Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Sáu Con Cá Còn Sống

❊ ❊ ❊

NEW YORK

Việc thần tượng loài cá không có gì mới mẻ. Năm 1905, một người nông dân đang tìm kiếm phân dơi để làm phân bón cho cây trồng đã trèo vào sâu trong hang La Pileta ở miền nam Tây Ban Nha và phát hiện ra một hình vẽ từ thời tiền sử. Kích thước và sự chân thực của nó làm ông ta nghẹn thở. Chú cá “Đại Ngư” với thân hình béo mập và dài một mét rưỡi được khắc họa trên tường hang động từ mười tám nghìn năm trước, lúc đầu người ta tưởng chú thuộc giống cá thờn bơn. Ở thuở sơ khai của nền văn minh, người ta tin rằng các vị thần của dân tộc Sumer[*], bao gồm cả triết nhân Adapa[*] hình dáng như loài cá, đã trèo ra khỏi vịnh Ba Tư bằng chân trần. Khi người Assyria giành được quyền lực khoảng 2.500 năm trước Công nguyên, họ thờ phụng Dagon, một “quái vật biển có nửa thân trên là người / nửa thân dưới là cá” (theo lời mô tả sau này của John Milton). Nhưng chính những người Ai Cập cổ đại mới là dân tộc để lại nhiều bằng chứng vật chất nhất về sự tôn thờ các sinh vật dưới nước của họ.

[*] Một nền văn minh cổ ở phía nam Lưỡng Hà, Iraq, tồn tại trong thời kỳ đồ đồng đá và thời kỳ đồ đồng sớm.

[*] Trong truyền thuyết về bảy vị triết nhân của người Mesopotami, Adapa là vị triết nhân đầu tiên, là nhân vật đã vô tình từ chối sự bất tử.

Trong phòng trưng bày Ai Cập cổ của Viện bảo tàng Anh Quốc, các bạn có thể bỏ lỡ những di vật khiêm tốn của lòng sùng bái ấy giữa các đám đông đang xúm lại để xem xác ướp Cleopatra và Phiến đá Rosetta. Nhưng trong một góc yên tĩnh ở bên lề, tôi từng đứng ngắm một chiếc hộp đặt trong khung kính. Nó rộng khoảng mười lăm centimet và đang đựng một thứ trông như ngón cái được quấn băng kín mít. Tấm biển bên dưới nó có ghi:

XÁC ƯỚP MỘT CON CÁ TRONG QUAN TÀI BẰNG GỖ ĐƯỢC SƠN MÀU TRIỀU ĐẠI PTOLEMAIOS HOẶC LA MÃ, SAU NĂM 305 TRƯỚC CÔNG NGUYÊN

Người Ai Cập cổ đại ướp xác một số lượng lớn loài cá, thường là trong những chiếc quan tài đá riêng và được chôn ở những khu nghĩa trang xinh đẹp dành cho cá. Khi tôi xin hẹn để được chiêm ngưỡng bộ sưu tập lớn ở tầng hầm lưu trữ rộng thênh thang bên dưới viện bảo tàng, một nhà khảo cổ trẻ tuổi đã dẫn tôi đi qua một loạt nhà kho đầy chặt xác ướp của người tới một hành lang nọ. Ở đó anh ta lôi ra một ngăn kéo chứa đầy rắn và cá. Trông chúng không còn ra hình hai loài vật ấy chút nào, mà chỉ là những cuộn vải giả nhồi trong lọ thủy tinh. Tuy nhiên, với người cổ đại, chúng chính là những vật liên lạc thần thánh, được những người hành hương mua về để truyền tải lời nguyện cầu của họ tới các vị thần.

