7
Vincent Espérandieu nhướng một bên lông mày khi thấy bộ mặt đỏ như tôm luộc của Servaz đi vào văn phòng của cậu ở đại lộ Embouchure.
“Anh cháy nắng kìa,” cậu nhắc.
“Ánh tuyết hắt vào đấy,” Servaz trả lời thay cho lời chào hỏi. “Với lại tôi còn đi một chuyến trực thăng.”
“Anh, trong một chiếc trực thăng ư?”
Đã từ lâu Espérandieu biết sếp mình chẳng ưa gì tốc độ hay độ cao, lái xe quá 130 kmh là anh sẽ tái mét ngồi lún sâu vào ghế.
“Cậu có gì uống cho khỏi đau đầu không?”
Vincent Espérandieu mở một ngăn kéo. “Aspirin? Paracetamol? Ibuprofen?”
“Cái nào tác dụng nhanh ấy.”
Espérandieu lấy chai nước khoáng và một chiếc cốc cho Servaz. Cậu đặt một viên thuốc trước mặt anh, rồi cũng tự mình nuốt một viên con nhộng. Qua cánh cửa mở, ai đó đang bắt chước tiếng ngựa hí hoàn hảo rồi cười khùng khục.
“Mấy thằng khốn ngu ngốc,” Servaz nói.
“Nhưng anh phải thừa nhận là họ đúng đi, tổ hình sự được điều động để điều tra một vụ giết ngựa…”
“Một con ngựa của Éric Lombard.”
“À.”
“Và nếu cậu thấy nó, cậu cũng sẽ thắc mắc liệu những kẻ đứng sau việc này có gây thêm tội ác kinh khủng nào như thế nữa không.”
“Những kẻ? Anh cho là không chỉ một người?”
Servaz lơ đãng nhìn cô gái nhỏ tóc vàng kiều diễm đang cười trên màn hình máy tính của Espérandieu, trông cô như hề với một ngôi sao lớn vẽ bên mắt trái.
“Cậu nghĩ xem, nửa đêm một mình cậu có thể kéo chừng 200 cân thịt và treo nó lên độ cao cách mặt đất 300 mét không?”
“Đó là một quan điểm hoàn toàn có căn cứ,” trợ lý của anh thừa nhận.
Servaz nhún vai và nhìn quanh. Những tấm rèm được hạ xuống, che đi bầu trời xám xịt và những mái nhà của Toulouse ở bên này, che đi bức vách kính ngăn cách họ với hành lang ở bên kia. Bàn thứ hai, chỗ làm việc của Samira Cheung, lính mới, hiện đang trống.
“Còn lũ trẻ thế nào rồi?” Anh hỏi.
“Đứa lớn nhất được gửi trả về trại giam để điều tra thêm. Như em đã nói với anh, hai đứa kia về nhà rồi.”
Servaz gật đầu.
“Em đã nói chuyện với bố của một đứa,” cậu nói thêm. “Một người làm bảo hiểm. Gã không chấp nhận được chuyện đó. Gã cảm thấy hoang mang cực độ. Nhưng khi em nhắc đến nạn nhân, gã đã sửng cồ: ‘Lão ta chỉ là một kẻ lang thang. Say sưa tối ngày! Các anh không định cho lũ trẻ vào tù chỉ vì một kẻ lang thang vô gia cư đấy chứ?’”
“Gã nói thế sao?”
“Nguyên văn. Gã gặp em trong văn phòng bề thế của mình. Điều đầu tiên gã nói: ‘Con trai tôi không làm gì cả. Đó không phải cách nó được nuôi dạy. Là những đứa khác. Thằng Jérôme đã lôi kéo nó, bố nó thất nghiệp.’ Gã nói như thể trong mắt gã, thất nghiệp cũng tương tự như buôn ma túy hay ấu dâm vậy.”
“Con gã là đứa nào?”
“Thằng bé tên là Clément.”
Thằng đầu têu, Servaz nghĩ. Cha nào con nấy. Cùng một thái độ khinh người như nhau.
“Luật sư của chúng đã liên hệ với thẩm phán,” Espérandieu tiếp tục. “Hiển nhiên họ đã vạch ra chiến lược, họ sẽ buộc tội đứa lớn nhất.”
“Con của tay thất nghiệp.”
“Phải.”
“Mắt xích yếu nhất.”
“Bọn người đó khiến em buồn nôn,” Espérandieu nói.
