SINGAPORE
Vài ngày sau, tôi đã đang đứng chớp mắt choáng váng trước những ngọn đèn sáng rực ở Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Suntec Singapore.
“Sao nước cô lại không cho nuôi cá rồng ở Mỹ nhỉ?” Một người đàn ông nhỏ thó mang tấm bìa kẹp hồ sơ, đeo kính gọng bạc và mặc áo sơ mi màu xám có cầu vai hỏi tôi. Ông ta nãy giờ vẫn lượn khắp đại sảnh của trung tâm triển lãm trước khi dừng chân trước mặt tôi. Thẻ tên của ông ta ghi là TS. Ling Kai Huat của Cơ quan Nông sản và Thú y, trưởng ban giám khảo của Hội thi Cá cảnh Quốc tế Aquarama. Đây là phiên bản dành cho cá của Cuộc thi chó Westminster, một sự kiện được tổ chức ở Singapore cứ hai năm một lần kể từ năm 1989, mở màn cho hội chợ diễn ra trong bốn ngày. Năm nay bốn mươi lăm vị giám khảo đến từ khoảng hai mươi nước cùng tập trung lại đây để đánh giá hơn một ngàn buổi trình diễn cá cùng tranh tài cho các giải cao nhất.
Những cái bể nước chảy róc rách trưng bày lũ cá vàng “sang trọng” với đôi má phình to và cặp mắt lồi - nhiều con béo múp đến nỗi chúng bơi giống hệt như các nhà du hành vũ trụ đang bật nhảy trên mặt trăng. Cá chọi Xiêm với những cái đuôi bồng bềnh nằm trong các khoang hình vuông nhỏ ngăn cách nhau bằng các tấm bìa cứng có thể rút lên để trình diễn một màn chiến đấu tranh giành lãnh thổ. Cá tra mắt tròn nằm im như tượng hoặc đang mút mặt kính, lộ ra cái mồm há hốc đến gớm. Những chiếc bể màu xanh nước biển chứa san hô, cá hề và một loại cá chìa vôi kì lạ gầy trơ xương đang ngóc đầu lên khỏi những tảng đá. Ở đó còn có cá bảy màu, lại bảy màu và thêm nhiều bảy màu nữa, với những cái đuôi xòe ra như váy của vũ công flamenco đủ mọi sắc màu và kiểu dáng.
Cá rồng được trưng bày ở trung tâm triển lãm, lượn vòng trong những cái bể của chúng như những vũ công bơi đồng đội kém cỏi. Chúng được nhóm lại theo màu sắc, mỗi bể một màu. Như thường lệ, hai nhóm chính là siêu cấp huyết long cổ điển và kim long Mã Lai, gần đây vừa nổi lên thành mốt. “Người Nhật thích màu vàng,” Ling bảo tôi. “Người Trung Quốc thì thích màu đỏ.” Ông ta nói chuyện chọn con chiến thắng phụ thuộc vào thẩm mỹ cá nhân, “giống như thời trang cho nữ giới vậy.”
Mặc dù về lý thuyết, việc chấm điểm của giám khảo là tuyệt mật với báo chí và công chúng, nhưng Ling đề nghị chỉ cho tôi các quy trình đánh giá một con cá rồng: Đầu tiên là nghiên cứu màu sắc của nó, hình dáng cơ thể, kích thước và vây. Vây dài đang là mốt hiện nay, cũng như bộ sống lưng gù làm đầu con cá gục xuống như hình chiếc thìa. Hãy chú ý đến những điểm không đạt chuẩn. Bất kể ở các phần khác con cá có đẹp đến thế nào, nếu nó có PLJ, tức là “một cái cằm trề,” (cơ bản giống như sai khớp cắn), nó không thể chiến thắng. Tương tự, nếu nó bị tật “mắt cụp,” một phản ứng kì bí ở cá rồng nuôi trong bể kính, khi chúng nhìn xuống quá nhiều đến mức không thể ngước lên nữa, con cá đó cũng không đạt.
“Chẳng hạn con này chắc chắn bị loại,” Ling nói khi dừng lại để chỉ vào một con cá rồng đang nhìn chằm chằm xuống dưới. “Trông nó buồn quá.” Ông ta nhướn mày khoa trương. (Tuy nhiên một con cá bị tật như thế không còn là một tổn thất nữa. “Bác sĩ Cá rồng,” một kĩ sư người Singapore chuyển nghề thành bác sĩ thẩm mỹ cá đã đi tiên phong trong việc dùng dụng cụ cắt kim cương để sửa tròng mắt cho cá rồng từ hồi những nám 1990. Hai thập kỉ sau, giờ đây người ta có hẳn ngành nghề chuyên sửa vây, cằm và nâng mí mắt cho cá.)
Ling nói tiếp: Thế bơi cũng rất quan trọng, giống như cá tính của con người, càng hung dữ càng tốt. Rồi đến các đặc điểm riêng. Giống như một tác phẩm hội họa tuyệt vời, một con cá đẹp cũng phải tuân theo bộ quy chuẩn được thiết lập từ trước đến một mức độ nào đó, đồng thời cũng phải phá cách ở một mức nhất định chính những truyền thống kia. Nói cách khác, người ta muốn có một chú cá vừa dễ nhận ra lại vừa mới lạ. Một thứ vừa quen vừa lạ. Một thứ mới.
Một phương tiện mang đến sự mới lạ chính là đột biến. Chẳng hạn một con cá rồng đặc biệt dị thường có thể có cặp vây dính liền, hoặc thi thoảng có tới hai cái đầu. Hội chứng đột biến được săn lùng nhất cho tới giờ vẫn là bạch tạng, một hiện tượng rất hiếm xuất hiện trong tự nhiên. Một con cá bạch tạng thật sự xuất hiện trên thị trường từng gây xôn xao chẳng khác nào một bức tranh đã bị thất lạc của Vermeer[*]. Tuy nhiên, năm nay, gây sốc cho tất cả mọi người là ai đó đã đăng kí trưng bày một đàn gồm mười con bạch tạng tại triển lãm. Đến nay vẫn chưa rõ chủ của chúng là ai, vì các bể cá chỉ được đánh số; nhưng dù đó là ai, ông ta cũng đã thuê hẳn một vệ sĩ riêng, một chàng thanh niên đứng canh gác với khẩu súng lục gắn bên hông. Tôi dừng lại để ngắm một hàng cá rồng trắng toát đang bơi song song ma quái, như thể những phiên bản cẩm thạch của một con cá đã chết từ cả thiên niên kỉ trước. Tôi hỏi người vệ sĩ chúng đáng giá bao nhiêu. Anh ta nhún vai và nói: “Với người không thích thì chúng chẳng đáng giá một xu.”
