NEW YORK
Sang tháng Bảy, những cơn ác mộng đã giảm dần và có thể tôi đã kết thúc nốt câu chuyện về cá rồng của mình để sống tiếp nếu không phải vì bất ngờ nghe tin từ Heiko. Ông ta vừa từ vùng rừng núi ở Úc trở về ngôi làng ở Ý mà ông sinh sống, dù ông ta có thể sống ở bất cứ đâu, và đang chuẩn bị tới Tehran để giảng mấy buổi vẽ cá cảnh. Heiko yêu đất nước Iran. Ở đó ai nấy đều yêu thích cá bởi luật Sharia[*] cấm người ta nuôi chó và lại có ác cảm với mèo. Từ Trung Đông, ông sẽ tới tham dự một hội nghị cá cảnh ở Los Angeles và đã sắp xếp chuyến bay có chặng nghỉ năm tiếng ở New York. “Cô mời tôi một ly espresso của Ý nhé?” Ông viết cho tôi và gợi ý luôn Thủy cung New York. Đó không phải là địa điểm đầu tiên tôi nghĩ tới cho một ly espresso.
[*] Luật của đạo Hồi.
Thủy cung New York nằm mãi ngoài đảo Coney, ở mũi cực nam của Brooklyn, từ chỗ tôi ở đến đó phải đi mất một giờ tàu điện ngầm. Để đón được Heiko ở sân bay rồi tới thủy cung và trở lại sân bay trong khung giờ ngắn như vậy, tôi sẽ phải lái xe - một việc tôi gần như không bao giờ làm trong thành phố. Cuối tuần trước khi Heiko đến, tôi thuê một chiếc Zipcar và lái thử tuyến đường bốn mươi tám kilômet đi hai chiều ấy với Jeff. Ngày thứ Năm tiếp theo, tôi tự thuê một chiếc xe thứ hai, cẩn thận lái theo hướng Grand Central Parkway tới một chỗ đỗ xe ngắn hạn ở sân bay JFK rồi đi bộ tới sảnh đến quốc tế để chờ Heiko.
Về sau tôi đã trở thành một chuyên gia chờ đợi Heiko. Vào thời điểm viết cuốn sách này, tôi đã phải đứng chờ Heiko ở bốn lục địa khác nhau. Tôi đã chờ ông mười ngày ròng rã giữa Yangon nóng bức đến khô cổ, trong lúc bị một ông thầy tu đáng ngờ bám theo. Tôi đã phải chờ Heiko ở một triển lãm thú cưng ở Nuremberg, sau khi ông nhờ tôi trông quầy hộ một lát và bảo sẽ quay lại ngay. Kì thực ông rời khỏi tòa nhà đó và lái xe đến hẳn một thành phố khác. Một lần, trong lúc tôi đang đứng chờ Heiko ở Bogota, tôi cảm giác run rẩy và quay cuồng kì lạ, hóa ra tôi đang ở tâm một trận động đất. Tôi còn phải chờ Heiko bên ngoài một trạm xe lửa ở vùng quê nước Ý, ngay cạnh một cột điện thoại công cộng không ngừng đổ chuông trong lúc tôi dõi theo mặt trời nhô lên rồi lại lặn xuống. Có lúc một người phụ nữ gốc Phi tốt bụng còn mua tặng tôi cây kem sôcôla. Vì lịch sự mà tôi phải ăn nó mặc dù tôi hơi bị dị ứng với sôcôla. Lúc lòng bàn tay tôi bị ngứa, tôi không rõ đó là do dị ứng hay sự căng thẳng vì phải chờ đợi Heiko nữa.
Nhưng vào lúc tôi đứng ở sân bay JFK, tay vung vẩy chìa khóa của chiếc xe đi thuê thì mọi chuyện vẫn còn đầy màu hồng. Hơn nữa lần đầu tiên trễ hẹn không phải lỗi của Heiko. Chuyến bay của ông bị chậm một tiếng, rồi lại còn tắc nghẽn ở chỗ lấy hành lý hay hải quan nữa. Thực tế, suốt hơn bốn mươi phút, ông đã đứng gần đến mức tôi có thể trông thấy chiếc mũ rộng vành màu đen của ông nhấp nhổm sốt ruột suốt trong đám đông ở bên kia tấm kính ngăn cách.
Rất may tôi đã biết đường mang theo cuốn sách - chính là cuốn mà Heiko tặng tôi ở Aquarama, hồi ký của mẹ ông. Giờ tôi mới mở nó ra lần đầu tiên từ khi ở Singapore về và ngắm nhìn bức ảnh đẹp một cách huyền ảo của người phụ nữ tóc vàng ở độ tuổi tứ tuần, đội chiếc mũ tròn nhỏ có đính lông chim màu trắng, mấy chiếc lông vũ có thể chạm cả tới má bà.
“Cuốn sách này kể một câu chuyện hoàn toàn có thật - về một người phụ nữ can trường, Amanda Flora Hilda Bleher,” đó là lời đề tựa của Heiko. Ông giải thích rằng cuốn hồi ký ghi lại những chuyến thám hiểm của mẹ ông khi vào rừng Amazon hồi những năm 1950, khi bà mang bốn đứa con, Heiko tám tuổi, các anh chị em khác lần lượt là mười, mười hai và mười bốn tuổi, vào cuộc săn lùng loài cá được khao khát nhất - và hồi đó là đắt nhất - trong giới cá cảnh. Cả nhà phiêu lưu tới tận sâu trong Mato Grosso (nghĩa là “rừng rậm”), một tiểu bang của Brazil rộng hơn Pháp và Anh cộng lại. Đó cũng là vùng đất đã nuốt chửng Đại tá Percy Fawcett năm 1925 khi ông đi tìm nền văn minh vĩ đại được cho là đã từng phát triển mạnh bên trong khu rừng Amazon. Tôi vừa mới đọc cuốn Thành phố Z đã mất[*] của David Grann, viết về cuộc khám phá của Fawcett nên tôi biết, chẳng hạn một đoàn giải cứu lên đến một trăm người đã chết trong hơn mười ba chuyến đi lần theo số phận của Fawcett. Tôi trộm nghĩ làm gì có người đàn bà đầu óc bình thường nào lại vác theo bốn đứa trẻ con tới một nơi mà, như chính Amanda từng mô tả, “mỗi tuần lại có những người biến mất không một dấu vết…, nơi người Anh điêng hoang dã sinh sống, nơi sốt rét, sốt phát ban và bệnh hủi tràn lan, sông dày đặc cá sấu, cá hổ, cá đuối có nọc độc và cá chình điện”?
[*] Tạm dịch từ nguyên tác: The Lost City of Z.
