Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 90 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Hai Loài Cá Rồng

❊ ❊ ❊

SINGAPORE

“Chào mừng đến Đảo Quốc của chúng tôi!” Kenny gửi email cho tôi vào một ngày thứ Bảy khi tôi đã tới Singapore, vùng đất ở mũi cực nam của Đông Nam Á, phần dấu chấm trên dấu chấm than của bán đảo Mã Lai. “Hẹn gặp cô thứ Hai tới, chúc cô có cuối tuần bù khú vui vẻ nhé! Kenny Ông Cá.”

Hồi đó là tháng Năm, mới hai tháng sau vụ bắt hụt chú cá sấu và tôi không thể ở xa khu South Bronx hơn thế - cả về vị trí lẫn cảm xúc. Singapore là một thành phố sạch sẽ và vệ sinh đến mức kì lạ, gần như người ta luôn có thể di chuyên xuyên qua các tòa trung tâm thương mại gắn điều hòa. Cuối tuần đó tôi lang thang qua khu trung tâm mua sắm đẹp lung linh tới tận khu bến cảng và thấy một bức tượng trắng khổng lồ mình cá đầu sư tử đang phun nước xuống vịnh Marina. Đó là tượng Merlion, biểu tượng quốc gia của Singapore do hội đồng xúc tiến du lịch khởi xướng từ những năm 1960. Năm 1979, một nhà thơ sinh ra tại nơi này tên là Edwin Thumboo đã tưởng tượng ra cảnh Ulysses đối đầu với biểu tượng này và ngâm lên đoạn: “Chẳng có, chẳng có đâu thời xưaAi nghĩ ra được vật nàyNửa mình sư tử, nửa mình ngư.”

Một biểu tượng nhân ngư khác của Singapore - Kenny Ông Cá - dường như cũng nổi tiếng không kém gì tượng Merlion. Thứ Hai, lái xe taxi của tôi không vui vẻ gì khi đi vào khu công nghệ nông nghiệp ở mạn tây bắc đảo - cho đến khi biết tôi tới đó để gặp Kenny. “Tôi có gặp ông ấy một lần trong quán cà phê,” lái xe hào hứng kể với tôi. “Ông ấy là người đã phát triển việc kinh doanh của gia đình lên một tầm cao mới.”

Công ty cá cảnh của Kenny, Tập đoàn Qian Hu Corporation Ltd., (pháp âm trong tiếng Trung là chien who, có nghĩa là “ngàn hồ”), đặt tổng hành dinh ở cuối con đường uốn lượn, lối vào xanh mướt được đánh dấu bằng một bức tượng cá dọn bể[*] màu xanh trắng có vẻ vô hại, uể oải. Cuối đường lái xe vào có một dãy nhà kho có sàn xi măng ướt nhẹp và một quán cà phê ngoài trời đang phát những bài nhạc Trung Hoa trên loa. Một tấm biển chỉ sang một khu spa cá, nơi nhốt những chú cá tuế trong bể để rỉa lớp da chết ở chân du khách và mấy cái hồ quầy nhỏ để lũ trẻ dùng lưới bắt cá. Với lớp sơn màu xanh nhạt, toàn bộ nơi này cho người ta cái cảm giác giống như ở Disneyland. Gần như trên mọi mặt phẳng có thể, người ta đều treo các tấm ảnh cắt ra từ báo chí có khuôn mặt Kenny vui sướng hạnh phúc y hệt nhau.

[*] Nguyên gốc: suckerfish.

Tôi tìm thấy chính ông Chủ tịch ấy trong góc văn phòng ở tòa nhà một tầng khiêm tốn, ngồi đằng sau chiếc bàn làm việc màu đen, hồng và xanh. Ở tuổi bốn mươi tư, trông ông gày gò như một cậu thiếu niên với khuôn mặt tròn trịa, trẻ trung tươi rói lên khi thấy tôi đến. Ông mặc quần jean và áo sơ mi trắng cộc tay có thêu logo con cá dọn bể mà tôi đã nhìn thấy lúc mới đến. Có năm bức ảnh treo thành một hàng phía trên đầu ông. Có vẻ chúng đều là cảnh Kenny khỏa thân chụp cùng lũ cá.

“Cởi trần thôi,” ông chỉnh lại, chỉ vào một bức ảnh đang ngồi giạng chân, hai cánh tay ướt ôm một túi cá koi[*]. “Thế kia mà là khỏa thân à?”

[*] Giống cá chép cảnh có nhiều màu sắc.

“Làm sao tôi biết được,” tôi thật thà nói. “Có thể lắm chứ.”

“Thôi được. Không phải đâu, tôi có mặc quần lót, nhưng lại đặt túi cá ở giữa.” Kenny giải thích là lúc đó ông đang chụp ảnh hộ chiếu thì chợt nảy ra ý thêm gia vị cho buổi chụp và lột sạch quần áo chỉ chừa mỗi cái quần lót. “Tôi nghịch ngợm và ham vui lắm, cô biết không?” Ông nói rồi mời tôi một chai nước và dựa người ra sau ghế, tự mở một chai cho mình. “Tôi cần nước. Đêm qua hơi quá chén mà.”

