NEW YORK → TOKYO
Nhà ngư học vĩ đại người Mỹ Tyson Roberts đã biến mất. Tôi đã không nghe tin tức gì từ ông suốt sáu tháng, kể từ lần ông gửi cho tôi một đoạn phim gây sốt ghi lại cảnh một người đi biển lướt sóng và bị cá voi sát thủ tấn công. (“Nếu nó là giả thì quả thực nó đã được dàn dựng cực kì công phu”). Lúc đó là mùa xuân, không lâu sau cuộc điện thoại đầu tiên và duy nhất của chúng tôi. Vào thời điểm đó, Tyson còn đang dưỡng bệnh ở Panama, bị kẹt ở bên kia quả địa cầu so với ngôi nhà tại Thái Lan của ông.
Giờ đã là tháng Một, tôi vừa từ Borneo trở về và Tyson đã không còn thư qua tin lại với tôi nữa. Tôi cố gọi đến số điện thoại cũ của ông ở Panama, nhưng đường dây đã bị ngắt kết nối. Ông từng lo sợ phải rời khỏi nơi ở tạm của mình và chưa biết tiếp theo mình sẽ đi đâu. Nhưng tôi ngờ rằng ông không thể đi được xa. Do chứng nghẽn mạch nặng của ông nên một chuyến bay dài có thể khiến ông tử vong, bởi áp suất cao sẽ đẩy thẳng cục máu đông vào hai lá phổi của ông.
Tôi phải tìm Tyson khẩn cấp vì đang chuẩn bị đi Myanmar trong vòng một tháng nữa để thu thập con cá rồng thư pháp cho ông, để ông tuyên bố loài vật mới (nếu thực sự nó đúng là như vậy.) Thời gian là yếu tố then chốt. Không chỉ có nhà ngư học Ralf Britz ở Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên ở London theo đuổi con cá, mà còn có tạp chí cá cảnh của Đức là Amazonas cũng vừa cho đăng hai bức ảnh được cho là chụp con cá đó. Bức ảnh cho thấy một con cá rồng có những hình hoạ tiết màu vàng đồng phức tạp, vừa bất quy tắc lại vừa trùng lặp. “Kể từ khi phong thanh nghe được những lời đồn về loài cá này, chúng tôi đã cố gắng thu thập nhiều thông tin hơn,” bài báo tiếng Đức viết. “Lai lịch chính xác của loài cá vẫn còn là một bí mật.”
Trong khoảng ba thập kỉ, Tyson đã hoạt động với vai trò là cộng tác viên nghiên cứu - một dạng nhà nghiên cứu cá tự do - cho Viện nghiên cứu Nhiệt đới Smithsonian lừng danh ở Thành phố Panama, viện Smithsonian duy nhất đặt bên ngoài nước Mỹ. Nhưng ngay cả Smithsonian cũng không biết Tyson đang ở đâu. Một nhân viên hành chính nói cô nghĩ ông đã tới Suriname ở vùng duyên hải đông bắc Nam Mỹ. Nhưng đã nhiều tháng rồi không ai nghe tin tức gì của ông. Ông không để lại số điện thoại hay địa chỉ chuyển tiếp nào. Thư từ của ông thì ngày một đầy lên. Liệu người khổng lồ của ngành ngư học có ổn không? Hay là tôi đang đi tìm cá cho một ông già đã chết?
❀ ❀ ❀
Ít nhất thì tôi còn biết là Heiko vẫn sống. Ông đã lại đi đây đi đó với tốc độ siêu phàm sau vụ tai nạn khủng khiếp trong chiếc Heikomobile. Tuy nhiên, chỉ còn chưa đầy một tháng là tới ngày hẹn đi khám phá Myanmar của chúng tôi mà ông vẫn chưa xác nhận được ngày giờ cụ thể. Tất cả những gì tôi biết được là ông định bay từ Ấn Độ tới đó vào quãng tháng Hai. Tôi không hiểu làm sao để ông xin được thị thực vào những phút chót như thế, vì tôi đã phải đăng kí trước tận ba tháng với vé máy bay khứ hồi mua sẵn, chưa kể đến chuyện thay tên đổi họ. Nhưng dường như ông chẳng hề lo lắng. Về phần mình, tôi đã được chính phủ của họ chấp thuận khoảng thời gian lưu trú dài nhất ở Myanmar là bốn tuần, trọn vẹn tháng Hai. Vì vậy, nếu Heiko xuất hiện thật thì tôi sẽ có mặt ở đó để gặp ông.