Cũng như những lần thế giới thay đổi quan niệm khác, ý tưởng cá chỉ là bậc dưới của loài người trong “chuỗi sinh vật vĩ đại” được cho là xuất phát từ thời Hy Lạp cổ, đặc biệt do ảnh hưởng của Aristotle. Trong số những đóng góp vĩ đại nhất của triết gia này cho lối suy nghĩ của người phương tây - như lý luận học, đạo đức học, siêu hình học và triết học chính trị - thì các bài viết về cá của ông lại thường không được nhắc đến. Nhưng Aristotle thực sự đã suy nghĩ nhiều về chúng. Với tư cách là nhà sinh vật học đầu tiên, ông tổ của ngành khoa học nghiên cứu sự sống, hẳn ông cũng đã ảnh hưởng to lớn đến thế giới hiện đại. Ngày nay, tác phẩm dài nhất cũng là áng văn bị lãng quên nhất của ông - mười tập cuốn Historia Animalium hay là Lịch sử Muôn loài. Trong đó, ông cố gắng sắp xếp các sinh vật sống dựa trên mức độ phức tạp, đánh giá chúng trên một scala naturae, “các thang sự sống.”

Aristotle viết cuốn Historia Animalium trong khoảng thời gian sống ở Lesbos, hòn đảo nơi ông rút về ở ẩn sau cái chết của người thầy Plato năm 347 trước Công nguyên. Sau khi được truyền lại chức vị lãnh đạo Học viện, vị triết gia trẻ tuổi khó lòng chọn địa điểm nào đẹp hơn để chiêm nghiệm về thế giới tự nhiên, tránh xa giới chính trị ở Athens. Một cái phá nước trong vắt cắt sâu vào đảo, và Aristotle dành nhiều ngày liền ở những bãi nông, nghiên cứu cá đuối, cá mập, cá bống và cá quân. Trong lúc quan sát những phôi sứa ở các giai đoạn phát triển khác nhau, ông lấy làm kinh ngạc trước bí ẩn của sự kế thừa. Ông lập luận rằng cha mẹ không chỉ truyền lại cho con cái vật chất mà còn cả một tác nhân tổ chức nào đấy - điều mà ngày nay chúng ta đã biết chính là ADN.

Người thầy Plato của Aristotle là một người theo thuyết sáng tạo luận[*], tin tưởng rằng Chúa tạo ra vũ trụ rồi biến những tội đồ thành thú vật để trừng phạt hành vi xấu. Những kẻ hằn học biến thành chim, kẻ ngu ngốc biến thành rắn và những kẻ dốt nát nhất biến thành cá. Ngược lại, Aristotle không tin vào một nhà thiết kế tối thượng, mà cho rằng bản thân tự nhiên là thiêng liêng và bất biến. Trong một áng văn đầy nhiệt huyết tên là “Lời mời tới Sinh vật học,” ông đã viết rằng nghiên cứu về mọi thiên đường đều không sâu sắc và quan trọng bằng việc tìm hiểu những giống loài thấp kém nhất trên mặt đất. “Vì trong mọi tạo vật của thiên nhiên đều ẩn giấu điều gì đó phi thường,” ông quan sát. “Nếu ai mà có ý nghĩ rằng nghiên cứu những loài động vật khác là việc làm thấp kém, thì chính người đó cũng nên nghĩ điều tương tự về mình.” Đây chính là hồi kèn báo hiệu của sinh vật học hiện đại - dù tiếng gọi ấy đã không được chú ý trong suốt hai nghìn năm khi khoa học suy tàn vì thời đại mê tín dị đoan.

[*] Thuyết sáng tạo linh hồn, cho rằng Chúa đã sáng tạo ra vạn vật.

Sau thời kì Cổ điển[*], những quái vật kì bí và rắn biển chen vào nhiều trang trong các sách lịch sử tự nhiên cho đến tận thế kỉ mười sáu, khi các triết gia của thời kì Phục hưng bắt đầu đào bới lại các bản tóm tắt của bách khoa toàn thư như một phần trong sự thức tỉnh rộng lớn hơn về văn hóa. Thế nhưng, trong khi Aristotle đã biết phân loại động vật thành các nhóm liên quan đến nhau thì các học giả của thời Phục hưng chỉ biết liệt kê chúng - và danh sách của họ cũng rất ngắn. Tới tận cuối những năm 1700, các nhà tự nhiên học của châu Âu mới chỉ biết tới vài ngàn loài, với chỉ 150 loài cá. Hơn thế, con số đó càng mơ hồ hơn bởi thuật ngữ nhập nhèm, dẫn đến những mô tả dư thừa về cùng một loài dưới những cái tên khác nhau.