Sinh năm 1910 ở Frankfurt, Amanda mất mẹ từ khi còn đỏ hỏn và được cha nuôi nấng. Ông Adolf Kiel có cái đầu hình quả trứng đà điểu tròn trịa với bộ ria mép đen sì hình bàn chải đánh răng. Ông bước vào ngành kinh doanh cây thủy sinh hồi những năm 1880. Cô gái Amanda từ sớm đã giúp cha quản lý các cửa hàng cây thủy sinh, đến tận năm hai mươi tám tuổi mới kết hôn với một người bán thịt tên là Ludwig Bleher. Bốn đứa trẻ lần lượt ra đời, đứa bé nhất là Heiko, sinh ra ở một boong ke tại Frankfurt ngày 18 tháng Mười năm 1944, đúng cái năm mà các lực lượng Đồng minh san phẳng thành phố này. Thời gian đó Ludwig đang phục vụ trong quân đội Quốc xã. Cuối cùng ông ta bị bắt ở Pháp và bị cầm tù trong một trại giam của Mỹ. Khi trở về nhà năm 1946, ông biến thành một người hoàn toàn khác và thường xuyên nổi cơn cuồng nộ. Amanda li dị chồng, giành quyền nuôi con và khởi nghiệp kinh doanh riêng (theo lời Heiko là “dịch vụ buôn bán thú cưng qua đường bưu điện đầu tiên trên trái đất”), chuyên cung cấp những loài độc, lạ. Bà nhanh chóng kiếm được một con cá sấu sông Nile về nuôi, và trở nên nổi tiếng năm 1950, khi chiếc rương chứa tám mươi con rắn độc cất trong cốp xe bà đang đỗ ở Munich bị đánh cắp. Khi biết có gì bên trong, tên trộm đã bỏ mặc cái rương giữa phố, rồi một đám trẻ phát hiện ra nó, về sau người ta tìm thấy lúc lũ trẻ đang chơi đùa với rắn. Sau tai nạn đó, báo chí tâng bốc Amanda là “người phụ nữ có trái tim Tarzan,” và viết “cuộc sống của bà cũng đầy sắc màu và rực rỡ như chính những con cá cảnh bà bán.”
“Ciao[*],” Heiko nói, rốt cuộc cũng thoát khỏi chỗ hải quan. Ông đang mặc quần bò bó, đi giày mũi nhọn, mặc chiếc áo sơ mi cài khuy dáng rộng cùng chiếc túi da đeo chéo qua vai. Ông hôn vào cả hai má tôi, râu ria xồm xoàm như một trái dừa, rồi tuyên bố chuyến bay nối tiếp của ông đã bị đẩy lên hai tiếng - ông còn chẳng có thời gian uống espresso ở sân bay chứ chưa nói đến Thủy cung New York. Tay vẫy ra hiệu hối tiếc còn mắt thì đã chăm chú vào mặt đồng hồ, ông ra dấu cho tôi chạy theo. Trong lúc chúng tôi len lỏi ở sân bay, ông đọc cho tôi gửi một email tới người sẽ đón ông ở Los Angeles, báo anh ta biết giờ đón mới. Thêm một tiếng “ciao” nữa là Heiko biến mất qua cổng an ninh. Tôi đứng nhìn cái mũ đen của ông xa dần với cảm giác như bị đi lố ở cửa xoay, lại quay về chỗ xuất phát.
[*] Xin chào! / Tạm biệt!
Trở lại với chiếc xe thuê, tôi xoay chìa khóa và để làn gió nóng của điều hòa phả vào mặt mình. Rồi tôi mở cuốn hồi kí của Amanda ra đọc tiếp.
Năm 1953, ở độ tuổi bốn mươi, bà Amanda bị cuốn hút vì đám cá đĩa như một cái cây mọc lên hướng về phía mặt trời. Trong hai năm tiếp theo, bà và các con đã nhiễm đủ loại bệnh từ sốt rét, tả lỵ tới những con bọ bám chặt lấy da đầu Heiko gây đau đớn. Dù đôi chỗ có hơi cường điệu, cuốn sách kể lại câu chuyện gia đình gồm năm mẹ con đã bị cách ly ở một trại phong như thế nào, bị bộ tộc những người Anh điêng trần như nhộng và mang ống thổi tiêu truy sát, cuối cùng vẫn sống sót sau một tai nạn xe buýt chết chóc ở Andes, hậu quả là Amanda bị tật vĩnh viễn ở chân, suốt đời phải dùng gậy chống. Vượt trên tất cả, họ được tiếp xúc với cuộc sống hoang dã tuyệt vời ở sâu trong rừng rậm Brazil, mặc dù rất buồn vì không tìm được loài cá đĩa như mong muốn. Theo lời bà Amanda, đứa con út của bà, Heiko, lại là đứa nhạy cảm nhất. Bà kể lại rằng cậu bé Heiko đã khóc khi chứng kiến người ta siết dây thòng lọng vào một con báo gấm. “Heiko muốn thả con báo đi,” bà viết. “Nhưng mãi nhiều năm sau này tôi mới thực sự nhận ra nỗi khổ mà chú báo ấy đã phải chịu đựng.”
Đó là một gợi nhắc ngầm tới khoảng thời gian ba năm bà bị nhốt trong phòng giam như một con cá trong bể kính, sau khi bà trở về Frankfurt năm 1955, lúc ấy bà bị định tội “làm gián điệp dựa trên những lời chứng giả tạo,” vì đã buôn cá ở Đông Đức. Amanda bị giữ ở phòng biệt giam trong lúc bốn đứa con phải tự xoay xở lo cho nhau và xác của cha bà, ông Adolf Kiel, được phát hiện. “Cha đã ngã trên cầu thang ở gian nồi hơi, hay đã bị kẻ nào đẩy xuống?” Amanda viết.
Khi cuối cùng cũng được thả năm 1958, Amanda quyết tâm bỏ lại nước Đức mãi mãi. Bà tập hợp các con khi ấy đều đã ở tuổi vị thành niên lại và khởi hành tới Brazil, ở đó bà mở một công ty xuất khẩu cá và cây cảnh bên ngoài Rio. Bà sống ở đó hơn ba mươi năm trước khi mất năm 1991, trước ngày sinh nhật thứ tám mươi mốt không lâu.
❀ ❀ ❀
SÁU THÁNG SAU cuộc gặp gỡ chớp nhoáng của chúng tôi ở sân bay, Heiko lại gửi thư cho tôi bảo ông sắp sang New York lần nữa vào tháng Ba để dự tiệc tối thường niên của Câu lạc bộ Các nhà thám hiểm trong buổi lễ gia nhập của ông. Ông mời tôi ăn tối sau đêm gala ấy, và tôi lập tức đồng ý, háo hức mong được hỏi ông biết bao câu hỏi chưa có lời đáp về loài cá rồng.
“Cô biết không, tôi vừa hoàn thành chuyến thám hiểm thứ 856,” ông kể với tôi bên đĩa sushi ở trung tâm Manhattan, vừa nói vừa vuốt râu với vẻ mặt tự mãn. “Ở Câu lạc bộ Các nhà thám hiểm, chẳng ai chịu tin lời tôi. Chưa từng có thành viên nào của họ thực hiện nhiều chuyến đi đến như thế.” (Về sau tôi tự tính: như thế tức là mỗi tháng một chuyến kể từ lúc mới sinh. Liệu điều đó có thể xảy ra không?)