Hầu hết các đêm tôi đều thao thức lo chuyện Heiko sẽ cho tôi leo cây. Những đêm khác thì tôi lại lo lắng điều ngược lại. Tại sao tôi lại nghĩ mình nên mạo hiểm đi vào một khu rừng hẻo lánh có thể chứa cả mìn cơ chứ? Đầu tiên, tôi còn chẳng biết phải mang theo những thiết bị gì. Thanh ngũ cốc PowerBars chăng? Thuốc chống độc? Thậm chí tôi không biết mình có nên gói theo cả lều hay không. Ở Borneo tôi đã ở chung với người bản xứ, nằm giữa những bao gạo trong nhà kho hoặc nằm xếp lớp trên sàn cùng tất cả mọi người. Nhưng nếu ở đó còn chẳng có dân địa phương thì sao? Tôi có một kí ức mơ hồ là Heiko từng ngủ tơ hơ ngoài trời mà không có màn chống muỗi. Tôi thì không thực sự thuộc tuýp người đó.
Ngay cả nếu tôi có làm được việc đó thì chuyện cuộn mình lại mà ngủ trên nền đất rừng cũng không phải lựa chọn khôn ngoan ở Myanmar, bởi đất nước này có tỉ lệ tai nạn liên quan đến rắn rết cao nhất thế giới. Theo cuốn Những loài rắn độc nguy hiểm tại Myanmar, gần như tất cả các loại rắn độc trên khắp đất nước đều hoạt động mạnh nhất vào ban đêm, trong cuốn sách còn có hẳn một phụ lục về các cách sơ cứu vết rắn cắn do Joe Slowinski viết. Ông là trưởng bộ môn Khoa học Bò sát tại Học viện Khoa học California, vậy mà rốt cuộc ông cũng chết vì bị rắn cắn ở Myanmar. Năm 2001, khi Slowinski đang nghiên cứu các loài bò sát và lưỡng cư ở chân dãy núi Himalaya thì bị một con rắn cạp nong cắn vào ngón tay, tiêm vào ông chất độc neurotoxin cực mạnh. Trong hai mươi chín giờ sau, mười bốn đồng nghiệp của ông cùng bốn trợ lý người Miến Điện liên tục làm hô hấp nhân tạo và đánh điện cầu cứu một chiếc trực thăng cứu hộ của chính phủ mà không được. Slowinski dần dần rơi vào trạng thái tê liệt toàn thân cho đến khi ông thốt ra miệng những lời cuối cùng: “Hãy để tôi chết.”
Hổ mang chúa. Rắn hổ mang kính. Hổ mang thường. Myanmar có quá nhiều rắn đến nỗi vài loài còn chưa kịp có tên. Lang thang trên vùng đất hoang dã ấy càng bội phần nguy hiểm bởi tình trạng cơ sở hạ tầng và thông tin liên lạc yếu kém nói chung. Tôi đọc được rằng số điện thoại di động bình quân trên đầu người của nước này còn ít hơn cả Bắc Triều Tiên. Ngay cả nếu tôi có kiếm được một cái điện thoại thì gần như chắc chắn các cuộc gọi đều bị tình báo quân đội nghe lén, và sóng điện thoại cũng không hoạt động được ở vùng sâu vùng xa phía nam, nơi tôi định đi tìm cá. Jeff muốn tôi kiếm một cái điện thoại vệ tinh. Nhưng ở Myanmar, điện thoại vệ tinh bị cấm tiệt, và nghĩ đến việc phá luật là tôi đứng ngồi không yên. Hơn tất cả, tôi lo rằng Heiko sẽ lao vào một cuộc mạo hiểm điên rồ nào đó và khiến chúng tôi phải vào tù (như rất nhiều người từng cảnh báo tôi). Giống hệt mẹ mình, rốt cục, ông cũng đã từng ở phía đối chọi với luật pháp đó thôi.