[*] Johannes Vermeer hay Jan Vermeer là họa sĩ người Hà Lan thời Baroque, nổi tiếng với các tác phẩm về đời sống hiện thực.
Chuyến đi của Ling dừng trước một con siêu cấp huyết long dài khoảng bốn mươi lăm centimet đang chậm rãi bơi từng vòng ngắn trang trọng. Nó có hình dáng kinh điển giống lưỡi dao, miệng cong vòng sâu khiến người ta liên tưởng tới một ông già không có cằm. Tuy Ling không thể tiết lộ con cá nào đoạt giải, - kết quả vẫn đang được kiểm đếm - ông ta không tiếc lời ngợi khen con cá này, so sánh trạng thái khỏe mạnh rõ ràng và sắc đỏ của nó với những tay hàng xóm kém ấn tượng hơn.
Đúng là con cá trông đặc biệt đỏ, với cặp má màu hồng cherry tiệp màu với lớp vảy; mặc dù thực sự mà nói ta khó có thể phân biệt màu thật của nó là gì, vì cái bể trưng bày được chiếu sáng bằng loại đèn hồng đỏ dành riêng cho bể cá. Mắt của nó cũng phản chiếu loại ánh sáng này. Chúng sáng lấp lánh với hai con ngươi đen bất động, không chớp gì cả, đến nỗi làm tôi nhớ đến câu chuyện của một nhà văn Argentina tên là Julio Cortazar. Câu chuyện về một người đàn ông đã bị ám ảnh với một con kỳ giông Axolotl[*] được trưng bày ở Vườn bách thảo Paris. Ông ta nhìn nó chăm chú đến mức cảm thấy mình bị mắc kẹt trong ý thức của nó, cùng theo dõi cơ thể của chính mình bước xa khỏi bể kính. “Hơn tất cả, chính đôi mắt của chúng đã ám tôi,” ông ta giải thích. “Tôi cảm thấy một nỗi đau câm lặng, có lẽ chính nó đang theo dõi tôi, thu hút sức mạnh của tôi để thâm nhập vào một điều bất khả xâm phạm trong cuộc sống của chúng. Chúng không phải là con người, nhưng tôi chưa tìm được mối liên hệ sâu sắc đến thế với bất kì loài vật nào. Lũ kỳ giông giống như các nhân chứng của một sự kiện nào đó và đôi khi cũng là những quan tòa kinh khủng.”
[*] Kỳ giông Mexico hay khủng long sáu sừng. Axolotl là một loài kỳ giông kéo dài tính trạng thơ ấu, có quan hệ gần gũi với kỳ giông hổ.
Tôi đứng ngắm con Huyết long đến khi Ling ra hiệu chúng tôi phải đi tiếp. Cuối ngày hôm đó, bể của chú cá sẽ được gắn một chiếc ruy băng đỏ thắm báo hiệu nhà vô địch. Với con cá, điều này đồng nghĩa với bốn ngày bị cánh paparazzi[*] quấy rối. Với chủ của nó, điều này tương ứng với thêm một số không nữa vào giá trị của con vật. Tuy nhiên, tất cả những việc này chẳng là gì nếu so với quyền được khoe khoang. Trong một cuộc thi cá rồng ở Jarkata gần đây, một người đàn ông đã vác hai khẩu súng vào để hạch hỏi tại sao con cá của ông ta không chiến thắng. Một giám khảo người Anh kể với tôi ông sẽ không bao giờ nhận lời đi đánh giá cá rồng nữa - vì ông không muốn cái đầu của mình bị cắt đứt.
[*] Các thợ săn ảnh để đăng báo.
❀ ❀ ❀
SÁNG HÔM SAU, tôi lẻn vào buổi lễ khai mạc hội chợ ngay khi người phát biểu đầu tiên - không ai khác ngoài Kenny Ông Cá - đang đăng đàn, dàn đèn flash lóe sáng trước nụ cười thương hiệu của ông. “Tôi có thể dùng một ẩn dụ ở đây không?” Ông hỏi đám đông, kích thích vài tiếng cười khúc khích chờ đợi. Những câu ẩn dụ về cá là ngón nghề của Kenny. Tôi biết điều đó là vì nỗ lực download cuốn sách Sự trỗi dậy của một doanh nghiệp châu Á[*] của ông (“Chỉ $103.95! $19.95!”) đã mang lại cho tôi một chương đọc thử tên là “12 lời khuyên từ Cá để bạn kinh doanh thành đạt!!”, một chỉ dẫn để các doanh nghiệp đúc rút bài học từ các loại cá khác nhau. (Chẳng hạn bài học từ cá rồng là phải thiết lập một cấu trúc nội bộ khỏe mạnh.) Lúc này Kenny đang vươn người tới micro. “Thời gian giống như một con cá mà bạn đang cố bắt bằng tay không,” ông nói. “Nó cứ trượt đi mãi!”
[*] Tạm dịch từ nguyên tác The Rise of an Asian Entrepreneur.
Một tràng những tiếng cười và xì xồ vẳng lại từ đám đông. Năm nay Aquarama đã thu hút hơn bốn nghìn ba trăm người trong nghề đến từ tám mươi quốc gia, từ Hoa Kỳ đến Nhật Bản, đến Congo, Kazakhstan và Papua New Guinea. Kenny nói về sự ngoan cường của ngành này trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu vừa qua, chỉ ra rằng không phải tất cả những người bán cá khi kinh doanh thất bại đều về nhà và giết sạch lũ cá của mình. Đó là một bài phát biểu kì lạ. Đối với những người có trí nhớ tốt, có lẽ đó là sự an ủi lạnh lẽo. Trong một ngày rưỡi cuối hội chợ, khi cửa được mở cho công chúng vào tham quan - khoảng mười lăm ngàn người sẽ đến triển lãm - thua xa con số năm mươi ngàn trong ngày khai mạc Aquarama hơn hai mươi năm trước.
