Hành Trình Đến Tận Cùng Đêm Tối

Lượt đọc: 39 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

Dù sao thì ngay ngày hôm sau tôi cũng đã làm được một việc hay, là trở lại Rancy đúng vào lúc Bébert đang ốm. Đồng nghiệp Frélichon vừa đi nghỉ, cô nó ban đầu còn ngập ngừng nhưng rồi chị ta yêu cầu tôi chữa chạy cho thằng cháu, có lẽ vì tôi lấy tiền rẻ nhất trong số các thầy thuốc mà chị ta quen biết.

Chuyện xẩy ra sau lễ Phục sinh. Trời bắt đầu dễ chịu. Những ngọn gió nồm đầu mùa thổi qua Rancy, quạt luôn cả những bồ hóng nhà máy bám trên các chấn song cửa sổ.

Bệnh của Bébert kéo dài nhiều tuần. Mỗi ngày tôi đến thăm hai lần. Bà con khu phố chờ tôi ở trước gian lều, nhưng làm ra vẻ lơ lơ, những người hàng xóm cũng vậy, họ đứng ngoài bậc cửa nhà họ quanh đấy. Như thể một trò giải trí với họ. Họ muốn biết từ xa bệnh tình thằng bé xấu đi hay tốt lên. Mặt trời xuyên qua quá nhiều thứ nên chỉ lọt được xuống đường phố một chút ánh sáng bảng lảng như trời thu.

Về những lời khuyên về thằng bé Bébert thì tôi đã nhận được quá nhiều. Quả là cả khu phố quan tâm đến nó. Người nói này người nói khác, về khả năng điều trị của tôi... Khi tôi bước vào gian lều, một sự im lặng căng thẳng và thù nghịch bao quanh, thậm tệ hơn cả là những lời nhiếc móc. Gian lều này thường ngày đầy những mụ đàn bà lắm mồm, bạn bè thân thiết với cô thằng bé, cho nên lúc nào cũng nồng nặc mùi váy trong và mùi nước đái thỏ. Mỗi người bênh lấy một ông thầy mà mình thích, luôn luôn được coi là mát tay hơn, giỏi giang hơn. Còn tôi thì chỉ có mỗi cái hơn người, là gần như chữa bệnh không lấy tiền của ai, nhưng cái ấy lại làm cho người ta áy náy, cả người bệnh lẫn thân nhân, dù nghèo thế nào thì cũng cứ thấy có lỗi đối với ông thầy chữa thuốc cho không.

Bébert chưa đến nỗi mê man nhưng nó chẳng còn muốn đông đậy nữa. Mỗi ngày nó sút cân đi một ít. Người nó chỉ còn ít thịt vàng vọt và run run từ đầu xuống chân theo nhịp tim đập. Có thể nói tim nó đập dưới khắp làn da của Bébert đã gầy tóp sau hơn một tháng đau ốm. Mỗi lần tôi đến thăm, nó chỉ hơi hé miệng cười. Nó đã trải qua một cách thật dễ thương những cơn sốt 39 rồi 40 độ và cứ thế nhiều ngày, nhiều tuần.

Cô thằng Bébert không cất tiếng nữa và để chúng tôi yên. Chị ta đã nói hết những gì chị ta biết, rồi chui vào một xó lều khóc lóc, than vãn. Mỗi lời là một nỗi buồn, chị ta không biết làm sao với nỗi buồn, nuốt chẳng vào khạc chẳng ra, nó cứ nghẹn trong họng với hai hàng nước mắt... Rồi chị lê la khắp chỗ, người lấm bê lấm bết, miệng liên tiếp kêu Trời. Và cũng chỉ đến thế thôi. Chị ta không còn hơi sức mà khóc nữa; hai tay buông thõng, ngác ngơ trước mặt tôi.