Giọng nói của cậu nghe có vẻ trẻ con và hơi lè nhè. Cùng với lối cư xử có phần kiểu cách, một số đồng nghiệp đã nghi ngờ cậu không chỉ có hứng thú với phụ nữ. Lúc đầu, Servaz cũng thắc mắc tương tự khi Espérandieu vừa gia nhập đội của mình. Thị hiếu thời trang của cậu trai này cũng làm nảy sinh thái độ bất mãn ở một số sĩ quan kiểu Người Tiền Sử trong đội. Họ luôn cho rằng nếu là một cảnh sát, người ta phải có bổn phận phô bày sự mạnh mẽ và kiêu hùng của nam giới.
Cuộc đời đã bao dung với Espérandieu. Ở tuổi ba mươi, cậu có cuộc hôn nhân tuyệt vời và một bé gái 5 tuổi cực kì xinh xắn, chính là cô bé có nụ cười làm bừng sáng màn hình máy tính kia. Servaz nhanh chóng thân thiết với trợ lý của mình. Cậu mời anh đến nhà ăn tối không dưới sáu lần trong vòng hai năm kể từ khi gia nhập đội. Lần nào cũng vậy, Servaz hoàn toàn bị chinh phục bởi sức hấp dẫn và trí tuệ của quý bà và quý cô nhà Espérandieu. Cả hai đều có thể xuất hiện trên tạp chí, để quảng cáo kem đánh răng, du lịch hay các kì nghỉ gia đình.
Nhưng một sự việc đã này sinh giữa cậu lính mới và các sĩ quan kì cựu trong đội. Có vẻ như bản năng giết chóc của họ bị đánh thức khi phải làm việc chung với một đồng nghiệp trẻ và có khả năng là người lưỡng tính. Servaz phải can thiệp và hậu quả là kết nạp thêm cho mình vài kẻ thù lâu năm. Cụ thể là hai gã đực rựa ngoan cố, những tên vô lại hẹp hòi. Họ quyết không bao giờ tha thứ cho anh. Một trong hai gã đó đã nhận từ anh vài lời chửi bới trong lúc tranh cãi. Nhưng Servaz cũng nhận được sự công nhận và tôn trọng lâu dài của Espérandieu, Charlène lại mang thai và họ đã đề nghị Servaz làm cha đỡ đầu.
“Một phóng viên của France TV3 cùng vài nhà báo từ mấy tòa soạn đã gọi đến. Họ muốn biết chúng ta có bằng chứng nào liên quan đến lũ trẻ không. Nhưng hơn hết, họ muốn biết chúng có bị đánh không. Có tin đồn về hành vi đối xử dã man của cảnh sát với trẻ vị thành niên. Họ diễn đạt như vậy, và như thường lệ, phát tán cách diễn đạt ấy ra. Copy, paste, là tất cả những gì họ có thể làm. Nhưng chắc hẳn phải có kẻ tung tin đồn.”
Servaz cau mày. Nếu cánh nhà báo đánh hơi được điều gì đó, chuông điện thoại sẽ réo không ngừng. Lại phải có công bố, bác bỏ, họp báo, rồi một vị bộ trưởng lên tivi và hứa hẹn sẽ ‘làm tới cùng’. Ngay cả khi cảnh sát tìm được cách chứng minh mọi công đoạn đều đúng luật, mối nghi ngờ vẫn cứ tồn tại.
“Anh muốn một cốc cà phê không?” Cậu trợ lý hỏi.
Servaz gật đầu. Espérandieu đứng dậy và đi ra ngoài. Servaz nhìn các màn hình máy tính đang nhấp nháy trong cảnh tranh tối tranh sáng. Anh lại nghĩ tới ba cậu bé mới lớn, điều gì đã dồn ép chúng gây ra hành động ngu dại đến thế.
Những đứa trẻ đó cả ngày chỉ được bán cho những giấc mơ và sự dối trá. Bán, không phải cho. Những kẻ bán hàng độc địa đã biến sự vỡ mộng của tuổi dậy thì thành hàng hóa. Vật chất tầm thường, khiêu dâm, bạo lực, dối trá, thù ghét, rượu, ma túy, tất cả đều được bày bán trong lớp cửa kính trưng bày hào nhoáng của chủ nghĩa tiêu dùng hàng loạt, mà giới trẻ chính là mục tiêu.
Espérandieu trở lại với cốc cà phê.
“Phòng của lũ trẻ thì sao?” Servaz hỏi.
Samira Cheung đi vào. Sáng hôm đó, thành viên mới nhất của đội mặc chiếc áo khoác da ngắn trông có vẻ quá mỏng so với thời tiết mùa này, một chiếc áo len cùng dòng chữ ‘Tôi là người vô chính phủ’, quần da màu đen và đôi bốt nhựa dẻo màu đỏ cao đến đùi.