Rõ ràng việc Kenny trở thành một biểu tượng văn hóa không phải là ngẫu nhiên. Vốn là một người làm marketing bậc thầy, tự ông đã nghĩ ra biệt danh của mình và bắt đầu xuất bản bộ lịch hàng năm với những câu trích dẫn của bản thân để quảng cáo cho lũ cá ông bán[*]. Thế nhưng dù được dàn dựng kĩ đến mức nào, hình ảnh dân chơi của ông thành công chính là nhờ xuất thân bần hàn. Ông là con trai út trong một gia đình nông dân chăn nuôi lợn có chín đứa con. Thập kỉ 80 của thế kỉ trước, chính phủ Singapore bị ám ảnh với hình ảnh đất nước sạch đẹp và loại bỏ ngành nuôi lợn. Vì thế, gia đình ông chuyển đổi các ngăn chuồng của mình thành hồ bê tông để nuôi cá bảy màu. Năm 1989, khi Kenny - người con đầu tiên trong nhà vào được đại học - còn đang theo đuổi ngành marketing ở trường Đại học Ohio, một người anh trai gọi điện báo cho ông biết mưa lớn đã cuốn trôi sạch lũ cá trong hồ của họ. Năm sau đó, ông về nhà để phụ giúp gia đình gây dựng lại trang trại.

[*] Chẳng hạn: “Suy nghĩ không thực tế, như kiểu mong mình vô hình để bằng cách nào đó chạm vào người khác thì chẳng khác nào trèo lên cây mà đòi bắt cá.”

Mấy anh em đầu tư toàn bộ tài sản gom góp được vào một lô hàng bốn ngàn con cá dọn bể vây cao, một loài cá sống ở tầng đáy sông Dương Tử, Trung Quốc, đang cực kì thịnh hành trong giới buôn cá cảnh vào thời bấy giờ (mặc dù nó vô cùng không thích hợp để nuôi trong hộ gia đình vì nó có thể phát triển đến kích thước của một con cá sấu; nó nằm ngay đầu danh sách truy lùng của Trung úy Fitzpatrick). Nhưng chỉ hai ba tuần sau, lũ cá đã chết sạch do không chịu được chấn động của công trường xây dựng trong trang trại. Sau này, Kenny quyết định lấy hình ảnh loài cá này để làm logo công ty - loài cá thân thiện trên cổng ra vào trên áo sơ mi của mình - hòng nhắc nhở mọi người về tầm quan trọng của việc đa dạng hóa danh mục kinh doanh cá cảnh.

“Làm ăn không thể chỉ dựa vào một loại cá,” Kenny bảo tôi và chỉ ra hiện nay công ty ông đang xuất khẩu hơn một ngàn giống cá tới 80 nước khác nhau. Tuy nhiên cá rồng vẫn chiếm tới 20% lợi nhuận từ cá, theo Kenny đó là do nó có giá trị rất cao. Ông nói không biết gì về chuyện loài cá này được đưa lậu vào nước Mỹ, bởi nơi đây bị ông coi là “thị trường bần tiện.”

“Con cá rồng đắt nhất mà ông từng bán giá bao nhiêu?” Tôi hỏi.

“70 ngàn đô la cho một con trưởng thành,” Kenny thản nhiên nói, kể thêm là một người mua đến từ Nhật đã từng mua hẳn ba con như vậy từ nhiều năm trước, một bộ ba “cá rồng đỏ đẹp” bảy hoặc tám tuổi. Đó là độ tuổi chớm trưởng thành ở loài cá này, vì chúng vốn có tuổi thọ vài thập kỷ, tuy nhiên khi nuôi nhốt trong bể thì chúng thường chết sớm hơn.

“Thật ra không phải con nào cũng đắt thế đâu,” Kenny giải thích thêm rằng thường cá rồng sẽ được rao bán lúc được sáu tháng tuổi, khi mới chỉ dài bằng một chiếc bút chì và được định giá từ một đến hai ngàn đô la. “Mọi người muốn nuôi chúng từ bé để xây dựng mối quan hệ với chúng.” Trước đây ông từng nói với báo chí rằng cá rồng có thể được huấn luyện như chó mèo để ở bên chủ mỗi khi người chủ cảm thấy không vui (dù chúng bị nhốt trong bể đi nữa). Mặt trái của mối liên hệ gần gũi này là con cá thường có những cơn nổi đóa bất ngờ và có thể tỏ ra “như một đứa trẻ được nuông chiều.”

Tất nhiên Kenny cũng biết rằng ngay cả những mốt nuôi cá thời thượng nhất cũng chóng hết thời. Chẳng hạn năm 2001, giới nuôi cá cảnh châu Á phát cuồng vì một loài vật lai tên là louhan[*] hay flowerhorn[*],có hình dạng giống cá rô phi với cái bướu phình ra ở trên đầu, cứ như não nó nằm ngoài hộp sọ vậy. Vì lí do gì đó mà người ta bắt đầu đồn đại hình hoa văn trên cái bướu tiên đoán được số trúng giải độc đắc. Chẳng bao lâu cá la hán bị hét giá cắt cổ, các con đẹp nhất có giá tới hàng chục ngàn đô la. Lúc cao trào, số lượng cửa hàng bán cá ở Singapore tăng gấp ba lần chỉ trong một năm. Người ta lao đi mua bể. Thức ăn cho cá trở nên khan hiếm. Rồi bong bóng bất ngờ nổ tung khoảng năm 2005. Bể cá bị vứt khắp các phố. Cửa hàng đóng cửa. Sự việc xảy ra y hệt như một chương trong cuốn sách kinh điển của Charles Mackay xuất bản năm 1841, cuốn Extraordinary Popular Delusions and the Madness of Crowds[*].

[*] Tên tiếng Trung của cá la hán.

[*] Tên tiếng Anh của cá la hán.

[*] Tạm dịch: Những ảo tưởng phổ biến khác thường và sự điên loạn của đám đông.