Tuy vậy cũng chỉ được một lúc, rồi chị ta lại thấy buồn và lại khóc lóc. Cứ như thế trong nhiều tuần diễn đi diễn lại cái cảnh khổ tâm ấy. Cũng phải thấy trước rằng bệnh này sẽ ngày càng xấu đi. Một loại bệnh thương hàn ác tính, và mọi cái tôi thử đều không ăn thua, xông hơi, truyền huyết thanh... không cho dùng thứ gì có chất cồn, tiêm chủng... Chẳng đạt kết quả gì. Tôi chật vật đủ cách, đều vô ích. Bébert mỉm cười, chịu đựng, để mọi việc cuốn đi mà không chống lại. Nó chống đỡ cơn sốt như đi thăng bằng tít trên cao, còn tôi ở dưới thấp để lộn phèo. Tất nhiên, những người đứng quanh đó luôn mồm khẩn thiết khuyên cô thằng bé chẳng nên úp mở, tống khứ tôi đi cho rảnh, và tìm ngay một ông thầy khác đứng đắn hơn, có kinh nghiệm hơn.

Sự kiện cô gái “với những trách nhiệm” đã được khắp vùng ghi nhớ và bình phẩm rất dữ. Cả khu phố khoái chuyện này lắm.

Nhưng các thầy thuốc khác nghe nói đến thực trạng căn bệnh của Bébert thì ông nào cũng lẩn tránh tuốt, nên cuối cùng vẫn là tôi. Các đồng nghiệp nghĩ rằng tôi đã đâm lao với thằng Bébert thì cứ để mặc tôi theo lao.

Tiền lương của tôi lúc đó thực tế chỉ còn đủ đến quán ăn thỉnh thoảng gọi điện thoại cho một vài bác sĩ mà tôi quen biết ít nhiều ở nơi này nơi kia, khá xa, trong vùng Paris, trong các nhà thương, những con người tinh ranh, được coi trọng, để hỏi xem họ giải quyết ra sao trước ca thương hàn đang khiến tôi phải loay hoay này. Đáp lại, tất cả đều cho tôi những lời khuyên tử tế, những lời khuyên không có hiệu lực, nhưng tôi vẫn lấy làm vui được biết họ cũng phải mất công mà chẳng được đền bù chỉ vì đứa bé không quen biết được tôi che chở. Rút cục thì tôi cũng tự thỏa mãn với những cái chẳng đáng bao nhiêu, những cái rất ít ỏi mà cuộc sống còn dành để an ủi ta.

Trong khi tôi chắt lọc như vậy thì cô thằng Bébert vật vã hết bên trái lại sang phải giữa mấy cái ghế và cầu thang. Chị ta tỉnh lại trong bữa ăn. Nhưng lại phải nói rằng, chị ta không có bỏ bữa nào. Những người hàng xóm chăm nom chị ta. Người ta nhồi nhét cho chị giữa những tiếng nức nở. Họ bảo chị: “Nào, ăn vào cho có sức mà chống đỡ chứ!”. Thành thử chị ta lại có phần đẫy ra nữa.

Căn lều đã nồng nặc mùi hôi hám từ căn bệnh của thằng Bébert lại thêm cái mùi cải bắp Bruxelles hăng hắc. Bấy giờ đang mùa nên ai cũng mang đến cho cải bắp Bruxelles đã nấu chín và còn nghi ngút khói. Chị ta vui vẻ thừa nhận rằng: “Thứ này cho tôi thêm sức, đúng vậy!... Mà lại còn đi đái khỏe nữa!”.

Ban đêm, trước lúc đi ngủ, chị ta uống thật đẫy cà phê cho tỉnh ngủ, những người thuê nhà về khuya có gọi thì chị thức giấc được ngay, khỏi phải để bấm chuông hai ba lần dễ làm thằng Bébert giật mình. Mỗi tối, đi qua nhà, tôi lại vào xem họa may nó đã qua khỏi. Chị ta đặt giả thuyết: “Bác sĩ có nghĩ rằng cái hôm thi xe đạp, thằng bé cứ đòi uống hoa cúc vàng pha rượu rom ở nhà chị hàng hoa quả nên mới mang bệnh?” Ngay từ đầu chị ta đã bị ám ảnh bởi cái ý nghĩ này. Thật là ngốc nghếch.

“Hoa cúc vàng!” thằng Bébert thều thào lẩm bẩm trong cơn sốt. Can ngăn chị ta làm gì? Một lần nữa, tôi làm một hai động tác giả trong nghề rồi về ngủ, trong lòng không yên, vì cũng như mẹ tôi, tôi không bao giờ tự cảm thấy mình hoàn toàn vô can trước những tai họa xẩy đến.