“Chào,” cô nói, với tai nghe chiếc iPod vắt hờ trên áo khoác và một chiếc cốc bự bốc hơi nghi ngút trên tay.
Servaz chào đáp lại, không tránh khỏi cảm giác vừa mê hoặc vừa hoang mang trước phục trang khó tin của cấp dưới. Samira Cheung mang dòng máu Trung Quốc của bên nội và Pháp, Ma rốc của bên ngoại. Cô đã nói với Espérandieu (cậu không thể dằn lòng mà lập tức kể lại với Servaz) rằng mẹ cô hồi 26 tuổi, đang là một nhà thiết kế nội thất có tiếng trên thế giới, đã yêu điên cuồng một khách hàng Hong Kong, mà theo lời Samira -là một người đàn ông có vẻ đẹp và trí tuệ hiếm có. Nhưng bà đã quay trở lại Paris cùng với cái thai, ngay sau khi phát hiện ra bố cô là kẻ nghiện nặng và chơi gái mại dâm gần như hằng ngày. Một chi tiết đáng ngại, Samira Cheung là sự kết hợp giữa một cơ thể hoàn hảo với một trong những khuôn mặt xấu xí nhất mà Servaz từng thấy. Đôi mắt lồi được đánh viền thật đậm, khuôn miệng rộng tô son màu đỏ máu và một cái cảm nhọn hoắt. Một người trọng nam khinh nữ trong đội đã tổng kết ngoại hình của cô bằng một câu, “Với cô ta thì ngày nào cũng là lễ Halloween.” Tuy vậy, có một điểm nổi trội về gen hoặc sự giáo dục của Samira Cheung xứng đáng được công nhận. Đầu óc cô nhạy bén như một cái roi da. Và cô không hề do dự trong việc sử dụng nó. Cô nhanh chóng tiêu hóa các nguyên tắc cơ bản của nghề này và đã hơn một lần chứng tỏ óc sáng kiến của mình. Rất tự nhiên, Servaz liên tục giao phó cho cô những nhiệm vụ ngày càng phức tạp và cô cũng không chút ngại ngần làm thêm giờ để hoàn thành.
Cô ngồi xuống chỗ của mình, gác đôi gót giày lên cạnh bàn và ngả người tựa vào lưng ghế trước khi quay ra nhìn bọn họ.
“Chúng tôi đã lục soát phòng của ba thằng bé,” cô trả lời câu hỏi của Servaz. “Nhìn chung thì không tìm được gì mấy, ngoại trừ một chi tiết.”
Servaz nhìn cô.
“Hai đứa đầu tiên có những trò chơi điện tử cực kì bạo lực ở nhà. Kiểu như anh phải cho nổ tung đầu đối thủ để giành điểm tối đa, hoặc đánh bom dân thường, tiêu diệt kẻ thù bằng đủ thứ vũ khí tinh vi. Những thứ vô cùng đẫm máu, anh biết đấy, máu me be bét.”
Servaz nhớ lại một cuộc tranh luận gần đây trên báo chí về các game bạo lực như thế. Nhà sản xuất bất bình và phát biểu rằng bọn họ ‘ý thức rất rõ về vấn đề bạo lực và chú ý không vượt quá giới hạn’, rằng một số lời cáo buộc chống lại bọn họ là ‘không thể chấp nhận được’. Rằng họ đã đúng khi bán các trò mà người chơi có thể tra tấn, trộm cướp và sát nhân. Rồi các nhà tâm lý học vào cuộc. Họ quả quyết một cách uyên thâm rằng không hề có mối tương liên giữa trò chơi điện tử và bạo lực trong giới trẻ. Nhưng trái lại, các nghiên cứu khác cũng chỉ ra, những người trẻ ham mê game bạo lực thường dửng dưng và ít phản ứng trước nỗi đau của người khác.
“Ngược lại, chúng tôi không hề tìm thấy bất cứ trò chơi điện tử nào trong nhà thằng bé Clément. Thế nhưng có một cái đầu chơi điện tử…”
“Nghĩa là ai đó đã dọn dẹp trước,” Espérandieu nói.
“Ông bố,” Servaz đề xuất.
“Phải,” trợ lý của anh trả lời. “Bọn em nghi ngờ gã đã tống khứ đống trò chơi ấy đi để chúng ta có một cái nhìn trong sạch hơn về con trai gã. Và cũng tố cáo hai đứa kia nhiều hơn.”
“Mấy người đã niêm phong ba căn phòng đó chưa?”