❀ ❀ ❀
Nực cười thay, chính con người từng trốn tránh tôi trên điện thoại - Ralf Britz ở Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London - lại là người duy nhất nhận điện thoại của tôi. Có vẻ như ông đã mở lòng với tôi hơn, nhưng vẫn không chịu cho tôi tiếp xúc với mối liên lạc của ông ở Myanmar, một chuyên gia trong ngành ngư học đặc chủng ở địa phương. “Tôi có quen biết cô đâu,” Ralf cảnh giác nói. “Giá mà chúng ta có thể gặp nhau làm cốc bia…”
Thực sự, tôi phải khâm phục Ralf vì hành xử rất cẩn trọng. Chúng tôi càng nói chuyện thì tôi lại càng thấy trong lòng mình mâu thuẫn. Tôi cảm thấy có lỗi vì mình có thể đang tìm cách đánh cắp con cá rồng batik khỏi tay ông ta. Tôi cũng hiểu mối quan tâm ông dành cho việc tìm kiếm nó - tôi cũng cảm thấy điều tương tự. Tôi đã đọc quá nhiều về Alfred Russel Wallace đến nỗi đầu óc tôi bị kẹt lại trong thời đại Victoria và mải mê với những khám phá đầy lãng mạn. Không giống như con siêu cấp huyết long mà giờ tôi đã từ bỏ, loài cá chưa từng được biết tới này đại diện cho một cơ hội khám phá thực sự - một thứ hiếm có trong thế giới hiện đại ngày nay. Dường như tôi đã quá may mắn khi có cơ hội này: Trong thâm tâm tôi vẫn ấp ủ viễn cảnh rằng loài sinh vật tiền sử này, với những cái vẩy có hình thư pháp bí ẩn, đã chờ tôi tìm ra nó suốt từng ấy năm.
Nếu Heiko qua được và đến gặp tôi ở Myanmar, bất kì con cá rồng nào ông bắt được đương nhiên cũng sẽ đến tay ông bạn già Tyson, ngay từ đầu ông đã đề nghị tôi đi tìm con cá. Nhưng nếu Heiko cho tôi leo cây và Tyson không bao giờ xuất hiện thì sao? Tôi cần một kế hoạch dự phòng, và tôi đã rất khéo léo đề cập chuyện này với Ralf. “Liệu ông có khi nào muốn bắt con cá đó không?” Tôi hỏi sau một quãng dừng nói không được thoải mái lắm, và lập tức cảm thấy mình là kẻ hai mặt.
“Tất nhiên, nhưng tôi chẳng biết làm thế nào bắt được nó cả, thật đấy.” Không như Tyson, Rail chẳng có chút niềm tin nào vào nhiệm vụ lần này của tôi - dường như ông ta coi đó là một thảm họa gần như hài hước. “Tôi nghĩ khả năng cô tới được Tenasserim rất thấp,” ông ta nói thẳng, chỉ ra rằng riêng việc xin giấy phép của quân đội cho phép tôi xuống miền nam cũng đã mất nhiều tháng rồi. Từ đó, tôi sẽ phải trèo qua những ngọn đồi. “Và nói thật, tôi sẽ rất ngạc nhiên nếu cô xin được giấy phép để lên núi. Ngạc nhiên cực kì đó.”
Khi tôi nói với ông ta mình định bắt đầu bằng cách tự giới thiệu mình với Bộ Ngư nghiệp, ông ta phá lên cười ngặt nghẽo. “Cô thực sự nghĩ mọi việc theo tiêu chuẩn Mỹ nhiều quá,” ông nói, rồi mô tả cho tôi một cánh cổng nghiêm trang và những người lính gác dữ tợn không biết nói tiếng Anh. Theo quan điểm của Ralf, tôi sẽ chẳng đi đến đâu nếu không có mối quan hệ ở bên trong bộ máy. “Có lẽ cô nên đặt chuyến bay chuyển tiếp ở London,” ông ta nói, chắc là để chúng tôi có thể uống cốc bia với nhau và ông ta được dịp đánh giá tôi trực tiếp.
Nhưng lịch trình của tôi đã được vạch sẵn, và tôi không thể thay đổi chúng mà không làm lộn tùng phèo tấm thị thực Myanmar khó khăn lắm mới xin được. Hơn nữa, tự tôi đã chọn điểm trung chuyển là Tokyo, vì một lí do cụ thể. Giờ tôi hỏi Ralf ông ta có chút hứng thú gì với cá koi không.
“Không,” ông nói thẳng với vẻ mỉa mai rất đặc trưng, “bởi chúng không thực sự là cá.”
