NEW YORK
Vào một buổi sáng thứ Ba lạnh buốt trong tháng Ba năm 2009, đồng hồ báo thức của tôi réo inh ỏi lúc 4:00 sáng. Đến 6:45 tôi đã đang đứng run rẩy bên ngoài một khu nhà ở South Bronx cùng Trung úy John Fitzpatrick và ba cảnh sát dưới quyền, tất cả đều vừa mới tốt nghiệp Học viện. Toàn bộ khung cảnh đều toát lên một màu xám - những con đường đầy ổ gà, lớp tuyết đầy muội đen, bầu trời cuối đông - chỉ trừ có các sĩ quan cảnh sát là những chủ thể duy nhất mang một chút ánh màu xanh lục. Thay vì bộ đồng phục NYPD[*] tiêu chuẩn, họ đều mặc đồng phục xanh ô liu và đội mũ trùm tai, chẳng khác nào những chàng lính biệt kích Smith trong chương trình Gấu Yogi. Lúc họ cùng tiến lên trên con đường chưa được dọn tuyết, một cô gái trẻ đi qua còn trêu chọc: “Chẳng phải các anh nên ở trong rừng sao?”
[*] Phòng cảnh sát New York.
Fitzpatrick phớt lờ cô gái và vẫn dán đôi mắt đã được huấn luyện vào một trong những ngôi nhà gạch cao tầng đang xếp hàng phía trước trông như những quân cờ domino. Suốt từ năm 1996 tới giờ anh vẫn luôn đi tuần như thế ở khu vực này. Với tư cách (đại loại là) một cảnh sát Brooklyn, hậu duệ của một gia đình cảnh sát Brooklyn, người đàn ông bốn mươi mốt tuổi ấy có dáng vẻ rất điển hình: một thân hình cao lớn cùng mái tóc húi cua và cái cằm chẻ. Kẹp dưới nách anh là tập hồ sơ có chứa bức ảnh của nghi phạm mà anh đang tìm - anh tin rằng hắn có mang súng và rất nguy hiểm.
Bên trong tòa nhà, tiền sảnh chỉ được thắp sáng mờ và u ám. Thang máy mở ra ồn ào và chúng tôi chen chúc vào trong, chầm chậm lên tầng tám. Trên hành lang dài, tiếng giày của các cảnh sát vang vọng trước khi dừng ở bên ngoài cửa một căn hộ. Fitzpatrick đập cửa. Nửa phút trôi qua mà không có gì xảy ra. Anh lại đưa tay lên, lần này đập mạnh hơn và lâu hơn. Một đứa nhỏ khóc váng lên ở cuối hành lang. Cuối cùng, một giọng đàn ông khàn đục vì ngái ngủ cũng vọng ra: “Ai đấy?”
“Cảnh sát môi trường liên bang đây!” Fitzpatrick thông báo.
“Ai kia?” Giọng kia hỏi, nghe có vẻ hoang mang thực sự.
Cánh cửa hé mở lộ ra một thanh niên trẻ đậm người với hai cánh tay phủ đầy hình xăm, đang mặc một chiếc quần pyjama vải fannel, mắt nheo lại trước ánh sáng. Tên anh ta là Jason Cruz. Khi được hỏi anh ta có biết điều gì đã khiến cảnh sát ghé thăm mình, anh ta chỉ lắc đầu và nói: “Tôi không biết gì cả.”
“Chúng tôi đến,” Fitzpatrick thông não cho anh ta, “là vì con cá sấu mà anh đang rao bán trên Craigslist.”
❀ ❀ ❀
Tôi đang làm một phóng sự về các vật nuôi hoang dã cho chương trình khoa học trên đài NPR, và tôi đã mất tới sáu tháng mới xin được đi theo Fitzpatrick, một thám tử của Cục Bảo vệ Môi trường Thành phố New York, trong một chuyến thi hành công vụ của anh. Khi gọi cho anh lần đầu vào mùa hè năm ngoái, tôi đã được nghe anh kể cả đống chuyện kì lạ trong bộ sưu tập chuyện vật nuôi thời hiện đại của mình. Trong thời gian làm ở bộ phận cảnh sát chống các hoạt động mua bán thú hoang bất hợp pháp của thành phố, anh đã đụng độ với đủ thứ, từ những bàn tay gorilla bị cắt rời đến một ngàn hai trăm chú rùa bị nhồi nhét trong một căn phòng gác mái theo kiểu Tribeca phô trương, chủ của chúng thậm chí còn chẳng còn chỗ để đặt giường. Lại còn một người đàn ông ở Harlem nuôi hẳn một con hổ tên Ming và một con cá sấu tên Al trong căn hộ mà mẹ anh ta ở cùng tám đứa trẻ. Một gia đình giàu sụ ở Brooklyn đối xử với chú khỉ Diana giống Phi châu của mình như đứa con gái thứ hai. Con khỉ cái thuộc một giống linh trưởng hiếm nhất trên thế giới, thậm chí họ đã dọa sẽ tử thủ trong nhà nếu kiểm lâm cố mang nó đi. Rồi chủ nhân của một cửa hàng đồ quý hiếm nổi tiếng trong khu SoHo đã phải vào tù vì không những đã bán một bộ xương tinh tinh và răng nanh hải mã mà còn bán cả các bộ phận cơ thể người nữa. Thi thoảng người ta lại thấy một gã cò mồi nổi danh có tên gọi Ngài Bất cứ thứ gì xuất hiện trong chiếc xe cà tàng của gã, quảng cáo các loại thú vật kì lạ, cả còn sống và đã chết.