“Rồi, nhưng luật sư đệ đơn kháng án, xin phép gỡ bỏ niêm phong, lấy cớ rằng đó không phải hiện trường vụ án.”
“Bọn trẻ có máy tính trong phòng không?”
“Có, bọn em đã xem xét nhưng dữ liệu bị xóa rồi, dù trước đó cảnh sát yêu cầu phụ huynh không được động vào bất cứ thứ gì. Bọn em sẽ phải quay lại với một nhân viên kĩ thuật để kiểm tra ổ cứng.”
“Chúng ta có thể chứng minh là vụ án đã được mưu tính từ trước,” Samira nói. “Nếu chúng có lên kế hoạch, giả thuyết tai nạn sẽ được loại bỏ hoàn toàn.”
Servaz băn khoăn nhìn cô.
“Ý cô là gì?”
“Cho đến giờ, không có gì chứng tỏ bọn chúng muốn giết ông ta cả. Nạn nhân có lượng cồn lớn trong máu. Luật sư bào chữa có khả năng sẽ viện dẫn rằng chết đuối là nguyên nhân chính dẫn đến tử vong. Việc này còn tùy thuộc vào kết quả khám nghiệm tử thi.”
“Chết đuối trong 50 centimet nước?”
“Tại sao không? Cũng không phải là chưa từng xảy ra.”
Servaz suy nghĩ trong giây lát, Samira nói đúng.
“Còn dấu vân tay?” Anh hỏi.
“Chúng tôi đang đợi.”
Cô thả gót giày xuống sàn và đứng lên.
“Tôi phải đi đây. Tôi có hẹn với thẩm phán.”
“Lính mới cừ đó chứ?” Espérandieu nói khi cô gái đã rời khỏi phòng.
Servaz gật đầu cười. “Cậu có vẻ thích Samira.”
“Cô ấy làm việc chăm chỉ, đáng tin cậy và ham học hỏi.”
Servaz đồng tình. Anh không hề do dự giao phó trọng trách điều tra vụ án mạng của người đàn ông vô gia cư cho Espérandieu và Samira. Họ ngồi chung một văn phòng, thích khá nhiều thứ giống nhau (đặc biệt là một số kiểu quần áo nhất định), và họ có vẻ hợp nhau. Cũng chỉ có thể mong đợi hai cảnh sát cá tính mạnh có quan hệ tốt đến chừng ấy là cùng.
“Bọn em sẽ tổ chức một bữa tiệc nhỏ vào thứ Bảy,” Espérandieu nói. “Charlène nhất định muốn mời anh tham gia.”
Servaz nghĩ tới vợ cậu trợ lý và sắc đẹp có phần quá đáng của cô. Lần gặp mặt gần đây nhất, cô mặc một chiếc váy dạ tiệc đỏ tôn dáng, mái tóc đỏ nhảy nhót dưới ánh đèn như một ngọn lửa, và anh cảm thấy cổ họng mình nghẹn ứ. Vợ chồng Espérandieu là những chủ nhà hoàn hảo, anh đã có một buổi tối rất thú vị, nhưng điều đó không có nghĩa là anh muốn tham gia vào nhóm bạn của họ. Anh từ chối lời mời, lấy cớ rằng đã hứa dành buổi tối hôm đó với con gái.
“Em để hồ sơ của bọn trẻ trên bàn anh nhé,” người trợ lý gọi với theo khi anh ra khỏi cửa.
Trở lại văn phòng của mình, Servaz cắm sạc điện thoại và bật máy tính lên. Hai giây sau có thông báo một tin nhắn đến. Anh mở khóa. Một cách miễn cưỡng. Vì với Servaz, điện thoại di động chính là phòng tuyến cuối cùng của sự cách ly với công nghệ. Nhưng Margot đã ép anh phải mua một cái sau khi anh đến muộn nửa giờ trong một lần hai người hẹn gặp.
b ơi con đây b nghỉ sáng thứ Bảy đc ko? Hôn b
Thứ ngôn ngữ quái quý gì đây? Có phải chúng ta đang leo trở lại lên cây sau khi mất chừng ấy thời gian để trèo xuống không? Anh bỗng cảm thấy như thể mình vừa đánh mắt chìa khóa. Những tác động gần đây của thế giới hiện đại khiến Servaz cảm thấy mình giống một kẻ xa lạ trong thời đại này, như thể cỗ máy thời gian đã đưa anh đến thẳng đây từ thế kỉ 18 vậy. Anh lần lại số trong trí nhớ và nghe thấy giọng con gái mình trong hộp thư thoại, đại ý là con bé sẽ gọi lại nếu anh để lại tin nhắn. Tiếng nhạc nền kinh khủng khiến anh phải kết luận rằng địa ngục chính là nơi trú ngụ của những nhạc sĩ tồi.