“Có vẻ như nghề phiêu lưu thám hiểm đang cạn kiệt nhân tài,” tôi ướm lời.
“Cô nói đúng,” Heiko nói, gật đầu tán thưởng trong lúc rót rượu sake ấm vào hai chiếc cốc gốm màu đen của chúng tôi. Ông nói với tôi rằng chủ đề bữa tiệc tối của Câu lạc bộ Các nhà thám hiểm năm nay là vũ trụ, và ông ước gì người ta tập trung vào hành tinh của chúng ta trước khi lo lắng về các ngôi sao. “Dù sao thì,” ông nói và giơ cốc sake của mình lên, “Salute![*] Rất vui được gặp cô.”
[*] Xin chào!
Ông vừa trở về từ vùng hẻo lánh ở rừng Amazon thuộc Colombia, chuyến đi này ông từng mời tôi theo cùng ở Aquarama và bảo rằng, khi tới đó ông đã phân loại được thêm năm trăm loài cá, ít nhất mười phần trăm trong số chúng chưa được khoa học biết tới, trong đó còn có một loài cá đĩa mới. Tôi không chắc phải hiểu thế nào về chuyện này.
Tôi từng nghe những lời đồn đại trong giới này về chuyện Heiko không được chào đón ở Brazil kể từ lần bị bắt năm 2008 vì vi phạm bản quyền sinh học, - ông bị buộc tội cố chuyển các sinh vật được bảo tồn ra khỏi đất nước này mà không xin phép - nên bây giờ ông phải đi vào Amazon theo ngả biên giới của quân du kích này. Ông kể với tôi rằng lực lượng vũ trang Colombia buộc ông phải kí một thỏa thuận miễn trách nhiệm tuyên bố rằng nếu ông mất tích thì sẽ không ai đi tìm ông. “Cô biết đấy, lúc nào bọn họ luôn bảo tôi: “Nguy hiểm lắm, ông không toàn mạng mà ra ngoài được đâu.” Tôi chẳng bao giờ thèm tin mấy câu chuyện đó,” ông nói. “Đó là nơi bình yên nhất trên trái đất này. Chúng tôi chẳng gặp ai hết. Kể cả dân Anh điêng cũng không sống ở đó nữa. Chỉ có động vật hoang dã và rừng nguyên sinh mà thôi. Chúng tôi cắm trại ngoài trời hàng đêm. Nơi ấy là thiên đường.”
“Ông có bao giờ ở nhà không?” Tôi hỏi, thắc mắc về biệt thự từ thế kỉ mười chín mà ông sở hữu ở vùng nông thôn nước Ý, gần Milan.
“Thực ra, năm nay là năm đầu tiên mà tôi về nhà thường xuyên,” ông vừa nói vừa nuốt một miếng cá hồi sống. “Vì vợ tôi đang mang thai. Con đầu lòng.”
Từ lâu Heiko đã có tiếng sát gái, nhưng ông chỉ mới kết hôn cùng khoảng thời gian với tôi. Ông đã sáu mươi lăm, hơn bố tôi một tuổi, còn tôi ba mươi, trẻ hơn vợ ông một tuổi. Ông gặp Natasha ở Uzbekistan, khi cô vẫn còn là thiếu nữ, một sinh viên đại học được ông thuê làm phiên dịch. Tôi cô tưởng tượng Heiko trong vai trò một người đàn ông của gia đình, nhưng không thể. Thậm chí ông còn không thích lũ thú nhà, bảo rằng chúng ngu hết mức chịu đựng. Ông khăng khăng rằng hồi mình còn bé, tất cả lũ thú cưng nhà ông đều là động vật hoang dã - chẳng hạn con rái cá đã bắt cá cho ông mỗi ngày ở Amazon đến tận lúc vài tên thổ dân hằn học nào đấy đầu độc nó, làm ông thương tiếc mãi khôn nguôi.
“Tôi còn từng nằm cùng một con trăn dài ba mét hàng đêm,” có lần ông kể với tôi. “Con nhóc chẳng bao giờ “Ị” vào ban đêm. Một con vật thông minh.” Nhưng trí khôn của con trăn cái không là gì so với chú khỉ mũ của ông: “Ý tôi là, thằng nhóc ấy hiểu bốn thứ tiếng. Tôi chỉ cần nói là nó luôn làm đúng. Tôi đưa cho nó một cái búa và ít đinh để nó đóng bảng lên. Tôi đưa nó xà phòng giặt, và nó giặt quần áo cho tôi.” Nghe có vẻ đúng là một con vật hữu ích để nuôi trong nhà.
Trước đây Heiko chỉ về ngôi nhà ở Ý không quá sáu tuần mỗi năm, nhưng bây giờ ông lại sắp sửa bước vào cuộc thám hiểm vĩ đại là đời sống gia đình. Ông cho là mình nên có mặt vào thời điểm đứa bé ra đời vào mùa hè năm đó. “Tôi sẽ chỉ đi tiếp mấy chuyến trong mùa thu, bốn năm chuyến gì đó,” ông nói. “Chắc chắn là có ba chuyến ở vùng Amazon và một ở Ecuador, có thể tôi sẽ quay lại Iran một chuyến nữa, vì họ lại mời tôi, rồi tôi muốn làm thêm một chuyến ở châu Phi…”
Đôi đũa trong tay tôi bất động giữa không trung, tôi chỉ biết ngồi đó mà nghe cả một danh sách dài các địa điểm. Người đàn ông này là ai chứ? Ông từng tuyên bố mình là người duy nhất trên trái đất mang cả bốn chủng kí sinh trùng sốt rét trong máu (Pfalciparum, Pvivax, Pmalarie và thậm chí cả chủng Povale rất hiếm thấy)? Đột nhiên tôi muốn vươn tay sang bên kia bàn để chọc thử xem ông là người thật hay giả. Nhưng thay vì làm vậy, tôi chỉ vẽ phác bản đồ Borneo trên tờ giấy ăn của mình, nhìn chằm chằm vào chỗ mà tôi tin là quê hương của siêu cấp huyết long, rồi chuyền sang Heiko. “Ông đã đến cái hồ này chưa?”
“Rồi,” ông hớn hở nói. “Hồi thập niên 1980. Ít nhất hai mươi năm rồi tôi chưa quay lại đó.”
“Ông có trông thấy con cá không?”
“Có.”
“Nó có to không?”
Ông nhún vai: “Cô sẽ thấy chúng nếu cô ở lại đó vài ngày. Thường cô sẽ thấy chúng nhảy lên. Như ở Amazon ấy.”
“Có thể không còn nữa.”
“Không, chắc chắn còn. Điều đó phụ thuộc vào việc cô đi đến đâu thôi.”