Tuy nhiên Kenny tin chắc rằng số phận loài cá rồng sẽ không bao giờ giống như cá la hán, bởi có hai lí do giúp nó giữ giá lâu dài. Đầu tiên là cái tên ý nghĩa của nó: cá rồng. Trong văn hóa Trung Hoa, sinh vật huyền thoại này không phải một con quái vật đáng sợ, mà là một biểu tượng cái thiện được yêu thích. “Rồng của phương Đông được coi là sự hiện hữu của triển vọng tương lai, sự thịnh vượng và thiện lương, không như rồng phương tây,” Kenny giải thích đồng thời vươn người tới, đặt hai bàn tay lên mặt bàn. “Rồng phương Tây lúc nào cũng đại diện cho cái ác, rồi phun lửa hại người… Không phải thế!” Ông đập mạnh tay xuống rồi bất ngờ cười phá lên. “Thứ hai…” - Kenny lấy lại vẻ điềm tĩnh - “giống cá này thực sự rất hiếm. Cô không thể bán tràn lan trên thị trường được.”

❀ ❀ ❀

TUY NHIÊN, nó hiếm đến mức nào thì chưa ai biết rõ cả. Trong giới khoa học, loài cá rồng châu Á từ lâu đã được xếp chung vào một giống Scleropages formosus, với dải phân bố rất rộng trong sông ngòi và hồ nước khắp Đông Nam Á. Người ta cho rằng môi trường sống tự nhiên của nó kéo dài từ miền Nam Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và có thể cả Myanmar, xuống tới bán đảo Malay và các đảo Sumatra, Borneo.

Tuy nhiên, vấn đề phức tạp ở đây là cá rồng có quá nhiều màu sắc, với những cái tên chồng chéo: huyết hồng, ớt đỏ, kim long quá bối, hoàng kì ngân long, tro kì ngân long, lam Mã Lai, huyết kì kim long, vv… Một số màu được coi là hiếm hơn và được săn đón nhiều hơn các màu khác. Màu sắc được thèm muốn nhất - hay ít nhất là màu yêu thích truyền thống - là huyền thoại huyết long, giống cá chỉ sinh trưởng duy nhất trong một hệ thống hồ hẻo lánh ở trung tâm đảo Borneo. Ngược lại, màu lục - loại không được đặt cho một cái tên cao sang nào - lại là màu phổ biến nhất. Tới tận những năm 2008, các nhà nghiên cứu của Hội Bảo tồn Động vật Quốc tế còn báo cáo rằng người dân vùng nông thôn Campuchia vẫn ăn thịt cá rồng xanh, mặc cho số lượng cá thể loài này đã sụt giảm thê thảm trước nạn khai thác quá đà để buôn bán.

Thực ra, mới cách đây không lâu, tất cả các nhánh của giống cá rồng châu Á đều bị coi là thực phẩm nhiều hơn là cá cảnh. Năm 1964, khi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thành lập một nhóm đặc biệt chuyên trách về sự sống còn của các loài cá nước ngọt, cá rồng châu Á vẫn còn là “một nguồn thực phẩm quan trọng đối với các cư dân sinh sống trong đầm lầy,” và là thú tiêu khiển nổi tiếng với những người đi câu ở Malaysia. Tuy nhiên, do các báo cáo số lượng sụt giảm mà nó đã được thêm vào mục các loài vật gặp nguy cơ trong Sách Đỏ của IUCN. Chính điều này đã dẫn đến việc tên loài cá này được nêu ngay trong Phụ lục I của Hiệp định về Buôn bán các loài động thực vật hoang dã có nguy cơ tuyệt chủng (CITES). Ngày nay CITES là một trong số các hiệp định có khung đồng thuận lớn nhất thế giới, điều chỉnh các hoạt động liên quan tới động thực vật gặp nguy cơ xuyên qua lãnh thổ của 186 nước thành viên. Các loài vật và cây cối trong Phụ lục I được coi là các loài quý hiếm nhất và gần như bị cấm buôn bán trên thị trường quốc tế. Kể từ năm 1975, khi Hiệp định bắt đầu có hiệu lực, việc mua bán cá rồng châu Á đã rơi vào tình trạng đó.

Hồi ấy lệnh cấm không có ý nghĩa nhiều bởi loài cá này còn chưa được mua bán trên thị trường quốc tế, ít nhất là trên diện rộng. Tuy nhiên ở địa phương, các nhà buôn cá cảnh đã chú ý đến nó. Năm 1967, chủ một cửa hàng cá cảnh ở bắc Malaysia tên là Chew Thean Yang đang lái xe xuyên qua rừng để đi thu mua cá thì bắt gặp một con cá rồng màu vàng được rao bán ở chợ cóc ven đường. Con cá đã chết, nhưng ông choáng ngợp trước vẻ đẹp của nó, ngưỡng mộ lớp vẩy sáng bóng và cặp râu vểnh ra từ dưới cằm. Ông yêu cầu người ngư dân bắt sống một con cho mình để bày trong cửa hàng ở Penang. Đặt cho con cá cái tên kim long ngư, cá rồng màu vàng, chẳng bao lâu sau Chew bán được các cá thể non với giá sáu ringgit Malaysia một con (khoảng 2 đô la).

Giới buôn cá cảnh chỉ biết tới mỗi loại màu vàng và màu lục cho đến tận cuối những năm 1970, khi dân đi phượt Indonesia mò vào tận sâu trong những cánh rừng nguyên sinh của đảo Borneo và phát hiện ra loại siêu cấp huyết long. Đầu những năm 1980, các nhóm buôn lậu tuồn loại cá này ra khỏi Indonesia vào Đài Loan. Ở đó, chúng trở thành đối tượng được sùng bái. Màu đỏ không những là màu yêu thích trong văn hóa Trung Hoa mà bản thân con cá cũng được coi là biểu tượng của may mắn theo các quy luật phong thủy. Như Kenny đã giải thích với tôi, từ “cá” trong tiếng Trung, yú, được phát âm giống với “dư”; còn “nước,” shui là từ lóng chỉ sự “giàu có” trong tiếng Quảng Đông.