Ánh mắt anh dừng lại trước tập hồ sơ về vụ án của lão vô gia cư. Theo lý thì anh phải giải quyết nó ngay lập tức. Đó là những gì anh nợ lão già đáng thương ấy. Cuộc đời bừa bãi của lão đã chấm dứt theo một cách ngớ ngẩn nhất mà người ta có thể hình dung ra. Nhưng anh không có tâm trạng nào để làm việc ấy.
Servaz đang để tâm đến chuyện khác. Anh quay sang máy tính, vào Google và gõ một dãy từ khóa. Công cụ tìm kiếm cung cấp trên 20.800 kết quả cho ‘doanh nghiệp của Tập đoàn Éric Lombard’. Hiển nhiên là ít kết quả hơn so với Obama hay The Beatles, nhưng dù sao vẫn là một con số đáng nể. Chẳng đáng ngạc nhiên, Éric Lombard là một nhân vật hấp dẫn cánh truyền thông. Anh ta phải đứng thứ năm hoặc sáu trong danh sách những người giàu nhất cả nước.
Servaz đọc lướt qua mấy trang đầu. Một số trang cung cấp lý lịch của Éric Lombard, ông bố Henri và ông nội Édouard. Cũng có những bài viết trên vài tờ thương mại, người nổi tiếng, thậm chí cả về thể thao, bởi Éric Lombard đã xây dựng được một trường luyện ngựa hứa hẹn toàn những nhà vô địch. Có một vài trang dành hẳn cho những kì tích thể thao của anh ta. Người đàn ông này là một vận động viên thể thao và nhà thám hiểm đầy nhiệt huyết. Một nhà leo núi, một vận động viên chạy việt dã và ba môn phối hợp, một tay đua ô tô thể thao lão luyện. Anh ta còn từng tham gia đoàn thám hiểm Bắc Cực và Amazon. Có vài bức hình chụp anh ta trên chiếc mô tô giữa sa mạc hay đang cầm lái một chiếc máy bay thương mại. Rải rác trong các bài báo là những từ tiếng Anh mà Servaz hoàn toàn mù tịt, freeride[1], base jump [2], kitesury[3].
Có một bức ảnh được đính kèm trên vài bài báo. Một gã Viking. Đó là những gì Servaz nghĩ khi thấy anh ta. Tóc vàng, râu vàng, mắt xanh ánh thép. Rám nắng. Khỏe mạnh. Đầy năng lượng. Nam tính. Tự tin. Nhìn châm chằm vào ống kính máy ảnh theo cái cách anh ta nhìn bất cứ ai đến gần mình, với sự tự tin của một kẻ được người khác trông đợi. Một hình ảnh quảng cáo sống cho tập đoàn Lombard. Tuổi: 36.
Từ góc độ pháp luật, Lombard Group là một công ty cổ phần trách nhiệm hữu hạn, nhưng công ty mẹ, Lombard Enterprises, là tập đoàn cổ phần hóa. Bốn công ty con chính của tập đoàn là Công ty Truyền thông Lombard (sách, báo chí, phân phối, nghe nhìn), Lombard Company (chuyên thiết bị thể thao, quần áo, du lịch và hàng hóa cao cấp, nhà thầu lớn thứ tư toàn cầu chuyên cung cấp các vật dụng xa xỉ), Công ty Hóa dược Lombard (dược phẩm và hóa chất) và AIR (chuyên về hàng không, quốc phòng và công nghiệp vũ trụ). Tập đoàn Lombard sở hữu 15% cổ phần của AIR, thông qua hình thức trung gian của công ty mẹ, Tổ chức doanh nghiệp Lombard. Bản thân Éric Lombard là giám đốc điều hành của Lombard Group, giám đốc điều hành Lombard Company và Công ty Hóa dược Lombard, cũng như chủ tịch hội đồng quản trị của AIR. Với tấm bằng của một trường thương mại ở Pháp và trường Kinh tế Luân Đôn, anh ta bắt đầu sự nghiệp của mình tại một trong những công ty con của Lombard Company, một thương hiệu sản xuất đồ thể thao danh tiếng.
