Tôi, Sam Pulsifer, là kẻ đã lỡ tay đốt trụi Dinh thự Emily Dickinson[1] tọa lạc ở thị trấn Amherst, Massachusetts, nhân đó giết toi hai mạng người để rồi phải ngồi bóc lịch suốt mười năm ròng, và cũng vì vậy, theo lời các học giả văn học Mỹ viết thư chì chiết, sẽ còn phải trả giá đắt suốt quãng đường đời trầy trụa sau này. Sự vụ đó vùng này chẳng ai còn lạ gì, nên tôi sẽ không đi sâu vào nữa. Chỉ nói thêm rằng, nếu có một đỉnh Rushmore[2] phiên bản Massachusetts tạc lại những tấn bi kịch thảm khốc nhất thì sẽ có tượng nhà Kennedy, kế đến là Lizzie Borden[3] cầm rìu, rồi tới những phù thủy bị thiêu sống ở Salem, và đứng chót là thằng tôi đây.
Và thế là tôi vào tù, và nhờ vị thẩm phán rủ lòng thương mà tôi mới được đày vào một nhà khám với hàng rào an ninh tối thiểu tại thành phố Holyoke. Nơi này rặt những chuyên gia phân tích trái phiếu cùng luật sư, các nhà giao dịch nội nhật, quản đốc thành phố và giám hiệu trường học, thảy đều bị bắt vì tội biển thủ, chứ nào có ai như tôi, một thằng choai choẹt mười tám tuổi đầu chỉ vì lỡ tay làm cháy nhà, chết người, mà hai bàn tay bỗng lấm lem máu và bồ hóng, con tim trĩu nặng và cả đống bài học đường đời giáng xuống đầu trong khi đến mảnh bằng phổ thông còn chưa kịp giắt lưng. Thế là tôi dấn thân vào chốn ngục tù và ra sức cải tạo. Tôi đăng ký học lớp tự rèn luyện mang tên Trường học Bản thân diễn ra hai tuần một lần và tiếp thu được những đức tính đổi đời như lòng kiên nhẫn, nết cần cù, thái độ lạc quan, và cũng ở đây tôi đã thi lấy bằng phổ thông. Tôi còn giao du với nhóm phạm nhân vốn là một đám phân tích trái phiếu ưu tú đến từ Boston, phải vào xà lim vì giao dịch nội gián. Sau song sắt, họ tụ họp nhau lại để viết những pho hồi ký dông dài về loạt can án tày đình, chuỗi phi vụ thác loạn và cả núi tiền - họ dùng từ như vậy đấy - kiếm được nhờ vét kiệt quỹ hưu trí của bao người già cả và đập tan tành khoản tiết kiệm cho đại học của tụi thanh niên. Ở đám này toát lên vẻ tinh tường mọi chuyện và họ có một lô từ vựng để tả những xơ múi béo bở trên đường đời, nên tôi đặc biệt chú tâm vào những buổi động não của họ về việc viết hồi ký, lắng nghe sít sao khi họ tranh luận liệu quần chúng độc giả có cần phải biết về những quãng tuổi thơ đọa đày của họ để thấu hiểu tại sao họ lại cần kiếm nhiều tiền như vậy theo cái cách họ đã làm hay không. Tôi cẩn thận ghi chú lại khi họ xẻ đôi thế giới thành nhóm chộp giật và nhóm bị chộp giật, loại người làm việc xấu theo cách hay ho - ung dung, nhàn nhã - và loại đầu lừa bị dắt mũi cả đời.
“Đầu lừa à,” tôi thắc mắc.
“Ờ,” một gã đáp. “Nghĩa là khù khờ, đờ đẫn ấy mà.”
“Cho một ví dụ đi,” tôi hỏi, và bọn họ soi tôi chòng chọc với những luồng mắt quắc ánh kim xanh, bẩm sinh đã có chứ không cần phải luyện ở Choate hay Andover[4]. Họ cứ soi mãi cho đến khi tôi vỡ ra rằng chính mình là một ví dụ điển hình chứ chẳng đâu xa. Và bài học họ đã dạy tôi là thế đấy: tôi là một thằng đầu lừa. Vậy nên tôi đành cam chịu sự thật và thôi mơ mộng về việc phấn đấu trở thành một thứ gì khác - một nhà phân tích trái phiếu hay hồi ký gia chẳng hạn - và cứ thế mà tiếp tục. Tiếp tục cuộc sống.
Đáng nói là, ở mỗi người tôi đều học được một thứ gì đó, kể cả từ anh chàng đồng tính cùng dãy xà lim mà tôi toàn phải lẩn tránh, một tay kế toán doanh nghiệp lịch thiệp nhưng không thật thà lắm tại sở Arthur Andersen[5], người đến lúc ấy mới chợt khám phá ra xu hướng tình dục thật của mình. Anh ta đã thổ lộ với tôi bằng giọng điệu nghẹn ngào đau đớn rằng anh ta ham muốn tôi - ham muốn tôi, vâng, cho tới lúc tôi thú nhận mình vẫn còn là trai tân, sự thật đấy ạ, và điều này, không rõ vì sao, lại khiến anh ta cụt hứng không ham tôi nữa, như thế hẳn là chẳng ai thèm ngủ với những gã trai hai mươi tám tuổi đầu mà vẫn còn tân, và tôi nghĩ đây cũng là kiến thức bổ ích đấy chứ nhỉ.
Sau cùng, tôi học được cách chơi bóng rổ từ một bác da đen nọ tên là Terrell, một trong những niềm vui lớn tô điểm quãng đời tù ngục của tôi, cũng là một niềm vui có kết cục đắng ngắt. Terrell, người đã tự biên hàng loạt ngân phiếu cho mình khi còn đảm nhiệm ghế thống đốc thành phố Worcester, nhập khám trước khi tôi mãn hạn tù ba năm, và bất cứ khi nào bác ta hạ gục tôi trong những trận đấu đơn (một việc có tần suất thấp ngay cả khi tôi mới học chơi, vì mặc dù khỏe như vâm nhưng Terrell lại lùn hơn tôi và sở hữu độ linh hoạt của một trụ cứu hỏa chôn trên vỉa hè; thêm nữa bác ta lại già gấp đôi tuổi tôi, hai đầu gối xập xệ và kêu lộp rộp như củi khô khi chạy) - bất cứ khi nào hạ gục được tôi, Terrell sẽ hò hét, “Đàn ông đích thực là ta đây.” Nghe rõ là hay, thế nên sau khi dễ dàng thắng ván đấu cuối cùng, tôi cũng la toáng lên, “Đàn ông đích thực là ta đây.” Terrell quả quyết rằng tôi đã đá đểu bác ta nên nhảy vào thụi đầu tôi tới tấp, và vốn có tật trở nên bị động mỗi khi đối mặt với những cơn thịnh nộ, tôi cứ đứng đực ra đó chịu trận mà chẳng tự vệ gì. Khi bị toán bảo vệ lôi xềnh xệch vào phòng biệt giam, bác ta còn kịp thề thốt sẽ tẩn cho tôi biết tay khi được thả, đúng thật vạ miệng, bởi đương nhiên chính vì mấy câu la lối đó mà bác ta phải bị nhốt lâu hơn bình thường. Đến lúc Terrell được thả thì tôi đã xuất trại và về nhà với bố mẹ.