Bất cứ thứ gì. Đó chính là chủ trương của hoạt động buôn bán động vật hoang dã của thành phố này. Quả nhiên, khi Fitzpatrick hỏi anh chàng Cruz trong chiếc quần pyjama làm thế nào mà có được con cá sấu đang rao bán ấy, Cruz chỉ nhún vai và bảo: “Đây là khu Bronx mà. Ông muốn mua gì chẳng được.”
Bên trong căn hộ nhỏ và ngăn nắp là một chiếc sô pha da màu đen, ti vi màn hình phẳng, một bức ảnh chụp đường chân trời ở Manhattan được lồng khung kính, một con chó đang cất tiếng sủa từ trong nhà vệ sinh. Chim kêu rúc rích trong phòng bếp. Fitzpatrick bước đến chỗ ba chiếc bể thủy tinh và ngắm nghía một con thằn lằn da báo, một chú Nile monitor[*] cỡ nhỏ - một loại thằn lằn khi trưởng thành đầy đủ sẽ có sọc vàng và xanh, lưỡi chẻ và thích ăn thịt mèo. Chiếc bể thứ ba không nuôi gì, chỉ chứa một chút nước. Fitzpatrick cúi đầu vào nhìn và hít ngửi một cách nghi ngờ. “Thế giờ con cá sấu đâu rồi?” Anh hỏi.
[*] Một loại kỳ đà có kích thước rất lớn khi trưởng thành.
“Tôi trả lại rồi,” Cruz nói, khăng khăng tuyên bố mình đã mua con bò sát đó từ một người lạ ở ngoài cửa hàng PetSmart trên phố Pelham Parkway. Dù nó chỉ dài có ba mươi centimet, bạn gái anh ta cho rằng nó có đầy đủ khả năng phát triển lớn lên và nhất quyết đòi bỏ nó đi vì đứa con gái hai tuổi của họ. Sau tối hậu thư đó, Cruz bảo anh ta đã cố bán lại con cá sấu trên mạng, nhưng Craigslist đánh dấu quảng cáo của anh ta, thế nên anh ta đành trả lại nó cho gã đã bán nó cho mình. “Gã là người Puerto Rico,” anh ta cung cấp thông tin.
Fitzpatrick ghi lại điều này vào sổ. “Bây giờ chỉ còn có vài triệu người như thế ở khu Bronx này thôi,” anh nói khô khốc.
Tôi cũng thất vọng vì Fitzpatrick đã để lỡ mất con cá sấu ngay trong tầm tay như thế. Tôi đã hi vọng lần này cũng giống với cảnh anh khóa mõm con cá sấu dài chín mươi phân bằng băng dính rồi lái xe đưa nó đến Sở thú Bronx, suốt đường đi con vật vẫn vùng vẫy trên ghế hành khách phía trước của anh. Hơn nữa, Cruz chẳng có vẻ gì giống với mô tả của Fitzpatrick về những kẻ cuồng cá sấu - loại người điển hình cho tính hung hăng và đầu gấu. Loại cá sấu cảnh vốn được yêu thích đặc biệt trong các băng đảng xã hội đen và buôn bán thuốc phiện, nhưng Cruz không có vẻ như vậy. Trước khi con gái anh ta ra đời, anh ta còn từng nuôi chó pit bull[*], bằng chứng là đai buộc cổ bằng da màu đen có gắn đinh đang treo trên tường; nhưng hóa ra con chó đang sủa trong nhà tắm lại là giống poodle[*].
[*] Một giống chó săn dữ tợn.
[*] Giống chó nhỏ có bộ lông dày và xoăn.