Bị ảnh hưởng nặng nề vì các trò chơi kĩ thuật số, việc nuôi cá giờ cũng được xếp vào hạng mục những thú chơi cổ lỗ sĩ như xếp hình hay thu thập đồng xu. Lớp người xưa kể lại quá khứ bằng giọng bi thương, nhớ lại khi những cao thủ chơi cá nuôi cá trong nhà kho ở sân sau, lùng sục những giống mới, vất vả tìm cách nhân giống chúng và tự hào là thành viên của một xã hội cá cảnh thịnh vượng.
Tuy nhiên, nghịch lý ở chỗ ngành cá cảnh vẫn tiếp tục tăng trưởng, giờ đây đã tiến lên mức bán đại trà và tập trung vào các loại cá bình dân mà những nhà bán lẻ của Mỹ như Walmart có thể bán rẻ hơn bao giờ hết. Tính trên toàn cầu, giá trị xuất khẩu cá cảnh năm 1976 chỉ đạt 21 triệu đô la. Ngày nay, theo Tổ chức Thực phẩm và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc, con số này đã là 300 triệu. Thêm vào đó chi phí vận chuyển, lợi nhuận từ việc bán lẻ và bán phụ kiện, rất có thể ngành công nghiệp này đã lên đến con số gần 15 tỷ. Tiền cá giống không nhiều bằng chi phí vật dụng cần cho chúng: bể, thức ăn, đèn, lọc, sỏi, lâu đài nhựa. Điều này cũng đúng với ngành kinh doanh vật nuôi nói chung: Tiền chi cho phụ kiện luôn nhiều hơn. Nếu bản thân vật nuôi đã trở thành một loại hàng thì chúng ta đang mua sắm hàng hóa để phục vụ chính hàng hóa.
Tuy nhiên, ngay cả sự phung phí tiền bạc ấy cũng đã có tiền lệ trong lịch sử. Dễ thấy là những người chi mạnh tay nhất cho các phụ kiện của cá chính là các ông chủ La Mã cổ đại. Trong thế kỉ một trước Công nguyên, các hồ cá được gọi là piscinae trở thành mốt thời thượng trong giới thống trị cấp cao. Bọn họ cho khoét những cái hang nhân tạo bên trong đá ở bờ biển, trang trí bằng đài phun nước và thác nước, các bức tượng và lối đi lát đá, thậm chí cả những hàng hiên bằng đá cẩm thạch. Loài vật nuôi dưới nước yêu thích nhất mọi thời đại của người La Mã là con lươn, một biểu tượng khó hiểu của dương vật, bắt đầu được phát giá không tưởng. Đó là còn chưa kể tới các loại trang sức bằng đá quý trên mình nó. Người ta đồn rằng mẹ của Hoàng đế Claudius còn đeo hoa tai cho con lươn của bà ta (dù nó còn chẳng có phần dái tai bên ngoài). Dần dần, cá cảnh đi liền với sự suy đồi tới mức chính khách vĩ đại Cicero đã dùng từ piscinarii, có nghĩa là “chủ hồ cá” để ám chỉ sự trác táng của nhà giàu. “Bọn chúng là lũ ngu,” ông viết. “Dường như bọn chúng hi vọng rằng những hồ cá của mình vẫn an toàn, bất chấp nền Cộng hòa đã sụp đổ.” Rốt cuộc, Cicero đã đúng. Rome sụp đổ và piscinae tan hoang, những con lươn từng được chăm bẵm trong đó lại trườn về biển.
❀ ❀ ❀
DÙ CON NGƯỜI ĐÃ BẮT ĐẦU nuôi cá cảnh trong hồ và bình nước từ cả thiên niên kỉ nay, nhưng các bể cá hiện đại đã có gốc rễ bắt nguồn từ nước Anh từ giữa thế kỉ mười chín, nơi lịch sử tự nhiên thực sự là nỗi ám ảnh. Kì lạ thay, câu chuyện bắt đầu khi Nathaniel Bagshaw Ward, một bác sĩ và nhà nghiên cứu côn trùng nghiệp dư thành London thấy được con nhộng của bướm đêm năm 1829. Ông ta mang nó về và để vào một cái bình thủy tinh. Nhiều tháng sau, ông thấy con nhộng không thoát xác, nhưng một cây dương xỉ lại mọc lên từ đám mốc ẩm. Điều làm Ward thấy khó hiểu là cái cây vẫn mọc cho dù ông ta chưa một lần tưới nước. Ông ta đi đến một khám phá quan trọng: Cây cối có thể sinh trưởng trong một cái bình kín ngăn chặn sự thoát nước ra bên ngoài. Hơi ẩm bốc ra từ cây cối tụ lại bên trong lớp kính rồi nhỏ giọt xuống như sương trên mặt đất, tạo nên một hệ sinh thái kín. Phát hiện này về sau được gọi là “bể Ward” hay nhà kính, chính nó đã thổi bùng lên cơn cuồng dương xỉ. Đến cuối những năm 1840, hầu như không có phòng khách thời Victoria nào được gọi là hợp mốt nếu thiếu “viên ngọc quý màu xanh,” như Shirley Hibberd đã gọi. Ông đóng vai trò như một Martha Stewart[*] trong thời đại của mình. Những “vật cưng màu xanh ngọc màu mỡ này sáng bóng lên một cách khỏe mạnh và lấm tấm những giọt sương ấm áp”, chúng chẳng khác nào các ti vi màn hình phẳng của thế kỉ mười chín. Người ta ngồi trong phòng khách nhà họ và chăm chú ngắm nhìn những cái lá mọc to dần phía sau lớp kính.
[*] Nữ hoàng truyền thông của Mỹ.