Nhưng khi tôi hỏi Kenny ông có tin rằng cá rồng thực sự mang lại may mắn hay không, ông lại cẩn trọng lựa lời: “Nuôi cá mang đến cho ta cảm giác cân bằng. Tôi nghĩ nếu cô hạnh phúc hơn, nếu cô thư giãn hơn thì cô có thể đưa ra những quyết định sáng suốt hơn. Các mối quan hệ trong gia đình cũng tốt đẹp hơn. Vì vậy, tổng hòa lại, chúng có thể mang vận may đến cho cô.”

“Nhưng không có gì cụ thể liên quan đến cá rồng à?” Tôi gặng hỏi.

“À thì, cũng có chuyện này chuyện kia,” ông nói. “Bởi vì loại cá này, tôi nghĩ là chúng rất gắn bó với chủ. Chúng cảm nhận được những thứ mà con người còn chưa biết…”

Cá rồng vốn có đặc tính nhảy cao để bắt con mồi nên chúng thường bật ra khỏi các bể kính không có nắp và khi người ta tìm thấy thì nó đã chết trên sàn nhà. Có lẽ để biện hộ cho việc tổn thất một khoản tiền lớn như thế, các chủ nuôi đã tự huyễn hoặc rằng hành động này giống như Chúa Jesus, rằng con cá hiến dâng sinh mạng để cứu chủ nhân của nó. Quanh trang trại của Kenny xuất hiện rất nhiều giai thoại như vậy. Chẳng hạn, câu chuyện về “Chú cá may mắn” kể chuyện con cá của một doanh nhân Indonesia giàu có đã tìm đến cái chết để ngăn ông ta khỏi cho đối tác không đáng tin cậy vay một khoản tiền lớn (doanh nhân này đã dự đoán chính xác điềm gở từ cái chết của con cá và hoãn khoản cho vay lại). Hành động “hi sinh” kiểu này được nhắc đến nhiều nhất trong các câu chuyện về cá rồng. Nhưng cũng có những câu chuyện khác: Cá rồng bảo vệ một căn hộ khỏi đám cháy hay lũ trộm; cá rồng làm tan vỡ hôn nhân bằng cách quấy nhiễu người vợ bất cứ khi nào ông chồng ra ngoài; thậm chí cả chuyện cá rồng giết người - người ta đồn rằng một người đàn ông đã chết trên một con kênh vì bủn xỉn, tiếc tiền mua thức ăn cho cá.

❀ ❀ ❀

GIỮA NHỮNG NĂM 1980, chợ đen bùng nổ và giới sùng bái cá rồng đã lan rộng, trải dài từ Đài Loan sang Nhật Bản. Thiên hạ đồn rằng cá được mang lậu vào Nhật trong các chai rượu whiskey. Trong lúc đó, nông dân ở khắp Đông Nam Á bắt đầu nuôi loại cá này do tỷ lệ cá thể trong tự nhiên giảm đáng kể, đó là một kì công bởi trước kia người ta cho rằng việc nuôi cá rồng là bất khả thi sau những nỗ lực thuần dưỡng bị thất bại từ những năm 1920. Thời điểm này, chính mức giá trên trời đã thúc đẩy người nông dân tìm cách hiện thực hóa việc nuôi cá rồng: đào hồ trên nền đất, đổ đầy nước đen có chứa tannic vào đó, tách riêng cá nhỏ trước khi những con cá lớn kịp ăn chúng. Năm 1990, CITES chuyển toàn bộ chi cá Indonesia của loài cá rồng châu Á sang Phụ lục II ít bị cấm đoán ngặt nghèo hơn, cho phép buôn bán xuyên biên giới các cá thể được nuôi tại trang trại. Động thái này là nhằm triệt tiêu hoạt động mua bán bất hợp pháp và thay thế bằng hoạt động hợp pháp.

Nhưng ý tưởng ấy đã thất bại. Cá tự nhiên vẫn bị bắt trộm, và vào năm 1995, toàn bộ loài cá rồng lại trở về với Phụ lục I. Tuy nhiên, đến lúc đó CITES đã chấp thuận một thử nghiệm. Nếu một trang trại có thể chứng minh việc họ đã nhân giống được cá rồng châu Á, - tức là một con cá được sinh ra bởi cặp cá cha mẹ cũng sinh trưởng trong môi trường nuôi nhốt - CITES sẽ chứng nhận tư cách xuất khẩu hợp pháp cho cá từ trang trại đó. Mỗi con cá non hợp pháp trên phải được gắn chip siêu nhỏ để định vị và đi kèm giấy chứng nhận xác thực, giống như một tác phẩm nghệ thuật vậy.

Singapore xuất khẩu lô cá gắn chip thử nghiệm đầu tiên sang Nhật vào tháng Mười hai năm 1994: Ba trăm con cá, mỗi con dài mười tám centimet, tổng trị giá lô hàng là một triệu đô la. Chỉ trong vòng hai năm, tới đầu năm 1997, CITES đã chứng nhận cho chín trang trại cá rồng ở Singapore, Malaysia và Indonesia được phép xuất khẩu cá rồng hợp pháp. Công ty Qian Hu của Kenny gia nhập danh sách này năm 2000, cùng với năm cổ phiếu của nó được niêm yết trên thị trường chứng khoán Singapore, đây cũng là lần đầu tiên có một trang trại cá được lên sàn.