❀ ❀ ❀
Không thực sự là cá ư? Thế “cá” thực chất là gì? Ngạc nhiên thay, thế giới không có một định nghĩa khoa học rõ ràng. Chim chóc, động vật có vú, bò sát, lưỡng cư và các loài côn trùng đều là các lớp của thế giới động vật. Nhưng nhóm sinh vật chúng ta gọi là cá lại là tập hợp hổ lốn của các cơ chế rất khác biệt, thuộc về nhiều lớp. Lâu lâu lại có một nhà ngư học đề đạt cách mới để định nghĩa cá là gì - thường là một biến thể nào đó của các đặc tính sống dưới nước, máu lạnh, có xương sống, có mang, vẩy và vây. Thế nhưng các trường hợp ngoại lệ thì đầy rẫy: hầu hết lươn sống trong đầm đều không có vẩy lẫn vây; cá hồi và một số loại cá mập là máu nóng; cá phổi thì còn lâu mới là loại cá duy nhất có phổi hay một phương tiện khác để hít thở theo nhịp. (Ngay cả cá rồng cũng làm được điều đó.)
Tôi đã gặp câu hỏi những đặc điểm nào được coi là cá trong một hoàn cảnh khác, khi biết rằng một con cá rồng nuôi nhốt không được tính là cá theo nghĩa sinh thái học. (Hẳn các bạn còn nhớ câu cửa miệng của các nhà sinh vật học theo phái bảo tồn: “Một con cá nuôi trong nhà chẳng khác nào một con cá đã chết.”) Ralf cũng đưa ra quan điểm tương tự thế. Ông ta đang nói về sự chọn lọc nhân tạo, kĩ thuật tác động gen kiểu cũ mà Darwin nghiên cứu để hiểu cách thức động vật được hình thành theo thời gian. Liệu sinh sản chọn lọc có làm biến đổi sâu sắc một con cá đến nỗi nó trở thành thứ hoàn toàn khác không? Rốt cuộc, chó nhà ngày nay đâu còn là sói nữa. Mèo nhà cũng chẳng phải mèo rừng. Lợn thịt khác hẳn lợn lòi.
Khi Ralf nói rằng cá koi “không phải cá thật,” ông ta đang ám chỉ đến tính nhân tạo của chúng. Theo định nghĩa của ông ta, cá đích thực phải hoàn toàn ở nơi hoang dã, là những thành phẩm xinh đẹp của sự tiến hoá thông qua chọn lọc tự nhiên, là hiện thân tao nhã của hình dáng phục vụ chức năng. Thực tế tôi đã quá chú tâm vào việc tìm một con cá rồng hoang dã đến mức coi việc đó khác hẳn chuyện ngắm cá nuôi nhà ai đó đã cho thấy rất có thể tôi cũng đồng tình với ông. Tôi biết Heiko cũng nghĩ như vậy. Tôi còn nhớ sự chán ghét của ông với các loài cá đĩa loè loẹt được lai giống nhân tạo ở Aquarama, ông còn gọi chúng là “những con quái vật kinh khủng.”
Chính Darwin cũng đã viết rằng tám mươi chín loài cá vàng ông đếm được “đáng phải gọi là kì quái.” Cá vàng là loại cá duy nhất ông biết chúng đã chịu những biến đổi đáng kể bởi quá trình chọn lọc nhân tạo. Với những cái đầu lòe loẹt kì quái, hai bên má phồng to và đôi mắt đít chai, ông viết rằng cá vàng chính là minh chứng cho thấy “có một định luật luôn đúng là khi bị tách khỏi điều kiện sống tự nhiên, loài vật biến đổi và các chủng loài mới có thể được hình thành khi áp dụng sự chọn lọc.”
Darwin không hề biết là trong thời đại của ông cũng có một sinh vật nhân tạo tương tự như thế đang nổi lên: loài cá koi của Nhật. Ở Aquarama, Heiko đã kể với tôi rằng cá koi mới là loại cá cảnh đắt nhất thế giới, chứ không phải cá rồng. (Các fan cuồng của cá rồng né tránh điều này bằng cách tuyên bố cá rồng châu Á là loại cá cảnh nuôi bể đắt nhất thế giới, bởi vì cá koi được nuôi trong hồ.) Heiko nói ông từng biết có con cá koi trị giá ba triệu đô. Khi tôi hỏi nó có gì mà đặc biệt đến vậy, ông sốt ruột nói đó chỉ là một phần của một truyền thống khác: Cá koi được đấu giá như một tác phẩm nghệ thuật, mỗi con cá được chụp ảnh ở nhiều góc độ rồi in trong những cuốn danh mục bóng bẩy. Chủ của con cá đoạt giải sẽ trở nên nổi tiếng khắp Nhật Bản. “Ai nấy đều biết đến,” Heiko nói. “Khi ai đó mua được con cá ấy, anh ta có thể nhân giống nó như một con ngựa đua. Họ có hẳn một nòi giống. Cô sẽ không có được điề u đó với cá rồng, ít nhất là chưa.”