Chẳng bao lâu người thời Victoria đã chán ngắm dương xỉ và bắt đầu muốn nhiều hơn thế. Họ đã được trợ giúp ngay. Với một nền tảng kiến thức khoa học khá mới mẻ, nhà hóa học Robert Warington có ý tưởng úp ngược cái bể Ward xuống, đổ đầy nước vào đó, trồng các cây mọc dưới nước và thả cá vào - từ đó phát minh ra cái gọi là bể Warrington (không hiểu sao nó lại được thêm vào một chữ r), về sau người ta đổi tên nó thành aquarium - bể cá cảnh. Trước kia người ta cũng đã nuôi cá trong bể kính, nhưng họ phải liên tục thay nước nếu không con cá sẽ chết. Lý thuyết mà Warington trình bày trong một bản nghiên cứu trước Hội Hóa học năm 1850 là nếu cả cây và cá cùng được nuôi dưỡng trong một bể với môi trường khép kín, các loại cây sẽ tiết ra đủ ôxy để nuôi cá. Khái niệm tưởng như rất đơn giản này thực chất lại mang tính cách mạng, bởi con người chưa nắm rõ các kiến thức cơ bản về sự hô hấp và quang hợp ở cây cối mãi cho đến cuối thế kỉ mười tám.
Cũng giống như cơn cuồng cá la hán dự đoán xổ số ở Singapore hồi đầu những năm 2000, thú chơi bể cá của người Anh những năm 1850 cũng bùng phát trong thời gian ngắn. Nó ăn khớp với thói quen khá mới là đi nghỉ ở biển và lôi cả đám người ra đầy các bãi biển, tay thùng tay xẻng để đem về những loài sinh vật kẹt trong các bãi nước do sóng xô vào đá. Chẳng bao lâu sau, hải quỳ lại nổi lên thành mốt thời thượng và nhà văn George Henry Lewes đã nói đùa rằng chúng chỉ khó nuôi hơn hà mã một tí thôi. Ông ta đã nói đúng. Nuôi dưỡng những sản vật từ biển không hề dễ dàng gì. Đến những năm 1860, theo lời nhà tự nhiên học John George Wood thì “chín trên mười bể cá đã bị bỏ không, và theo mọi nhẽ, cơn sốt bể cá đã đi đến giai đoạn cuối, không bao giờ còn xuất hiện được nữa, giống như hàng trăm cơn sốt tương tự.”
Nhưng ở các nơi khác, sự việc còn chưa kết thúc. Cũng như cây cà chua vốn gốc gác ở dãy núi Andes nhưng lại mang một sinh mạng khác hẳn trong tay người Ý, tuy bể cá được phát minh ra ở Anh nhưng lại phát triển mạnh mẽ khi du nhập vào Đức. Nếu cơn sốt của người Anh tập trung vào cuộc sống dưới đại dương thi người Đức lại là dân tộc đầu tiên nuôi dưỡng cá nước ngọt. Năm 1856, một giáo viên tên là Emil Adolf Rossmassler đã viết bài báo Der See im Glase (Hồ trong bể kính), quảng bá thú vui này như một cách để phổ cập kiến thức khoa học. Rốt cuộc, chiếc bể này được hình thành dựa trên những hiểu biết sơ khai của thứ mà ngày nay chúng ta gọi là một hệ sinh thái. Nó chính là một mô hình thế giới thu nhỏ, một bức tranh lý tưởng của sự cân bằng hoàn hảo, trong đó sự hô hấp của cá (hít vào ôxy, thở ra cacbon điôxit) và sự quang hợp của cây cối (hít vào cacbon điôxit, thở ra ôxy) tạo nên một thế giới vi mô tự tương hỗ.
Ấy vậy nhưng đây cũng chỉ là một ảo tưởng. Các đo đạc ở thế kỉ hai mươi hé lộ rằng cây trồng trong bể kính chỉ thải ra một lượng ôxy rất nhỏ, ít nhất là so với lượng ôxy trong không khí bị hấp thụ nhanh chóng vào nước. Ngược lại, lượng cacbon điôxit mà cây hít vào từ trong bể cá cũng không đáng kể gì. Nói một cách khác, toàn bộ cơn sốt bể cá hồi những năm 1850 là dựa trên sự hiểu lầm. Điều cho phép cá còn sống trong môi trường nuôi nhốt không phải là sự cân bằng hoàn hảo của thực vật và động vật mà đúng hơn là nhờ vào hình dáng của chính cái bể ấy. Nhờ việc xóa bỏ thuế kính của nước Anh năm 1845, các tấm kính lớn được dùng để làm thành những chiếc bể hình chữ nhật, tăng kích thước mặt tiếp xúc giữa nước và không khí, cho phép việc thẩm thấu nhanh ôxy vào nước, và quan trọng hơn cả là làm chậm lại việc chuyển CO2 vào không khí. Không có cái gì gọi là “sự cân bằng hoàn hảo của tự nhiên” ở đây cả, không thể có một trạng thái ổn định - dù là trong bể kính lẫn ngoài thiên nhiên. Chỉ có sự thay đổi liên tục.
Nếu lúc đầu thú chơi bể cá là một cách để những con người bình thường có thể khám phá thiên nhiên ở gần nhà, khao khát hướng tới những loài cá ngoại lai dần thúc đẩy các cuộc thám hiểm vào những vùng đất chưa ai từng đặt chân tới. Cuối thế kỉ mười chín, các doanh nhân Đức lập những trạm thu mua ở khắp các vùng đất xa xôi thuộc châu Á, châu Phi và Nam Mỹ. Khi các thủy thủ Đức mang về càng nhiều giống loài mới và các nhà ngư học Đức cung cấp những mô tả khoa học về chúng, kiến thức về thế giới tự nhiên không ngừng được mở rộng.
Từ văn hóa khai phá này, ở cửa ngõ của thế kỉ hai mươi nổi lên một nhà thiên nhiên học người Frankfurt tên là Adolf Kiel, người tiên phong trong thú vui chơi cá, “cha đẻ của các loại cây sống dưới nước” và là ông ngoại của một huyền thoại mà tôi sắp được gặp.