Sống với hai cụ, ấy cũng không phải một việc suôn sẻ lắm. Trước hết, vụ tôi đốt Dinh thự Emily Dickinson đã khiến họ tan nát tim gan rồi, vì mẹ tôi là giáo viên ngữ văn cấp ba còn bố là biên tập viên nhà xuất bản của một trường đại học trong thị trấn, nên thơ văn bay bướm với họ là tâm là túy; hai cụ chẳng thèm đếm xỉa gì đến phim ảnh hay truyền hình, nhưng hễ bạn xòe ra một bài thơ hay ho là thể nào họ cũng rơi lệ sụt sùi hoặc thở dài tư lự. Thêm nữa, cư dân Amherst làm sao vui vẻ nổi khi tôi thiêu rụi khu tư gia nổi tiếng nhất thị trấn và giết đứt mất hai công dân, thành thử lúc nào họ cũng làm khó dễ bố mẹ tôi. Các bạn sẽ chẳng gặp khó khăn gì khi đi tìm căn nhà cổ lỗ ọp ẹp của gia đình tôi trên con phố Chicopee: nó chính là căn có lối đi luôn bị phun sơn dòng chữ QUÂN GIẾT NGƯỜI! (cái này thì tôi hiểu) hoặc ĐỒ PHÁT XÍT (cái này thì tôi chịu), hoặc một câu nào đó của Dickinson ám chỉ sự trả thù, nhưng các bạn chẳng thể đoán được sự trả thù đó sẽ diễn ra thế nào, vì câu trích thì dài dằng dặc còn nét chữ thì nhòe nhoẹt chẳng ra hồn chữ, có thể là do kiệt sức hoặc quá phấn khích. Rồi khi tôi đi tù về thì còn tệ hại nữa. Chúng tôi bị xỉa xói bởi hội đồng nghệ thuật địa phương và một số bài báo đả kích không mời cũng viết, làm cho những đứa trẻ láng giềng vốn chẳng quan tâm cóc khô gì đến Emily Dickinson hay ngôi nhà của bà cũng bắt đầu ném trứng và chăng giấy vệ sinh lên mấy cây bạch dương thanh cao trước sân, nên suốt một quãng thời gian dài ngày nào trông ngôi nhà cũng như thể là được trang trí cho Halloween vậy. Thế rồi mọi việc trở nên thực sự quá quắt khi có kẻ chọc thủng hết các lốp chiếc Volvo của hai cụ, và một lần nọ trong giây phút cuồng nộ hoặc bi ai vô hạn, ai đó đã liệng nguyên một chiếc dép hiệu Birkenstock qua cửa sổ hiên nhà. Một chiếc của nam giới, chân phải, cỡ mười hai.
Tất cả những việc trên xảy ra ngay trong tháng đầu tiên tôi quay về. Đến cuối tháng, hai cụ gợi ý tôi chuyển ra ngoài sống. Tôi vẫn nhớ đó là hồi tháng Tám, vì lúc đó ba chúng tôi đang ngồi ngoài hiên trước và dãy quốc kỳ được treo lên từ Ngày Độc Lập vẫn còn đang bay phần phật dưới nắng trời lung linh để tiện thể chờ luôn đến Lễ Lao Động, quang phổ rót xuyên qua những tán lá phong và bạch dương tạo nên một cảnh tượng tuyệt đẹp. Bạn có thể hình dung được việc bố mẹ yêu cầu tôi dọn ra ngoài ở đã làm tôi tổn thương đến mức nào, mặc dù Trường học Bản thân đã khuyến cáo rằng cuộc sống sau khi ra tù sẽ không dễ dàng gì và rằng tôi không nên tự đánh lừa mình tin vào điều ngược lại.
“Nhưng con đi đâu bây giờ?” tôi thắc mắc.
“Đi đâu cũng được con ạ,” mẹ đáp. Lúc đó tôi cứ nghĩ giữa hai bậc phụ huynh thì bà là người nghiêm khắc hơn và đã đặt nhiều kỳ vọng vào tôi nên sự thất vọng chất trên vai bà hẳn cũng trĩu nặng hơn nhiều. Tôi vẫn nhớ mắt bà đã ráo hoảnh như giếng khô trong phiên tòa xử tôi khi ban bồi thẩm công bố bản án, còn bố thì khóc tu tu giàn giụa, và lúc này đây ông cũng đang bắt đầu mếu máo. Tôi ghét phải nhìn thấy họ thế này: một người lạnh giá, người kia lã chã. Tôi nhớ hồi mới lên sáu, tôi được bố mẹ dạy trượt băng trên một hồ nước trong khu sân golf công cộng của Amherst. Lớp băng đóng dày cộp, sạch muốt và loang loáng nắng đến độ lũ cá và những quả bóng golf đi lạc chắc hẳn phải rất hoan hỉ khi bị kẹt cứng trong đó. Mặt trời rọi xuyên qua đám mưa tuyết, sưởi ấm bầu không khí lên chút đỉnh. Cuối cùng khi tôi cũng trượt được vòng quanh rìa hồ mà không bị ngã, bố mẹ cùng thưởng cho tôi một tràng pháo tay giòn vang thật lâu; hai người đứng cùng nhau trên chiến tuyến của những bậc phụ huynh tự hào và hân hoan. Những giây phút đó đã xa rồi: xa, xa mãi, xa mãi mãi.
“Hay là con đi học đại học đi, Sam,” bố lên tiếng khi đã bình tâm lại.
“Ý kiến hay đấy,” mẹ tán đồng. “Bố mẹ không ngại trang trải chi phí cho con đâu.”
“Vâng,” tôi vô thức đáp, vì bấy giờ đang mải chăm chú ngắm hai bậc sinh thành lần đầu tiên kể từ khi trở về, và tôi nhận thấy mình đã khiến họ thay đổi thế nào. Trước khi tôi đốt Dinh thự Emily Dickinson, họ còn ra dáng những công dân Mỹ kiểu mẫu, khỏe mạnh, có phần hạnh phúc, thỉnh thoảng cũng đi nghỉ mát và làm vườn, đã vượt qua đôi lần sóng gió (khi tôi còn nhỏ, bố đã rời xa chúng tôi trong ba năm liền, và sau khi ông bỏ đi thì mẹ bắt đầu kể cho tôi nghe nhiều chuyện hoang đường về Dinh thự Emily Dickinson, và tất cả những chuyện này là một phần của câu chuyện lớn mà tôi rồi sẽ kể và dù có muốn cũng không thể không kể). Còn bây giờ nhìn hai cụ chẳng khác gì một cặp khung xương mặc đồ nhung kẻ và xỏ giày lười. Đôi tròng mắt đã hõm sâu như muốn thoái lui vĩnh viễn vào trong xương sọ. Vài phút trước đó, tôi còn lải nhải với họ về sự trinh trắng của mình và anh chàng kế toán phóng đãng làm ở Arthur Andersen. Bố mẹ tôi, như tôi ngày đó đã ngỡ, đều là những người Yankee chân chất không hay tọc mạch về chuyện riêng tư của bất kỳ ai, song Trường học Bản thân đã quả quyết rằng việc kể cho người thân yêu của mình tất tần tật là lành mạnh và cần thiết. Giờ thì tôi hối tiếc điều đó. Tại sao ta cứ hay làm đau bố mẹ thế nhỉ? Chẳng có cách nào giải thích được việc này ngoài việc cứ coi như là đang luyện tập để sau này ta lại làm đau con cái theo đúng cái cách ấy.
“Vâng,” tôi nhắc lại. “Con sẽ đi học đại học.” Và nói: “Con yêu bố mẹ lắm.”
“Ôi, bố mẹ cũng yêu con,” bố thốt lên, rồi lại nức nở khóc.
“Dĩ nhiên rồi,” mẹ tiếp lời rồi quay sang bố: “Bradley, đừng có khóc nữa.”
Đêm đó khi mẹ đã say giấc, bố rón rén vào phòng tôi mà không gõ cửa, cúi xuống trước giường - hẳn để nói gì đó với tôi hoặc kiểm tra xem tôi ngủ chưa. Tôi vẫn còn thức, đầu óc bộn bề những viễn cảnh lạc quan, rằng tôi sẽ đi học đại học rồi gây dựng một cuộc sống tinh tươm, thật thà, không đau đớn cho bản thân, và hai cụ sẽ tự hào thế nào khi tôi đạt được điều đó. Bố tôi, cúi gập người, trông tựa một chiếc cần cẩu đứng đó để chuẩn bị vực tôi dậy với cái móc câu hoặc đập cho tôi sụp sụn với quả sắt ngàn cân.
“Xuống nhà đi,” ông thầm thì trong bóng tối, cúi sát mặt tôi. “Bố muốn cho con xem cái này.”
Tôi bèn trở dậy đi theo ông. Bố dẫn tôi xuống phòng làm việc của ông, căn phòng này - cũng như hầu hết những căn phòng khác trong nhà - từ sàn tới trần đâu đâu cũng xếp sách. Ông đặt người xuống ghế, mở ngăn kéo chiếc bàn con kề bên, rút ra một hộp giày hiệu Converse, thứ hộp mà người ta vẫn dùng để đựng tranh ảnh cũ hoặc thiệp Giáng sinh, rồi trao cho tôi. Tôi mở nắp thì thấy bên trong đầy ắp phong bì, tất cả đều đã được rọc bằng dao, và tất cả đều đề gửi cho tôi. Các lá thư vẫn còn nằm trong phong bì, nên tôi bèn rút chúng ra và lần lượt đọc.