Nhưng đó dường như chính là đích đến của cá rồng. Theo lời Ralf, sự chuyển hóa đã bắt đầu - và sẽ tăng tốc đáng kể nếu phòng thí nghiệm mới của Kenny Ông Cá thành công trong việc tạo ra “những con cá rồng theo ý muốn.” Chính vì thế, tôi định dừng chân ở Tokyo để xem hội chợ cá koi lớn nhất Nhật Bản và điều tra xem chuyện gì sẽ xảy ra khi một loài cá hoang dã được thuần hóa - nói theo kiểu ví von là khi một con sói chuyển hóa thành chú chó nhà.
Ngay trước khi rời New York, rốt cuộc tôi cũng nghe được tin của Tyson, bất chấp những lo sợ của tôi, ông vẫn còn sống. Tin nhắn của ông cụt lủn và có phần bí ẩn: “Vâng, tôi đang ở Suriname. Mừng được nghe tin từ cô. Tôi phải đi ngay, không có thời gian trả lời chi tiết hơn. Tôi sẽ báo lại cô ngay về chuyện sông Tenasserim.”
Vài ngày sau, một tin nhắn khác dài hơn, nhưng không kém phần khó hiểu xuất hiện và từ đó tôi dần nhận ra Tyson chẳng hề biết tôi là ai. Suốt chừng ấy thời gian, tôi thì chuẩn bị làm theo lời nhờ cậy của ông ta nhân danh khoa học. Ấy vậy mà ông đã quên tiệt rằng chúng tôi từng nói chuyện, chứ chưa nói tới việc ông còn kể cho tôi nghe về con cá rồng trong lời đồn ở Myanmar.
Nhìn lại những trao đổi từng có giữa chúng tôi, tôi xem lại đoạn phim ông từng gửi về một người đàn ông lướt sóng bị cá voi sát thủ tấn công. Tôi đã thử tìm hiểu một chút trên mạng và phát hiện nó gần như chắc chắn là clip giả, một quảng cáo cho cửa hàng bách hóa ở Cộng hòa Dominic. Nếu Tyson từng bị lừa một lần, thì có lẽ chuyện cá rồng batik cũng chỉ là một trò lừa bịp khác. Đột nhiên tôi cảm thấy mình vừa dấn thân vào một trò ngớ ngẩn kinh khủng, nhưng dường như đã quá muộn để quay lại.
❀ ❀ ❀
Còn chưa kịp sẵn sàng gì cả, tôi đã thấy mình đang ôm tạm biệt Jeff ở sân bay. Ba mươi sáu tiếng sau, tôi đã vã nước lạnh vào mặt và đứng chết run ở một sảnh triển lãm rộng mênh mông tại Trung tâm Ryutsu ở Tokyo, ngắm một con cá koi tên là Mika bơi qua bơi lại trong một cái bể bằng vải bạt màu xanh ngắt to bằng bể bơi trẻ em. Mika bốn tuổi, dài bảy mươi sáu centimet, có thân hình màu trắng với những vết đỏ son trên lưng, như thể ai đó bị vấp ngã và hắt sốt cà chua lên người nó vậy.
Chắc chắn là nó có vẻ ngoài và lối sống y như một con cá, có vẩy, vây và mang. Hoạt động chính của nó là bơi đi bơi lại trong cái bể nhỏ cho đến khi chạm mõm vào thành bạt, lúc ấy nó sẽ lưỡng lự ngạc nhiên theo kiểu: Ô, một bức tường! rồi đổi hướng, rồi lại bơi đến khi chạm mõm lần nữa. Đó có phải hành vi thông thường của cá koi không nhỉ? Hay Mika là nạn nhân của nhân giống cùng phả hệ? Trong dòng dõi nhà cá chép, cô nàng thuộc loại hoàng tộc vì là con gái của New Smile, một nữ hoàng cá có bức chân dung quá khổ đang treo trên tường ở giữa bốn mươi ba nhà quán quân khác của TRIỂN LÃM CÁ KOI TOÀN NHẬT BẢN đình đám. Triển lãm này được tổ chức hàng năm kể từ năm 1968.