❀ ❀ ❀
Trong lúc Kenny Ông Cá đang phát biểu với đám đông ở Aquarama, một người Mỹ trong chiếc áo sơ mi hoa kiểu Hawaii gõ vào vai tôi. “Heiko Bleher kìa,” ông ta thì thào và tôi quay lại, trông thấy một người đàn ông râu ria xồm xoàm đứng ở cuối phòng, nổi bật như một cây cột báo hiệu. Ông ta đang đội một chiếc mũ vành rộng của Úc và mặc áo parka[*] màu vàng tươi bên ngoài chiếc áo thun đen in hình một con cá nhiệt đới tròn xoe. Khoác trên vai chiếc túi đeo chéo bằng da, ông ta trông như vừa bước xuống khỏi máy bay. “Hãy hỏi ông ta về vụ bị bắt ở Brazil vì tội đạo chích sinh học[*],” người Mỹ kia nói vẻ tinh quái.
[*] Một loại áo khoác lót lông để chống gió.
[*] Một kiểu vi phạm về tác quyền sinh học, tự cho mình quyền sở hữu một sinh vật sống đã tồn tại của một quốc gia hay một dân tộc vì những mục đích thương mại.
Tôi đã nghe nói rất nhiều về Heiko. Ông ta vốn là một người buôn cá chuyển nghề thành nhà thám hiểm thiên nhiên lừng danh. Ông ta thích nói rằng mình tới từ “khắp nơi trên thế giới,” nhưng thực chất ông sinh ra trong một boong ke giữa đống đổ nát tại Frankfurt những năm 1940, không xa cửa hàng cây và cá cảnh của ông ngoại mình, một trong những cửa hàng lớn nhất vào thời đó. Ở tuổi sáu mươi tư, theo giấy tờ, Heiko cư trú ở ngoại ô Milan, nhưng lại dành hầu hết thời gian của mình đi chu du khắp các chốn xa xôi hẻo lánh để tìm giống cá mới, ông tuyên bố là mình đã khám phá ra - hay tái khám phá - khoảng năm ngàn loài. (Theo cách nói của giới buôn bán, “tái khám phá” một loài cá có nghĩa là tìm được một giống chỉ được biết đến trong viện bảo tàng, ghi lại sự xuất hiện và các hành vi của nó trong tự nhiên rồi giới thiệu nó một cách lý tưởng với người chơi cá.)
Heiko thường được gọi là “Indiana Jones của ngành cá nhiệt đới,” nhưng ông coi đó là một lời sỉ nhục, bởi tự tin là mình khá hơn bất kì nhân vật tưởng tượng nào. Tuy nhiên, một vụ tai tiếng rùm beng đã làm hoen ố hình ảnh ngôi sao của ông ta. Mùa thu năm 2008, ông bị bắt ở Brazil cùng với cô vợ mới toanh hai mươi chín tuổi của mình (kém ông ba mươi tư tuổi), vì tội cố xuất cảnh trái phép một con cá được bảo quản trong phoóc môn và cồn ra khỏi đất nước đó. Ông tuyên bố mình trở thành mục tiêu chơi xấu do công khai phản đối việc phá hoại rừng nhiệt đới. Nhưng tiếng tăm về sự kiêu ngạo của ông ta đã vang xa đến nỗi việc ông phải trải qua ba ngày rưỡi trong nhà tù mà ông gọi là “tồi tệ nhất hành tinh” dường như chỉ khiến người khác cười cợt nhiều hơn là cảm thông.
Khi tôi tới chào hỏi, Heiko kể với tôi ông ta vừa đến trong chuyến bay xuyên đêm. “Ngày hôm kia tôi còn đang ở Canada, cuối tuần trước thì ở Ba Lan, còn cuối tuần trước nữa thì ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cứ cách bảy tuần là tôi lại đi thu thập.” Ông trao cho tôi một tấm danh thiếp vẽ hình một con cá miệng giống như chiếc cưa xích. “Cá đao răng lớn đấy,” ông nói, giải thích rằng mình đã phát hiện được một con dài tới ba mươi mét hồi năm 1982 trong lúc đi lặn đêm dưới một cái hồ có cá sấu ở miền bắc nước Úc. Ông ta tuyên bố đó là con cá nước ngọt lớn nhất từng được tìm thấy trong thế kỉ hai mươi.
Chủ yếu tôi muốn nói chuyện với Heiko vì nghe đồn ông ta từng thám hiểm tận vùng Sentarum của đảo Borneo, quê hương của con siêu cấp huyết long. Tôi chỉ vừa mở miệng hỏi thì ông ta đã bị phân tâm khi thoáng thấy một ông già người Nhật đang ngồi ghé trên chiếc ghế cao đặt trước một gian triển lãm nổi bật. Đó chính là Shigezo Kamihata, vị Chủ tịch tám mươi ba tuổi của công ty Kamihata Fish Industries Ltd, nổi tiếng với dòng cá koi cao cấp. Gương mặt ông Kamihata đã lấm chấm đồi mồi tuổi tác. Ông mặc một bộ vest vải sọc và đeo kính râm tối màu. Ông nhìn Heiko qua lớp kính râm với biểu cảm khôi hài.
“Kamihata-san[*] là nhà thám hiểm số hai thế giới,” Heiko vui vẻ bảo tôi thay lời giới thiệu.
[*] Thêm -san vào sau tên gọi của người Nhật theo kiểu lịch sự xã giao.
Ông già khẽ cúi đầu chào rồi nắm tay tôi. Làn da của ông mỏng tang như tờ giấy gạo. Giống như Heiko, ông là thế hệ thứ ba trong một gia đình buôn cá cảnh, ông nội của ông là người đầu tiên nhân giống cá koi năm 1877. Sau này lớn lên, Kamihata bắt đầu sưu tầm các loại cá hoang dã, thực hiện những chuyến thám hiểm đắt đỏ bằng máy bay thuê, cùng với cả một đội thợ lặn. Lúc này ông vươn tay ngang qua quầy và đưa cho tôi một cuốn sách tựa đề Những chuyến thám hiểm rừng rậm trong đời thực của Kamihata để truy tìm các loài cá nhiệt đới[*], bìa sách in hình ông đang đứng trên một tảng đá, tay chống nạnh, ở giữa một dòng sông cuộn đục ngầu.