Đến ngày thứ mười bẩy, tôi tự nhủ dù thế nào thì tốt hơn hết là mình cứ tìm đến Viện Bioduret Joseph hỏi xem người ta nghĩ sao về một ca thương hàn như thế, đồng thời xin lấy một lời khuyên nhỏ và có lẽ cả một liều vacxin mà họ có thể giới thiệu. Như vậy, có thể nói tôi đã làm tất cả, thử tất cả, kể cả những điều kỳ cục và nếu thằng Bébert có chết, có lẽ chẳng ai trách cứ được tôi. Một buổi sáng, vào khoảng mười một giờ, tôi mò đến Viện, ở tận đầu Paris, sau chợ La Villette. Thoạt tiên, người ta dẫn tôi đi một tua hết các phòng thí nghiệm này đến các phòng thí nghiệm khác của một nhà bác học. Trong các phòng thí nghiệm vẫn chưa có ai, các nhà bác học không thấy mà công chúng cũng không, chỉ có các thứ đồ vật vứt lỏng chỏng bề bộn, xác mấy con vật nhỏ đã phanh bụng, những mẩu thuốc lá, những mỏ đèn ga mòn sứt, những chiếc lồng và những cái liễn thủy tinh nhốt mấy con chuột nhắt sắp chết ngạt, những cái bình cổ cong, những quả bong bóng vương vãi, những chiếc ghế đẩu đã bục thủng, sách vở và bụi bậm, lại còn và vẫn còn những đầu mẩu thuốc lá khét lẹt hôi xì lại thêm mùi khai từ nhà đái xông ra nồng nặc. Do đến quá sớm trước giờ, nên tôi đành phải dạo quanh đến tận ngôi mộ bằng cẩm thạch nạm vàng của nhà bác học vĩ đại Bioduret Joseph dưới những căn hầm ngay tại Viện. Sặc khẩu vị ngông cuồng tư sản viển vông [109*]. Ra khỏi cái hầm mộ là gặp ngay việc quyên tiền, tay gác đang càu nhàu vì có ai đó bỏ lẫn vào một đồng tiền Bỉ. Chính vì ông Bioduret này mà từ nửa thế kỷ nay biết bao thanh niên đã chọn con đường khoa học. Cũng khối anh tbất bại khi rời Học viện. Vả lại, sau một số năm họ mới thấy họ giống nhau ở chỗ không thành đạt. Tuy nhiên, trong những hố sâu trên con đường đại bại ấy, một “Bằng Đại học” cũng ngang với một “Giải Roma” rồi. Chỉ có vấn đề là không được cùng đi với nhau một chuyến xe thôi. Tất cả là thế.

Tôi còn phải chờ khá lâu trong những khoảnh vườn của Viện. Rồi thì những người đến đầu tiên là mấy chàng trai trong số nhân viên ít ỏi, nhiều cậu kéo lê đôi giầy cà tàng mang theo cả những thứ vừa mua ở chợ gần đó đựng trong túi lưới. Tiếp theo sau, đến lượt các nhà bác học, từng nhóm từng nhóm, râu cạo không sạch, thầm thì to nhỏ, lê gót bước qua hàng rào, càng ngập ngừng hơn đám hạ cấp. Họ tản dần theo dọc các hành lang nhẵn bóng. Đó là sự tựu trường của những người học trò già tóc đã muối tiêu, chống dù, tê mê trong cái nếp tỉ mỉ, những thao tác chán đến chết đi được, cột chặt vào đồng lương chết đói và quá trình chín nẫu dài lê thê trong những cái bếp nhỏ luyện vi trùng, hâm nóng cái nồi ninh những cuống rau đã nhừ nát, những con vật thí nghiệm đã chết ngạt và những thứ thối rữa khó biết chắc.