Tôi đăm chiêu gõ bút lên mặt bàn và nghĩ lại một lượt các chủ đề tôi đã muốn viết: nhà nhập khẩu cá người Nhật Bản bị bắt cóc (Heiko nói rằng ông ta đã biến mất khỏi giới cá cảnh); những lời cáo buộc về chuyện các cuộc thi cá rồng đều đã bị sắp xếp (“Như cô đã thấy, giờ nghề này cứ như giới mafia thực thụ vậy, nhưng tôi vẫn không nghĩ vậy.”) chỉ còn lại một chủ đề duy nhất - một điều mà tôi đã được nghe đi nghe lại nhiều lần ở Đông Nam Á: Quan điểm rằng chính CITES phải chịu trách nhiệm cho cái giá cắt cổ của loài cá rồng châu Á. Với tất cả sự tham lam và mong muốn trục lợi quanh con cá, thật ngớ ngẩn khi chỉ trích một đạo luật bảo tồn đầu tiên hòng gìn giữ khoảng ba mươi lăm ngàn cá thể gì đó. Tôi đã nghĩ Heiko có thể cười nhạo tôi hay thậm chí là tức giận. Chắc chắn tôi đã không ngờ tới phản ứng thực tế của ông.
Đôi mắt đục ngầu do lệch múi giờ và vì rượu sake của ông tối sầm lại. “Lẽ ra không nên có bất kì một luật bảo tồn động vật nào mới đúng,” ông nói.
Theo quan điểm của ông, cách nhanh nhất để biến một loài sinh vật nào đó thành thứ hàng hóa xa xỉ, dẫn tới việc đảm bảo sự suy vong của chúng, chính là tuyên bố chúng chính thức được bảo tồn. Ông kể với tôi hồi còn là một cậu bé ở Brazil, mỗi sáng ông đều thức dậy với khung cảnh hàng trăm hàng ngàn con vẹt xanh với cái đầu xám bạc nhô lên khỏi những bụi cây để hong khô lông dưới ánh mặt trời. Số lượng vẹt nhiều đến nỗi có thể làm tối cả bầu trời. Giờ thì loài vẹt ấy đã tuyệt chủng trong tự nhiên. “Nhưng vì sao chứ?” Heiko hỏi. “Bởi vì năm 1975, người ta đã cho nó vào danh sách bảo tồn.”
Ông đang nói tới loài vẹt đuôi dài Spix (Cyanopsitta spixii), được đặt tên theo nhà tự nhiên học người Đức Johann Baptist von Spix, người đầu tiên bắt được một cá thể loài này năm 1819 bên bờ sông Rio São Francisco ở mạn đông bắc Brazil, trước khi thám hiểm rừng Amazon. Ở trong rừng, ông còn bắt được con cá rồng đầu tiên được giới khoa học biết đến. Năm 1975, loài vẹt này được đặt chung với cá rồng châu Á trong Phụ lục I của CITES, chính là bản danh sách đầu tiên về các loài bị cấm mua bán trên thị trường quốc tế. Khi thị trường cá rồng bùng nổ, những nhà sưu tầm cao cấp vội vã săn tìm cả loài Spix nữa. Đến năm 1990, trên thế giới chỉ còn lại một con chim hoang dã duy nhất. Người ta trông thấy nó lần cuối cùng vào ngày 5 tháng 10 năm 2000, ở bang Bahia thuộc Brazil.
“Você viu esta ararinha?” “Bạn có trông thấy con vẹt này chưa?” là câu hỏi được in trên tờ poster phân phát khắp đất nước, trong đó là ảnh một con vẹt đuôi dài Spix, lớp da đen không có lông viền quanh mắt con chim khiến nó giống như đang đeo mặt nạ của Zorro vậy. Ngày nay người ta ước tính chỉ còn hơn một trăm con vẹt đuôi dài còn sống, tất cả đều ở trong môi trường nuôi nhốt, hầu hết thuộc bộ sưu tập riêng của một vị hoàng thân ở Qatar. Theo quan điểm của Heiko, sự biến mất của loài vẹt này là hậu quả trực tiếp từ việc đưa chúng vào danh sách của CITES. Khi viết về sự tuyệt chủng đáng buồn của loài chim này trong cuốn sách xuất bản năm 2006 của mình, Lời bàn của Bleher: Quyển I, ông kết luận rằng: “Bất kì thứ gì ‘được bảo vệ,’ thì sẽ biến mất chỉ trong nháy mắt.”
Điều này nghe có vẻ khá cực đoan - đặc biệt là khi tôi biết được rằng loài Spix vốn đã nổi tiếng quý hiếm từ cuối những năm 1950, chỉ còn rất ít con sống sót ở khu vực rừng khô hạn mà loài này từng trú ngụ. Tuy nhiên, dù các chuyên gia có thể phản đối được kí ức về đàn chim khổng lồ của Heiko thì ông cũng không hề đơn độc trong quan điểm của mình về những chuyện đã xảy ra với loài chim bé nhỏ: Ngay cả trong nội bộ các nhà bảo tồn, tôi cũng đã nghe được tên loài vẹt này như một minh chứng cho tác dụng ngược của danh sách CITES là đẩy nhu cầu lên cao.
Phải chăng số phận tương tự đã rơi xuống đầu loài siêu cấp huyết long? Có phải nó cũng đã biến mất khỏi tự nhiên? Hay việc bảo tồn loài cá rồng châu Á đã có hiệu quả? Bất chấp mọi ràng buộc của bản thân, tôi lại bị hút về đảo Borneo để tìm ra câu trả lời. Đến lúc Heiko trở lại New York vào tháng Ba năm sau để dự buổi tiệc thường niên năm 2011 của Câu lạc bộ Các nhà thám hiểm, tôi đã có một kế hoạch.
❀ ❀ ❀
TÔI CHƯA TỪNG NGHE NÓI tới Câu lạc hộ Các nhà thám hiểm trước khi Heiko nhắc tới. Khi tra cứu về nó, tôi được biết nhóm này được thành lập ở New York năm 1904 - mặc dù trước đó nó hẳn nó đã tồn tại lâu rồi. Bảng thành tích của câu lạc bộ qua nhiều năm tháng cho thấy mức độ khám phá của thế kỷ hai mươi ngày càng được đẩy lên đỉnh cao. Hai trong số những thành viên sớm nhất của câu lạc bộ, Robert Peary và Frederick Cook đều cho rằng mình là người đầu tiên đặt chân tới Bắc Cực (dù có thể cả hai còn chưa tới nơi); Ronald Amundsen, người đầu tiên tới Nam Cực. Trong thập niên 1950, ngài Edmund Hillary và Tenzing Norgay đã lần đầu tiên leo tới đỉnh Everest. Thập niên 1960, Neil Armstrong và Buzz Aldrin đặt chân lên mặt trăng, trong khi Jacques Piccard và Don Walsh lần đầu lặn tới độ sâu gần 11.000 mét, chạm đến đáy vực sâu nhất của đại dương, Rãnh Mariana. Dù áp lực nước ở độ sâu đó lên tới gần 17.000 pound trên một inch vuông, họ đã bị sốc khi đụng phải một con cá bơn lúc tàu lặn tự do của họ chạm xuống bùn.