[*] Tạm dịch từ nguyên tác The True-Life Jungle Adventures of Kamihata in Search of Tropical Fish.
Heiko nhanh chóng giằng cuốn sách khỏi tay tôi để chỉ cho tôi xem với vẻ tự hào rõ rệt, ngay dòng đầu tiên của chương một: “Một ngày nọ ông Heiko Blether, một nhà thám hiểm người Đức, đã gọi cho tôi và nói: “Tôi rất muốn chỉ cho ông thấy những phần còn chưa được khám phá của rừng Amazon.” Chỉ đến sau này tôi mới chú ý thấy dòng tiêu đề trên đầu trang: “Heiko làm chúng tôi tức ứa gan.” Chương đầu này mô tả cuộc thám hiểm năm 1989, khi đó Heiko đã không đến đón Kamihata ở sân bay, đặt một khách sạn không ra gì, gái gú, thức khuya dậy trễ và đặc biệt lông lá đến mức tìm rận trên người ông ta chẳng khác nào “tìm kim trong đống rơm.”
Tuy nhiên, thứ hấp dẫn tôi nhất là chương áp chót trong cuốn sách của Kamihata: “Tìm kiếm cá rồng châu Á hoang dã ở Borneo.” Năm 1993, cả ông ta cũng đã thực hiện một chuyến đi tới Sentarum, quê hương xa xôi của loài cá rồng, hòng tìm một con siêu cấp huyết long. Ông giải thích với tôi rằng vùng đầm lầy ấy là nơi sinh sống của tộc Iban, một dân tộc nổi tiếng về săn bắn, và cho tôi xem những bức ảnh chụp một người đàn ông xăm trổ đầy mình và một người phụ nữ đang ôm cái sọ khổng lồ của con cá sấu. Ngay từ đầu những năm đầu thập niên 1990 mà Kamihata cũng đã không còn tìm được siêu cấp huyết long ở quê hương của nó. Các ngư dân báo rằng họ đã tìm suốt nhiều tháng mà không thấy dấu vết nào. Ông sợ rằng đến bây giờ thì có thể cá rồng có nguy cơ tuyệt chủng thật sự.
Heiko nhún vai: “Nước rộng bao la như thế. Không thể đoan chắc được, đặc biệt vì nơi ấy lại quá xa xôi. Người ta không đi tới tận đó để sưu tập cá trừ khi đó là loại cực kì hiếm.” Ông ta nói sẽ đích thân dẫn tôiđi Sentarum nếu không vì đã lên kế hoạch một loạt các cuộc triển lãm nối tiếp nhau ở Úc, Philippines và Iran. Thay vào đó ông ta mời tôi: “Cô hãy đi cùng tôi tới rừng Amazon ở Colombia,” và mô tả kế hoạch ông dự định tới thăm nơi mà ông tuyên bố là vùng hoang dã cuối cùng còn sót lại trên trái đất.
Rồi ông thò tay vào túi đeo chéo và lôi ra cuốn sách mới nhất của mình để khoe với Kamihata. Bìa sách là một bức ảnh đen trắng của một phụ nữ tóc vàng với kiểu bới tóc cầu kì, viền ảnh là những loại hoa và thực vật ở rừng Amazon. “Đây là tiểu sử của mẹ tôi những năm 1950,” ông ta nói và giở đến trang ảnh - những người phụ nữ trong bộ lạc với bộ ngực chảy xệ, một người đàn ông đang huơ cái đầu teo tóp cắm trên cây gậy và một cái thùng chứa sọ và xương người. Ông ta trỏ tay vào trang ảnh cuối: “Đây là những nhà truyền giáo bị bộ tộc sống cùng chúng tôi ăn thịt.”
Kamihata cúi người tới để nhìn cho rõ hơn, ông nhướn đôi lông mày. “Ở đâu đây?” Ông lạnh nhạt hỏi.
“Mato Grosso ở Brazil. Hồi bé tôi từng sống ở đó sáu tháng.”
Trong khi ông Kamihata đáng kính mãi sau này mới trở thành một nhà thám hiểm rừng danh, Heiko lại thực sự là con nhà nòi. Sau Thế chiến II, mẹ ông ta là bà Amanda Flora Hilda Bleher, con gái của Adolf Kiel - “cha đẻ cây thủy sinh,” đã khởi nghiệp kinh doanh thú cưng gửi qua đường bưu điện ở Frankfurt. Bà chuyên nhập khẩu các loại động vật ngoại lai từ khắp nơi trên thế giới. Trong những năm tháng đó, bà đã thu thập được loại “cá vua” ngày ấy, một loại cá đĩa tròn hoàn hảo từ Amazon - sau này nó trở thành loài cá cảnh đắt nhất thế giới - dành cho cuộc triển lãm trong chuồng khỉ ở Vườn thú Frankfurt đã bị tàn phá. Bà bị mê hoặc bởi hình dáng hoàn hảo của con vật, cơ thể mỏng dẹt y như chiếc lá và cặp môi cong ngọt ngào. Do vậy khi một bà đồng Gypsy khuyên bà đi Brazil, trong tầm trí bà chỉ còn hình ảnh của con cá đĩa Amazon hiếm quý mà bà mới được thấy một lần. Năm 1953, sau khi li dị chồng, Amanda gói ghém đồ đạc cùng bốn đứa con mình và lên đường theo đuổi loài cá này trong một vùng đất còn không có trên bản đồ của rừng nhiệt đới Amazon, thường được truyền tụng là “địa ngục xanh.” Là con út trong nhà, Heiko mới lên chín khi mấy mẹ con mắc kẹt ở vùng cách ly và bị một lính Đức Quốc xã bắt được trên đường đào tẩu.