Không như mẹ mình, Mika chưa giành được giải thưởng quan trọng nào. “Năm nay thật không may cho nó vì nó mất một cái vẩy,” ông chủ Rick Costantino của nó nói. Anh ta là một kĩ sư hóa học đến từ Seatle, lúc này anh chỉ vào một điểm nhỏ màu hồng nhạt làm hỏng một trong các đốm màu đỏ trên lưng nó. Giống như các thí sinh khác, một năm qua Mika được gửi tại một khách sạn cá koi ở trên các dãy núi Alps Nhật Bản[*], và Costantino chỉ mới được làm quen lại với con cá của mình gần đây. Anh thất vọng khi phát hiện ra nó đã có một đợt phát triển bộc phát, đẩy nó vào hạng mục tám mươi centimet, giống như một đô vật xếp chót bảng trong một hạng cân vậy. “Nó đang phải thi với những con cá dài hơn nó tới năm centimet,” anh ta nhấn mạnh.
[*] Cách gọi thông dụng của Nhật với các dãy núi thấp hơn núi Phú Sĩ. Ở Nhật chỉ có Phú Sĩ được gọi là Núi vì nó là ngọn núi duy nhất đứng một mình, tất cả các núi khác thấp hơn đều là “đỉnh núi” của những dãy núi trùng điệp có tên chung là Alps Nhật Bản.
Hơn 1.400 con cá koi đủ kích cỡ từ một con chuột nhảy đến chó bull đang bơi tung tăng trong những cái hồ xanh giống hệt nhau đặt khắp sảnh. Mỗi con cá lại mang màu sắc khác nhau từ đỏ, trắng, đen, vàng đến xanh hoặc hỗn hợp xanh với màu khác. Vài con có những cái vẩy lấp lánh như kim cương hoặc viền vẩy nổi bật lên như lưới cá. Vài con khác lại “trần trụi,” mà không có cái vẩy nào. Quán quân năm nay trông hơi giống Jackson Pollock với màu đỏ, trắng và đen. Theo cuốn Giáo phái Koi của Michugo Tamadachi, người ta có thể dễ dàng bán nó bằng với số tiền “mua được một chiếc ô tô Rolls-Royce.” Nhưng tôi chưa nói chuyện với ai từng nghe về chuyện một quán quân đáng giá hơn vài trăm ngàn đô la, ngay ở cái nơi được coi là sân chơi đắt giá nhất cho loài cá rồng này.
Với tôi, cá koi chỉ đơn giản là những con vật dễ thương, với đôi má ngọt ngào và cái bụng mũm mĩm. Nếu có gì xuất chúng thì đó hẳn là 101 loại biến thể màu sắc rực rỡ đã được sản sinh ra trong vòng một thế kỉ, từ một loại cá chép có màu nước mũi, một trong những loài cá xoàng xĩnh nhất, kém hấp dẫn nhất từng sống trong làn nước của quả đất này.
❀ ❀ ❀
Mới chỉ hai mươi nghìn năm trước, tất cả động vật đều là loài hoang dã, chỉ có vài ngoại lệ là mấy chú sói được huấn luyện thành chó nhà. Khoảng mười nghìn năm trước, cuộc cách mạng Thời kì đồ đá mới nổ ra, chứng kiến việc thuần hoá trên diện rộng các loại gia súc như cừu, dê và trâu bò. Theo một tính toán gần đây, gia súc nuôi trong trại chiếm đến 65% động vật có xương sống trên cạn tính theo trọng lượng, loài người cùng các thú cưng của chúng ta chiếm phần lớn con số còn lại. Động vật hoang dã chỉ còn chưa đầy 3% tổng số động vật. Như nhà động vật học Jams Serpell của trường Đại học Pennsylvania đã viết: “Chỉ trong vòng vài nghìn năm, các loài vật được thuần hoá đã thực sự thay thế những người anh em hoang dã của chúng trên hầu hết bề mặt trái đất.” Tuy nhiên, dưới mặt nước từ lâu đã là một câu chuyện khác hẳn - nó là lãnh thổ cuối cùng còn lại của các loài vật hoang dã.