Ít nhất cũng phải cả trăm lá. Một vài lá, như tôi đã đề cập, gửi từ những vị học giả văn học Mỹ, nguyền rủa cho tôi bị đày xuống địa ngục, vân vân và vân vân. Những lá thư cay độc đầy chất học thuật này đều có giọng điệu chán đời - nội dung rặt những điển cố bi ai, và nhất quyết từ chối cách thức dùng từ giản lược[6] - thành thử tôi chẳng để ý mấy đến chúng. Tôi còn nhận được vài bức từ một số kẻ cuồng mộ việc phóng hỏa, tất cả đều na ná như bài hát “Đốt đi, cưng, đốt nữa đi” thời Watt Riots. Chúng cũng chẳng làm tôi hứng thú. Sự thật rằng quả đất này lóc nhóc những tín đồ gàn dở thì có gì mới mẻ hơn việc nó vốn đã chật cứng những con người tẻ ngắt cơ chứ.
Nhưng còn có cả những lá thư khác, đến từ khắp trong và ngoài New England: từ Portland, Bristol, Boston, Burlington, Derry, Chicopee, Hartford, Providence, Pittsfield - từ cả các thị trấn và thành phố ở New York và Pennsylvania nữa. Chúng được viết bởi những người sống gần tư gia của các đại thi hào và bày tỏ nguyện vọng muốn nhờ tôi tới đốt hết những ngôi nhà đó đi. Một ông ở New London, Connecticut mong tôi tới đốt nhà của Eugene O’Neill tại vì kịch tác gia này từng là một tay bợm rượu khướt khượt và sẽ ảnh hưởng xấu tới lũ học sinh đến tham quan nhà ông, mà xét cho cùng, bọn trẻ con cần nhất là những tấm gương xán lạn của ngày hôm nay để noi theo. Một phụ nữ ở thị trấn Lenox, Massachusetts, ao ước tôi châm đuốc thiêu trụi nhà của Edith Wharton vì những vị du khách tới tham quan luôn đậu xe ngay trước hộp thư nhà cô ta và thêm nữa, theo cô này thì Wharton chẳng qua chỉ là một mụ rởm đời suốt ngày ca thán. Lại có bác nông dân nuôi bò sữa ở làng Cooperstown, New York, khẩn khoản nhờ tôi trút xăng xuống ống khói của Dinh thự James Fenimore Cooper vì không thể chịu được việc ông nhà văn này xuất thân từ một dòng tộc sù sụ của nả như thế, trong khi gia đình của chính bản thân bác ta thì quá sức bần hàn. “Tôi đã nếm trải những cơn bĩ cực kinh khủng hơn tất cả những gì cái gã Cooper từng trải qua,” bác ta viết. “Cái gia tộc đó đã giàu nứt đố đổ vách như thế mà còn hét giá mười đô la một lần vào cửa, ấy thế mà thiên hạ vẫn nườm nượp kéo vào. Cậu có chịu đến giúp chúng tôi hóa vàng cái ngôi nhà của gã chó đẻ đó không thì bảo? Chúng tôi sẵn sàng mở hầu bao; tôi sẽ bán luôn lứa gia súc nếu cần. Mong chờ hồi âm từ cậu.”
Còn nhiều lá thư đều bày tỏ chung một mục đích: muốn tôi thiêu rụi tư gia của đủ các thể loại văn hào đã về nơi thiên cổ - nào Mark Twain, Louisa May Alcott, Robert Lowell, nào Nathaniel Hawthorne. Có những người muốn tôi đốt nhà của những văn sĩ tôi thậm chí còn chưa hề nghe tên. Tất cả đều háo hức chờ đợi tới ngày tôi mãn hạn tù. Và tất cả đều sẵn lòng chi trả thù lao cho tôi.
“Ái chà,” tôi thốt lên với bố khi đã đọc xong đống thư. Ông chẳng nói gì từ nãy đến giờ. Thật thú vị đấy chứ: khi mẹ ở bên, bố luôn tỏ ra yếu đuối và đa cảm - một con người mỏng manh, thừa thãi và gần như là ngốc nghếch. Song giờ đây, trong căn phòng này, bên chồng thư này, ở ông lại toát lên một vẻ thông thái - lặng lẽ và uy nghiêm như một đức Phật đeo kính gọng tròn. Tôi cảm nhận được tầm nghiêm trọng của vấn đề từ bên trong cổ họng, trên khuôn mặt và khắp toàn cơ thể mình. “Sao bố không kể cho con về những lá thư này lúc con còn trong tù?”
Ông nhìn tôi, lặng im. Đây hẳn là một chiêu thử thách, vì đây, đương nhiên, là những gì mà những nhà thông thái làm: thử thách người kém thông minh để giúp họ bớt kém thông minh.
“Bố đã muốn bảo vệ con,” tôi phát biểu, và ông gật đầu. Tôi thấy phấn khởi khi biết mình có thể trả lời đúng, nên tiến tới. “Bố muốn bảo vệ con khỏi những kẻ chụp mũ cho con là một tên hỏa tặc.”
Câu nói này khiến bố tôi rơi vào một cuộc đấu tranh tư tưởng cam go, đôi môi ông hết mở ra rồi lại khép vào, đến cả hơn chục lần. Cứ như là xem thần Atlas lấy đà để nhấc bổng cái tảng đá khổng lồ mà chúng ta đang sinh sống bên trên. Rốt cuộc thì ông cũng nói ra, một cách thiểu não, muôn phần thiểu não, “Sam ơi, con là một tên hỏa tặc mà.”
Ôi, đau lòng quá! Nhưng đó là sự thật, và tôi cần phải được nghe rõ, phải được bố nói cho nghe, cũng như tất cả chúng ta ai cũng cần bố mình nói sự thật, để rồi một ngày ta cũng sẽ nói sự thật cho con cái của mình. Và đến ngày đó con cái của tôi cũng sẽ làm cái việc mà tôi đã làm với bố: chối từ sự thật.
“Bố nhầm rồi,” tôi đáp. “Con là sinh viên đại học.” Tôi đóng nắp hộp thư, trao lại cho ông, và quay gót bước đi trước khi ông kịp thốt lên câu nào. Khi đã quay lại giường, tôi buộc bản thân phải hứa rằng sẽ không bao giờ nghĩ tới xấp thư đó nữa. Hãy quên chúng đi, tôi tự ra lệnh cho mình. Tôi đinh ninh là mình sẽ làm được. Vì xét cho cùng, đi học đại học để làm gì nếu không phải là để xóa sạch khỏi não bạn những gì bạn không muốn nhớ và lấp đầy nó với những điều mới mẻ trước khi những thứ cũ kỹ không ai muốn kia tìm đường quay về?
Hai tuần sau, tôi rời nhà, khăn gói lên ký túc; và mười năm sau tôi mới gặp lại hai cụ, mười năm sau tôi mới đọc lại những lá thư nọ, mười năm sau tôi mới chạm mặt một số tác giả của những bức thư, mười năm sau tôi mới phát hiện ra một số điều về bố mẹ mình mà tôi chưa từng mảy may nghi ngờ cũng như chưa từng mong muốn được biết, mười năm sau tôi mới quay lại chốn tù đày, mười năm sau những gì xảy ra mới xảy ra.
Nhưng sao tôi lại kể ngấu nghiến thế nhỉ. Hãy chậm lại đã. Đại học: vì đã cuối mùa nộp đơn xin học nên tôi đến với trường duy nhất chịu nhận mình - Đại học Bà Chúa Hồ ở thành phố Springfield, cách Amherst hai mươi dặm về phía Nam. Đó là một trường Công giáo, mới bắt đầu chấp nhận cho nam giới nhập học vì có vẻ như ở phương Tây bây giờ đang ít dần ít mòn những phụ nữ Công giáo chịu chi một khoản kếch xù để dấn thân vào một môi trường sư phạm tiệt bóng nam nhi, dĩ nhiên là không kể đến Chúa Jesus và các linh mục. Mà thậm chí những linh mục có trách nhiệm vận hành trường cũng chẳng muốn dạy ở đây. Một vài ma-xơ không có nhiệm vụ gì ngoài việc chủ trì lễ ban thánh thể cho mấy mống lưa thưa lúc sáng sớm được đứng đảm nhiệm hai lớp - Tôn giáo Toàn cầu 101 và Tôn giáo Toàn cầu 102 - còn những môn khác đều được đảm nhiệm bởi các giáo viên bình thường, vô thần, những người chẳng kiếm được việc ở bất kỳ nơi nào khác.