[*] Thời ki lịch sử văn hóa nhân loại tập trung quanh vùng Địa Trung Hải, bao gồm văn hóa Hy Lạp và La Mã cổ đại.

Trong cách tường thuật truyền thống của lịch sử, một danh nhân duy nhất trong thời kì Khai sáng[*] đã bước lên đặt lại trật tự cho sự hỗn loạn. Nhà sinh học phân loại[*] người Thụy Điển tên là Carl Linnaeus chia mỗi một vương quốc tự nhiên (động vật, thực vật và khoáng vật) thành các lớp, rồi lại chia lớp thành hạng, giống và cuối cùng là loài. Đáng chú ý hơn cả, ông còn sáng tạo ra hệ thống danh pháp nhị thức - ý tưởng gán cho mỗi loài một cái tên chỉ bao gồm hai từ Latin - vẫn được sử dụng cho đến tận ngày nay. Từ đầu tiên sẽ định nghĩa giống (chẳng hạn Homo, nghĩa là “người”), và từ thứ hai là tên loài (chẳng hạn sapiens, nghĩa là “có trí khôn”). Trước đó, các loài sinh vật thường có những cái tên dài loằng ngoằng và khó dùng. Chẳng hạn, cá tuyết Đại Tây Dương được gọi là Gadus dorso triterygio, ore cirrato, corpore albicante, maxilia superiore longiore, cauda parum bifurca (cá tuyết có ba vây lưng, một cái miệng có râu và hàm trên chìa ra, đuôi chỉ hơi rẽ nhánh). Linnaeus rút gọn nó còn là Gadus morhua.

[*] Thế kỉ 18 ở châu Âu, khi người ta cho rằng chính lý trí và khoa học (chứ không phải “tôn giáo”) sẽ làm cho nhân loại tiến bộ.

[*] Một nhà sinh vật học chuyên nghiên cứu để phân loại sinh vật thành các nhómloài.

Hài lòng trước sự thông thái của chính mình, Linnaeus tin rằng ông ta được Chúa chọn lựa để hé lộ trật tự thiêng liêng của Tạo hóa và trở thành hình mẫu cho tính kiêu ngạo sau này luôn là đặc trưng của cuộc chinh phục thiên nhiên thời hiện đại. “Chưa có con người nào từng chứng tỏ được mình là một nhà thực vật học hay động vật học lỗi lạc hơn,” ông ta từng viết trong bộ năm cuốn hồi kí của mình. “Chưa có ai từng cải cách cả một ngành khoa học, từ đó tạo ra một kỷ nguyên mới như thế.” Nếu những lời này nghe có vẻ hơi quá vụng về thì có lẽ là bởi Linnaeus biết rằng còn có người khác nữa vẫn trong bóng tối có khả năng làm được những điều trên.

Ngạc nhiên thay, lần đầu tôi biết tới con người bị lãng quên này là khi đến thăm Hội Linnean ở London, tổ chức hoạt động trong ngành Sinh vật học lâu đời nhất thế giới, được thành lập vào năm 1788. Trụ sở Hội nằm trong một tòa nhà xây bằng đá vôi lớn ở ngay cạnh Học viện Hoàng gia, tiền sảnh của nó chứa những di vật đáng kinh ngạc như là “hộp bút chì được cho là Linnaeus đã dùng.” Như để hoàn thiện bầu không khí kiểu điện thờ, một bức tượng nhỏ bằng đồng của chính nhà tự nhiên học được dựng trong thư viện để khách viếng thăm đặt các bó hoa tưởng niệm trước móc khóa đôi giày của ông ta. Tuy nhiên, khi tôi đề cập với thủ thư là mình muốn tìm hiểu các tác phẩm về cá của Linnaeus, nụ cười của bà kém tươi đi. “Linnaeus không thích bất kì thứ gì có nhớt,” bà ta nói. “Rõ ràng cá không phải mối tình đầu của ông ấy.”