Những người đầu tiên nuôi cá trong những cái hồ nhân tạo có lẽ là người Sumer cổ đại sinh sống ở Mesopotamia (Iraq ngày nay) khoảng hơn sáu nghìn năm trước. Cá là nguồn nguyên liệu cho tầng ngậm nước đầu tiên, rồi tầng này cấp nước cho hệ thống tưới tiêu đầu tiên, tạo ra mùa vụ thu hoạch ngũ cốc đầu tiên và một đợt bùng nổ dân số tương quan với nó, sinh ra thành phố đầu tiên trên thế giới và ngôn ngữ viết đầu tiên. Cả người Ai Cập cổ đại cũng nuôi các loài cá như rô phi sông Nile trong hồ. Nhưng chúng ta không thể biết chắc chắn liệu có loại cá nào trong số đó là thực sự thuần hoá hay không - tức là, liệu chúng có phản ứng lại với áp lực chọn lọc nhân tạo liên quan đến một cuộc sống dưới sự kiểm soát của con người hay không. Hay chúng chỉ là “những con mồi bị bắt,” tức là (theo ngôn ngữ chuyên môn của các nhà phong tục học) các đặc điểm sinh học của chúng vẫn nguyên vẹn, không hề thay đổi so với những người anh em sống ngoài thiên nhiên.”
Việc chăn nuôi cá trên diện rộng, được biết đến như là nghề nuôi trồng thuỷ sản, có lẽ được phát minh ra ở Trung Hoa khoảng ba nghìn năm trước, với việc nuôi nhiều loại cá chép trong những cánh đồng lúa nước và những cái hồ ở trại nuôi tằm. Thuở bình minh của thiên niên kỉ đầu tiên, người La Mã bắt đầu nuôi loại cá chép thường thấy ở sông Danube để làm các món ăn ngon. Rồi ở thế kỉ mười hai, việc nuôi loại cá ấy trở thành một ngành kinh doanh thịnh vượng ở khắp châu Âu. Dần dần, loài cá ấy bắt đầu biến đổi khi nó thích nghi một cách tự nhiên với môi trường do con người tạo ra: thân hình giống ngư lôi săn lại, mập mạp, to béo hơn. Miệng nó rộng hơn, ruột dài hơn, tất cả những sự tiến hoá cho phép nó sinh trưởng tốt trong những cái hồ đông đúc.
Cuối cùng, loại cá chép đã được thuần hoá này được nhân rộng ra tận phương đông, tới những dãy núi Alps Nhật Bản, nơi người nông dân nuôi thả loài cá này làm nguồn đạm dự trữ cho những tháng mùa đông dài dằng dặc và khắc nghiệt. Bị vùi bên dưới lớp tuyết dày tới sáu mét trong phần lớn thời gian của một năm, những con cá này sống trong bóng tối tuyệt đối, rất có thể chính nó đã thúc đẩy sự xuất hiện của những con đột biến có màu sắc đầu tiên mà con người biết đến đầu những năm 1800. Qua nhiều năm, các nông dân tách bầy những con cá màu đỏ, vàng, và trắng khỏi nơi nuôi thả tại nhà họ để cho sinh sản chọn lọc, dần dà sản sinh ra nishikigoi, có nghĩa là “cá chép thêu”, hay gọi tắt là koi.
Sang đầu thế kỉ hai mươi, cá koi và cá vàng là hai giống cá thuần hoá duy nhất trên thế giới. Rồi, đầu những năm 1900, cá chọi Xiêm và cá bảy màu phụ thuộc chặt chẽ vào sự chọn lọc nhân tạo cũng nhanh chóng được nhân rộng với đủ chủng loại hình dạng và màu sắc. Tới năm 1935, cuốn sách hướng dẫn về cá cảnh phổ biến nhất liệt kê tám loại thuần hoá. Năm 1955, con số đó là mười. Ngày nay có hơn năm mươi giống cá đã được nhân giống chọn lọc để làm vật nuôi và có tới hơn ba trăm chủng loại.