Rút cục thì bản thân họ cũng chỉ còn là những con vật gặm nhấm trong nhà, kinh tởm khoác áo ba đờ xuy. Cái vinh quang trong thời đại chúng ta chỉ mỉm cười với những kẻ giầu, dù có là bác học hay không. Lớp người bình dân trong ngành Nghiên cứu chỉ có thể trông mong giữ được hơi sức của mình bằng chính nỗi sợ bị mất chỗ đứng trong cái thùng rác nóng, vang lừng đã được phân đẳng cấp này. Cốt yếu là làm sao có được cái chức danh Bác học chính thức. Một thứ chức danh còn có thể được các hiệu thuốc trong thành phố tin dùng và trả cho món thù lao còm trong việc phân tích nước giải và đờm của khách hàng. Thứ bổng ngoại lấm bùn của nhà bác học.

Vừa đến nơi là nhà nghiên cứu có phương pháp, theo nghi thức, cúi xuống mấy phút xem lòng ruột đã biến chất của con thỏ mổ từ tuần trước, con thỏ được trưng bầy tại chỗ để học tập và cũng là một cái hũ đầy xú uế. Khi nào mùi thối không còn chịu được nữa, người ta mới hy sinh một con khác, nhưng không được sớm hơn, vì hồi ấy Giáo sư Jaunisset, đại thư ký của Viện, là người tay hòm chìa khóa, tiết kiệm đến cuồng tín.

Cũng vì thế, vì sự tiết kiệm ấy, một số xác xúc vật bị thối kéo dài đến không ngờ được. Nhưng tất cả cũng quen đi thôi. Mấy cậu nhân viên phòng thí nghiệm đã được luyện khá giỏi để làm việc luôn trong chiếc quan tài có xác chết đang thối rữa và tử khí xông lên họ cũng chẳng thấy hề hấn gì. Các nhân viên phụ trợ nhỏ mọn của cái công trình nghiên cứu khoa học to lớn đó, chỉ về mặt này thôi cũng đã vượt yêu cầu tiết kiệm của chính Giáo sư Jaunisset, vốn nổi tiếng ki bo, tận dụng luôn cho lợi ích cá nhân, như sử dụng lượng ga trong lò dôi ra đem ninh hầm thức ăn hoặc nấu các món hổ lốn khác.

Khi các nhà bác học đã hoàn thành cuộc khảo cứu lơ đãng lòng ruột những con vật thí nghiêm và con thô quen thuộc, họ mới từ từ chuyển sang màn hai cuộc sinh hoạt khoa học hàng ngày của họ, tức là thuốc lá. Cố gắng loại trừ không khí hôi thối và chán ngán bằng khói thuốc. Điếu này tiếp nối điếu khác, các nhà bác học cũng đã hoàn tất một ngày làm việc của họ, vào lúc năm giờ. Thế là người ta nhẹ nhàng đặt những thứ đang thối rữa đó vào một lò hấp khác. Chú nhân viên Octave gói những hạt đỗ đã chín kỹ vào trong tờ báo để qua mắt bà gác cổng khỏi bị rầy la. Trò gạ gẫm. Chú mang vào cho Gargan sẵn cả một bữa tối. Nhà bác học, ông thầy của chú, đang còn rụt rè, e ngại, ghi nốt chút ít gì đó vào một góc quyển sổ những kết quả thí nghiệm, cho một cuộc thông báo sắp tới đầy phù phiếm nhưng lại chứng minh sự hiện diện của ông tại Viện và hàm chứa những lợi ích nghèo nàn, dẫu là một lao dịch mà cũng cứ phải tiến hành khá lâu cho đến khi được ra trước một Viện Hàn lâm nào đó hết sức vô tư và không vụ lợi.

Nhà bác học chân chính phải để ra trung bình là hai chục năm để tiến hành một cuộc khám phá lớn, đó là việc chứng minh được rằng sự điên loạn của người này hoàn toàn không tạo ra hạnh phúc cho người khác và mỗi người trên thế gian đều phải khốn khổ vì định kiến của người bên cạnh.

Cái bệnh hoang tưởng trong khoa học có lý luận hơn và lạnh lùng hơn những thứ hoang tưởng khác đồng thời nó cũng là thứ khó chịu hơn cả. Nhưng khi ta đã giành được một vài điều kiện thuận lợi nào đó để tồn tại, dù có phải sống dè sẻn trong một xó xỉnh, nhờ một vài cái vỏ giả dối, thì cũng đành kiên nhẫn hoặc là cam chịu bục vỡ như một con vật thí nghiệm. Những thói quen thường lan nhanh hơn là lòng dũng cảm và nhất là thói quen ăn nhậu.