“Vậy là người ta có thể gặp rắc rối thực sự với một con, đại loại như, một con cá sấu hả?” Cruz hỏi Fitzpatrick, vẫn còn choáng váng trước những gì đang xảy ra.
Cô bạn gái đang bụng mang dạ chửa của anh ta xuất hiện từ trong phòng ngủ, vừa đi vừa ngáp và có vẻ khó chịu khi nói thêm: “Cả đống người vẫn bán cá sấu suốt đấy thôi.”
“Đó là hành vi phạm pháp,” Fitzpatrick bảo họ, giải thích rằng bang New York nghiêm cấm việc buôn bán cá sấu sống, nhưng thành phố còn đi xa hơn thế, cấm tiệt mọi loại vật nuôi hoang dã từ bò cạp đến chồn sương hay gấu Bắc Cực. Cả con Nile monitor cũng bất hợp pháp nốt và nó sẽ bị tịch thu. Cruz có vẻ tan nát cõi lòng lúc bạn gái anh ta tìm được một cái hộp giày rỗng. Anh chàng quyến luyến nhấc con thằn lằn nhỏ xíu vào đó, không quên quấn nó trong chiếc áo phông cho nó đỡ bị lạnh.
“Ở đây cũng không có mấy loài anh được giữ lại đâu,” Fitzpatrick khuyên nhủ, “trừ chó, mèo, cá vàng, hoàng yến…”
“Tôi phải có đến hai mươi con vẹt mẫu đơn[*] ấy!” Cruz kêu lên.
[*] Tên một giống vẹt nhỏ có lông màu xanh, mỏ màu đỏ, thường bắt cặp theo đôi suốt vòng đời.
Vào trong bếp, Fitzpatrick kiểm tra chồng lồng chim xếp tầng nuôi những chú vẹt màu xanh với lớp lông ngực màu vàng, mỏ đỏ, xem như được phép giữ chúng lại.
“Nếu không có con nhỏ, tôi còn mang cả rắn chuông và rắn hổ về đây, mấy thứ kiểu đó ấy,” Cruz nói vẻ thèm thuồng, giải thích rằng anh ta yêu động vật từ khi còn là một đứa trẻ, đặc biệt là sau chuyến đi khỏi Bronx để tới thăm bà dì ở Florida. Ở đó lũ cá sấu cứ điềm nhiên sưởi nắng ở vườn sau và ngâm mình trong bể bơi. Trong lúc chờ cảnh sát ghi lệnh triệu tập ra tòa, anh chàng còn gọi điện cho mẹ kể là mình sắp lên kênh Thế giới động vật.
“NPR[*] chứ,” tôi nói bằng khẩu hình rồi chau mày, nhớ lại nhà sản xuất của mình đã yêu cầu phải có kịch tính cao - một thứ gì đó cùng kiểu như linh dương đầu bò ở Queens.
[*] National Public Radio - Đài Phát thanh Quốc gia.
Cúp máy xong, Cruz quay sang nhìn tôi và nói giọng triết lý: “Cô biết không? Kiểu như cô thì thích động vật nhưng lại chán ghét cái cảnh chỉ thấy vài loại lặp đi lặp lại. Cô tới một tiệm thú cưng, họ có con này con kia - nhưng cô biết là ai ai cũng nuôi những con đó rồi. Thế là cô phải cố mà tìm một cái gì đó khác lạ.”
“Thành thật mà nói, vấn đề chính là ở chỗ đó,” Fitzpatrick nói trong lúc trao lại giấy triệu tập. “Khi đó anh sẽ dính phải những loài nguy hiểm.”
Nhưng có vẻ như Cruz không nghe thấy câu ấy, anh chàng còn đang vẩn vơ nghĩ có dễ mà mua được con trăn dài bốn mét rưỡi nghe đồn đang được rao bán đó không.
❀ ❀ ❀
NGƯỜI TA CHO RẰNG có nhiều loài vật hoang dã đang sinh sống trong những ngôi nhà Mỹ còn hơn cả trong sở thú ở Mỹ. Thế nhưng cái ham muốn của những người như Cruz khi nuôi một con cá sấu trong phòng khách nhà mình đang phản bác lại những lý thuyết cổ điển về việc nuôi thú cưng. Trước đây người ta tin rằng loài người giữ vật nuôi vì một kiểu tình yêu vô điều kiện, hoặc vì một phản ứng dễ thương (thuật ngữ khoa học) lầm lạc buộc chúng ta phải quan tâm tới các loài thú khác như cách ta chăm sóc con cái của mình. Cá sấu chẳng đáng yêu mà cũng không dễ thương chút nào, ít nhất theo nghĩa có thể ôm ấp hay có đôi mắt to, khuôn mặt tròn và cái đầu quá cỡ như trẻ sơ sinh hay tụi chó lùn. Thay vào đó, sức hấp dẫn của chúng dường như lại nằm ở cán cân ngược lại - sự dữ tợn của con vật, bản chất hoang dã và không thể thuần hóa của nó.