Bà giải thích rằng Linnaeus có một người bạn tên là Peter Artedi, hai người gặp nhau năm 1729, khi cả hai là sinh viên ở trường Đại học Uppsala, ở bên ngoài Stockholm, Thụy Điển. Bộ đôi cùng chia sẻ niềm dam mê với lịch sử tự nhiên vào thời điểm mà hầu như không có nổi một chương trình giảng dạy nào cho chủ đề này. Để tránh cạnh tranh với nhau, cả hai đồng ý chia đôi toàn bộ thế giới sống. Trong khi Linnaeus chọn thực vật (mối tình đầu của ông), chim muông và côn trùng thì Artedi ôm toàn bộ các loại có nhớt, bao gồm cả cá (mối tình đầu của ông ta), ếch nhái và rắn. Họ chia sẻ các loại động vật có lông, lúc này chưa được gọi là động vật có vú. Cả hai còn đồng thuận thêm một bước nữa là nếu một người chết trước thì người còn lại sẽ chăm lo cho việc xuất bản tác phẩm của bạn mình.

Artedi lớn hơn Linnaeus hai tuổi và được nhìn nhận là thông minh hơn. Ông ta có thiên hướng chiêm nghiệm phân tích sâu sắc hơn và tỉ mỉ đến khổ sở. Ông dành nhiều ngày liền chỉ với một con cá, đếm đi đếm lại những vây, tia vây và các đốt sống của nó, mô tả mọi chi tiết của nó: đầu, thân, vảy, mắt, lỗ mũi, lưỡi vv… Trong lúc đốt đèn suốt đêm thâu ấy, ông đã đặt nền móng cho các quy tắc hiện đại của bộ môn ngư học, và có lẽ cả động vật học nữa, bao gồm hầu hết các phương pháp vẫn được dùng đến tận ngày nay.

Năm 1735, sáu năm rưỡi sau ngày Linnaeus và Artedi gặp gỡ lần đầu, cả hai đều đang sống ở Hà Lan, phân loại những bộ sưu tập riêng của các quý ông Hà Lan giàu có. Trong một đêm trong trẻo nhưng không trăng cuối tháng Chín, Artedi rời một buổi tiệc ở nhà người bảo trợ của mình ở Amsterdam và bắt đầu đi bộ một quãng ngắn về căn hộ của ông, một tuyến đường ông đã quá quen. Sáng hôm sau, thi thể ông được tìm thấy đang nổi trong một con kênh, mặt ngửa lên trời, quần áo vẫn còn nguyên từ áo khoác ngoài, mũ đến tóc giả, chỉ có một chiếc giày biến mất. Vết sưng trên đầu cho thấy ông đã ngã đập đầu vào con đê đá.

Bất chấp những suy diễn hoang đường của nhà ngư học Theodore Pietsch, - người đã viết cuốn sách lịch sử Cái chết kì lạ của Peter Artedi[*] kể lại câu chuyện nói trên - không có bằng chứng nào cho thấy Linnaeus có dính dáng đến cái chết của Artedi. Nhưng không chỉ có một mình Pietsch nghi ngờ rằng nhà tự nhiên học nổi tiếng có thể đã chôm rất nhiều ý tưởng vĩ đại từ nghiên cứu của người bạn quá cố. Vào thời điểm Artedi qua đời, ông chỉ vừa mới hoàn thành bản thảo để đời của mình, cuốn Ichthyologica. Dù Linnaeus đã giữ lời hứa xuất bản nó, nhưng ông cũng mất tới hai năm rưỡi để làm điều đó. Trong khoảng thời gian này, ông đã kịp cho ra đời mười cuốn sách của chính mình, đảm bảo vị thếlà cha đẻ của ngành phân loại sinh vật học, kể cả khi các nghiên cứu của ông bắt chước cấu trúc phân loại mà Artedi đã vạch ra.

[*] Tạm dịch từ nguyên tác The Curious Death of Peter Artedi.