Sự sinh sôi nảy nở của các loài cá thuần hoá diễn ra trong một phạm trù rộng lớn hơn: sự gia tăng bùng nổ của ngành nuôi trồng thuỷ sản từ những năm 1950, năng suất nuôi cá cho thị trường tiêu thụ tăng gấp bảy mươi lần. Nhờ cuộc “cách mạng xanh” này, loài người đã có thể ăn nhiều cá hơn bất kì thời nào trước đó, ngay cả khi 90% nguồn cung cá biển của thế giới đã ở mức năng suất tối đa hoặc bị đánh bắt cạn kiệt. Năm 2009, khi tôi lần đầu tới thăm các trại cá rồng ở Đông Nam Á, theo tổ chức Liên Hiệp Quốc thì số cá nuôi lần đầu tiên trong lịch sử đã vượt lượng cá đánh bắt được. Đa phần trong số 250 loài đang được nuôi ở hồ cá ngày nay đều nằm đâu đó trong ranh giới mơ hồ của việc bị thuần hoá.
Trong lúc đứng ngắm cá koi bơi lội trong bể của chúng ở Tokyo, tôi bắt đầu hiểu ra tại sao cá rồng lại trở thành biểu tượng của thế giới hoang dã với tôi. Từ lâu cá đã là loại thực phẩm hoang dã cuối cùng của loài người, cùng với bò sát và các loài lưỡng cư, nó cũng là loại vật nuôi hoang dã cuối cùng. Tuy nhiên, trong những thập kỉ gần đây, điều đó đã thay đổi. Tôi tự hỏi còn bao lâu nữa trước khi mấy con cá rồng hung hăng kia trở nên béo phục phịch và tự mãn giống cá koi.
Thuần hoá phá vỡ những hành vi thông thường ở cá. Chúng trở nên béo hơn và yếu ớt hơn, với bộ não nhỏ hơn. Chúng đánh mất những bản năng tự nhiên và ưu thế cạnh tranh. Chẳng hạn, các nhà khoa học đã phát hiện ra khi cá hồi nuôi sổ lồng vào biển Đại Tây Dương và giao phối với cá hồi ngoài tự nhiên, con cái của chúng không thể tìm được đường về với nước ngọt để sinh sản. Các chuyên gia cảnh báo rằng về sau, sự giao phối chéo như vậy có thể dẫn tới sự tuyệt chủng của các cá thể hoang dã.
Ở trang trại cá của Kenny Ông Cá, Alex Chang đã lập luận rằng bảo tồn cá rồng châu Á trong môi trường nuôi nhốt mang lại cho chúng ta khả năng tái hoà nhập chúng về với thiên nhiên vào một ngày nào đó. Nhưng sự thể không diễn ra như vậy được. Hãy ví dụ về cá chép thường: Ngày nay IUCN xếp hạng nó trong số “100 loài xâm nhập tồi tệ nhất thế giới,” đồng thời cũng liệt kê nó là “đe doạ bị tuyệt chủng.” Điều này nghe có vẻ ngược đời là vì những con cá chép tìm thấy ngoài tự nhiên bây giờ đa phần là cá nuôi sổ lồng. Trong khi đó, loại cá hoang dã thật sự thì đang biến mất - đi theo vết xe đổ của loài bò rừng châu Âu (tên tiếng Anh là aurochs, từ gốc tiếng Đức là ur-ox hay “bò nguyên thuỷ”), tổ tiên của loài bò hiện đại, đã đi đến bước tuyệt chủng từ thế kỉ mười bảy.
❀ ❀ ❀
Trong đêm cuối của tôi ở Tokyo, sau khi rời triển lãm cá koi và tìm đường về khách sạn dưới những ánh đèn như phim viễn tưởng, tôi nghĩ thành phố này thật thích hợp để tôi tìm kiếm loại cá-thời-kì-sau của mình, cá koi. Nhưng tôi đã quá ngán những sinh vật nhân tạo trong thế giới do con người tạo ra rồi. Giờ tôi đã sẵn sàng du hành tới một đất nước bị kẹt trong quá khứ để tìm kiếm một “ur-fish”, một con cá nguyên thuỷ, một loài vật còn chưa có tên.
Trong buổi sáng cuối cùng của tôi ở Nhật, tôi thức giấc để đáp chuyến bay đi Myanmar với tâm trạng thấp thỏm về cuộc phiêu lưu phía trước. Lúc lăn người dậy kiểm tra email, rốt cuộc tôi đã nhận được một tin nhắn từ Heiko: Ông đang đến. Ông sẽ gặp tôi ở Yangon trong hai tuần nữa.