Theo một cách nào đấy, những thứ Cruz nuôi nhốt trong căn hộ ở Bronx của anh ta có thể được coi là đã có tiền lệ lịch sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật này gần như là đặc quyền của hoàng gia và giới quý tộc. Các vị vua vùng Lưỡng Hà thu nhận các loài quái thú ở nơi khác như vật triều cống, họ xây nên những khu vườn thượng uyển để nuôi chúng, được gọi là paradeisoi, về sau đây sẽ là hình mẫu cho Vườn Địa Đàng trong Kinh Thánh. Các pharaoh ở Ai Cập thì sưu tầm khỉ đầu chó, hà mã và voi từ vùng sa mạc Sahara của Phi châu và cho ướp xác chúng để mang theo về thế giới bên kia. Trong thế giới cổ xưa, người Hy Lạp mang động vật hoang dã từ các chuyến viễn chinh về, truyền thống này được những kẻ chinh phục La Mã của họ tiếp nối, rồi sau đó họ hành quyết công khai những con quái thú ấy trong các đấu trường, trở thành thú tiêu khiển phổ biến trong suốt năm trăm năm. Tháp London có đàn xiếc thú hoàng gia trứ danh từ năm 1204. Ở bờ bên kia Đại Tây Dương, vua Moctezuma[*] đã khiến những kẻ chinh phục đến từ Tây Ban Nha phải choáng ngợp trước vườn thượng uyển tráng lệ của mình, nơi nuôi dưỡng những loài chim nước và linh miêu quý hiếm, mỗi loài lại có những bác sĩ riêng. Cùng với việc người châu Âu khám phá ra Tân Thế Giới, khao khát hướng tới các loài vật hoang dã càng tăng mạnh, Thời kì Phục hưng đã chứng kiến việc phát minh ra “những phòng trưng bày” của cá nhân. Đến thế kỉ mười tám, giới quý tộc phát cuồng vì khỉ và vẹt, coi chúng là những món đồ chơi thượng lưu.
[*] Thủ lĩnh cuối cùng của người Aztec (khoảng 1460 - 1520).
Con người là giống loài độc nhất có thôi thúc thuần hóa và nuôi dưỡng gần như mọi chủng loài động vật có xương sống. Trong cuốn sách kinh điển xuất bản năm 1984 Sự thống trị & Tình yêu: Quá trình hình thành của vật nuôi, nhà địa lý học nhân văn Yi-Fu Tuan[*] đã mô tả khuynh hướng này như là một bài tập thực hành quyền lực - một trò chơi thống trị xuất phát từ mong muốn điều khiển các thế lực siêu nhiên của con người. Theo giáo sư Tuan, việc nuôi thú cưng phản ánh lòng tham của chúng ta đối với các biểu tượng địa vị, với thứ mà nhà triết học Jean-Paul Sartre gọi là “khẩu vị trần tục, đeo bám, thấp kém, hữu cơ và yếu ớt của sinh vật,” những điều làm nền tảng cho mọi loại hàng hóa xa xỉ.
[*] Đoạn Nghĩa Phu, Giáo sư Địa lý người Mỹ gốc Trung Quốc.
Cửa hàng bán thú cưng thời hiện đại lần đầu tiên xuất hiện ở các đô thị của Mỹ hồi những năm 1890; cùng với nó là phong trào nhập khẩu hàng loạt những loài động vật ngoại lai từ châu Á và Nam Mỹ. Việc nuôi động vật trong nhà bùng nổ ở Mỹ trong thời kì kinh tế tăng trưởng nóng sau Thế chiến II, và kể từ thập kỉ 70, trào lưu này đã tăng trưởng gấp ba lần. Lần đầu tiên trong lịch sử, số hộ gia đình người Mỹ nuôi thú cưng còn nhiều hơn là số hộ không nuôi con nào, trong đó có khoảng 86 triệu con mèo và 78 triệu con chó. Nhưng không ai biết có tất cả bao nhiêu loài “ngoại lai”, chủ yếu là vì mọi người không đồng thuận được với nhau cách định nghĩa thế nào là một con thú cưng “ngoại lai.” Liệu
một loài động vật bản địa nhưng hoang dã như chồn hôi có được tính không? Thế còn lợn ỉ? Hơn nữa còn nhiều vấn đề sâu xa phức tạp, đó là hầu hết hoạt động mua bán đều diễn ra ở chợ đen, bất chấp cả luật tiểu bang lẫn liên bang.