Sống tới tuổi thất thập, Linnaeus trải qua phần đời còn lại với tư cách là một học giả được tôn kính. Ông đã gửi những sinh viên mà ông gọi là “tông đồ” của mình đi khắp địa cầu hòng theo đuổi các loài mới. Sáu trong số mười chín chàng trai trẻ này đã chết trong hành trình tìm kiếm, bao gồm cả người bị đánh đến chết ở Senegal và một người khác tự cắt cổ trên thảo nguyên ở Nga. Sinh viên đầu tiên phải nhận kết cục thảm thương là người bị trúng bệnh sốt nhiệt đới ở châu Á trong lúc đang cố gắng để có một con cá vàng còn sống - khi đó cá vàng là loài hiếm và được khao khát nhất trong giới hoàng tộc châu Âu.

Đã từng có thời người ta sẵn sàng chết vì một con cá, hay ít ra là vì một mục đích cao cả hơn mà nó đại diện. Trong đại kỉ nguyên khám phá thiên nhiên, một thời kì kéo dài hơn hai trăm năm từ thế kỉ mười tám đến thế kỉ hai mươi, tâm điểm của sự khai phá chuyển từ việc vẽ bản đồ các vùng đất chưa ai biết tới phân loại các loài thực và động vật bên trong vùng đất ấy. Được đặc tính tự thân vận động của Chủ nghĩa lãng mạn[*] thúc đẩy, các nhà tự nhiên mang theo lưới, bình thủy tinh, kẹp và hộp thu thập đã nâng tổng số các loài vật đã biết lên tới gần một trăm lần, từ 4.162 loài do Linnaeus liệt kê năm 1758 tới 415.600 loài trong những cuốn sách cuối thập kỉ 1800.

[*] Chủ nghĩa lãng mạn vừa là trào lưu văn học, vừa là phương pháp sáng tác, mang một nội dung lịch sử xã hội cụ thể, được hình thành ở Tây Âu sau Cách mạng tư sản Pháp năm 1789.

Tôi đã khám phá ra một sự hoài niệm của thời kỳ này trong thú vui chơi cá cảnh, nhưng có lẽ không nhiều như Heiko Bleher, nhà tìm kiếm vĩ đại người Đức mà tôi gặp ở Aquarama. Heiko chẳng khác nào người bước ra từ thế kỉ mười chín - chính xác là hồi đầu thế kỉ ấy, trước khi khoa học gia được công nhận là một ngành nghề, khi mà các nhà tự nhiên học nghiệp dư chính là các hiệp sĩ giang hồ thời ấy.

“Tôi không nghĩ trong giới cá cảnh này còn có người nào khác có cả một đội quân người hâm mộ mù quáng chạy theo sau và hô vang: “Heiko! Heiko! Heiko!” như thế đâu,” một người trong nghề bảo với tôi khi ở Aquarama.

Tuy nhiên, Heiko cũng không thiếu kẻ thù. Dường như người ta yêu và căm ghét ông với cùng một cấp độ đam mê, đôi khi là cả hai cùng một lúc. Trên hết, ở ông tỏa ra sức hấp dẫn đặc biệt của một người sinh nhầm thời: một người phiêu lưu ngổ ngáo, một kẻ bất tuân quy tắc vui vẻ. Tôi cảm tưởng ông không phải là người dễ dàng bị cản lại bởi một khu cá sấu đang làm ổ, và là người có thể đưa tôi đến với con cá rồng hoang dã kia.

Tuy nhiên không phải tôi nghĩ sẽ có lần được gặp lại Heiko. Mùa hè từ Borneo về nhà, tôi đã sẵn sàng gạt hết cá mú ra khỏi đầu dù việc ấy tỏ ra rất khó khăn. Trong chuyến bay dài tới New York, thất bại trong việc tới tận nơi sinh trưởng của con siêu cấp huyết long cứ giày vò tâm tư tôi mãi như bệnh lỵ vậy. Có lẽ tôi mắc phải căn bệnh sau khi ăn bụng con cá khô trong đầm lầy ấy. Trong lúc quyết tâm đi tìm con cá rồng hoang dã, tôi đã kéo dài chuyến đi của mình, kết quả là tôi đã phải chọn một tuyến đường vòng về nhà đến mức suýt thì thất hứa với mẹ. Tôi đã hứa sẽ trở về đúng ngày để dự một tiệc cưới - đám cưới của chính tôi.