Trong văn phòng mình, Kenny khoe với tôi một tập sách gáy xoắn dày cộp tựa đề “Trang trại cá được nhắc nhiều nhất ở Singapore,” trong đó có các bài báo cắt ra từ hồi ông bắt đầu nổi lên như hình ảnh đại diện của giới cá cảnh cao cấp thế hệ mới. Người Singapore ngưỡng mộ ông với tư cách là đứa con hiếu thảo vì đã đưa việc kinh doanh của gia đình lên tầm quốc tế, là một nông dân triệu phú, là nhà bảo hộ uy tín của một ngành nghề truyền thống mà chính phủ từng gọi là “nền công nghiệp úa tàn.” Singapore xuất khẩu nhiều cá cảnh hơn bất kì quốc gia nào khác, và triều đại của Kenny đã góp phần quảng bá diện mạo mới mẻ hấp dẫn cho một ngành thương mại khiêm tốn trong lịch sử - với loài cá rồng ở vị trí bá vương thay vì cá bảy màu.

Kenny tiết lộ với tôi ông sắp tiến hành một bước đi lớn nữa. Ngay trước chuyến thăm của tôi, ông tuyên bố công ty sẽ đầu tư bốn triệu đô la vào một trung tâm nghiên cứu chuyên tạo ra “cá rồng nòi.” Đứng đầu trung tâm này là một nhà khoa học tên Alex Chang, anh sắp nhận bằng tiến sĩ ngành gen phân tử cá trường Đại học Quốc gia Singapore.

Alex tham dự cùng chúng tôi trong phòng làm việc của Kenny để nói về các mục tiêu nghiên cứu của anh. Ngài tiến sĩ tương lai là một người đàn ông vui vẻ, khuôn mặt tròn trịa, gần bốn mươi tuổi. “Chúng tôi đang tìm kiếm những gen quyết định màu sắc hoặc các đặc tính cụ thể,” anh giải thích, “với mục tiêu tối thượng là cố lai tạo ra một loại cá rồng theo ý muốn.”

Trong lúc anh nói tràng giang đại hải nào là vây lớn hơn, màu vẩy sáng hơn, nào là những chú cá rồng đang bơi trông giống rồng thật uốn lượn trên không đến thế nào, tôi để ý thấy một chút xun xoe trong giọng điệu của anh ta, không giống Kenny. Khi tôi hỏi Alex anh ta có tin rằng cá rồng thực sự mang lại vận may không, anh cũng đồng tình với ông chủ của mình về các lợi ích chung chung khi nuôi cá, nhưng thêm vào là cá rồng rất đặc biệt: “Nó có sức lôi cuốn riêng, rồi cô sẽ thấy.”

Alex đồng ý dẫn tôi đi một vòng, vì mấy tiếng nữa Kenny sắp phải đi Quảng Châu dự một cuộc họp quan trọng. Trung Quốc đại lục đã nổi lên thay thế Nhật Bản, trở thành thị trường lớn nhất cho loài cá rồng, giờ đây cá rồng đã trở thành biểu tượng của sự thăng cấp trong tầng lớp trung lưu đang bùng nổ của đất nước này. Trước khi bàn giao tôi cho nhân viên, Kenny kể nốt câu chuyện cuối cùng - về chú cá đầu tiên của ông, con cá vàng bị rách đuôi mà ông mua lúc bảy hay tám tuổi với giá 50 cent. Khi mang con cá về nhà, Kenny bị các anh cười chê suốt. “Cô biết không, tôi chẳng bận tâm!” Ông nói, khuôn mặt trở nên nghiêm túc. “Tôi vẫn thích chú cá của mình. Tôi vẫn chăm sóc nó.” Ông quyết định rằng con cá tuyệt vời là bất kì loại cá nào mà mình thích, bất kể quảng cáo nói gì hay mốt lúc ấy ra sao. “Cô cần phải có ý kiến riêng về một thứ gì đó thì mới thích nó được. Cô phải tự mình định nghĩa thế nào là đẹp.”

❀ ❀ ❀

BÊN NGOÀI, mặt trời buổi trưa tỏa nắng gay gắt hơn, thêm nhiều khách viếng thăm trong những chuyến xe buýt miễn phí đã tới quán cà phê ngoài trời. Phần lớn khu vực nhà kho không mở cửa cho khách thăm quan, nhưng cái kho phía sau quán cà phê được dành để bán lẻ. Hàng dãy bể cá xếp hàng, trong đó tôi chỉ nhận diện được một số loại ít ỏi, chẳng hạn cá vàng hay cá bảy màu, còn phần đa tôi không hề biết tên. Alex chỉ cho tôi một loại cá tròn nhỏ nhắn sinh ra đã có cấu trúc xương dị thường khiến chúng có thể phồng lên như bong bóng, và các loại khác thực sự đã được xăm môi để trông như đang tô son.

Đi ngang qua dãy bể này, tôi thấy một tấm biển neon màu hồng và một bức tượng cá rồng đánh dấu lối vào khu vực trung tâm thu hút sự chú ý của trang trại Qian Hu: phòng trưng bày cá rồng mang tên “Ngôi nhà của Rồng”. Hai cánh cửa kính màu mở ra không gian mát lạnh như trong hang động, trong đó trưng bày các kệ màu xanh thẫm có bể kính gắn đèn bên trên. Cảnh ở đây hơi giống với phòng triển lãm Đá quý Hoàng gia ở Tháp London, ngoại trừ ống thoát nước dưới sàn, vài vũng nước, lớp sơn bong tróc và đám “đá quý” lừ mắt nhìn bạn trong lúc bơi theo vòng tròn. Phản ánh đúng phong cách trưng bày tối giản thường thấy ở loài này, mỗi bể kính chỉ chứa duy nhất một con cá rồng, ngoài ra không còn gì khác - không có đá, không có cây cũng chẳng có cảnh nền.