Những năm 1980 là thời kì hoàng kim của chim hoang dã trong thị trường chợ đen. Bùng nổ tiếp sau đó là “thương vụ bò sát,” tên tắt của các vụ mua bán liên quan đến loài bò sát và động vật lưỡng cư như rùa, tắc kè và kỳ giông. “Đấy mới là món hút tiền to,” Fitzpatrick bảo tôi. Anh kể với tôi cái lần giả làm người sưu tập bò sát để tiến hành mua một loài rùa phát quang đang bị đe dọa nghiêm trọng từ đảo Madagascar với giá 18.000 đô la. Trên mai chú rùa là một hình ngôi sao phát sáng rực rỡ. Trong lúc giao dịch, người bán hàng cho anh xem một bức ảnh của con rùa độc nhất vô nhị - một con river cooter[*] bạch tạng, cả cơ thể nó là một màu xanh lục bảo nhạt - và nói rằng đã có người trả cho anh ta tới 101.000 đô để đổi lấy con vật nhưng anh ta còn chờ cái giá cao hơn.
[*] Tên một loại rùa nước ngọt sinh trưởng ở vùng miền trung và đông Hoa Kỳ.
Hồi ấy, do lo ngại sẽ bị soát người, Fitzpatrick đã tuồn khẩu súng của mình vào trong ngăn kéo ở một căn phòng khác, nên khi đội yểm trợ của anh đến muộn, anh bắt đầu sợ đổ mồ hôi. Dù người bán hàng đã không chống cự khi bị bắt, nhưng những kẻ buôn lậu rùa giá trị lớn vẫn thường có đủ loại hành vi bạo lực. Interpol đã cảnh báo rằng các đường dây tội phạm có tổ chức buôn lậu động vật không khác gì cách chúng buôn vũ khí, ma túy hay buôn người - loại tội ác hủy hoại môi trường ấy thường song hành cùng tệ tham nhũng, rửa tiền, thậm chí là giết người.
❀ ❀ ❀
CHÍNH FITZPATRICK là người đầu tiên nói với tôi về loài cá rồng Á châu. Trước đó tôi vẫn nghĩ cá cảnh chỉ cao hơn cây trồng trong chậu một bậc. Giả sử có ai đó cho tôi biết cá chính là loài chiếm số lượng áp đảo trong đám thú cưng hoang dã - rằng chúng là loại vật nuôi thường thấy nhất, với hơn 100 triệu cá thể đang bơi lội trong khắp các bể cá trên toàn nước Mỹ - thì tôi cũng chẳng buồn để tâm làm gì. Thứ duy nhất hấp dẫn ở lũ cá là chúng chẳng có vẻ hài hước chút nào và thường gắn liền với tuổi thơ.
Hồi tôi còn nhỏ, cha mẹ đã mua cho tôi một bể cá vàng để thay thế cho một chú chó hay chú mèo. Ngày nọ khi tôi sắp tròn sáu tuổi, tôi để ý thấy có bong bóng thổi ra từ những cái miệng nhỏ của lũ cá và thắc mắc có phải chúng đang nói chuyện với nhau. Chạy đi lấy ống nghe bác sĩ Fisher-Price của mình, tôi đẩy một cái ghế tới cạnh bể cá và trèo lên để lắng nghe những tiếng nhỏ vang lên từ dưới nước. Tôi chẳng nghe được gì. Kể từ đó tôi phớt lờ chúng và chúng cũng tiếp tục lờ tịt tôi.
Tuy nhiên không phải ai cũng chán ngán chúng giống tôi. “Trong thành phố này chúng tôi phải đối mặt với một vấn đề, đó là về một loại cá.” Fitzpatrick kể với tôi. “Cá rồng!” Tôi nghe nhầm thành “cần sa[*]” và hóa ra sự liên tưởng ấy lại khá đúng. Căn cứ theo Luật các loài có nguy cơ tuyệt chủng, người ta không thể mang cá rồng châu Á vào Hoa Kỳ để làm vật nuôi một cách hợp pháp. Thế nhưng hoạt động buôn lậu loài vật này lại tràn lan khắp quốc gia. Fitzpatrick thuật lại cho tôi cuộc vây bắt ở một công xưởng ngầm bẩn thỉu tại Brooklyn, nơi những người phụ nữ còng lưng bên máy khâu, các mẩu vải vụn vương vãi khắp sàn nhà - tất cả chỉ là bình phong cho việc buôn bán cá. Một lần khác, nhờ tin chỉ điểm, anh đã tóm được một gã đàn ông gốc Malaysia ở Queens đang lén tuồn cá rồng qua Sân bay JFK trong những cái túi nước đóng gói trong một cái va li. Fitzpatrick lưu ý rằng ngay cả những giống rẻ tiền nhất cũng được bán với giá vài ngàn đô la, từ khởi điểm đó giá còn tăng cao hơn nữa tùy thuộc vào màu sắc, màu đỏ được yêu thích nhất. “Với một bộ phận dân châu Á, cá rồng được coi là biểu tượng của sự may mắn và thịnh vượng, hoặc hiện thân của địa vị,” anh giải thích. “Và con vật đã bị khai thác quá mức trong ngành buôn bán thú cưng cũng vì những lí do đó.”