Thực ra tôi đã cưới từ sáu tháng trước rồi, trong một buổi tối tháng Mười hai lạnh thấu xương ở Manhattan, ở một nhà hàng tại Quảng trường Union, kiểu nhà hàng với những tấm rèm màu nâu sậm nặng nề và món tráng miệng cầu kì. Đó cũng chính là tuần tôi gặp Trung úy Fitzpatrick lần đầu tiên trong văn phòng của anh ở Queens. Lúc ấy chuyến săn tìm con cá rồng này thậm chí còn không nằm trong suy nghĩ của tôi. Vậy là Jeff (chú rể) không có lí do gì để nghi ngờ anh đã cưới phải một cô gái có gì đó bất thường, với mức độ thờ ơ hoàn toàn lành mạnh đối với cá cảnh.

Dù đám cưới chỉ ở quy mô nhỏ với các thành viên trong gia đình nhỏ của cả hai bên, tiệc tiếp tân mà tôi đang trở về dự lớn hơn nhiều. Bây giờ là tháng Sáu và những thân cây hành chỉ vừa ra nụ trong khoảng sân đầy cỏ nhà bố mẹ tôi, một ngôi nhà bằng đá ở ngoại ô Wilmington, Delaware, nơi bữa tiệc được tổ chức. Trong lúc đó, tôi đã rút gọn chuyến trở về từ Borneo của mình sát đến nỗi chỉ cần lỡ một chuyến bay thôi là nhiều khả năng tôi sẽ bỏ lại Jeff một mình chống đỡ mười chín bà cô, ông chú của tôi, để giải thích làm thế nào tôi lại đá anh ấy chỉ vì một con cá nhiệt đới.

Điều ấy giải thích rất nhiều cho biểu cảm lướt trên mặt anh khi tôi lúng túng bước qua cửa căn hộ của chúng tôi, chỉ một ngày trước sự kiện. Một nỗi day dứt trong lòng tôi được gỡ bỏ khi thấy hình ảnh người đàn ông tóc đen đang nằm ườn ra ghế sô pha bật dậy, giật tấm poster to đùng có hình ảnh con cá koi đoạt giải ra khỏi tay tôi và ôm choàng lấy tôi. “Em nhỏ nhắn hơn nhiều đấy,” anh nói. Đúng vậy thật. Tôi đã tìm được một cách khác thường nhưng cực kì hiệu quả để giảm cân trước đám cưới: điên cuồng chạy theo loại cá cảnh đắt đỏ nhất thế giới.

Tôi mừng vì được về nhà, bất chấp cảm giác lấn cấn rằng mình đã bỏ lại công việc còn dang dở ở Borneo. Đầu óc rối rắm và mệt mỏi, tôi nằm cuộn tròn trên ghế sô pha như một con sóc trong tổ trên tầng thứ hai mươi lăm, lải nhải luyên thuyên về chuyện bộ tộc ăn thịt người và tôi đã suýt soát tới được quê hương của con siêu cấp huyết long đến thế nào. Bên ngoài cửa sổ phòng khách, chóp nhọn của tòa nhà Empire State nháy mắt thân thương với tôi giữa biển ánh sáng của thành phố.

Điều tiếp theo tôi biết là tôi bật dậy giữa đêm đen, người mướt mát mồ hôi, tim đập thình thịch, còn không biết mình đang ở đâu (phòng ngủ của tôi), chứ chưa nói đến chuyện tôi là ai. Sau khi cân nhắc cẩn thận, tôi kết luận căn phòng này là một đầm lầy, tưởng nhầm chiếc giường là một con thuyền dài và sàn gỗ là mặt nước đen. Còn người đàn ông nằm bên tôi - trong một lùm chăn nhấc lên hạ xuống nhẹ nhàng - là ai thì tôi không hiểu nổi. Một lúc lâu sau, tôi nằm yên hết sức có thể. Cuối cùng, tôi giơ tay dò khẽ trên đầu giường, với tới bề mặt tối bóng nhẫy và bị sốc vì cảm giác gỗ cứng và lạnh chạm vào ngón tay mình. Mọi chuyện ùa về trong tôi như một giọt mực lan tỏa khi rơi xuống nước.