Khi đi tới cửa sổ gần nhất được gắn biển kim long quá bối cao cấp, tôi cố gắng thực hành lời khuyên của Kenny và tự đưa ra ý kiến cá nhân về con cá. Nó dài cỡ một con dao thái, lưng thẳng không có vây đúng như kiểu thường thấy ở loài cá săn mồi trên mặt nước, bao phủ toàn bộ cơ thể nó là lớp vẩy to, lấp lánh. “Thân hình nó trông giống như một thỏi vàng vậy,” Alex nói bằng giọng ngưỡng mộ.

Tôi thì nghĩ nó giống như được mạ vàng hơn, với những lá vàng mạ được đặt ở những nơi khiến cho một màu nâu tối của đầm lầy như chảy ra từ đằng lưng và đuôi nó. Alex giải thích rằng những đốm vàng rải rác trên phần lưng màu nâu bùn này khiến nó được gọi là quá bối[*]. Dù nó là một loài vật được săn đón, tôi vẫn không thấy nó đẹp đẽ gì. Nó chậm rãi bơi quanh cái bể chật hẹp, giữ thăng bằng bằng hai cái vây ngực nhỏ giống như bánh lái. Toàn bộ cử động của nó tập trung ở phần thân sau uốn lượn và phần đuôi. Còn về phần mặt - à thì, đó cũng chẳng phải chỗ đẹp nhất của con vật. “Đầu hình viên đạn,” như cách Alex gọi, có vẻ nhỏ một cách kì lạ so với thân thể. Khuôn miệng như đang ngáp, giống loài chó bull. Sau này, lúc một người bạn xem lại đống ảnh tôi chụp, anh ta kêu lên: “Trông xấu tệ!”

[*] Khi trưởng thành con cá sẽ có một dải màu suốt qua lưng.

“Cô có thấy cái cách nó nhìn chằm chằm vào cô không?” Alex háo hức chỉ. Đúng thế thật. Đôi mắt to của con cá dường như theo dõi tôi mà không cần chuyển động, giống như một bức chân dung trong phòng triển lãm vậy. Thực ra con cá không có biểu hiện gì lạ, chính tôi đã gán cho nó cái biểu cảm ấy.

Dù có nhiều cái tên mỹ miều, thực ra cá rồng châu Á chỉ gồm ba loại: hồng, vàng và xanh lục. Người ta nhốt cá màu vàng trong những cái bể có đèn trắng. Bể đen và đèn hồng thì nhốt cá hồng. Chỉ có một con màu xanh đang được trưng bày ở đó, dưới tấm biển ghi rằng nó từng thuộc về ngôi sao điện ảnh Hồng Kông Chow Yun-fat[*].

[*] Châu Nhuận Phát.

“Hai năm trước, nếu cô tới đây, cô sẽ thấy người ta thường muốn huyết long cơ. Giờ thì mọi người lại thích kim long,” Alex nói. “Mốt cứ thay đổi chóng mặt ấy.” Anh ta cũng nhận xét thêm rằng gần đây ai nấy cũng đều săn đuổi loại “vây lớn.”

Nhìn kĩ hơn, tôi nhận ra không phải người ta chỉ nhốt mỗi một con cá rồng. Mỗi chiếc bể lại có một con cá dọn bể nhỏ đang bám vào mặt kính để làm vệ sinh. “Bọn chúng có bao giờ ăn thịt cá dọn bể không?” Tôi hỏi.

“Tôi nghĩ là bọn cá dọn bể chẳng ngon lành gì,” Alex nói, giải thích rằng lũ cá rồng này được ăn tôm sống mỗi ngày, dù về lý thuyết thì chúng ăn mọi thứ biết cử động. “Trừ thịt người - hoặc những thứ to hơn chúng.”

Cảm giác yên bình kì lạ gần như bất khả xâm phạm của nơi này bị khuấy động khi một đám trẻ con dự tiệc sinh nhật ùa vào qua cánh cửa chính. Lũ trẻ chạy ào ào trên lối đi, vừa chạy vừa rú lên vui sướng, mặc dù hình như chúng chẳng nhìn vào cá mấy mà tập trung vào biển ghi giá nhiều hơn. “Ôi trời!” Một cô bé kêu lên. “5.188 đô la cho con cá kia!” (Tất cả giá ở đây đều kết thúc bằng con số 8 may mắn.)

“Cá to là vô giá,” một cậu nhỏ bảo cô bé, lặp đi lặp lại câu này khi cô bé không chú ý đến cậu. “Những con cá to thật sự vô giá luôn nhé. Cá to thật ấy, vô giá.”

❀ ❀ ❀

KHI CHÚNG TÔI TRỞ LẠI không gian ngập nắng bên ngoài, Alex giải thích rằng anh bị hấp dẫn bởi ngành kinh doanh này từ rất sớm, bởi “thực sự mong muốn làm việc gì đó liên quan đến cá.” Trong lúc học ngành sinh vật học ở trường Đại học Quốc gia Singapore, anh đã mơ về việc giải mã những bí ẩn sinh học của loài cá mình yêu thích: cá rồng châu Á. Nhưng mọi người ở trường đều bảo anh đừng phí công sức nữa. Loài cá này có vòng sinh sản từ ba đến sáu năm, mà để lấy tấm bằng tiến sĩ, anh cần phải theo dõi ít nhất hai vòng như thế. Thời gian đó, anh liên tục bắt gặp hình ảnh Kenny trên bản tin. Rốt cuộc, Alex cũng thu đủ can đảm để tiếp cận ông.