Chuyên ngành đầu tiên tôi chọn là ngữ văn, vì tôi ý thức rõ mình đã làm bố mẹ thất vọng và sầu khổ đến mức nào và tôi muốn họ có thể tự hào về tôi bất chấp tất cả những thứ đã xảy ra. Thêm vào đó, hồi còn nhỏ tôi vẫn thường được mẹ đọc truyện cho nghe, nhỉnh hơn một chút thì bà bắt tôi ngốn tuốt luốt những tác phẩm quan trọng và viết bản thu hoạch phân tích tỉ mỉ vai trò tối quan trọng của mỗi cuốn, thế nên tôi kết luận rằng ít nhất mình cũng được dạy dỗ bài bản và có căn cơ để thành công. Thêm vào đó là bài học từ nhóm phân tích trái phiếu cùng với những pho hồi ký và những câu chuyện của họ; họ thao thao bất tuyệt kể về bản thân mà không biết mệt. Không nói về mình thì nói về ai? dường như là triết lý của họ, và có thể họ có lý. Tôi nghĩ có thể sau khi đọc những câu chuyện của người khác, tôi sẽ hiểu được cái gì đó về câu chuyện của mình.
Nhưng tôi đã nhầm to, vì đó không phải là cách mọi thứ vận hành. Làm sao bạn có thể lặp lại quá khứ? Và những cuốn sách tôi từng nghĩ là rất quan trọng và sâu sắc giờ đây chợt trở nên hết mực tầm thường và tôi không sao tập trung vào chúng được. Thay vì động não xem Gatsby có thực sự vĩ đại không, thì tôi lại ngồi đồng ngắm những mẩu phô mai nướng đang ẩn náu trên chòm râu dê của tiến sĩ Melton. Rồi một lần, khi cả lớp đang đọc thơ Dickinson thì bà giáo tuyên bố lẽ ra sẽ đưa cả lớp tới tham quan Dinh thự Dickinson nhưng đáng tiếc nó đã bị hóa ra tro từ bao nhiêu năm nay rồi, và lúc bà ấy nặn óc cố nhớ ra tên gã hung thủ, tôi nhận ra tôi không muốn kể lại câu chuyện của mình - tôi đã hiểu quá rõ hậu quả. Thế là để chặn đứng cũng như tháo thân khỏi chuỗi thẩm vấn và tố cáo ngược chắc chắn rồi sẽ xảy ra, tôi bèn vờ ho sặc sụa rồi tẩu thoát vào nhà vệ sinh, và biến mất khỏi lớp đó nguyên cả học kỳ, và lý do duy nhất tôi được D mà không phải F cho môn này cũng chính là lý do vì sao tôi được D chứ không phải F cho các môn ngữ văn khác: trường không muốn cho bất kỳ sinh viên nào thôi học giữa chừng, vì đối với họ từng đồng học phí đều quý cả. Ngôi trường này quả thực đã lụp xụp lắm rồi. Hàng mảng vữa tường bong tróc rớt đầy hành lang. Trần nhà ọp ẹp đã trũng oằn cả xuống. Ngay cả thập giá treo trong các lớp cũng cần trùng tu gấp.
Điểm số đì đẹt là nguyên nhân làm tôi giã từ ngữ văn, nhưng còn có một nguyên nhân lớn hơn: tôi không thể rũ bỏ được cảm giác có một lĩnh vực khác mà tôi nên theo đuổi, một lĩnh vực tôi chưa từng thử hoặc cân nhắc tới, một lĩnh vực mới mẻ và hay ho hơn. Rồi tôi cứ ngồi đó, trong lớp Văn học Trung cổ, thay vì học thứ tiếng Anh cổ mà người hùng Beowulf và quái vật Grendel đã từng sử dụng, trong đầu tôi lại chỉ ong ong một giọng nói thôi thúc, Phải còn thứ gì khác hay ho hơn. Không ngừng tự hỏi, Còn gì nữa? Còn gì nữa? Đây quả là một bất ngờ, bởi xưa nay tôi đâu phải típ người gan to chí lớn, và câu hỏi - Còn gì nữa? - cũng chưa bao giờ được cất lên từ miệng tôi. Nhưng giọng nói trong đầu đã giúp tôi đặt ra câu hỏi ấy.
Tóm gọn nhé: tôi chào tạm biệt ngữ văn và văn học cùng những người viết ra chúng - mãi mãi, tôi từng đinh ninh - để theo đuổi ngành kỹ nghệ đóng gói. Đây là một bước đi đúng đắn, vì ba lý do. Một, những nhà đóng gói học sẽ ít có khả năng biết được tôi đã đốt Dinh thự Emily Dickinson, hoặc biết Emily Dickinson là ai, hoặc quan tâm tìm hiểu. Hai, tôi vốn có sở trường nhớ rõ chất liệu đóng gói nào là tốt nhất cho vật dụng dễ vỡ nào, và tôi hiểu ngay tắp lự vì sao xé những túi khoai tây chiên cỡ nhỏ theo chiều dọc thì tốt hơn, trong khi những túi lớn cho cả gia đình lại nên xé theo chiều ngang, và cái băng xé phải nằm ở đâu cho phù hợp với từng cách xé. Tôi chưa bao giờ đạt điểm thấp hơn B+ cho môn kỹ nghệ đóng gói và rút gọn bốn năm học phần xuống còn nhõn hai năm, và ngay sau khi tốt nghiệp tôi được nhận vào làm việc theo đúng chuyên môn tại bộ phận phát triển và kiểm nghiệm sản phẩm của Công ty Đóng gói Tiên phong ở thành phố Agawam, ngay ngoại ô Springfield.
Đó là hai điều tốt đẹp tôi nhận được từ quyết định chuyển sang ngành kỹ nghệ đóng gói. Điều tốt đẹp thứ ba là tôi đã gặp được vị hôn thê của mình.
Tên nàng là Anne Marie, chúng tôi gặp nhau trong lớp chuyên đề cuối khóa ngành kỹ nghệ đóng gói, nơi mà bạn khẳng định vị thế và lựa chọn sự nghiệp, vân vân và vân vân. Anne Marie rất xinh xắn, ưa nhìn đến phi thường, thật đấy, và cao ráo, với đôi chân dài miên man nhìn cứ như chuẩn bị chạy trốn khỏi người nàng đến nơi, và mái tóc dễ thương đen nhánh xoăn lăn tăn lúc nào cũng được bới cao lên tận đỉnh đầu, nụ cười thì đẹp rạng rỡ đến mức khiến cho bạn hóa ngây ngô nhưng chẳng vì vậy mà mảy may phiền lòng. Còn gì nữa? Trong những giây lát trầm tư, Anne Marie hút một loại thuốc thanh tú, phong cách mà theo kinh nghiệm của một người ngắm phụ nữ lành nghề như tôi, chỉ có những ai thanh tú, phong cách mới hay hút. Nói tóm lại, trông nàng hệt như một nữ thần người Ý, và đó là một liên hệ toàn toàn hợp lý, vì họ của nàng là Mirabelli còn quê thì ở Bologna.