[*] Trong tiếng Anh tên của cá rồng là arowana, khá giống với marijuana, nghĩa là cần sa.
Tuy nhiên nỗi ám ảnh với cá không chỉ giới hạn trong văn hóa châu Á. Giống như một tài phiệt ngân hàng ở phố Wall chẳng hạn. Ông ta đã bật khóc sau khi bị bắt giữ vì sở hữu vài con và thừa nhận rằng mình không thể cưỡng lại sức hấp dẫn kiểu nguy hiểm của nó. “Mấy năm nay chúng tôi toàn gặp các vụ không liên quan gì đến người châu Á - toàn dân da trắng,” Fitzpatrick nói. Mùa hè năm ngoái người ta đã bắt được hai người đến từ Long Island ở biên giới Canada, đang lái xe về từ Montreal cùng với bốn con cá đang bơi trong hộp đựng lốp xe dự trữ. Lại còn một thanh niên trẻ bị bắt quả tang buôn bán cá rồng ở ngôi nhà ngoại ô của gia đình anh ta. Fitzpatrick lý luận rằng có thể họ coi việc buôn lậu cá an toàn hơn các loại hàng cấm giá trị cao khác như ma túy hay súng - đặc biệt là ở New York, nơi chỉ có hai mươi cảnh sát môi trường thường trực phụ trách toàn bộ khu vực rộng lớn so với khoảng ba mươi tư ngàn cảnh sát thành phố.
Theo anh, những kẻ buôn lậu động vật hoang dã bị thúc đẩy vì lòng tham thuần túy, khi họ dự đoán đâu là món hàng cấm hời nhất thế giới. Nhưng người chơi thú thì chỉ vì một niềm dam mê mà chính anh cũng có thể thông cảm. “Tôi nghĩ đa phần những người nuôi các loài vật này đều yêu thiên nhiên, và bản thân việc ấy không xấu,” anh nói. “Chỉ có điều họ đã yêu sai cách mà thôi.”
Hồi mới tốt nghiệp chuyên ngành sinh vật học, Fitzpatrick từng dành hai tháng để nghiên cứu chim trong rừng rậm Venezuela. Ở đó, anh sụt gần mười lăm cân, nuôi hẳn một bộ râu Grizzly Adam trọn vẹn, mắc đủ chứng bệnh ngoài da kì quái trước khi nhận ra mình là đứa con của thành phố. Anh vẫn yêu thích các loài động vật nhiệt đới - nhưng chỉ là đứng ngắm từ xa. Vật nuôi duy nhất của anh là một chú chó Malta[*] chỉ to cỡ cái bình bia mà anh không chịu cho tôi biết tên. “Chẳng lẽ là Snowball (Bóng tuyết) à?” Tôi hỏi.
[*] Giống chó nhỏ có lông xù, rất hoạt bát và thân thiện.
“Kiểu thế!” Anh nói.
“Flufferbutter (bơ xù bông) á?”
“Cô hiểu ra rồi đấy!”
❀ ❀ ❀
TỐI ĐÓ KHI VỀ NHÀ, tôi tìm kiếm về loài cá rồng châu Á xem mình còn biết được gì thêm không. Fitzpatrick từng nói rằng tên chính thức của loài này là lưỡi xương[*] Á châu - “cái tên rất kém hấp dẫn” - do phần xương dài trong lưỡi, hàm răng nhọn tua tủa hai bên mà con cá dùng để bắt và nghiền nát con mồi trong miệng của nó.
[*] Tên tiếng Anh dịch nghĩa từ tên tiếng Latin.