“Có chuyện gì xảy ra với con ở trong rừng à?” Mẹ hỏi tôi trong đêm tiệc, bà đang cau mày nhìn tôi. Thực ra, bà lườm tóc tôi nhiều hơn là lườm tôi. Chiều hôm trước, tôi đã cắt tóc để chuẩn bị cho bữa tiệc này, đồng thời nhuộm nó sang màu đỏ. Mặc dù trước đó suốt cả đời tôi đã để tóc vàng tự nhiên, nhưng lúc này tôi buộc phải thể hiện rằng mình có một khía cạnh mới nào đó. (Tôi cũng không thể không để ý là mình đã chọn cái màu đỏ quạch như chính con cá đó.) Khi tôi nhìn vào gương và không nhận ra khuôn mặt của chính mình, tôi hoảng hốt yêu cầu người thợ kia tẩy màu nhuộm cho tôi. Kết quả là tóc tôi giờ thành tông màu cam có thể so sánh với màu lông đười ươi. Một người mẹ sẽ để ý đến những chi tiết như vậy.

Sự căng thẳng trong lúc đuổi theo các băng cướp cá cuối cùng cũng ngấm vào tôi. Tôi đã không ngủ ngon ở Borneo, với một bên tai phải nhét bông để tránh lũ gián chui vào, tai kia để không (bên tai úp xuống gối) để cảnh giới trong đêm. Tôi cảnh giác thế là đúng, bởi vì bộ ba ông ba bị mà tôi đã dễ dàng gạt bỏ trong lúc ham hố theo đuổi mục tiêu của mình - những tên khủng bố Hồi giáo, “mafia cá” và bộ tộc săn người Iban - đã nhanh chóng hiện hình rõ ràng hơn. Hai tuần sau khi tôi về nhà, một nhóm Jemaah Islamiyah có liên hệ với al-Quaeda đã cho người đánh bom tự sát trong bữa buffet sáng ở khách sạn Ritz-Carlton và Marriott gần với khách sạn tôi đã ở tại Jarkata, giết chết bảy người và làm năm mươi người bị thương. Ở Malaysia, một nông dân nuôi cá rồng đã phải khâu năm mũi trên đầu sau khi lũ trộm tập kích ông ta và cướp mất hai trăm con cá. Và câu chuyện rùng rợn hơn cả, tôi tìm được những tài liệu ghê rợn về chuyện chặt đầu người - thậm chí là nướng thịt người - mà Hery đã kể cho tôi nghe ở Borneo.

Đáp lại câu hỏi của mẹ, tôi bảo mình không gặp chuyện gì khủng khiếp trong rừng cả. Tôi chỉ không tìm được một con cá - để kết nối điểm Z (là con cá rồng bạch tạng) với điểm A (con cá hoang dã), vẽ ra một ranh giới với thế giới nhân tạo, nơi các loài vật rốt cuộc cũng sẽ trở về môi trường tự nhiên đã sản sinh ra chúng. Chỉ thế thôi. Nhưng tôi không thực sự cảm thấy mình là con người như trước kia nữa. Nó giống như tôi đã chạm lưỡi vào một thứ chua chát chứ không ngọt ngào, nhưng vẫn gây nghiện y như thế. Giờ tôi cảm thấy mình buộc phải cắn một miếng, rồi lại một miếng nữa cho đến khi đã ngấu nghiến toàn bộ trái đắng ấy. Tôi cảm thấy chắc chắn rằng nếu mình gặp được người Iban, tới được quê hương của con siêu cấp huyết long, vùng hoang dã thực sự ấy, thì tôi sẽ thành công. Vấn đề là tôi đã ở rất gần con cá hoang dã khi nó trượt khỏi tầm tay mình.

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.