Chuyến phiêu lưu đầu tiên ấy kéo dài gần hai năm, sau đó mấy mẹ con trở về nhà ở Frankfurt. Tuy nhiên năm 1958, họ quay lại Brazil, lần này là ở hẳn và Amanda đã thành lập một cơ sở nhân giống cá cùng một trang trại nuôi trồng cây thủy sinh bên ngoài Rio De Janeiro. Năm 1962, ở tuổi mười tám, Heiko chuyển sang Mỹ để nghiên cứu ngư học ở trường Đại học Nam Florida ở Tampa, tại đó ông làm việc cho vài trại cá lớn nhất trong vùng, tự tạo danh tiếng cho mình là một thợ nuôi cá tài năng có thể thuần hóa những cá thể từ thiên nhiên sinh đẻ thành công trong môi trường nuôi nhốt. Hai năm sau, ông trở lại Rio và sáng lập công ty cá cảnh riêng chuyên xuất khẩu và bắt đầu đi khắp Amazon trong các chuyến thu thập. Cuối năm 1964, khi mới hai mươi tuổi, ông đã khám phá ra loài mới đầu tiên được đặt tên khoa học theo tên ông - Hemigrammus bleheri. Loài sóc đầu đỏ vẫn được ông duy trì này là loại cá nhiệt đới bán chạy thứ hai trong mọi thời đại. Nó là một trong số mười loài cá, bao gồm cả một chi[*], mà sau này đều sẽ được ghi danh theo tên ông.
[*] Chi (genus) là một đơn vị phân loại dùng để chỉ các nhóm loài có kiểu hình tương tự và mối quan hệ tiến hóa gần gũi với nhau.
Trong lúc tôi đi theo Heiko vào khu trưng bày cá của Aquarama, tôi để ý thấy ông bị thu hút bởi bể cá đĩa Amazon, loại cá mà mẹ ông đã tìm kiếm hơn nửa thế kỉ trước. Sau nhiều thập kỉ chiếm ngôi vương trong dòng cá cảnh cao cấp, cá đĩa đã mất ngai vàng vào tay cá rồng - dù trong trái tim Heiko thì không như thế. Trong cuốn sách xuất bản năm 2006 của mình, Cá đĩa nhà Bleher[*] tập I, ông nhấn mạnh: “Giới chơi cá đĩa không có giới hạn nào và không nghi ngờ gì nữa, loài cá này sẽ luôn là số một… Đã từng có lúc một con cá được trao tay với giá 10.000 đô la hoặc hơn. Thậm chí có người còn bán cả nhà để mua một con cá đĩa đặc biệt, và mất luôn cả vợ con vì chuyện đó.”
[*] Tạm dịch từ nguyên tác Blehers Discus: Volume I.
Tuy nhiên, ông không hề thấy ấn tượng trước bộ sưu tập ở Aquarama. “Lũ cá họ trưng bày ở đây rất nghèo nàn. Con cá đĩa hạng nhất ở đây chỉ đáng để tôi quăng sọt rác,” ông nói sau khi dừng lại ngắm con đoạt giải, một con bạch tạng ánh vàng có đôi mắt đỏ. Ông phàn nàn về trình độ của giám khảo: “Một trong các giám khảo đến từ nước Anh chẳng hiểu về cá đĩa nhiều hơn tôi hiểu về sự sống sao Diêm Vương!”
Heiko phiền lòng vì những con cá đĩa được trưng bày ngày nay không có gì giống với loài sinh vật tinh tế mà mẹ ông từng phải lòng: một con cá tròn hoàn hảo, màu xanh nhạt với những đường sọc dọc. Sau nhiều năm, hầu hết do bàn tay của những người nuôi ở châu Á, loài cá đĩa đã bị nhân giống thành thứ Heiko gọi là một tập hợp lòe loẹt đủ các loại màu, với những cái tên kiểu da báo, da rắn, bàn cờ, xanh kim cương và máu bồ câu. Giờ ngày càng khó tìm ra giống thuần chủng.
Sự khinh thường của Heiko dành cho cá đĩa phản ánh mối rạn nứt sâu sắc hơn trong giới cá cảnh từ mấy thập kỉ gần đây. Những loài được nhân giống chọn lọc trong môi trường thuần hóa ngày càng trở nên phổ biến, đặc biệt ở châu Á. Trong khi đó, một nhóm các nhà ngư học, chủ yếu ở Âu Châu, lại quan tâm nhiều hơn tới các chủng loài hoang dã và tỏ ra khinh khi trước một con “cá đỏ” giả hiệu, như cách họ vẫn gọi chúng. Nếu một phe coi đó là nghệ thuật chơi cá thì phe kia lại muốn để tự nhiên, và muốn hạn chế can thiệp nhiều nhất có thể.
Sự phân ly trong lý thuyết triết học được thể hiện ở loại bể cá mà mỗi phe chọn. Chẳng hạn Heiko ủng hộ “bể cá sinh cảnh[*]” với mục đích tái tạo lại một khung cảnh sinh thái cụ thể, đem những loài động thực vật ở một con sông hay cái hồ lại với nhau - và không bao giờ kết hợp lộn xộn, chẳng hạn một chú cá châu Phi với cây ở Amazon. Bể sinh cảnh đối lập với bể “thủy sinh” phổ biến do một người chơi cá ở Nhật tên là Takashi Amano khởi tạo. Ông ta còn được tờ Wall Street Journal đặt biệt danh là Nhà hiền triết bể cá. Bể thủy sinh là những bể kính bên trong trồng nhiều loại cây được tỉa tót thật cẩn thận cùng cách sắp đặt những viên đá theo kiểu Zen[*]. Những đàn cá nhỏ được thả bơi lội trong đó như những “nhân vật phụ.” Mục đích của chúng là để hoàn thiện thiên nhiên. Với Heiko, bản thân thiên nhiên đã hoàn hảo. Không ai có thể vượt qua được chính nó.
[*] Nguyên tác Biotope là phong cách thủy sinh mà người chơi có xu hướng mô phỏng một khung cảnh thủy sinh dưới mặt nước.
[*] Phong cách trang trí nội thất truyền thống của Nhật.