Tôi được biết rằng loài lưỡi xương là một trong những giống cá cổ xưa nhất còn sống trên trái đất. Các mẫu hóa thạch xưa nhất có niên đại từ thời cuối kỷ Jura hoặc đầu kỷ Phấn Trắng. Các hóa thạch ấy cho thấy các sinh vật khổng lồ với những chiếc răng nanh ghê gớm quần thảo khắp các vùng biển thời tiền sử, săn lùng ngư long và xà đầu long. Ngày nay họ Osteoglossidae (trong tiếng Hy Lạp osteo nghĩa là “xương,” và gloss nghĩa là “lưỡi”) không còn sinh sống ở đại dương nữa mà là ở các sông ngòi và hồ vùng nhiệt đới. Ở đây, họ Osteoglossidae cũng bao gồm một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới: loài arapaima Amazon. Những con cá arapaima có thể dài đến gần bốn mét rưỡi và nặng 270 cân. Ngoại trừ giống cá khổng lồ này, phần còn lại trong họ Osteoglossidae thường được biết đến với tên cá rồng - tất cả đều là những sinh vật dài, mỏng dẹp trong bộ giáp vẩy lớn, nặng nề và óng ánh của chúng.
Loại dữ tợn nhất trong họ này (hay ít nhất là nhào lộn điêu luyện nhẩt) là giống ngân long Nam Mỹ, còn được gọi là khỉ nước, vì nó có khả năng bật cao tới hai mét trên không trung để đớp bọ, chim, rắn hay dơi đang đu mình lủng lẳng trên cành cây. (Bạn đừng google cụm từ cá rồng ăn vịt con.) Năm 2008, khi một người đàn ông New Jersey thò tay vào trong bể cá ở Thủy cung Adventure của Camden để chạm vào một con cá rồng bạc, con cá định làm gỏi bàn tay của ông ta luôn. Trong vụ kiện cáo sau đó, nạn nhân kết tội nó vì “những vết thương thể xác đau đớn” và đứa con trai ba tuổi của ông ta đã phải chịu đựng “sang chấn tâm lý nghiêm trọng, chứng đau đầu, buồn nôn, ám ảnh tinh thần kéo dài và các cơn kích động lặp đi lặp lại” sau khi chứng kiến vụ việc.
Bất chấp hay có lẽ chính vì tính hung dữ này mà loài ngân long lại là vật nuôi phổ biến ở Mỹ - và là loại thú cưng hoàn toàn hợp pháp - một cá thể non có giá từ 30 đến 50 đô la. Người ta nhận diện được tổng cộng bảy loài cá rồng (với ba loài khác còn đang khiến các nhà khoa học tranh cãi) ở Nam Mỹ, châu Phi, Đông Nam Á, New Guinea và Úc. Chỉ có các loài đến từ châu Á là bị cấm ở Mỹ.
Tuy nhiên, ở các quốc gia khác thì cá rồng châu Á lại là hàng hóa được yêu thích rộng rãi trong thị trường xa xỉ phẩm hợp pháp. “Quên dầu lửa và kim cương đi, ở Đông Nam Á thì thứ xếp hàng đầu lại là cá,” tôi từng đọc được điều đó trong tạp chí Practical Fishkeeping dành cho người chơi cá. Bài báo mô tả một bộ sưu tập gồm năm mươi cá thể có tổng giá trị đến một triệu đô la được đặt dưới sự bảo vệ 24/24 ở Jakarta, Indonesia như thế nào. “Trong khi ngoài thiên nhiên, giống cá này ngày càng hiếm thì với những người giàu có nhất châu Á, độ phổ biến của nó lại càng tăng.”
Trong vài trường hợp, cá còn được nuôi dưỡng tại những trang trại giống như những nhà tù - các cơ sở bên trong núp mình sau các bức tường, đài quan sát, lại còn cả đàn Rottweiler[*] đi tuần xung quanh khu vực vào ban đêm nữa. Lý do của tất cả những biện pháp an ninh nghiêm ngặt này trở nên rõ ràng hơn khi tôi tìm hiểu sâu hơn trong mục lưu trữ các thông tin báo chí nước ngoài. Các tin tức ghi chép lại về việc tội phạm trộm cắp cá gia tăng trên khắp vùng Đông Nam Á. Ở Malaysia, năm con cá rồng từng bị đánh cắp khỏi căn hộ của một nữ chủ nhân có tổng giá trị còn cao hơn tất cả các tài sản khác của bà ta cộng lại. Ở Singapore, đất nước vẫn tự hào vì tỷ lệ tội phạm thấp nhất thế giới, người ta từng ghi nhận tới bốn vụ trộm như vậy trong cùng một tuần. Một tên trộm đấm bà già chủ nhà vì đã đuổi theo khi hắn bỏ chạy cùng con cá đoạt giải của bà đựng trong một thùng nước sóng sánh. Hắn phải chịu án phạt ba năm tù và lãnh mười hai cú bổ từ cái gậy ba toong ướt sũng.