Giờ thì đến lượt mã ngoài của tôi: hồi nhỏ tôi gầy cao lêu đêu với quả đầu đại bự, nhìn hệt một que diêm di động. Khi ở tù, tôi cũng có tập tạ đôi chút, luyện tập những bó cơ tôi không hề biết là mình có, và quá trình đó cũng lại là một ví dụ chứng minh tôi là thằng đầu lừa. Gương mặt là điểm nổi bật nhất ở tôi: nó đỏ dừ, đôi lúc nhìn hồng hào, dày dạn sương gió, có thể tạm gọi là căng tràn sức sống, và đôi lúc thì nó rực lửa. Tôi mà xấu hổ thì ngay cả trong đêm tối bạn cũng sẽ lấy mặt tôi ra mà soi được đường. Song Trường học Bản thân khuyến cáo rằng ta không nên khắt khe quá với chính mình, vì thế có thể nói rằng tôi cũng, xét một cách toàn diện, bảnh trai vừa vừa. Hàm răng tôi chỉ hơi hơi khấp khểnh, và hầu hết còn trắng tươm. Mái tóc thì hầu như còn dày nguyên bộ, loăn xoăn nâu. Khi còn nhỏ, ngực tôi bị hõm vào, nhưng nếu quan sát kỹ thì trẻ con hầu như đứa nào cũng thế và việc tập tạ trong tù đã giúp tôi cải thiện nên mặc dù ngực tôi không nở nang như chiếc thùng phuy thì chắc cũng phải được nửa thùng. Hai chân tôi giờ đã hết khẳng khiu và có cơ bắp rõ rành. Nếu đầu tôi nhỏ hơn một chút thì chắc tôi đã được coi là có một chiếc mũi La Mã. Mặc dầu gần như mù dở, đôi mắt biếc xanh của tôi không cần ẩn mình sau đôi cặp mục kỉnh, vì đã có kính áp tròng. Mà đã đeo thứ ấy vào thì đôi mắt tôi cũng thuộc loại có thể nhìn xuyên thấu vào sâu thẳm tâm hồn bạn đấy nhé. Song kể cả thế thì tôi cũng vẫn không phải người được khen là có ngoại hình ngon lành. Thêm nữa là tôi vẫn còn tân, bạn đừng quên nhé, và tất cả những điều đó là lý do vì sao tôi không dám một lần bắt chuyện với Anne Marie, ngay cả khi chúng tôi học cùng nhau năm lớp liền: hiển nhiên là nàng xinh đẹp quá tầm với để tôi có thể bắt chuyện.
“Ngốc thế nhỉ,” nàng đáp khi tôi thổ lộ điều này sau khi cưới. “Em làm gì mà xinh quá đến mức anh không thể bắt chuyện được. Em chưa từng nghĩ vậy. Chưa một lần.”
“Thế nếu em không nghĩ rằng mình quá xinh đẹp,” tôi vặn vẹo, “thì tại sao em không tiến tới bắt chuyện với anh trước?”
“Câu hỏi hay đấy,” nàng đáp, và tôi chưa bao giờ có được câu trả lời.
Nhưng quay trở lại với lớp chuyên đề, nơi chúng tôi định hướng tương lai của mình, và con đường Anne Marie chọn là cái nắp - cái nắp bằng nhựa dẻo bạn dùng để đậy lên tách cà phê và sô-đa khi đem đi ngoài đường ấy. Đó là học kỳ mùa xuân năm cuối khóa, và Anne Marie xui xẻo thay đã phải thuyết trình ngay sau James Nagali, nam sinh duy nhất ngoài tôi tại Bà Chúa Hồ, người đã trình bày một bài siêu đỉnh về kỹ nghệ xả xà phòng tân tiến. James tới từ Bờ Biển Ngà, và ngay sau khi tốt nghiệp đã đầu quân cho hãng xà phòng Ngà Ngọc, song tôi không nghĩ là có mối liên hệ nào ở đây.
Cầm trịch buổi chuyên đề là giáo sư Eisner, một ông già đầu hói hoác nhìn hệt như một hình nhân quảng cáo cho các loại trán và theo đồn đại thì đã làm hỏng một thiết kế mang tính cách mạng về bao bì băng vệ sinh, khiến Procter & Gamble lỗ vài triệu đô - đó là lý do vì sao, lời đồn cho hay, ông này phải lui về làm giáo vườn cho lũ chúng tôi. Giáo sư Eisner trầm trồ tán dương bài thuyết trình của James, nhưng lại có thái độ khác hẳn với bài của Anne Marie. Ông ta moi móc những lỗi sai về cấu trúc trong thiết kế nắp của nàng; mỉa mai hỏi liệu nàng có biết cái cảm giác cà phê nóng được rót không phải vào miệng mà là xuống cằm và cổ không; vặn vẹo Anne Marie rằng có phải nàng đã chẳng cho vào đầu tí gì trong suốt bốn năm mài đũng quần tại Bà Chúa Hồ không; rồi cật vấn về kế hoạch dự phòng của nàng khi những lời mời làm việc ở các công ty uy tín không rủ nhau lăn tới chỗ nàng. “Bởi vì lẽ tất dĩ, có mà lăn vào mắt,” ông ta chốt lại như vậy.
Anne Marie quả thật không phải là một nhà đóng gói học bẩm sinh, và cũng đúng là những chiếc nắp của nàng, nếu thực sự được sản xuất, chắc hẳn sẽ làm giãy bỏng một vài khuôn mặt và đẻ ra vài vụ kiện. Nhưng gì thì gì, tôi vẫn không thích cái cách Eisner miệt thị nàng. Tôi quay qua Anne Marie. Dù trông nàng không có vẻ gì là bực bội hay nước mắt lưng tròng - nàng rất kiên gan, đến giờ vẫn vậy - nhưng Anne Marie rõ ràng đang mân mê chiếc vòng cổ có mặt thập giá vàng với vẻ bồn chồn, và tôi thấy có trách nhiệm lên tiếng bênh vực nàng.
“Này giáo sư Eisner,” tôi gọi. “Căng nó vừa thôi. Tử tế chút đi.” Thú thực, tôi không hẳn là đã lấy hết hơi trong phổi mà hét toáng lên, và cũng có thể giáo sư Eisner chả nghe thấy tôi nói, vì ông ta đã nhảy ngay sang bài thuyết trình kế tiếp, song điều quan trọng là nó đã lọt vào tai Anne Marie.
“Cảm ơn anh,” Anne Marie nói với tôi sau giờ học.
“Vì gì cơ?” tôi hỏi, mặc dù biết rõ mình đã lên tiếng chỉ để cho nàng cảm ơn. Trên đời này chả có cái gọi là động cơ trong sáng, không cứ tôi mà ai cũng thế thôi, tôi tin vậy.
“Vì đã bênh em.”
“Có gì đâu,” tôi đáp. “Em có muốn đi ăn tối không?”
“Với anh á?” nàng hỏi.
Đó là cách nàng vẫn thường nói chuyện - huỵch toẹt và luôn kiếm tìm sự thật giản đơn - không hề ám chỉ sự ác cảm nào dành cho tôi. Bằng chứng là, chúng tôi đã ăn tối cùng nhau trong một quán Đức ở Springfield có tên gọi Hoàng tử Sinh viên. Nàng là một cô gái Ý thon thả hiếm hoi thích ăn đồ Đức: bạn sẽ không làm sao có thể khiến nàng từ bỏ ý định gọi một đĩa xúc xích Munich, và đó chỉ là một trong nhiều lý do làm tôi chìm đắm trong tình yêu với nàng. Thế rồi một tháng sau chúng tôi ngủ với nhau trong căn hộ của tôi, tình cờ lại nằm ngay bên trên quán Hoàng tử Sinh viên. Nhưng chắc hẳn trong tôi có đôi chút ngượng ngùng thừa hưởng từ bố mẹ, nên tôi sẽ không tiết lộ thêm về đêm đó, trừ một điều rằng tôi đã rất khoái nó. Song cần phải nói thêm rằng tôi cũng nhớ quãng đời trai tân của mình, có lẽ vì tôi đã trinh trắng quá lâu rồi. Và ngay sau đó - gương mặt tôi nóng ran và đỏ rực như một lò hạt nhân - tôi thổ lộ với Anne Marie, “Đây là lần đầu của anh đấy.”
“Ôi, cưng,” nàng đáp, “với em thì không.” Nàng đặt tay lên hai gò má đang trào lửa của tôi, đôi mắt nàng chan chứa một nét buồn ngọt ngào: sự mủi lòng cho cái kiếp trai tân ba mươi tuổi mà tôi vừa rũ bỏ. Cả đời tôi chưa từng thấy có một trái tim nào bao la mà yếu đuối với những xúc cảm chân thật như thế, nên tôi mở lời, “Em làm vợ anh nhé?”
“Vâng,” Anne Marie đáp. Có lẽ đằng sau sự chấp thuận đó là sự thương hại, nhưng còn có cả tình yêu nữa: theo kinh nghiệm của tôi thì ta không thể hy vọng là có thứ tình yêu không bị tác động bởi tình thương, mà ta cũng sẽ chẳng muốn vậy.
Tua nhanh câu chuyện: Chúng tôi tốt nghiệp. Vài tháng sau lễ cưới diễn ra tại nhà thờ Thánh Mary, còn tiệc được tổ chức ở nhà hàng Hoa hồng đỏ, khu South End. Gia đình của Anne Marie chi trả hết và có mặt đông đủ (rồi tôi sẽ kể về họ), nhưng bố mẹ tôi thì không, chủ yếu là vì tôi không thông báo cho họ biết. Khi Anne Marie hỏi, “Sao anh không mời bố mẹ anh đến đám cưới mình?” tôi đáp, “Vì họ mất rồi.”