Tập đoàn sở hữu 78.000 nhân công trải rộng trên khoảng hơn bảy mươi lăm quốc gia, và doanh thu năm ngoái đạt 17.928 triệu euro với lãi kinh doanh đạt 1.537 triệu euro, lợi nhuận ròng đạt 677 triệu, trong khi tổng các khoản nợ tài chính là 3.458 triệu euro. Những con số đó có thể khiến bất cứ người bình thường nào cũng cảm thấy choáng ngợp, nhưng đối với các chuyên gia tài chính toàn cầu thì không hẳn. Đọc đến đây, Servaz hiểu rằng nếu tập đoàn này vẫn mãi bám lấy cái nhà máy thủy điện bé tí lỗi thời kia thì chỉ có thể là vì lý do lịch sử và tình cảm. Bởi ở đó, trên dãy Pyrenees, đế chế Lombard đã được khai sinh.
Treo con ngựa lên đó là nhằm mục đích tượng trưng. Mục tiêu chính là giáng cho Éric Lombard một đòn vào đúng chỗ hiểm là lịch sử gia đình và sự ham mê đến ám ảnh của anh ta với ngựa.
Bởi đó là những gì nổi bật hơn cả mà độc giả có thể nhận thấy từ toàn bộ những bài báo viết về đương kim công tử của đế chế này. Trên tất cả, tình yêu với ngựa luôn đứng ở vị trí đầu tiên. Éric Lombard sở hữu các trang trại ngựa giống ở một vài nước như Argentina, Pháp, Ý, nhưng anh ta chỉ trung thành với mối tình đầu, trường luyện ngựa nơi anh ta lần đầu tiên ngồi trên lưng ngựa, nằm gần lâu đài của gia đình trong thung lũng Comminges.
Servaz bỗng tin chắc rằng vụ án thảm khốc ở nhà máy điện không phải hành động ngẫu nhiên của một tên điên nào đó trốn ra từ viện tâm thần, mà là một hành vi có chủ đích, có ý thức và có kế hoạch.
Anh dừng lại để suy nghĩ. Anh do dự trước việc lên đường theo đuổi một manh mối đòi hỏi phải bóc trần đến tận xương tủy của đế chế công nghiệp này, chỉ để giải thích cho cái chết của một con ngựa. Mặt khác, cảnh tượng khủng khiếp khi con vật bị chặt đầu được tháo ra khỏi buồng cáp treo vẫn còn đây, cùng với cơn sốc của anh vào thời điểm đó. Marchand đã nói gì nhỉ? “Cậu Lombard có rất nhiều kẻ thù.”
Chuông điện thoại reo. Servaz nhấc máy. Là d’Humières.
“Hai gã bảo vệ mất tích rồi.”
“Đừng bao giờ quay lưng lại với họ,” bác sĩ Xavier nói.
Phía trên những khung cửa sổ lớn, mặt trời như đang thiêu đốt rặng núi, trải một dòng dung nham đỏ chói vào bên trong căn phòng.
“Phải chú tâm. Từng giây một. Cô phải hiểu đúng mọi chuyện ở đây. Cô sẽ sớm học được cách nhận biết các tín hiệu. Một ánh mắt thoáng qua, một nụ cười hằm hè, một nhịp thở chỉ hơi nhanh… Đừng bao giờ mất cảnh giác. Và đừng bao giờ quay lưng lại với họ.”
Diane gật đầu. Một bệnh nhân đang tiến đến gần. Một tay đặt trên bụng.
“Xe cứu thương đâu rồi, bác sĩ?”
“Xe cứu thương?” Xavier nói, luôn miệng cười.
“Là cái xe sẽ chở tôi đến bệnh viện phụ sản. Tôi đã chảy hết nước ối rồi. Đáng lẽ nó phải đến đây rồi chứ.”
Bệnh nhân là một người đàn ông ngoài bốn mươi, cao hơn 1m80 và phải nặng tầm 150 cân. Tóc dài, khuôn mặt gần như bị bộ râu dày phủ kín, đôi mắt ti hí đang sáng lập lòe. Đứng cạnh hắn, trông Xavier như một đứa trẻ. Nhưng anh ta cũng không mảy may lo lắng.
“Nó sẽ đến đây ngay thôi,” anh ta trả lời. “Là bé trai hay bé gái thế?”
Đôi mắt ti hí nhìn anh ta chòng chọc.
“Là kẻ phản Chúa,” người đàn ông trả lời và đi mất.
Diane nhận thấy một nam y tá đang theo dõi từng cử chỉ của hắn ta. Có khoảng hơn mười lăm bệnh nhân trong khu biệt giam.
“Có không ít Thượng đế và giáo đồ ở đây,” Xavier vẫn cười. “Từ thời thượng cổ, sự điên loạn đã luôn bị thôi thúc bởi các nguyên nhân tôn giáo vào chính trị. Không lâu trước đây, các cư dân này thấy cộng sản ở khắp nơi. Giờ là bọn khủng bố. Qua đây.”