[*] Một giống chó săn hung dữ và thông minh, thường được huấn luyện để trông nhà.
Về chuyện ai là kẻ đón nhận lũ cá, vài người đoán rằng những tên trộm thực chất là người yêu cá và không thể trả nổi số tiền khổng lồ. Người khác lại nghi ngờ rằng có những tổ chức tội phạm đứng sau lưng bọn trộm - một dạng “mafia ngành cá”. Giả thuyết này thêm phần đáng tin do một câu chuyện đau lòng xảy ra ở Indonesia, một người buôn bán cá rồng cùng các đồng phạm có trang bị vũ khí của gã đã bắt cóc và giữ làm con tin một người mua cá Nhật Bản để đòi tiền chuộc.
Tuy nhiên, bất chấp những tội ác này, việc mua bán các cá thể được nuôi từ trang trại là hoàn toàn hợp pháp, không chỉ ở châu Á mà còn ở hầu hết các nước, bao gồm cả Canada và châu Âu - một ngoại lệ lớn duy nhất (ngoài Hoa Kỳ) là Úc. Nước này cấm buôn bán cá rồng để bảo vệ quần thể động vật nhiệt đới của riêng nước họ. Mấy năm trưởc, một bà nội trợ bốn mươi lăm tuổi đã bị bắt ở sân bay Melbourne khi cố đưa lậu vào nước Úc năm mươi mốt con cá sống, trong đó có cả một con cá rồng châu Á, được giấu dưới chiếc váy xòe rộng của bà ta. “Chúng tôi bắt đầu nghi ngờ từ khi nghe thấy những âm thanh lạ,” một nhân viên hải quan sau đó đã kể lại với báo chí.
Những câu chuyện buôn lậu ngớ ngẩn như thế đã làm tôi thức rất khuya, lướt qua hàng trăm bài báo tôi đã in ra và trải khắp sàn phòng khách nhà mình. Tuy nhiên càng đọc nhiều thì tôi càng thấy tình hình không giống buôn lậu ma túy lắm, mà na ná như cảnh săn tìm tranh quý ở Manhattan hơn. Hai thương vụ giống nhau từ những mức giá cao chót vót, người mua ẩn danh, đến các mẫu vật bị đánh cắp, kẻ trung gian mua bán lươn lẹo, thậm chí cả những món hàng giả tinh xảo nữa. Dù là so sánh theo cách nào, có vẻ như từ rất lâu rồi loài cá rồng châu Á đã đẩy con người đến những thái cực nguy hiểm.
Một mùa hè nọ hồi còn học đại học, tôi đã đọc cuốn sách In the Shadow of Man[*] của Jane Goodall, và kể từ đó tôi luôn mơ ước được làm một chuyến phiêu lưu vào rừng rậm để viết nên một câu chuyện tuyệt vời về động vật hoang dã. Cùng khoảng thời gian bắt đầu tò mò về loài cá rồng, tôi giành được một khoản hỗ trợ cho dự án báo chí ở nước ngoài. Giờ tôi đã biết mình sẽ sử dụng nó như thế nào: tự tôi sẽ đi tìm hiểu nơi khởi nguồn của tất cả những chú cá bị buôn lậu kia và cái gì đã khiến cho loài này có sức hút khó cưỡng đến thế. Nhân vật của Goodall là loài linh trưởng bậc cao, biết sử dụng công cụ lao động - còn tôi thì có lũ cá lưỡi xương nóng tính.
[*] Tạm dịch: Nội tâm con người.
Điểm xuất phát của tôi rất dễ thấy. Nổi lên ở trung tâm thế giới cá cảnh muôn màu của Đông Nam Á là một người dẫn đầu xu hướng trứ danh thường được biết đến với tên Kenny Ông Cá, một triệu phú nghiện thuốc lá nặng, rất thích cởi trần chụp ảnh cùng những bể cá xếp đặt xung quanh mình. Tên thật của Ông Cá là Kenny Yap, ông là Chủ tịch Hội đồng quản trị của một trang trại cá cảnh có lợi nhuận cao đến mức nó đã được niêm yết trên thị trường chứng khoán Singapore. Gần đây báo chí Singapore ca ngợi ông là chàng độc thân nổi tiếng nhất đất nước và kêu gọi ông làm người dẫn chương trình truyền hình thực tế mua lại bản quyền của Donal Trump, chương trình Người tập sự. Để vào được trang web chính thức của ông, tôi phải nhấp chuột vào lỗ rốn trên ảnh ông.
Sau này nghĩ lại tôi thấy cái rốn ấy chẳng khác nào hố thỏ mà mình đã ngã vào, và mãi ba năm rưỡi sau mới trồi được lên.