Tôi đi tìm Parapine khắp Viện, vì tôi cất công từ Rancy đến đây cốt tìm có ông ta. Vậy là tôi phải kiên trì trong cuộc tìm kiếm của mình [110*]. Mà cái này thì không thể một mình mình làm được. Tôi phải tới nhiều lần, ngập ngừng khá lâu trong biết mấy là hành lang và cánh cửa.

Lão già độc thân này không ăn trưa gì cả mà ăn tối cũng chỉ hai ba bữa mỗi tuần, nhưng đến bữa tối thì ăn rất dữ, theo đúng cái tính cuồng nhiệt của đám sinh viên Nga mà lão vẫn còn giữ nguyên những lề thói ngông cuồng.

Trong giới chuyên môn, người ta dành cho Parapine một thẩm quyền cao nhất. Tất cả những gì liên quan đến các loại bệnh thương hàn lão đều lầu lầu, dù là ở người hay ở vật. Danh tiếng của lão đã nổi lên từ hai chục năm nay, vào thời mà một vài tác giả người Đức tự cho rằng một ngày tốt đẹp nào đó họ đã cách ly được khuẩn phẩy Eberth trong chất bài xuất từ âm hộ một đứa bé mười tám tháng tuổi. Việc này đã gây ồn ào trên địa hạt chân lý. May thay, chỉ trong một thời gian ngắn, Parapine, nhân danh Viện quốc gia, đã đập lại và ngay tức khắc vượt qua cái trò khoác lác của những người Đức nọ bằng việc cấy cũng cái mầm ấy nhưng ở thể trạng thuần khiết hơn vào tinh dịch một ông già tàn phế bảy mươi hai tuổi. Lừng danh ngay tức thì, ông ta chỉ còn việc ngồi đó cho đến lúc chết, bôi đen đều đặn một vài cột báo không đọc ra chữ trên mấy tờ chuyên san định kỳ để duy trì cái vị trí nổi bật của mình. Hơn nữa, những gì ông làm từ ngày ấy thật táo bạo và may mắn, chẳng gặp khó khăn gì.

Giới khoa học nghiêm chỉnh bây giờ đều tin tưởng và tín nhiệm ông. Cái đó miễn cho công chúng nghiêm chỉnh khỏi phải mất công đọc những bài viết của ông. Nếu ông có phê bình cái công chúng ấy, có lẽ không còn khả năng nào cho tiến bộ nữa. Mỗi trang báo của ông người ta bàn tán có lẽ đến cả năm.

Khi tôi đến được trước cửa phòng riêng của Serge Parapine thì cũng đang lúc ông khạc nhổ liên tục khắp bốn góc phòng thí nghiệm. Với bộ mặt nhăn nhó phát khiếp. Ông thỉnh thoảng có cạo râu, nhưng vẫn để sót lại trên hai má những lông tơ trông như thằng tù vượt ngục. Người ông run rẩy hay chí ít cũng có vẻ thế, mặc dầu ông vẫn khoác chiếc áo ba đờ xuy hoen bẩn và đầy gầu trên cổ áo. Mớ tóc bướng bỉnh cứ rũ xuống sống mũi vừa xanh vừa hồng.

Hồi còn đi thực tập tại các trường thực nghiêm của khoa y, tôi đã được Parapine giảng nhiều bài về vi sinh học và đôi lần thấy được ở ông một người độ lượng nhân từ. Ngày ấy đã quá xa, không biết ông có còn nhớ ra tôi, nhưng tôi hy vọng ông vẫn không quên và có thể còn cho tôi một lời khuyên về phương pháp điều trị tốt nhất đối với căn bệnh của Bébert đang thật sự ám ảnh tôi.

Rõ ràng là tôi thấy mình càng lúc càng mong sao ngăn giữ cho Bébert khỏi chết hơn là đối với một người lớn. Có mấy ai quá bất bình trước sự ra đi của một người lớn tuổi, vì người ta luôn luôn nghĩ như vậy là trái đất này bớt đi được một kẻ có thể là ác nhân, còn đối với một đứa trẻ con thì dù sao vẫn có tương lai hơn.