Kenny thích ý tưởng của Alex về việc nghiên cứu cá rồng, nhưng cũng chỉ ra một rào cản trong việc hợp tác của họ. Trước khi Kenny đồng ý hợp tác, ông bảo Alex phải thuyết phục người anh thứ ba của mình, Yap Kim Choon, một người đàn ông “ít học và không biết nói tiếng Anh, anh ấy cũng sẽ chửi thẳng mặt nếu nghĩ những gì cậu đang nói với anh ấy là nhảm nhí.” Alex đã nghe tiếng tăm người anh này của Kenny từ trước - mọi người trong giới buôn cá đều biết. “Ông ấy ghét giới trí thức,” Alex kể với tôi. “Nếu cô chỉ biết nói chuyện lý thuyết, ông ấy sẽ bảo cô biến đi ngay. Ông ấy sẽ bảo cô ngậm muối còn nhiều hơn ăn cơm.”

Trong lúc chúng tôi nói chuyện, Alex dẫn tôi ra khỏi khu thăm quan, ngang qua các tòa nhà vào khu nuôi cá xuất khẩu. Một người đàn ông tóc muối tiêu đang đứng trong đó, nhìn vào một bể kính khổng lồ chứa rất nhiều cá. Ông ta chăm chú quan sát chúng đến nỗi ép cả mũi vào mặt kính. Cá rồng là loài có ý thức lãnh thổ, và thường ta không thể nhốt hai con vào cùng một bể (trừ khi đó là một cặp giao phối) nếu không chúng sẽ đánh nhau đến chết. Tuy nhiên, kì lạ thay, ta lại có thể nhốt nguyên một đàn cá với nhau, vào lúc này dường như chúng thi hành một thỏa thuận đình chiến.

Trông người đàn ông này giống như một phiên bản già hơn, chua chát hơn của Kenny, tôi đoán đây chính là người anh thứ ba Yap Kim Choon mà tất cả mọi người đều gọi là Ah-Choon (nghe như Ắt xì). Ah-Choon quản lý việc kinh doanh cá rồng, bởi ông đã nuôi giống cá này từ những năm 1980, hồi Kenny còn đang học đại học ở Ohio. Câu nói có kinh nghiệm thực tiễn chưa đủ sức mô tả mối quan hệ của Ah-Choon với lũ cá rồng, ông thậm chí còn nuôi những con non nhất trong mấy cái lò ấp đặt ngay ở nhà mình. Ở Trung Quốc, ông còn nổi tiếng hơn cả Kenny.

Lúc này Ah-Choon đã quay lại, thoáng gật đầu với Alex và tôi trước khi quay về với lũ cá. “Ông ấy đang tìm kiếm ánh vàng kim đặc biệt cho vảy cá - bí mật kinh doanh đấy nhé,” Alex thì thào.

Thay vì tiếp cận trực tiếp Ah-Choon về việc tiến hành nghiên cứu gen trên cá rồng châu Á, Alex đã mất hai năm trời chỉ để nói chuyện về cá với ông. Anh giải thích về các kiến thức khoa học phía sau những loại thuốc dành cho cá mà Ah-Choon vốn biết rất rõ. Họ cùng bàn về những hạn chế đáng buồn trong việc gây giống, rằng họ không tài nào phần biệt nổi giới tính của chúng chứ chưa nói đến việc ghép cặp hai con theo ý muốn. Cuối cùng, Ah-Choon cũng hỏi Alex có thể làm gì để cải thiện tình hình, và anh đã đưa ra đề nghị của mình. “Kenny tới chỗ tôi và bảo: ‘Tôi chẳng biết cậu làm thế nào, nhưng rốt cuộc cậu đã thuyết phục được anh ba nhà tôi, giống như một phép lạ.’ Giờ tôi đang làm việc gắn kết chặt chẽ với ông ấy,” Alex tự hào nói với tôi khi chúng tôi đến cửa phòng thí nghiệm tương lai của anh.

Tôi bắt chước anh ta tháo giày trước khi bước vào căn phòng mát mẻ màu xanh dương.

“Chà chà,” tôi nói rồi đột nhiên nhận ra ở đây thực sự chưa có gì để mà khen ngoài sàn nhà bê tông. Phòng thí nghiệm vẫn đang được xây dựng và gần như trống trơn, trừ các tấm biển để chỉ khu vực vi sinh, bệnh lý học, khu nào cho kính hiển vi và bảo quản lạnh. Tuy nhiên, chẳng bao lâu nữa Alex sẽ có đầy đủ các bộ phận ấy và vận hành. Anh nói cốt lõi của cuộc nghiên cứu là làm thế nào để tiến hành thụ tinh trong ống nghiệm cho loài cá rồng.

Tôi không hiểu sao việc đó lại khó khăn đến thế. Để giải thích, anh ta vẫy tôi đi ra cửa, xỏ giày lại và thả bước về phía bồn nhựa màu xanh có chứa những con cá màu cam - trắng ở gần đó. “Được rồi, đây là cá koi, một loại cá chép,” anh nói rồi vớt một con đực uốn éo lên, cái miệng nhỏ của nó bất lực đớp đớp không khí. Anh lật ngửa người nó lên, bóp một cái, và con cá… phun giống.

“Lúc nào chúng cũng luôn sẵn sàng,” Alex nói một cách ngưỡng mộ. Anh chỉ ra rằng cá rồng không bao giờ dễ thỏa hiệp thế. “Chúng rất dữ, chúng là thú ăn thịt và có những cái răng cực sắc. Chúng tiết ra ít tinh trùng đến nỗi cô không thể bóp ra như thế này được. Chúng tôi đã thử rất, rất nhiều lần.” Khuôn mặt anh ta tối lại trước kí ức không mấy dễ chịu ấy.