Xavier đến một cái bàn tròn nơi ba người đàn ông đang chơi bài. Một trong số họ trông giống một tù nhân với hai cánh tay vạm vỡ, xăm trổ, hai người còn lại dáng vẻ bình thường.
“Tôi muốn giới thiệu Antonio với cô,” Xavier nói, chỉ về phía người đàn ông xăm trổ. “Antonio từng đầu quân cho Binh đoàn Lê dương Pháp[4]. Không may, anh ta lại tin chắc rằng doanh trại nơi anh ta được bố trí đóng quân chỉ toàn gián điệp. Rốt cuộc một đêm nọ, anh ta đã bóp cổ một người trong số đó. Đúng thế không, Antonio?”
Antonio gật đầu mà không hề rời mắt khỏi mấy quân bài.
“Mossad[5],” anh ta nói. “Bọn chúng ở khắp nơi.”
“Về phần Robert, anh ta trút giận lên đầu bố mẹ mình. Anh ta không giết họ, không, chỉ là đánh đập họ khá kinh khủng. Phải nói thêm rằng hai vị phụ huynh đã bắt anh ta phải làm nô dịch trong trang trại của gia đình từ khi mới 7 tuổi, cho anh ta ăn bánh mì và sữa qua ngày, còn bắt anh ta ngủ dưới hầm. Robert 37 tuổi. Bố mẹ anh ta mới là những người nên bị nhốt lại, nếu cô muốn biết ý kiến của tôi.”
“Là những giọng nói đã bảo tôi làm thế,” Robert nói.
“Và cuối cùng, đây là Greg. Có lẽ là trường hợp thú vị nhất. Greg đã hãm hiếp mười hai người phụ nữ trong chưa đầy hai năm. Anh ta sẽ chấm trước bọn họ ở bưu điện hoặc siêu thị, đi theo họ về nhà, ghi lại địa chỉ, đột nhập vào nơi ở của họ khi họ đang ngủ, đánh họ, trói lại và lật họ nằm sấp trước khi bật đèn lên. Chúng ta sẽ bỏ qua những gì anh ta đã bắt họ phải chịu, chỉ cần nhớ rằng các nạn nhân của anh ta đã nhơ nhuốc cả đời. Nhưng anh ta không giết họ, không. Thay vào đó, anh ta bắt đầu viết thư cho họ. Anh ta tin rằng việc… giao hợp đã làm những người phụ nữ đó yêu anh ta và bọn họ đều có với anh ta một đứa con. Vì thế, anh ta để lại tên và địa chỉ, chẳng bao lâu thì cảnh sát lùng ra anh ta. Nhưng Greg vẫn tiếp tục viết thư cho họ. Hiển nhiên là chúng tôi không gửi đi. Tôi sẽ cho cô xem. Đó là những bức thư cực kì diễm tuyệt.”
Diane nhìn Greg. Một người đàn ông hấp dẫn, ở độ tuổi ba mươi, tóc sẫm, mắt nhạt màu, nhưng khi ánh mắt họ giao nhau, cô rùng mình.
“Chúng ta tiếp tục nhé?”
Hành lang dài đỏ rực dưới ánh hoàng hôn.
Một cánh cửa có ô thoáng ở phía tay trái họ. Những giọng nói vọng qua cánh cửa. Tiếng líu ríu bồn chồn và một tràng phát biểu liến thoắng. Cô liếc mắt vào ô thoáng khi băng qua và sửng sốt vô cùng. Cô vừa thấy một người đàn ông đang nằm trên bàn mổ với mặt nạ thở ôxy và cực điện trên thái dương. Các y tá xúm quanh.
“Cái gì thế?” Cô hỏi.
“Liệu pháp sốc điện.”
Sốc điện… Diane sởn hết da gà. Kể từ khi được áp dụng lần đầu tiên trong tâm thần học vào thập niên 1930, việc sử dụng liệu pháp sốc điện đã trở thành đề tài gây tranh cãi. Những người phản đối cho rằng điều này thật vô nhân đạo, bại hoại, và là một hình thức tra tấn. Đến mức sang thập niên 1960, cùng với sự xuất hiện của thuốc an thần, việc sử dụng ECT hay liệu pháp sốc điện đã giảm đi đáng kể. Nhưng rồi tới khoảng giữa thập niên 1980, người ta lại chứng kiến sự trỗi dậy bất ngờ của nó ở một số quốc gia, trong đó có Pháp.