Biết được những khó khăn của tôi, Párapine không hỏi thêm gì nữa mà chỉ giúp cho tôi tìm ra hướng điều trị ca hiểm nghèo này. Chỉ phải nỗi, trong hai chục năm qua, ông đã biết quá nhiều điều và thường là mâu thuẫn với nhau về bệnh thương hàn, nên đến nay ông càng thấy quá nặng nhọc, thậm chí có thể nói không còn khả năng đưa ra một lời khuyên rõ ràng dứt khoát nào trong việc điều trị một chứng bệnh đã quá nhàm.

Ông hỏi tôi:

- Đồng nghiệp thân mến, trước hết anh có tin vào việc dùng huyết thanh không? Sao, anh bảo sao? Vậy thì tiêm chủng?... Tóm lại, cảm tưởng của anh thế nào?.... Tài trí gì đi nữa thì bây giờ cũng không bằng tiêm chủng vacxin... Tất nhiên như thế là táo bạo đấy, đồng nghiệp ạ... Tôi cũng thấy thế... Nhưng đành vậy chứ sao? Hử? Đành thế thôi? Anh có thấy cái đúng đắn trong thứ tư tưởng phủ định này không? Anh nghĩ sao?

Mỗi câu của ông nối nhau nhảy vọt từ miệng ra dữ dội giữa hàng tràng những tiếng “R” khá nặng.

Trong lúc ông gầm lên như một con sư tử giữa những giả thuyết mãnh liệt và tuyệt vọng, thì Jauniset, khi ấy vẫn còn sống vằ là một đại thư ký danh tiếng, đi qua dưới cửa sổ đúng lúc và ngạo nghễ.

Vừa thấy lão ta là Parapine tái mặt đi và bực dọc chuyển câu chuyện, vội vàng cho tôi thấy ngay tất cả cái kinh tởm gây cho ông hàng ngày mỗi khi thấy mặt lão Jaunisset dù lão được mọi người ca ngợi. Chỉ trong chốc lát, ông đánh giá đủ mặt về lão Jaunisset nổi tiếng này, nào là kẻ gian trá, kẻ gàn dở vào hạng đáng gờm nhất, và còn buộc cho lão những tội ác kinh khủng chưa từng có và được giữ kín, nếu đem ra xử lý thì lão phải rũ tù ít cũng một trăm năm.

Và tôi không sao can ngăn được Parapine nêu ra hàng trăm hàng nghìn chi tiết hờn căm trong cái nghề hài hước của nhà nghiên cứu mà ông vì miếng ăn phải gò mình trong nỗi căm hờn chính xác hơn, khoa học hơn là những nỗi căm hờn toát ra ở những con người khác đặt trong những điều kiện tương tự ở các văn phòng hay cửa hàng.

Ông lớn tiếng nói về những chuyện ấy và tôi cũng bất ngờ trước sự thẳng thắn của ông. Anh nhân viên giúp việc ông lắng nghe. Anh ta tuy đã làm xong công việc của mình nhưng vẫn còn giả vờ loay hoay giữa các lò hấp và các ống nghiệm, và có lẽ anh đã quen tai những lời nguyền rủa như vậy của Parapine, có thể nói là hàng ngày, nhưng hôm nay thì anh thấy quá quắt quá, trần trụi quá và tuyệt đối vô nghĩa. Mấy vật thí nghiệm nho nhỏ của riêng mình mà anh theo dõi rất nghiêm chỉnh trong một lò hấp của phòng thí nghiệm cho thấy hình như trái ngược với những gì Parapine vừa nói, chúng cũng đem lại những điều bổ ích kỳ diệu, tuyệt vời lắm chứ. Sự giận dữ của Parapine không hề làm cho anh quên lãng những vật thí nghiệm ấy. Trước khi ra về, anh đóng cái lò hấp chứa những vi sinh vật của riêng mình, như đóng lại một khám thờ, nhẹ nhàng, thận trọng.