Điều đó có nghĩa là, xét theo nhiều khía cạnh, thụ tinh cho cá rồng khá đơn giản: Tất cả những gì ta có thể làm là thả chúng vào một cái hồ và chờ cho chúng tự hành sự. Và chờ đợi. Chờ đợi. Như Kenny từng bảo tôi: “Chúng ít khi nổi hứng lắm.”

Hơn thế nữa, chúng còn nổi danh là kén cá chọn canh, chúng sẽ không tùy tiện bắt cặp với bất kì con cá rồng nào ở gần. Một khi đã chọn, phần lớn cá rồng chung thủy với bạn tình trọn đời. Tuy nhiên thế hệ hai của chúng lại khá ít ỏi. Alex giải thích rằng mỗi con đực chỉ có một bên tinh hoàn hoạt động, còn mỗi con cái chỉ có một buồng trứng, sinh ra tầm vài chục trứng cỡ bằng viên bi. Ngay từ đầu tỷ lệ sinh sản thấp ở loài này là một phần nguyên nhân gây giảm sút số lượng cá thể ngoài tự nhiên.

“Qua đây,” Alex gọi, “tôi chỉ cho cô mấy cái hồ trước khi trời mưa.” Mặt trời đột ngột biến mất và bầu trời trĩu nặng những đám mây khi tôi rảo bước theo anh ta xuôi con đường đất tới một dãy ao bùn hình chữ nhật được che chắn bằng lưới màu đen và hàng cây hạnh nhân Ấn Độ rào quanh.

“Trông thì có vẻ yên bình tĩnh lặng lắm, nhưng ở bên dưới, việc thụ tinh đang diễn ra sôi nổi đấy,” Alex nói, nhìn đăm đăm vào làn nước đục. Anh nói cho tôi biết cá rồng bắt đầu mùa ghép đôi khi mùa mưa tới, quá trình ấy có thể kéo dài từ vài tuần đến vài tháng. Trong suốt khoảng thời gian này, mỗi cặp cá lượn vòng quanh nhau từ mũi đến đuôi, bơi gần lên mặt nước, đặc biệt vào lúc bình minh. Khoảng một hai tuần trước khi đẻ trứng, chúng bắt đầu bơi cạnh nhau, sát sạt đến nỗi chạm vào nhau. Cuối cùng, con cái sẽ thả ra một bọc trứng màu cam để con đực thụ tinh trước khi ngậm chúng vào miệng. Lúc này con đực sẽ ấp trứng trong một tháng rưỡi, nhịn đói hoàn toàn suốt quãng thời gian ấy.

Cá rồng biết yêu. Nghe có vẻ phức tạp. Tôi tự hỏi chúng có thể làm gì ở dưới đó nữa. “Đã có ai từng nghiên cứu về chúng trong môi trường tự nhiên chưa?” Tôi hỏi, giải thích rằng mình hi vọng được thấy chúng trong môi trường sống tự nhiên.

Alex kể tôi nghe về nhà nghiên cứu đã khám phá ra chuyện người dân Campuchia ăn các loại cá rồng xanh lục, nhưng giờ cô ấy đã ở Úc để nghiên cứu loài ếch rồi. Vả lại, Alex không nghĩ vậy. Người ta biết rất ít về cá rồng châu Á ngoài tự nhiên. “Số lượng đã bị thu hẹp quá rồi,” anh nói, giờ đây nội việc tìm thấy một con cá hoang dã đã cực kì khó khăn rồi.

“Việc đó có làm anh buồn không?” Tôi hỏi.

“Không hẳn,” anh nói. “Chính bởi giá trị thương mại của chúng mà người ta mới phối giống và bảo vệ chúng như báu vật.” Anh nói rằng cá rồng châu Á không giống như hổ Tasmania - “Mất hết, mất sạch sành sanh rồi.”

Chừng nào người ta còn nuôi chúng như vật cưng, cá rồng sẽ không thể tuyệt chủng hoàn toàn được, anh lập luận như vậy. Thêm vào đó, ít nhất về mặt lý thuyết cũng còn tồn tại một nút “undo[*]”, đó chính là khả năng một ngày nào đó cá nuôi trong trang trại cũng có thể được thả về thiên nhiên.

[*] Lệnh quay lại tình trạng trước đó trong tin học.

Bên cạnh đó, Alex nói rằng cá rồng châu Á vẫn còn tồn tại hoang dã, dù số lượng cực ít. Ngay cả con siêu cấp huyết long cũng có thể vẫn còn đâu đó trong khu rừng Kapuas vĩ đại của đảo Borneo - đặc biệt là trong hệ thống hồ nước ngọt khổng lồ có tên Danau Sentarum. “Tôi cực kì chắc chắn rằng ở cái hồ đó, thậm chí cho đến bây giờ, vẫn còn đầy cá.”

“Chỗ đó có đi vào được không?” Tôi hỏi, thắc mắc liệu mình có thể đến được nơi ấy không.

“Rất khó tiếp cận,” anh nói. “Tôi không biết liệu có con thuyền nào chịu đi đến đó không.”

Trong lúc nhìn chăm chú vào đáy hồ để tìm lũ cá rồng nhởn nhơ bên dưới, tôi cố mường tượng ra những tổ tiên hoang dã của chúng trong một cái đầm tối đen cách đây cả thế giới. Rồi tôi nhìn con cá trước mắt mình, hậu duệ của chúng đã được định sẵn sẽ trở thành những vật cưng giá trị cao, chỉ được lượn vòng trong những cái bể kính mãi mãi.

Alex không thấy buồn về chuyện đó, còn tôi thì đã bắt đầu nghĩ có thể mình sẽ khác.

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.