Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Sáu: Con Cá Còn Sống

❊ ❊ ❊

Heiko Bleher đã viết một loạt bài báo rất nhiều thông tin về lịch sử việc nuôi cá trong nhà cho tờ Nutrafin Aquatic News, ấn bản 1-4. Câu chuyện về người nông dân Tây Ban Nha đã phát hiện ra “Loài cá lớn” được kể lại trong cuốn sách của José Bullón Gimenez là The Pileta Cave: National Monument since 1924 (Alcalá del Valle, Spain: La Serrania, 2006). Bản mô tả của John Milton về loài cá vàng Assyria Dagon xuất hiện từ dòng 462-63 trong cuốn Paradise Lost (1667). Thông tin về những xác ướp cá của nền văn minh Ai Cập cổ đại tới từ một cuộc trò chuyện với Salima Ikram của trường Đại học American của Cairo và cuốn sách Divine Creatures: Animal Mummies in Ancient Egypt (New York: American University in Cairo Press, 2005) của bà.

Khi viết về các nghiên cứu sinh vật học của Aristotle, tôi không chỉ dựa vào tác phẩm của chính ông như History of Animals, mà còn xem cả bộ phim tài liệu năm 2011 của đài BBC: Aristotle’s Lagoon do Armand Marie Leroi dẫn chính, sau đó ông còn viết thêm một cuốn sách cũng về đề tài này The Lagoon: How Aristotle Invented Science (New York: Bloomsbury Circus, 2014). Một nguồn tư liệu đáng tin cậy khác là James Lennox, “Aristotle’s Biology,” The Stanford Encyclopediaof Philosophy (Spring 2014 edition), do Edward N. Zalta biên tập (http://platostanfordeduarchivesspr2014/entries/aristotle-biology/). Bản dịch của Lennox cho cuốn sách “Invitation to Biology” xuất hiện trong Aristotle: On the Parts of Animals (Oxford: Oxford UniversityPress, 2001).

Hình tượng Peter Artedi mà tôi xây dựng chủ yếu dựa trên cuốn tiểu thuyết lịch sử của Theodore W. Pietsch mang tên The Curious Death of Peter Arterdi: A Mystery in the History of Science (New York: Scott & Nix, 2010), cuốn sách đã vét cạn từng giọt cuối cùng trong những nguồn tư liệu ít ỏi còn lại về Artedi. Tôi rất biết ơn Pietsch vì đã nói chuyện với tôi về nghiên cứu chuyên sâu của ông về tầm ảnh hưởng của Artedi với Linnaeus. Hai tài liệu khác cũng đã giúp tôi rất nhiều: bài “Peter Artedi, founder of modern ichthyology” do Alwyne Wheeler viết, ông cũng chính là người đã đưa ra các gợi ý rằng đóng góp tổng thể của Artedi với ngành sinh vật học đã bị bỏ qua, và bài viết của Gunnar Broberg “Petrus Artedi in his Swedish context,” cả hai đều được in trong tập Proceedings of the Fifth Congress of European Ichthyologists, Department of Vertebrate Zoology, do Sven Kullander và Bo Fernholm biên soạn (Stockholm: Swedish Museum of Natural History, 1987).

Những hiểu biết của tôi về thời đại hoàng kim của các chuyến thám hiểm tự nhiên được hình thành từ nhiều nguồn, nhưng tôi thấy hai tài liệu đặc biệt khai sáng cho tôi là: cuốn sách của Paul Lawrence Farber Finding Order in Nature: The Naturalist Tradition from Linnaeus to E. O. Wilson(Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2000) và sách của Richard Conniff The Species Seekers: The Heroes, Fools, and the Mad Pursuit of Life on Earth (New York, WWNorton, 2011).

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.