“Sao mà mất?” nàng tò mò. “Từ bao giờ thế?”
“Ngôi nhà cháy ra tro,” tôi trả lời, “họ đã về trời trong đám cháy,” điều này chứng tỏ mỗi người chúng ta đều có một giới hạn nhất định về mặt ý tưởng, và sau này bạn sẽ thấy điều đó hóa ra cũng khá là gần với sự thật. Dù gì đi nữa, câu trả lời của tôi có vẻ đã thỏa mãn được Anne Marie. Song sự thật thì phức tạp hơn thế. Sự thật là tôi có thể nghe thấy giọng nói trong đầu mình cất tiếng hỏi dồn dập, Còn gì nữa? Còn gì nữa? và tôi không chắc liệu đó là giọng nói của tôi hay của bố mẹ tôi.
Anne Marie và tôi đi hưởng tuần trăng mật ở thành phố Quebec, và bởi lúc đó là tháng Mười hai lạnh giá, chúng tôi quyết định chơi trượt băng. Chuyến đi này đã làm tôi hồi tưởng lại lúc bố mẹ vỗ tay hoan hô khi tôi trượt trên mặt hồ sân golf nhiều nhiều năm về trước, và rằng khoảnh khắc đó mới tuyệt làm sao. Và lẽ ra nó cũng đã phải nhắc nhở tôi rằng quan hệ giữa mình và bố mẹ đã trở nên cay đắng thế nào, nhưng tôi là tôi, còn Anne Marie là Anne Marie, chúng tôi không phải là bố mẹ tôi, thêm nữa nơi đây cũng chẳng phải một hồ nước dớ dẩn nào đó mà là con sông Thánh Laurent kỳ vĩ đã lâu lắm rồi mới lại có một lần đóng băng, ai nấy đều nói tiếng Pháp, và sự khác biệt giữa hai hoàn cảnh đủ lớn để làm cho tôi nghĩ rằng lịch sử không nhất thiết phải tự lặp lại chính mình, và điều định đoạt số phận của một con người là tính cách chứ không phải bộ gien của anh ta. Đêm đó chúng tôi nằm thủ thỉ với nhau trong phòng khách sạn Château Frontenac, và Anne Marie thấy đủ chịu chơi nên chúng tôi quyết định sẽ cho ra đời một đứa nhóc.
Đứa nhóc ra đời; là một bé gái. Chúng tôi đặt tên con là Katherine, chẳng theo tên người nào cụ thể. Tới lúc con bé chào đời, tôi đã trở thành một ngôi sao sáng tại công ty Đóng gói Tiên phong, mải miết thiết kế những cái hộp chống đông có độ trong suốt đột phá. Katherine là một đứa bé ngoan: con bé tuy có khóc, nhưng chỉ là để thông báo cho bạn biết nó vẫn còn thở, điều này chẳng làm phiền chúng tôi, cũng chẳng khiến những người dưới quán Hoàng tử Sinh viên bận tâm. Họ thậm chí còn bưng lên hàng đĩa tẩm bột chiên giòn đã nguội cho con bé nhá lúc nó mới mọc răng. Mùa Giáng sinh đầu tiên, chúng tôi giăng đèn nhấp nháy quanh ô cửa sổ, và vào đêm Giáng sinh, ông bà Goerman, những vị chủ quán Hoàng tử Sinh viên trong suốt năm mươi năm, bê lên mấy đĩa tú hụ cá hồi trắng xốt kem với mấy chai rượu Rhine rồi chúng tôi cùng nâng ly chúc tụng ngày Chúa Jesus chào đời, và giờ khi nghĩ lại, đó hẳn là quãng thời gian hạnh phúc nhất của chúng tôi.
Thế rồi hai năm sau chúng tôi tòi ra thêm một nhóc tì nữa, thằng bé tên là Christian, đặt theo tên bố của Anne Marie, và khiến cho căn hộ yêu thương thoắt cái đã trở nên chật chội và mùi nấu nướng từ dưới nhà hàng bốc lên đột nhiên trở nên ám ảnh, đến cả trong cơn mơ chúng tôi cũng bắt đầu thấy mình chỉ ngốn rặt món bánh kếp khoai tây. Một ngày nọ Anne Marie tới bên tôi, nhìn nàng như một phiên bản âu sầu mệt mỏi của trang tuyệt sắc tôi đã xe duyên ba năm về trước, đâu đó trong phòng có tiếng Christian ngằn ngặt tru tréo như một con khủng long bay đang cố cưỡng lại bờ vực tuyệt chủng, và nàng lên tiếng, “Mình cần một chỗ rộng hơn.”
Nàng nói đúng: chúng tôi quả là cần một chỗ rộng hơn. Nhưng đi đâu mới được? Ở Springfield cũng ổn, nhưng giờ nơi đây đã nhan nhản những người Puerto Rico, còn bố mẹ Anne Marie và những người Ý khác lại rời đi Tây Springfield và Ludlow… vậy nên dẫu không muốn ở gần họ, chúng tôi cũng chẳng muốn ở Springfield nữa - không hẳn là vì những vị hàng xóm tương lai đến từ Puerto Rico, mà vì những gì nhà Mirabelli sẽ nói về họ mỗi khi tới thăm chúng tôi. Đây là một trong những gì Trường học Bản thân đã nói tới - tránh gây đau tim, nếu cần thì hy sinh cả phép tắc - một trong vài điều mà tôi thấy trúng phóc.
Và thế là Springfield bị loại, song phải chuyển đi đâu bây giờ? Một ngày Anne Marie bảo tôi, “Em nghe nói Amherst cũng hay đấy. Anh nghĩ sao?”
Phải nói luôn rằng tôi chưa từng kể cho Anne Marie nghe về quá khứ của mình, và ngay lúc đó tôi đã nôn nóng muốn làm điều ấy: tôi muốn kể cho nàng nghe tuốt luốt - về Dinh thự Emily Dickinson, về việc tôi đã lỡ tay gây ra sao, và về những người tôi đã cướp đi mạng sống - mà nhân tiện cũng nói luôn, đây không phải lần đầu tiên tôi muốn kể tất cả cho nàng nghe. Lẽ ra tôi phải thú nhận với nàng ngay từ đầu mới phải, tôi biết lắm chứ, nhưng mối tình non trẻ là một thứ thật mong manh dễ vỡ, nên tôi cứ nghĩ mình sẽ đợi đến khi nó bền chắc hơn mới kể cho nàng. Nhưng rồi thời gian thấm thoắt trôi qua, và cho đến lúc này thì ngoài tội lỗi ban đầu của mình, tôi còn mắc thêm một tội mới là đã giấu giếm nàng bao nhiêu năm trời, và mọi chuyện trở nên rối rắm tới mức tôi chẳng thể cạy miệng mình mà phun ra sự thật được nữa.
Thế nên tôi gật đầu cái rụp. Amherst. Tại sao không chứ? Chúng tôi tống lũ nhóc lên chiếc xe tải mini và thẳng tiến tới Amherst. Suốt dọc đường đi tôi đã tự thuyết phục bản thân về rất nhiều điều, toàn những điều điên rồ. Tôi tự nhủ rằng tới thị trấn, chúng tôi sẽ kiếm một căn nhà cổ kính, xinh xắn xây theo kiểu New England tại mảnh đất Amherst cổ kính, xinh xắn của New England, dọn vào đó, rồi sẽ thưa chuyện về nhà tôi, vợ tôi, con tôi, công việc của tôi, và bản thân tôi cho hai cụ thân sinh, lúc này hẳn đã khắc khoải nhung nhớ cậu con trai. Con đã khác trước rồi, tôi sẽ nói. Và họ sẽ đáp, Bố mẹ cũng vậy. Chào mừng con về nhà. Bởi vì trái tim ta muốn những điều mà trái tim ta muốn[7], và trái tim tôi đang thôi thúc, Đừng có gàn dở nữa, họ đã tha thứ cho cậu rồi, tất cả bọn họ. Và giục giã, Đã đến lúc, đã đến lúc, đã đến lúc.
