghê tởm hơn sao? Các vị tưởng bọn sát nhân, hiếp dâm và tội phạm nói chung đứng ở một đầu, còn các vị ở đầu bên kia ư? Không đâu, các vị phải hiểu: chẳng có tấm màng chống thấm nào ngăn được tội ác chảy tràn khắp chốn. Nhân tính chỉ có một loại thôi. Khi các vị dối vợ gạt con, khi các vị giao bố mẹ già cho viện dưỡng lão để được rảnh tay, khi các vị giàu có trên mồ hôi nước mắt của kẻ khác, khi các vị không cho những người ăn xin dù chỉ một đồng, khi các vị làm khổ bao người vì sự ích kỉ và thờ ơ của bản thân, thì các vị cũng không hơn gì tôi đâu. Về cơ bản, các vị giống đám bệnh nhân chúng tôi hơn các vị tưởng đấy. Đây là vấn đề mức độ, không phải bản chất. Bởi vì bản chất của chúng ta giống nhau, chính là bản chất mà cả nhân loại đang có.”

Hắn nghiêng người qua một bên và rút dưới gối ra một cuốn sách lớn. Một cuốn Kinh Thánh.

“Giáo sĩ đã đưa nó cho tôi. Ông ta nghĩ rằng nó sẽ cứu rỗi tôi.”

Hắn bật ra một tiếng cười cụt lủn và chói tai. “Ngớ ngẩn! Tôi chẳng có gì cần cứu rỗi cả. Thứ duy nhất cứu rỗi được chúng ta là một cuộc tàn sát bằng bom nguyên tử.”

Giọng hắn giờ đây mạnh mẽ và đầy thuyết phục. Servaz dễ dàng hình dung được hiệu ứng mà nó từng tạo ra tại tòa án. Biểu cảm gay gắt của hắn đòi nhận về sự ăn năn, phục tùng của người khác. Bỗng dưng bọn họ trở thành tội đồ, còn hắn là tông đồ. Bọn họ hoàn toàn mất phương hướng. Ngay cả Xavier cũng có vẻ ngạc nhiên.

“Tôi muốn nói vài lời riêng tư với sĩ quan chỉ huy,” Hirtmann đột nhiên lên tiếng, giọng dịu lại.

Xavier quay sang Servaz, anh nhún vai. Anh ta nhíu mày, vẻ không thoải mái.

“Sĩ quan?” Anh ta hỏi.

Servaz gật đầu.

“Được thôi,” Xavier quay về phía cửa.

Propp cũng nhún vai, rõ ràng rất bực dọc vì Hirtmann không đề nghị thảo luận với mình, Confiant cũng tỏ vẻ phản đối. Nhưng bọn họ đều theo tay bác sĩ tâm thần lần lượt ra ngoài. Ziegler là người cuối cùng đi ra, ném một ánh nhìn lạnh lẽo về phía Hirtmann.

“Một cô gái đẹp,” Hirtmann nói khi cô đóng cánh cửa sau lưng lại.

Servaz vẫn giữ im lặng. Anh lo lắng nhìn xung quanh.

“Tôi chẳng có gì để mời anh, trà hay cà phê. Tôi không có những thứ đó ở đây. Nhưng hãy nhận tấm lòng của tôi.”

Servaz những muốn bảo hắn đừng diễn nữa và đi thẳng vào vấn đề, nhưng anh kìm lại được.

“Bản giao hưởng yêu thích của anh là bản nào?”

“Tôi không thích bản nào hơn bản nào,” Servaz xẵng giọng trả lời.

“Ai cũng thích một số thứ hơn những thứ khác.”

“Vậy thì là bản số 4, số 5, và 6.”

“Bản phối của ai?”

“Bernstein, dĩ nhiên. Kế đó, Inbal rất xuất sắc. Và Haitink cho bản số 4, Wien cho bản số 6… Nghe này…”

“Ừm… Lựa chọn hay lắm. Nhưng cũng chẳng có ý nghĩa gì ở đây,” Hirtmann nói thêm, chỉ vào chiếc loa rẻ tiền.

Servaz không thể phủ nhận âm thanh từ dàn loa này thật tầm thường. Anh bỗng nhận ra từ đầu Hirtmann đã là người dẫn dắt cuộc đối thoại, ngay cả khi những người khác đặt câu hỏi tới tấp với hắn.

“Tôi rất tiếc phải nói điều này, nhưng bài thuyết giảng đạo đức vừa rồi của anh không thuyết phục được tôi, Hirtmann ạ. Tôi không có điểm chung nào với anh, phải nói rõ như thế,” anh thẳng thừng nói.

“Anh cứ việc nghĩ thế nếu anh thích. Nhưng điều anh vừa nói không đúng. Điểm chung của chúng ta là Mahler, ít nhất là vậy.”

“Anh muốn nói với tôi việc gì?”

“Anh đã nói chuyện với Chaperon chưa?” Hirtmann hỏi, một lần nữa đổi giọng. Hắn chằm chằm nhìn Servaz, tập trung vào từng phản ứng của anh.

Servaz cảm thấy một cơn rùng mình chạy dọc xương sống. Hắn ta biết tên thị trưởng Saint-Martin…

“Rồi,” anh thận trọng trả lời.

“Chaperon là bạn của… tay Grimm đó, anh có biết không?”

Servaz trân trối nhìn Hirtmann. Làm sao hắn biết được? Hắn lấy thông tin này từ đâu?

“Có,” anh trả lời. “Có. Ông ta có nói với tôi. Và anh, làm sao…”

“Vậy hãy bảo ông thị trưởng kể cho anh nghe về những vụ tự tử.”

“Vụ gì?”

“Tự tử, sĩ quan ạ. Hỏi ông ta về những vụ tự tử!”

❀ ❀ ❀

[1] : Vị thần khổng lồ trong thần thoại Hy Lạp, người nâng đỡ cả bầu trời.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Bernard Minier

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.