Ngày nay câu lạc bộ có khoảng ba ngàn thành viên tới từ sáu mươi quốc gia trên khắp bảy châu lục. Tháng Ba hàng năm, khoảng 1.300 người sẽ tới New York dự tiệc tối sang trọng ở phòng Đại tiệc của khách sạn Waldorf Astoria. Năm 2011, ở bữa tiệc thường niên lần thứ 107, chủ đề Vũ trụ đã được thay thế bằng Lời tiên tri của người Maya, phỏng theo lời dự đoán rằng ngày tận thế 21 tháng 12 năm 2012 sắp tới gần. Tôi đến nơi lúc người ta đang phục vụ rượu cocktail, tìm đường đi lên cầu thang uốn lượn và rẽ đám đông tụ tập quanh quầy bar để tìm Heiko. Món rượu đêm đó là Zombie, nước cam tươi pha cùng rhum và ngải đắng, để vinh danh người mới nhất đoạt Huân chương cao quý của Câu lạc bộ Thám hiểm: nhà Nhân chủng học Wade Davis người Canada. Trong thập niên 1980, Davis đã điều tra các bản báo cáo về những thây ma sống ở Haiti - các nô lệ tinh thần dường như đã đội mồ sống dậy - và ông phát hiện ra rằng những thầy lang theo thuật phù thủy Voodoo đã khống chế các nạn nhân của mình nhiều năm liền bằng cách chuốc thuốc neurotoxin[*] trích xuất từ cá nóc phơi khô.
[*] Độc tố thần kinh.
Người pha chế tự giới thiệu mình là John và kể với tôi ông ta đã làm việc cho sự kiện này suốt hai mươi tám năm qua. Ông nói mình nhớ cái thời còn được phục vụ những món khai vị kì quái. “Bọ cạp, gián, sâu bột,” ông kể. “Chúng tôi còn từng có món martini với tròng mắt cừu bên trong thay cho quả ô liu.” Tôi hỏi chuyện gì đã làm thông lệ ấy thay đổi, ông lẩm bẩm gì đó về việc PETA[*] can thiệp vào. “Cô giết gián thì được, chứ không được ăn nó,” ông ta phàn nàn, lắc đầu tiếc nuối.
[*] People for the Ethnical Treatment of Animals: Một tổ chức bảo vệ động vật được thành lập ở Mỹ.
Sự thật có nhiều điểm phức tạp hơn thế. Câu lạc bộ này có cả một truyền thống lâu đời về việc ăn thịt các loài động vật hoang dã - một thói quen có lịch sử từ tận thời La Mã cổ đại. Người thời ấy đặc biệt yêu thích thịt hươu cao cổ. Thói quen ấy sống dậy mạnh mẽ trong thế kỉ mười chín như một phần trong cơn cuồng về lịch sử tự nhiên. Năm 1904, thực đơn của bữa tiệc đầu tiên của câu lạc bộ là gấu Bắc Cực nướng; năm 1978 là thịt voi hầm. Không khó đoán lắm, khi câu lạc bộ đi từ một thời đại bị ám ảnh với việc thống trị thiên nhiên sang bảo tồn thiên nhiên, thì việc tiệc tùng với món thịt động vật hoang dã trở nên hơi tế nhị. Giữa những năm 1980, hoàng tử Phillip của Anh Quốc, khi đó là Chủ tịch Hiệp hội Thiên nhiên hoang dã Thế giới, đã rút khỏi Câu lạc bộ Thám hiểm trong cơn phẫn nộ khi biết rằng mình đã được phục vụ món bít tết từ thịt hà mã và sư tử.
Đáng lẽ truyền thống này của hội đã tiêu đời hẳn nếu không nhờ Gene Rurka, một nhà sinh vật học, vốn là một nông dân và thợ săn động vật lớn - đã gia nhập câu lạc bộ từ những năm 1990 và nắm giữ ghế “Chủ tịch Động vật hoang dã,” chuyên giám sát việc chuẩn bị các món đặc sản như thịt rái cá ướp, ngọc dương dê, chân giò kăngguru, mắt bê chiên giòn, thịt cá sấu, thịt linh dương hun khói và patê chim bồ câu. Dù câu lạc bộ đã không còn phục vụ các món ăn từ động vật có nguy cơ tuyệt chủng, nhưng chính Rurka đã từng săn và ăn thịt cả voi rừng châu Phi, món mà ông ca ngợi rằng rất ngon. Tuy nhiên, Rurka vẫn tuân thủ việc chỉ dọn ra các món động vật hoang dã “còn số lượng lớn,” ở đây có nghĩa là rất nhiều loài sâu bọ. Năm 2001, một tá khách khứa bao gồm cả vợ của Rurka là Marianne, đã ăn món nhện đen[*] tempura chưa chín và phải đến bệnh viện vì phản ứng dữ dội với lông còn sót lại trên cẳng chân nhện. Những tai nạn kiểu này, cộng với thực tế là các dòng tít về món mousse giòi che lấp hết những bài viết về các diễn giả đáng kính, chính là lí do khiến hội phải bỏ qua những món quái dị vào năm tôi tham dự.
[*] Loại nhện lớn ở Nam Âu.
❀ ❀ ❀
BÊN TRONG PHÒNG ĐẠI TIỆC, ánh đèn chùm pha lê được chỉnh mờ đi. Sấm rền vang. Những tia sét màu xanh chập choạng. Máy phun sương nhả ra những bụm khói lớn trong khi các vị shaman[*] đóng khố, sơn mặt và đội mũ lông chim bước ra từ đám đông, vừa nhảy vừa đánh trống. Bữa tiệc giả ngày tận thế Maya làm tôi càng khó tìm Heiko. Rốt cuộc, tôi đầu hàng và tìm một chỗ ngồi ở gần cuối phòng để theo dõi vị Chủ tịch danh dự của câu lạc bộ, James Fowler, cựu dẫn chương trình Vương quốc Hoang dã, nói lời mở đầu cho các tiết mục trình diễn động vật hoang dã. Đây lại là một truyền thống lâu đời khác của Câu lạc bộ Thám hiểm, đồng thời cũng là vấn đề đau đầu cho các nhân viên ở khách sạn Waldorf Astoria. Vài năm trước, có một con cú tuyết đậu lên đèn chùm và không chịu bay xuống. Lần khác lại có mấy chú lạc đà tè bậy ngay trong thang máy, tạo ra cả một trận lụt nho nhỏ. Năm nay, tất cả các con vật đều phải có dính dáng tới vương quốc Maya: một con báo lông đen nhánh, một con chồn đuôi rung và một chú gấu trúc Mỹ vừa thức dậy.
[*] Pháp sư của người Maya.