Chờ cho anh ta ra khỏi, Parapine mới phát biểu:

- Bạn đồng nghiệp, anh đã thấy cậu giúp việc của tôi rồi chứ? Anh có thấy thằng cha đần độn ấy không? Thế là đã sắp ba chục năm rồi, làm công việc quét rác cho tôi, cậu ta nghe xung quanh mình toàn chuyện khoa học và rất ư là say sưa, thành khẩn, quả là thế... tuy nhiên, không hề chán tai, mà chính cậu ta và chỉ mình cậu ta lại đi đến chỗ tin tưởng ở ngay nơi đây! Mê mẩn với những công trình cấy vi khuẩn của tôi, cậu ta thấy nó tuyệt diệu quá! Cậu ta liếm mép thèm thuồng... Mỗi trò hề nhỏ nhặt của tôi đều làm cho cậu ta say sưa! Không biết đi theo đạo thì cậu ta có thế không? Đã từ lâu lắm, liệu vị linh mục có nghĩ đến mọi cái khác hơn là đến Chúa mà người gác nhà thờ của ông vẫn còn tin như vậy... tin vững như sắt thép? Cái sự thật đáng lộn mửa!...Chàng ngốc của tôi còn lố đến mức bắt chước Bioduret Joseph vĩ đại cả từ bộ quần áo đến chòm râu! Anh có để ý thấy không?... Giữa chúng mình với nhau, về chuyện này, có thể nói Bioduret vĩ đại chỉ khác anh chàng giúp việc tôi ở chỗ ông ta nổi tiếng thế giới và ở cường độ những ý ngông của ông ta... Với cái cách của ông ta rửa chai lọ hoàn hảo và theo dõi đến không tưởng tượng được sự sinh nở của mấy con nhậy, thì tôi luôn luôn có cảm tưởng rằng, đối với mình, cái thiên tài thực nghiệm ấy chỉ là một sự tầm thường kinh khủng... Bạn hãy cất bớt đi của ngài Bioduret vĩ đại một chút cái tính keo kiệt phi thường của ngài và bạn hãy nói xem ngài còn được chút gì là đáng khâm phục nào? Tôi xin hỏi bạn? Một bộ mặt thù nghịch của anh gác cổng xấu bụng hay kiếm chuyện. Tất cả là thế. Hơn nữa, ngài đã chứng minh rất rõ cái bản chất con lợn của mình tại Viện Hàn lâm suốt hai chục năm ngài ngự trị ở đó, hầu như tất cả đều căm ghét, cãi nhau khắp lượt không chừa một ai, và không chỉ tí chút đâu... Một con người thích làm lớn rất tài... Tất cả là thế đấy.

Parapine, đến lượt mình, cũng từ từ sửa soạn ra về. Tôi giúp ông quàng chiếc khăn quanh cổ và trùm lên những đám gàu muôn thuở thêm một chiếc khăn kiểu của đàn bà. Lúc ấy ông mới nhớ lại rằng tôi đến gặp ông là có việc gì đó rất cụ thể và cấp bách.