“Cô nên hiểu rằng,” Xavier nói khi thấy cô kinh ngạc đến chết lặng. “ECT ngày nay hoàn toàn không còn giống như trước đây. Nó được áp dụng với các bệnh nhân mắc chứng trầm cảm nghiêm trọng. Bọn họ được đưa vào trạng thái gây mê toàn diện kết hợp cùng giãn cơ ngắn hạn. Phương pháp điều trị này đã thu được những kết quả đáng chú ý. Nó có hiệu quả với hơn 85% trường hợp trầm cảm nghiêm trọng. Một tỉ lệ cao hơn nhiều so với thuốc chống trầm cảm. Nó không gây đau đớn, và nhờ các phương pháp hiện đại, không còn nguy cơ biến dạng cơ thể hay ảnh hưởng lâu dài tới khung xương.”
“Nhưng còn ảnh hưởng đối với trí nhớ và nhận thức thì sao? Bệnh nhân có thể phải chịu đựng trạng thái rối loạn trong vài giờ. Và chúng ta vẫn chưa biết chính xác ECT tác động thế nào lên não. Có nhiều bệnh nhân trầm cảm ở đây không?”
Xavier thận trọng nhìn cô.
“Không. Chỉ có 10% thôi.”
“Có bao nhiêu bệnh nhân tâm thần phân liệt và thái nhân cách?”
“Gần 50% là tâm thần phân liệt, 25% phần trăm là thái nhân cách và ba mươi bệnh nhân loạn tâm thần, sao cô hỏi thế?”
“Tôi cho rằng anh chỉ sử dụng ECT với các bệnh nhân bị trầm cảm phải không?”
Cô cảm thấy sự biến chuyển trong bầu không khí giữa hai người. Xavier chằm chằm nhìn cô. “Không, chúng tôi cũng áp dụng với những người cư trú ở Khu A.”
Cô nhướng một bên lông mày vì ngạc nhiên. “Tôi tưởng anh phải có sự đồng ý của bệnh nhân hay người giám hộ hợp pháp, để…”
“Đối với các trường hợp cá biệt này, chúng tôi không cần.”
Cô nhìn chăm chăm vào khuôn mặt khó đoán định của Xavier. Có điều gì đó cô không nắm bắt được. Cô hít một hơi thật sâu, cố làm cho giọng mình nghe ôn hòa nhất có thể.
“Mục đích là gì? Đó không phải phương pháp chữa bệnh… ECT không có hiệu quả với bệnh lý nào khác ngoài trầm cảm, hưng cảm và một số rất ít dạng tâm thần phân liệt nhất định và…”
“Vì mục đích an ninh trật tự.”
Diane khẽ nhíu mày, “Tôi không hiểu.”
“Rõ ràng đấy thôi. Đó là sự trừng phạt.”
Giờ thì anh ta quay lưng về phía cô và chăm chú nhìn vầng mặt trời màu cam đang biến mất dần sau rặng núi đen. Cái bóng của anh ta trải dài trên sàn nhà.
“Trước khi vào Khu A có một điều cô buộc phải hiểu, cô Berg. Không còn gì trên đời có thể khiến bảy người đó sợ hãi. Ngay cả biệt giam. Bọn chúng ở trong thế giới riêng của mình, không gì có thể chạm tới chúng. Hãy nhớ rằng, cô chưa bao giờ gặp bất cứ bệnh nhân nào như chúng. Chưa bao giờ. Và đương nhiên hình thức tra tấn thể xác cũng bị cấm ở đây, như bất cứ nơi nào khác.”
Anh ta quay lại nhìn cô. “Bọn chúng chỉ sợ duy nhất một thứ, sốc điện.”
“Ý anh là,” Diane ngập ngừng, “anh áp dụng với bọn họ…”
“Không dùng thuốc gây mê.”
❀ ❀ ❀
[1] : Môn thể thao đi xe đạp trên mọi địa hình.
[2] Môn thể thao mạo hiếm tương tự như nhảy dù nhưng thay vì nhảy từ máy bay thì người chơi nhảy từ nóc các cao ốc, cầu và vách đá.
[3] Hay còn gọi là lướt ván diều, môn thể thao người chơi lợi dụng sức gió của dù để lướt sóng trên biển.
[4] : Đội quân được tổ chức chặt chẽ, có chuyên môn cao, và tuyển mộ qua Internet cả những người đến từ các quốc gia ngoài Pháp.
[5] : Cơ quan tình báo của Israel, tên đầy đủ là Mossad le Modi‘inule Taikidim Meyuhadim (tạm dịch là Viện Tình báo và các Chiến dịch đặc biệt).