Nhưng đã đến lúc đâu cơ chứ. Đó là một ngày thứ Sáu, Amherst vẫn khoác cái tấm áo nguyên sơ của nó: những con phố thâm nghiêm rợp bóng lá với hàng dãy xe thùng Volvo đậu tràn trạt như nấm mọc trong hang; những ngôi nhà hai trăm năm tuổi với những vạt cỏ rậm rì thanh nhã, những luống hoa loa kèn, hoa cúc đại đóa, rặng bạch dương và biển chứng nhận di tích lịch sử; những cậu sinh viên choai choai da trắng tóc lọn loăn xoăn đang chơi cái trò ném đĩa đầy phức tạp của chúng trên thảm cỏ trải dài trong thị trấn; những nhà thờ Tự trị Giáo đoàn lợp ván trắng tinh xen kẽ những nhà thờ Tân giáo lát đá hoa cương, những ngọn tháp của trường đại học nhô lên cao vút giữa các tán cây mà nhìn từ bất kỳ vị trí nào trong thị trấn cũng đều trông thấy; những cô sinh viên nuột nà mơn mởn trong bộ đồ tập gym có mặc cũng như không; những vị giáo sư đi giày thuyền và giày lười nhấp cà phê trên những bộ bàn ghế ngoài trời làm bằng thứ sắt rèn nghệ thuật trông quá sức mảnh dẻ để đặt mông xuống ngay cả khi người bạn mỏng dính như đa số các cô nữ sinh. Toàn bộ quang cảnh này quá đỗi quen thuộc với tôi, song lại không làm tôi thấy hân hoan, không làm tôi thấy như đang ở nhà. Tôi thấy mình giống như một cậu anh họ của một cậu anh họ, mà như thế, theo tôi nghĩ, chẳng còn phải là một cậu anh họ nữa: tôi như bị vĩnh viễn cắt lìa khỏi máu mủ của mình, và chiếc kéo thực hiện điều đó chính là sự kiện phóng hỏa ngôi nhà quan trọng nhất trong những ngôi nhà quan trọng, đẹp đẽ, cổ kính an tọa tại nơi này, và đồng thời giết béng mất hai công dân đi giày lười. Một ông anh họ của ông anh họ không còn là ông anh họ; một công dân vướng vòng lao lý không còn là một công dân nữa.
Điều này làm tôi thất vọng ghê gớm, nỗi thất vọng lớn nhất đời tôi, bởi vì tôi đã theo đuổi ngành kỹ nghệ đóng gói và quên đi văn chương, quên đi rằng tôi đã bị bịt đường về nhà, thế nên tôi cứ nghĩ rằng Amherst - thị trấn tuổi thơ của tôi, thị trấn tuổi thơ của cả bố mẹ tôi, thị trấn mà gia đình hai họ đã an cư trong hai trăm năm trời - sẽ vẫn là quê nhà của mình. Làm sao có thể khác được? Tôi không phải chính là một người con hoang tàn bị làm nhục của thị trấn này sao? Chẳng phải thị trấn nào cũng cần có một nhân vật như tôi đây - giống như trong lời hát ấy - một kẻ lầm đường lạc lối nhưng nay đã trở về? Vậy nhưng khi ngồi trên ghế tài xế trong chiếc xe tải mini, người tôi chợt gai lên một cảm giác như đinh đóng cột rằng Amherst sẽ không đời nào lại là thị trấn của tôi, rằng cả thị trấn sẽ không khi nào chịu dung túng tôi, rằng họ cóc cần một đứa con hoang tàn, rằng một đứa con hoang tàn mới chính là thứ họ cóc cần. Xe bon bon qua trường cũ của tôi: những khung cửa sổ trước kia vốn thông thoáng thì nay cắm chi chít chấn song, và đứng ngoài cổng là những tay lính canh mặc đồng phục trang bị vũ khí tận răng thay thế cho các bà già giám thị tuýt còi trước kia, khiến tôi cứ mường tượng rằng những song sắt và đám lính canh được nặn ra để bảo vệ đám học sinh khỏi chính tôi mà không phải là một đứa thiếu niên mất trí nào đó khoác áo choàng nhồi đầy chất nổ tự chế bên trong. Hai tai tôi lùng bùng vang lên tiếng ông hiệu trưởng trong buổi chào cờ sáng hôm đó: Chúng ta đã quá sơ suất, đã để hắn đốt trụi Dinh thự Emily Dickinson đồng thời cướp đi những hai mạng người. Song giờ ta đã sẵn sàng đối phó với hắn. Tôi cũng tưởng tượng đến cảnh, sau khi tan trường, đám học sinh và phụ huynh, thế nghĩa là bao gồm cả thị trấn rồi còn gì, sẽ - giống như trong Frankenstein - giương cao những bó đuốc rực cháy cùng những ngọn bồ cào sấn sổ đuổi tôi ra khỏi thị trấn, khiến cho tôi - chân lảo đảo, miệng lải nhải, người chi chít sẹo và vết khâu, đầu đóng một cây bu lông, trông hệt như con quái vật - lết đi vô định, lạc lối trong thế giới u ám, kỳ dị, nghiệt ngã, và không một ai sẽ còn nghe còn biết tới nữa.
“Anh thấy sao anh?” Anne Marie hỏi tôi, gương mặt nàng sáng bừng hạnh phúc và háo hức, hẳn là hoàn toàn đối nghịch với khuôn mặt tôi lúc này.
“Bồ cào!” Tôi thốt lên. “Đuốc! Quái vật!”
“Hử?” nàng hỏi. “Là sao?”
“Không sao,” tôi đáp, và tiếp tục lái xe trong trạng thái gần như hôn mê, khiến cho những tiếng thất thanh của Anne Marie, “Gượm đã!” rồi “Anh lái đi đâu thế này?” và “Ta đã ngắm được nhà nào đâu - từ từ đã chứ!” nghe như từ quá khứ âm u bàng bạc vọng về, tôi không thể nghe ra. Vâng, tôi cứ lái, vụt qua con phố Chicopee nơi bố mẹ cư ngụ, rồi đâm thẳng ra khỏi thị trấn, và trong suốt năm năm sau đó tôi không hề hối tiếc về quyết định này. Chẳng mấy chốc, chúng tôi đã rong ruổi trên quốc lộ 116, bỏ lại Amherst hút bóng sau lưng, và ngay cả quang cảnh trước mặt tôi lúc này cũng vô cùng quen thuộc - những túp nhà gạch đỏ, nơi cư trú của đám sinh viên châu Á học ở trường công lập, những phòng giặt tự động cho sinh viên, những hiệu tạp hóa do các nhà ven đường mở ra, và những tiệm lẻ cho thuê băng đĩa với một danh mục sơ sài, nơi bạn chẳng bao giờ kiếm được những phim muốn xem. Nhưng không bao lâu mọi thứ bắt đầu thay hình đổi dạng. Đầu tiên là dòng chảy ồ ạt của những siêu thị: siêu thị đồ làm vườn, siêu thị đồ chơi, siêu thị quần áo trẻ con, siêu thị đồ xây dựng, siêu thị đồ nội thất, siêu siêu thị, vân vân và vân vân. Những tòa nhà của các siêu thị này có điểm chung là vừa trông rẻ tiền vừa to đại tướng - nói đúng ra thì chẳng qua chỉ là những khu chuồng lợp mái tôn kích cỡ quá khổ, với bãi đỗ thì khủng tới mức toàn bộ thị trấn Amherst có thể thừa sức rúc vào. Amherst nào có đủ lớn về người và của để trang trải cho hết đống siêu thị và bãi đậu xe này; cứ như thể người ta đã láu táu xây ngoại trước khi đặt gạch xây thành vậy.
Nhưng những siêu thị này mới chỉ là phần điểm tâm cho những đổi thay thực thụ: những lô đất đằng sau các siêu thị, những lô đất mười năm trước còn là ruộng ngô cùng đồn điền thuốc lá, giờ đã là những cụm dinh thự treo biển đề KHU NHÀ MONACO hay STONEHAVEN, cùng những con phố mang tên Phố Công Chúa Kiều Diễm hay Bùng Binh Đồng Cỏ Cừu. Tôi lái một vòng quanh những lô này để kiếm xem có ai treo biển BÁN NHÀ không mà mãi chẳng thấy gì, cho tới khi xe đi đến một khu có đề chữ Camelot trên tấm biển gỗ tạc hình tòa lâu đài.