- Thật là làm anh phải bân tâm với những chuyện vớ vẩn nhỏ nhặt, tôi quên khuấy mất bệnh nhân của anh! Bạn đồng nghiệp thứ lỗi cho tôi nhé và ta trở lại vấn đề luôn đi nào! Nhưng tôi có thể nói gì đây vì anh đã biết cả rồi! Giữa cơ man nào là những lý thuyết về tiêm chủng và những kinh nghiệm có thể tranh cãi được, lý trí bảo ta là đừng chọn lọc gì cả! Hãy cứ làm hết sức mình, bạn đồng nghiệp ạ! Vì chính anh phải hành động, phải làm hết sức mình! Vả lại, đối với tôi, ở đây tôi có thể kín đáo bảo đảm với anh rằng, cái căn bệnh thương hàn ấy đã khiến tôi chán ngấy không còn giới hạn nào nữa! Cả trong mọi tưởng tượng nữa! Khi còn trai trẻ, tôi bắt tay vào việc nghiên cứu bệnh thương hàn, là lúc chỉ có mấy người với nhau khảo sát trên lĩnh vực này, tóm lại là dễ dàng tin nhau, bốc nhau lên... Còn bây giờ, biết nói vời anh thế nào đầy? Bạn ơi, chuyên gia ngày càng lắm, từ Laponine, từ Pérou [111*], từ khắp nơi khắp chốn kéo đến. Ở Nhật Bản, người ta đào tạo hàng loạt! Chỉ trong vòng mấy năm qua mà tôi thấy thế giới biến thành một cuộc cãi nhau như mổ bò xung quanh các xuất bản phẩm phổ biến và kỳ cục về cùng một chủ đề lải nhải này. Để giữ gìn vị trí của mình trong đó và bảo vệ lấy nó được sao hay vậy, tôi đành phải cho đăng tái đăng hồi hết tạp chí này đến tạp chí khác, vẫn cùng một bài nhỏ tại một đại hội, với chỉ mỗi một việc đơn giản là, vào cuối mỗi mùa vụ, thêm bớt một vài thay đổi li ti, rất thứ yếu... Tuy vậy, bạn đồng nghiệp thân mến, bạn hãy tin lời tôi, cái bệnh thương hàn trong thời đại chúng ta nó cũng bị dùng sai như cây đàn măng-đô-lin hay băng-giô ấy mà. Mệt chết đi được! Anh nào cũng muốn gẩy đàn theo cái điệu của mình. Không, tôi thích nói thật với anh rằng tôi cảm thấy không còn sức nào để gánh thêm cái phiền não này nữa. Cái mà tôi tìm kiếm t rong những ngày cuối đời mình, là có được một xó xỉnh nào thật yên tĩnh để nghiên cứu, không còn ai phải nhòm ngó đến mình, chẳng kẻ thù mà cũng chẳng học trò. Nhưng tự bằng lòng và rất cần đến cái tiếng tăm xoàng xĩnh không bị ai ganh tị này. Giữa những cái vô vị khác, tôi đã nghĩ đến việc nghiên cứu sự ảnh hưởng so sánh của hệ thống sưởi trung tâm [112*] đối với bệnh trĩ ở các vùng phía Bắc và phía Nam. Bạn nghĩ sao về chuyện này? Về mặt vệ sinh? Về mặt chế độ? Đó là những chuyện thời thượng, phải không? Một cuộc nghiên cứu như thế với sự chỉ đạo đứng đắn và kéo dài lê thê tôi tin rằng sẽ tranh thủ được Viện Hàn lâm, mà phần lớn là những ông già không thể thờ ơ với các vấn đề sưởi ấm và bệnh trĩ. Bạn hãy xem họ làm gì đối với bệnh ung thư có liên quan mật thiết đến họ!... Viện Hàn lâm sẽ biểu dương tôi, tặng tôi một giải thưởng của Viện về vệ sinh... Biết đâu đấy? Mười nghìn quan chứ chơi à? Thế là đủ cho tôi một chuyến đi Venise... Bạn biết không, anh bạn trẻ của tôi, tôi đã đến Venise khi còn thanh niên... Có thế! Ở đấy thì có thể đói hơn nơi khác thật... Nhưng lại có thể hít thở cái mùi chết chóc huy hoàng khó quên được...

Đã ra phố chúng tôi lại phải vội vàng quay lại để tìm mấy thứ đồ cao su [113*] của ông bỏ quên. Vì thế chúng tôi trễ giờ. Cả hai phải rảo bước đến một nơi mà ông không nói trước cho tôi rõ.

Đi theo phố Vaugirard dài dặc, đầy hàng rau và các thứ ngổn ngang, chúng tôi đến rìa một khoảng đất xung quanh trồng cây hạt dẻ và có nhiều cảnh sát. Chúng tôi lách vào phòng trong của một quán cà phê nhỏ nơi Parapine kiễng chân nhòm vào một ô cửa qua cái màn gió.

-Muộn quá rồi! Giọng ông bực bội. Các em đi cả mất rồi!

-Ai?

-Mấy em nữ sinh trung học... Kháu lắm, bạn biết không... Tôi thuộc lòng những đôi chân của các em. Tôi không còn cầu mong gì hơn cho những ngày cuối đời mình... Ta đi thôi! Để hôm khác vậy...

Và chúng tôi chia tay nhau như những người bạn tốt thật sự.

Nguồn: TVE 4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 12 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.