Đứng bên cạnh bục sân khấu thay đổi liên tục là một người đàn ông cao lớn và gày gò mặc bộ tuxedo như thể đang treo trên cái mắc quần áo. Đó là một vị giáo sư danh dự của Harvard đã tám mươi mốt tuổi, ông Edward Osborne Wilson, một trong những nhà Sinh vật học vĩ đại nhất còn sống. Chắc chắn ông là nhà tự nhiên học có ảnh hưởng nhất trong thời đại của chúng ta, và cũng là tác gia hàng đầu thế giới trong ngành côn trùng học chuyên về kiến.
Hồi còn là một cậu bé lớn lên ở nam Alabama, một ngày kia Wilson đi câu trên một cầu cảng gần vịnh Mexico, ở ngay cạnh biên giới Florida. Hôm đó ông bị một con pinfish[*] nhỏ bay lên khỏi mặt nước và đụng trúng con ngươi, khiến ông mù mắt phải. Wilson cho rằng nhờ việc này mà ông đã buộc phải tập trung vào những loài sinh vật mình có thể cầm trên tay để nghiên cứu trong khoảng cách gần. Đó là cách ông đến với bộ môn côn trùng học. Tuy nhiên, trong những thập kỉ gần đây thì lĩnh vực nghiên cứu của Wilson đã mở rộng ra và bao quát toàn bộ các dạng sống trên trái đất.
[*] Một loại cá biển nhỏ chuyên dùng làm mồi sống để câu cá lớn hơn, vây có ngạnh rất nhọn và sắc bén.
Kể từ những năm 1980, ông đã gióng lên hồi chuông báo động về cuộc khủng hoảng tuyệt chủng trên phạm vi lớn. Trước khi loài người bắt đầu định cư trên khắp trái đất, tốc độ tuyệt chủng của động vật trong tự nhiên chỉ xấp xỉ một loài trong một triệu năm. Ngày nay, theo Wison, trái đất đang để mất sự sống với tốc độ nhanh gấp một trăm cho tới một ngàn lần. Ông cho rằng nếu không kìm chế lại, tới cuối thế kỷ này, các hoạt động của con người có thể dẫn tới sự tuyệt chủng hoặc nguy cơ tuyệt chủng của hơn một nửa các loài động và thực vật.
Khi khán giả trong khán phòng Waldorf chìm vào im lặng, Wilson dựa vào bục phát biểu và dừng một giây để lôi ra cặp kính gọng sừng quá khổ từ túi áo khoác ra. Ông quay lại nói với đám đông: “Một trong những nghi thức thiêng liêng nhất định nghĩa cho tính nhân văn, nếu trên đời này có một điều như thế, chính là nỗ lực hết sức mình để tìm hiểu và cứu vớt những dạng sống còn lại trên trái đất.” Theo thuyết “hòa hợp giữa con người và tự nhiên” do Wilson đề xuất năm 1984, loài người có “thiên hướng bẩm sinh tập trung vào sự sống và các tiến trình của sự sống” - điều đó cũng có nghĩa là chúng ta đã được lập trình để tìm ra vẻ đẹp trong các dạng sống khác. “Chúng ta có được ý thức trọn vẹn nhất của một loài sinh vật,” ông viết, “và sẽ không tìm được ý nghĩa đặc biệt nào nếu tách rời khỏi các dạng sống khác.”
Để bổ trợ cho lý thuyết này, một nhóm các nhà sinh vật đã đo đạc những thay đổi về thể chất của những người ngày ngày ngắm đàn cá nhiệt đới bơi qua bơi lại trong bể kính và phát hiện ra huyết áp của họ giảm đáng kể. Một nghiên cứu khác cho thấy bệnh nhân nha khoa sẽ thư giãn hơn đáng kể trong lúc ngắm cá. Một giả thuyết còn cho rằng chúng ta có thể bị hút về “chuyển động Heraclitean”, một hình mẫu “luôn luôn biến đổi nhưng cũng luôn giữ nguyên,” giống như cách vịt bơi, bò đi lại, sự chuyển đổi của ánh sáng và bóng tối khi các đám mây trôi qua, lửa trong lò sưởi hay các cơn sóng vỗ vào bờ. Tất cả những ví dụ trên đều tương phản quyết liệt với những di chuyển bất quy tắc và đột ngột thường cảnh báo hiểm nguy - như một loài thú săn mồi nhảy lên, một con rắn tấn công. Đây chính là sự giải thích khoa học cho điều Kenny Ông Cá đã nói với tôi, rằng “ngắm cá mang lại cho cô một kiểu cân bằng nhất định.”
Những nghiên cứu như thế hỗ trợ cho một ý tưởng bao quát hơn rằng thiên hướng thẩm mỹ của chúng ta là bẩm sinh, rằng chúng có liên quan tới những thảo nguyên Phi châu xa xôi, nơi giống người Homo lần đầu xuất hiện từ hai triệu năm trước. Ở đó chúng ta đã phát triển một cái gọi là “cấu trúc thảo nguyên,” đó là lí do vì sao - theo Wilson - chúng ta bị thu hút tới các đồng cỏ điểm xuyết những hàng cây. Kết quả là, chúng ta ra sức sáng tạo lại môi trường giống thảo nguyên ở tất cả mọi nơi, từ nghĩa trang tới các trung tâm mua sắm ở ngoại ô. Trong không gian đô thị, chúng ta treo ảnh phong cảnh và động vật để tái tạo lại nơi sinh trưởng yêu thích của mình. Tuy nhiên, dù thế nào thì việc bắt chước sự đa dạng sinh học này cũng là một chiến lược khiếm khuyết. “Các vật nhân tạo nghèo nàn hơn một cách đáng kể so với cuộc sống mà chúng cần phải nhái lại,” Wilson viết. “Chúng chỉ là một tấm gương phản chiếu suy nghĩ của loài người. Bám lấy chúng chẳng khác nào ta cứ rút dần vào bên trong từng lớp một, mỗi lần rút đi lại bỏ lỡ mất một chi tiết, lại chìm nghỉm thêm một chút, rốt cuộc ta chỉ trồi lên trên một bề mặt không có sự sống, trong đó mọi thứ đã được sắp đặt lại.”
Nếu chúng ta bị hấp dẫn bởi một môn nghệ thuật tái tạo lại mối đồng cảm muốn có với các dạng sống khác, vậy thì chẳng phải việc nuôi cá đã đi trọn một vòng? Chẳng phải chính lũ cá cảnh đã là một tác phẩm nghệ thuật mang tính đại diện trực tiếp nhất? Một tác phẩm… bị nhốt trong bể.