Camelot đẹp tuyệt vời. Tịnh không một bóng cây - như thể nơi này đã từng bị thả một quả bom hạt nhân hoặc là đứa con tinh thần của ngành công nghiệp xẻ gỗ - tất cả các căn nhà đều giống nhau y tạc, chỉ trừ có một vài căn ốp mica màu lam thủy tinh bên hông nhà thay vì màu nâu sa mạc như các nhà còn lại. Ở mỗi khoảnh sân sau là một khu cầu trượt công phu bằng gỗ, trên mỗi mái nhà là một cái ăng ten chảo loại mini, mỗi lối rẽ vào nhà là một tấm thảm nhựa đường đen mượt, còn nhà để xe thì to bằng nguyên cả căn nhà. Tiếng xén cỏ rì rì êm tai luôn vẳng lại từ một nơi nào đó, từ mọi nơi có thể, mặc dù những bông cỏ trước hầu hết các căn nhà vẫn chưa chín hạt và tôi ngó nghiêng đỏ mắt cũng chẳng thấy cái máy xén nào, còn hệ thống vòi tưới tự động vẫn đang tất bật phun xoay bất chấp lúc này đã là cuối tháng Chín và ngày đã ngả muộn cho việc tưới tắm vườn cỏ, những tia nước uốn cong mình nhảy múa dưới ánh đèn đường - ở đây phải có đến 150 cột - tất cả đều bật sáng trưng mặc dù giờ mới xế chiều.
“Ái chà,” tôi thốt lên.
“Ái chà cái gì cơ?” Anne Marie thắc mắc. “Ý anh là cái kia á?” Nàng trỏ vào một căn nhà màu nâu giống y đúc những căn còn lại, trừ việc ngoài thảm cỏ có cắm biển BÁN NHÀ. Anne Marie và tôi xuống xe; lũ nhóc ngồi trên ghế đang gào inh ỏi về cái gì đó, về mọi thứ, song vì cửa kính xe đã đóng kín mít thành thử tiếng gào của chúng trở nên êm ái và vui tai như mưa rơi trên mái nhà.
“Anh đang nghĩ gì đó?” Rốt cuộc Anne Marie cũng lên tiếng. Nghe giọng nàng nhuốm màu chán nản, tựa như tiếng thở dài, tôi nghĩ đơn giản là vì nàng mệt, nhưng cũng có thể nó xuất phát từ sự cam chịu. Giờ tôi cứ ước giá như hồi đó mình đã chú ý đến nàng nhiều hơn. Ôi, tại sao tôi lại cứ bỏ lời nàng ngoài tai vậy nhỉ? Tại sao ta chẳng bao giờ lắng nghe những người ta thương yêu nhất? Có phải tại vì trong mỗi chúng ta luôn có quá nhiều điều để nghe, và quá nhiều điều tối quan trọng để tự nhủ với bản thân?
“Sam, anh đang nghĩ gì đó?” Anne Marie hỏi lại lần nữa, vì tôi vẫn chưa trả lời nàng, bởi đầu óc tôi lúc này vẫn đang mông lung nghĩ về khu Camelot và căn nhà.
“Xin chào, cuộc sống,” tôi đáp.
“Anh đang khóc đấy à?” nàng hỏi.
“Ừ,” tôi trả lời. Đúng là tôi đang khóc thật, tôi thấy quá đỗi hạnh phúc, vì đây sẽ là ngôi nhà mới của tôi, nó thật tinh tươm và hoàn hảo và tôi không nghĩ là sẽ có người quen của tôi sống ở đây, hay một ai đó muốn làm quen với tôi. Những người hàng xóm nơi đây giả có muốn làm quen với tôi rồi hay rằng tôi là một tên hỏa tặc, một kẻ sát nhân, chắc hẳn sẽ cướp lời tôi để nói về việc trồng cỏ gà hay cỏ poa. Tôi không thể làm một người bình thường ở Amherst, nhưng ở Camelot thì hoàn toàn có thể. Tôi cảm thấy phấn chấn và hớn hở vô cùng. Tôi muốn cảm ơn ai đó. Nếu có người hàng xóm nào đi ngang qua, hẳn tôi đã ôm chầm lấy họ ngay rồi. Nhưng chẳng có ma nào sất; tất cả đều ở trong nhà, thân ai lo phận nấy và đó chính là một trong những điều làm tôi thấy hân hoan nhất.
“Cảm ơn cưng nhiều nhé,” tôi bảo Anne Marie.
“Ừ thì có gì đâu,” nàng đáp, chẳng mảy may hỏi tôi một lời xem tôi cảm ơn vì cái gì, bởi tình yêu của chúng tôi lúc nào cũng như vậy. Chúng tôi gọi tay môi giới địa ốc, mua ngôi nhà, chào tạm biệt căn hộ ở Hoàng tử Sinh viên (đó không phải là lời vĩnh biệt, dù mãi sau tôi mới biết được điều này), chuyển vào khu Camelot, và trong năm năm chúng tôi an cư ở đây, tôi dành nửa tiếng mỗi ngày để tới chỗ làm, lũ trẻ phổng phao hơn một tẹo, còn Anne Marie kiếm được công việc giám sát bán thời gian cho một siêu thị đồ gia dụng, và trong năm năm đó chẳng có chuyện gì đáng kể, chúng tôi hạnh phúc như những người hạnh phúc. Ừ thì đúng là Anne Marie phải mất một khoảng thời gian mới tìm thấy hạnh phúc: năm đầu tiên nàng khóc vì phát hiện ra cái lò sưởi hóa ra chỉ mang tính trang trí và sẽ mãi mãi như vậy; năm thứ hai nàng khóc khi thấy chẳng khó gì để chọc ngón trỏ xuyên qua cái vách tường mỏng tang bằng mica và đã điên cuồng chọc trong cơn bấn loạn, làm cho ngôi nhà giờ vẫn còn mang đầy thương tích; năm thứ ba nàng khóc khi láng giềng đến lúc này vẫn không biết nàng tên gì và nàng cũng chẳng hay tên của họ. Lần này nàng khóc thực sự, mãi chẳng ngừng, khiến tôi phải gửi lũ trẻ đến nhà ông bà ngoại cho nàng có thời gian trấn tĩnh lại. Nhưng sau một thời gian thì ngay cả Anne Marie cũng thấy hạnh phúc, và nếu như nhà tù là nơi đầu tiên không hoàn toàn khiến tôi khốn khổ, thì đây là nơi kế tiếp, và không có lấy một lần tôi bị phát hiện là thủ phạm đốt Dinh thự Emily Dickinson, không có lấy một lần trong đầu tôi vang lên giọng nói ám ảnh cật vấn, Còn gì nữa? Còn gì nữa? Không có lấy một lần, cho tới một ngày nọ, khi cậu con trai của cặp vợ chồng bị tôi ngộ sát trong Dinh thự Dickinson đột nhiên lù lù xuất hiện trước thềm nhà, và rồi giọng nói trở lại trong đầu tôi, tôi chuyển về ở với bố mẹ và lôi chồng thư nọ ra đọc lại, rồi đám chuyên gia phân tích trái phiếu lù lù xuất hiện và rao giảng cho tôi những bài học kiểu Chúa-và-đất-nước, rồi người ta (không phải tôi! không phải tôi!) bắt đầu châm lửa phóng hỏa tư gia của các đại thi hào khắp vùng New England, thì đó là khi mọi rắc rối khởi sự.
❀ ❀ ❀
[1] Emily Dickinson (1830-1886): nữ thi sĩ lừng danh của Mỹ.
[2] Trên đỉnh núi Rushmore nổi tiếng ở bang South Dakota, người ta đã tạc lại gương mặt của bốn vị tổng thống đã có nhiều công lao với nước Mỹ là George Washington, Thomas Jefferson, Theodore Roosevelt và Abraham Lincoln.
[3] Một phụ nữ độc thân đã cầm rìu sát hại cha và mẹ kế của mình năm 1892.
[4] Choate và Andover: những trường trung học tư danh giá nhất nước Mỹ.
[5] Trước khi dính vào vụ bê bối với tập đoàn Enron, đây từng là một trong năm tập đoàn kiểm toán khổng lồ của thế giới.
[6] Trong tiếng Anh, có nhiều cụm từ sẽ được viết tắt để thuận tiện cho việc viết và nói, như do not sẽ được viết tắt là don’t, will not sẽ được viết tắt là won’t.
[7] The Heart Wants What the Heart Wants là tên một bài thơ tình nổi tiếng của Emily Dickinson.