❀ ❀ ❀
“TÔI TÌM CÔ MÃI,” một giọng nói vang lên, tôi ngước mắt lên và trông thấy một người đàn ông trong bộ vest Ý tinh tế đang cau mày với mình vẻ hơi khó chịu. Tôi nhận ra cái giọng càu nhàu ấy, cả đôi mắt hơi gần nhau và bộ râu giống gấu ấy, nhưng vẫn phải mất một lúc tôi mới ráp chúng lại được với nhau. Hóa ra là Heiko - mà không có cái mũ. Tôi không biết là ông bị hói. “Tới đây!” Ông nói và sải bước đi ngang qua phòng dạ tiệc về phía một chiếc bàn. Ở đó có một người phụ nữ mặc váy hoa dáng rộng, trưng diện cặp kính râm to đùng đi kèm mái tóc cắt kiểu bob màu xám. Đó là quý bà Cá mập Eugenie Clark lừng danh, nổi tiếng với những nghiên cứu về cá mập và các loại cá có độc. Năm năm trước, bà bị chuẩn đoán mắc bệnh ung thư phổi và bác sĩ bảo bà chỉ còn sống được sáu tháng. Ở tuổi tám mươi chín, với năm đời chồng, - bà đã li dị bốn ông chồng và hiện vẫn sống với người chồng thứ năm - bà vẫn còn thường xuyên đi lặn có bình khí.
“Genie, tôi muốn giới thiệu với bà một quý cô trẻ rất tốt tính!” Heiko hét lên qua phòng tiệc và đẩy tôi tới trước. “Cô ấy cũng nghiên cứu về cá đấy! Cá rồng!”
Trong thập niên 20, hồi bà Clark vẫn còn nhỏ, một ngày kia cha bà đi bơi ở biển và không bao giờ trở lại. Không lâu sau đó, nỗi ám ảnh của bà với lũ cá bắt đầu ở Thủy cung New York nguyên bản ở Công viên Battery. “Năm ngoái tôi có trở lại,” bà buồn rầu kể với tôi. “Phế tích vẫn còn đó. Tôi còn trông thấy những gì còn lại của bể nuôi cá mập cơ.”
Tới thập niên 1950, khi thế giới còn hiếm hoi những nhà nữ sinh vật biển, Clark dồn tâm sức nghiên cứu cá mập, loài cá dữ bị hiểu lầm nhiều nhất đại dương. Bộ phim Hàm cá mập năm 1975 đã giúp ích cho bà, lôi kéo sự chú ý của công chúng tới loài cá này. Nhưng bà dành hầu hết sự nghiệp của mình để phản bác lại luận điểm sai lầm rằng cá mập là loài quái vật ăn thịt người đáng ghét. Thực tế, trong khi tổng cộng cá mập ăn thịt không quá chục người mỗi năm thì chúng ta đã ăn khoảng hai mươi sáu cho đến bảy mươi ba triệu con cá mập. Lần duy nhất có một con từng tấn công Clark, bà vỗ vào mõm nó và nó lập tức lùi lại.
“Một phụ nữ rất, rất đáng quý,” Heiko nói khi chúng tôi bước lùi khỏi bàn. “Bà ấy khiến tôi nhớ đến mẹ mình nhiều lắm.” Tôi chợt nhận ra rằng trong khi Clark đã gắn bó với biển cả - kẻ chiếm mất cha bà - từ thời thơ ấu và dành cả đời để giải mã những con quái vật của biển thì động lực của Heiko cũng là lòng hiếu thảo mãnh liệt và sự vô thức. Ông đã không thể ngừng truy tìm loài cá đĩa, chính là con vật tròn trịa và mỏng dẹt đã lôi kéo mẹ ông tới với Amazon hơn nửa thế kỉ trước. Ông vừa hoàn thành tác phẩm để đời của mình, cuốn sách dài 1.300 trang tựa đề Cá đĩa của nhà Bleher: Tập II, nhưng rồi lại nghĩ đáng lẽ mình nên làm thêm cả Tập III.
Con gái bé bỏng của Heiko đã ra đời mùa hè trước, đúng như dự đoán, ông đặt tên cô bé theo mẹ mình. Giờ ông kể với tôi là vừa nhận được một tin nhắn của vợ. Ở bờ bên kia Đại Tây Dương, trong một ngôi nhà nông trang ở ngoài Milan, Amanda Flora Bleher vừa bước được bước đầu tiên khi mới tám tháng tuổi.
❀ ❀ ❀
TÔI KỂ CHO HEIKO NGHE những phần chính trong kế hoạch của mình và ông đã hứa sẽ “nói kỹ” về nó trong ngày hôm sau. Vì thế, sáng sớm hôm sau, tôi bắt chuyến tàu điện ngầm đến Upper East Side và lê bước qua lớp tuyết của mùa đông kéo dài tới một biệt thự kiểu Tudor đã được tu bổ lại, vốn là trụ sở lâu đời của Câu lạc bộ Các nhà thám hiểm. Bên trong, các bức tường được ốp gỗ tối màu. Ánh sáng chiếu xuyên vào phòng qua 114 cửa sổ kính màu. Con gấu Bắc Cực nhồi bông ở chiếu nghỉ trên tầng hai phát ra tiếng gầm yếu ớt khi tôi bước qua.
Tôi chậm rãi trèo lên cầu thang, ngắm nhìn những bức tranh sơn dầu vẽ phong cảnh châu Phi và vùng Bắc Cực ảm đạm. Mãi đến tầng sáu, tầng trên cùng của tòa nhà, tôi mới trông thấy Heiko đang đứng trong ánh sáng tự nhiên dịu nhẹ ở đại sảnh dành để vinh danh các thành viên. Ông đang mặc một chiếc áo len đen bên ngoài sơ mi và đeo cà vạt hình gấu teddy, chính mấy chú gấu ấy cũng đang đeo cà vạt. Như mọi khi, ông đã lại đội chiếc mũ rộng vành màu đen, rất phù hợp với phục trang đội lên đầu của những bức chân dung mà ông đang ngắm nghía trên tường, khuôn mặt nào cũng đang đội một cái gì đó, hoặc mũ trùm lông dày cộm, mũ nan, mũ phi công hay bộ du hành vũ trụ.
“Theodore Roosevelt,” ông lẩm bẩm lúc ngắm bức ảnh đen trắng chụp vị tổng thống thứ hai mươi sáu. Sau thất bại đáng hổ thẹn trong cuộc bầu cử năm 1912, ông lên đường thám hiểm một nhánh sông tối tăm chưa có trên bản đồ của Amazon, tên là Dòng sông Nghi hoặc. Dù những khó khăn của chuyến đi đã khiến ông như đang tự sát, ông vẫn đủ sức viết về quần thể động vật ở đó. Heiko đổ lỗi cho ông vì đã mang tiếng xấu đến cho cá hổ.
Phần lớn bức tường không treo ảnh phụ nữ, bởi nữ giới không được phép gia nhập Câu lạc bộ mãi đến năm 1981. Tôi dừng bước để chiêm ngưỡng bức ảnh Jane Goodall. Chỉ mới hai tuần trước đây, tôi đã tới trường Đại học New York để nghe bà nói chuyện. Sau đó tôi còn đứng trong hàng người ngoằn ngoèo dài quanh tòa nhà, dù cảm thấy hơi ngốc nghếch, để chờ bà kí tặng cho cuốn sách Mảng tối của Con người đã quăn queo của tôi. Bất chấp những lời đã sắp sẵn trong đầu, khi đến lượt mình, tôi suýt thì nghẹt thở vì câu đã chọn để nói: “Đây là một trong những cuốn sách yêu thích của tôi.” (Tôi đã quyết định rằng nói “cuốn sách yêu thích” thì hơi quá.)
Ngược ngạo ở chỗ, bức chân dung Nhà thám hiểm của bà lại được đặt ngay cạnh Phòng trưng bày Vật kỉ niệm, nơi Heiko đang đi xem. Đầu các con thú nhồi bông được gắn khắp các bức tường, da của các loài mèo lớn phủ trên đồ gỗ, còn chiếc sừng của một con voi ma mút thì treo trên xà nhà. Từ bên kia phòng nhìn sang là bức chân dung toàn thân của nhà thám hiểm người Đan Mạch Peter Freuchen, ông này đã tự tay dùng búa đập nát những ngón chân bị đóng băng của mình trong lúc đi vẽ bản đồ Vịnh Hudson.
“Ta có nên bàn luôn bây giờ không?” Tôi hỏi.
Heiko gật đầu, dừng lại ở một cái bàn nhỏ hình tròn bên cạnh dương vật dài chín mươi centimet của một con cá voi. Tôi thò tay vào trong túi và lôi ra tấm bản đồ Borneo, mở các nếp gấp và vuốt phẳng nó, bàn tay tôi vô tình đặt ngay tại trái tim màu xanh dương của nó - Sentarum. Tôi giải thích với Heiko rằng mình muốn tìm hiểu dứt khoát liệu có còn cá rồng châu Á ở đó không, hòng giải mã tác động thực sự của việc thương mại hóa các giống loài. Tôi tin rằng ông chính là người duy nhất có thể giúp tôi.
“Ông có muốn đi cùng không?” Tôi hỏi.
Tôi đã rất lo. Tối hôm trước tôi đã phải chặn đường đi vệ sinh của Wade Davis - chính là nhà Nhân chủng học nổi danh có mái tóc màu cát đã từng đi săn đuổi truyền thuyết zombie của Haiti. Tôi đã hỏi ông về công việc ông từng làm ở Borneo. Tôi được biết ông đã không quay lại hòn đảo từ khi người đồng nghiệp Thụy Sĩ của mình, Bruno Manser, bị mất tích một cách bí ẩn vào năm 2000. “Rõ ràng anh ấy đã bị giết,” Davis kể với tôi. Khi tôi hỏi liệu Davis có từng đụng mặt bộ tộc Iban, những kẻ đang kiểm soát vùng đất quê hương của loài Huyết long hay không, ông nói mình chưa từng gặp, và gọi phần đó của đảo Borneo là “tận cùng đất nước Indonesia.” Điều này làm tôi thực sự bị chững lại: Nếu ngay cả Wade Davis, một nhà thám hiểm nằm trong biên chế của Hội Địa lý Quốc gia và một trong những nhà nhân chủng học có bề dầy thành tích nhất trên thế giới, mà còn coi một vùng đất là nơi khó tiếp cận đến thế, thì cơ hội của tôi mong manh đến mức nào, nhất là nếu không có Heiko đi cùng.
Lúc này, khi ánh sáng ban mai đang tràn ngập căn phòng Vật kỉ niệm, Heiko đặt một ngón tay lên bản đồ, trầm ngâm vẽ những đường tròn quanh khu vực cái hồ. Rồi bàn tay ông vạch một đường ngang qua đảo tới tận dòng sông xa xôi nhất. “Mahakam,” ông nói. “Đây là nơi tôi đã muốn đến từ lâu lắm rồi.” Ông kể cho tôi nghe về loài cá heo nước ngọt độc nhất chỉ sống ở đó, loại cá heo duy nhất trên đời mà ông còn chưa tận mắt thấy.
“Thế còn việc thám hiểm Sentarum thì sao?” Tôi lại hỏi.
“À, nó đã được Tyson Roberts tìm hiểu kĩ càng rồi còn gì, cô không biết ư,” Heiko gàn. “Ông ta còn xuất bản cả sách rồi cơ đấy.”
Tôi đã không biết chuyện đó. Thực ra tôi còn chưa bao giờ nghe đến cái tên Tyson Roberts. Tôi cảm thấy một sự thất vọng ê chề từ sâu trong lòng vì cái đầm ấy đã được người khác khám phá rồi.
“Ông ta là người Mỹ nhưng sống ở Thái Lan. Ngay bây giờ thì ông ta đang ở Panama. Tôi sẽ gặp ông ta sau chuyến đi Amazon.” Heiko lại chuyển sang Columbia một lần nữa. Sau Panama ông sẽ đi Iran, rồi Philippines, Singapore, Australia và New Guinea. Ông phải có mặt ở Tajikistan vào tháng Tám để lấy chiếc Heikomobile, một con Mercedes bán cạn đặt làm riêng cho ông. Hai năm trước nó đã bị hỏng ở biên giới Kyrgyzstan, mãi đến giờ mới sửa xong. Từ đó, ông chờ giấy phép để lái tới Tibet, nơi ông hi vọng tìm được loài cá sống ở độ cao cao nhất mà lịch sử từng ghi chép được, hơn 1.800 mét. Trong lúc ông liệt kê những hành trình này, tôi cảm thấy kế hoạch vĩ đại trong đó hai chúng tôi cùng tìm được con Huyết long tiêu tan dần như cát trôi qua kẽ ngón tay. Rõ ràng Heiko không có chút hứng thú nào để trở lại Sentarum, và dù thế nào thì ông cũng chẳng còn chỗ trống trong lịch trình nữa. Tôi đành phải cố liên lạc với Tyson Roberts thôi.
Lúc này trụ sở câu lạc bộ dần đông thành viên lui tới. Heiko dựng đứng cái túi đeo lên và lục tìm bên trong. “Tôi mang cho cô cái này, nhưng mà nó bị vỡ trong túi mất rồi,” ông nói và kéo ra một hộp dâu phủ sôcôla của Ý, loại đi kèm với các câu trích dẫn văn học: “Hãy đọc mọi thông điệp.”
Trên tàu điện ngầm về nhà, tôi bóc lớp giấy gói. Một mảnh giấy ăn mỏng ghi câu trích bằng bốn loại ngôn ngữ: “Vật tầm thường nhất cũng trở nên hấp dẫn ngay khi bạn che giấu nó.” Tôi gỡ sôcôla ra khỏi quả dâu và thảy nó vào miệng. Trong lúc nhai tôi cân nhắc câu nói này mới hợp với con cá rồng hoang dã làm sao. Viên tiếp theo trích một câu thơ Ý: “Tôi khát khao, luôn luôn khát khao, ôi tôi mới khát khao làm sao!”