Vì lí do này, khi Heiko chú ý thấy tất cả mọi người đều đang trầm trồ mười chú cá rồng bạch tạng - dù đó có là những con “quái vật” lạ lùng và nhân tạo - ông ta lừ mắt với lũ cá cùng đám đông đang bị chúng thu hút. Tuy nhiên, tôi thì chỉ tò mò muốn biết câu chuyện đằng sau những sinh vật tuyệt vời kia và bắt đầu đi tìm một lời giải thích.
❀ ❀ ❀
TÔI TÌM ĐƯỢC người chịu trách nhiệm đàn cá bạch tạng, một nông dân Malaysia gốc Hoa ba mươi tư tuổi tên là Alan Teo, đang đứng ngay phía trước bể trưng bày, trông vừa phấn khởi lại vừa kiệt sức. Anh ta đeo kính gọng vàng, mang khuy măng séc vàng, một chiếc bút mạ vàng đang cài trên túi áo sơ mi cổ Tàu hàng may đo. Cả mái tóc rẽ ngôi đen nhánh của anh ta cũng sáng bóng lên dưới ánh đèn của phòng trưng bày. Theo tính toán của chính Teo, anh ta mới được ngủ tổng cộng bảy tiếng trong suốt năm ngày vừa qua. “Tôi thấy căng thẳng,” Teo thú thật và cau mày nhìn lũ cá. “Nước ở đây rất tệ, ánh sáng cũng sai hết.”
Một đội cảnh sát đã hộ tống đàn cá rồng tới triển lãm, còn vệ sĩ riêng thì đứng canh suốt để ngăn bể bị đầu độc. “Với tư cách là người nhân giống độc nhất của những con cá đắt nhất thế giới,” Teo nói, “cô sẽ có rất nhiều kẻ thù.” Anh ta không thể quên được chuyện xảy ra sáu năm trước với con cá đĩa số một - nó đã biến mất chỉ sau một đêm.
Theo lời Teo, những con cá bạch tạng là kết quả của một nghiên cứu tối mật kéo dài nhiều năm ròng. Ngày đó, anh ta mở một trại nuôi cá rồng khiêm tốn ở Malaysia và phát hiện ra một con cá của mình đã ngẫu nhiên sinh ra một con bạch tạng duy nhất. Lời đồn về con cá này tới tai một nhà tài phiệt than đá ở Indonesia - một tỉ phú có cả một vườn thú riêng chuyên nuôi các loài bạch tạng ở tận sâu trong những khu rừng của vùng phía đông đảo Borneo. Con người quyền lực này đã tới tận trại của Teo, ngồi im lặng hàng giờ liền để ngắm nhìn chú cá rồng nhỏ bơi qua bơi lại. Ngày hôm sau, ông ta tuyên bố là mình sẽ tài trợ cho một chương trình nhân giống. Teo phải chờ ba năm để chú cá bạch tạng của mình đến tuổi sinh sản, tạo ra một lứa cá mới có vẻ ngoài bình thường nhưng mang gen lặn tính trạng di truyền bạch tạng. Mãi ba năm sau nữa anh ta mới nhân giống được cho con cá ban đầu đẻ ra nhiều cá bạch tạng hơn. Trong thời gian đó, theo những mệnh lệnh khắt khe của mạnh thường quân, Teo phải ngưng bán cá tuyệt đối.
“Chúng tôi ưu tiên cho những người nổi tiếng và thành viên hoàng tộc,” Teo nói, giải thích rằng hiện nay những chú cá bạch tạng này chỉ được bán theo diện chào mời riêng. Đến nay anh ta bán chưa đến mười con, tất cả người mua đều ẩn danh và mỗi con được gửi tới một nước khác nhau. Gần đây, một quan chức cấp cao trong Đảng cộng sản Trung Quốc đã mua một con với giá 300.000 đô la. Một con khác được bán cho một trùm sòng bài ở Las Vegas, người này đã yêu cầu chuyển nó tới Canada, ở đó việc buôn bán loài cá này được coi là hợp pháp chứ không như ở Mỹ. Con cá duy nhất cùng loại này ở Đài Loan thuộc về một ông trùm tư bản ngành nhựa, người đã xây dựng đế chế của mình bằng việc sản xuất lông bàn chải đánh răng.
“Có người nghĩ đây chỉ là chuyện đồn đại, nhưng nó là thật đấy,” Teo nói về câu chuyện của mình. “Con cá này đã cho tôi thấy rất nhiều thứ mà tôi chưa từng mơ đến.” Anh ta giơ hai bàn tay với những ngón dài và thanh tú của mình lên, để cho tôi thấy chúng đã run rẩy thế nào trong cái ngày anh ta chuyển một con cá bạch tạng vào khu phòng riêng của vị sultan bang Johor[*] - một nhân vật khét tiếng vì bị cáo buộc là giết một thằng bé vác gậy golf cho ông ta vì nó trót cười khi ông ta đánh trật một lỗ.
[*] Một bang trong Liên bang Malaysia.
Tôi hỏi Teo liệu tôi có thể gặp một trong những người chủ của lũ cá bạch tạng được không, và anh ta đã cân nhắc điều này. Sultan của Johor đang nằm trên giường hấp hối. Con trai ông ta thì có thể, nhưng người này còn khó lường hơn cả ông bố - nổi tiếng vì đã bắn chết một người trong một hộp đêm - và anh này cũng không ham hố cá mấy. Rồi Teo nghĩ ra một ý tưởng. Anh ta nói thực tế một trong số những người chủ cá bạch tạng có thể sẽ sẵn lòng cho tôi gặp, rồi Teo xin phép đi gọi điện thoại.
Trong lúc anh ta vắng mặt, Heiko Bleher lại đến chỗ tôi để đánh giá bầy cá bạch tạng, đôi mắt vằn tia máu của ông ta còn đỏ hơn mắt lũ cá. “Ba trăm ngàn đô,” ông ta chế nhạo. “Tôi không thèm trả đến ba mươi xu cho con cá kia.” Rồi ông ta nói tôi sẽ không bao giờ tìm được câu trả lời cuối cùng cho bất kì điều gì liên quan đến thế giới cá rồng này đâu. “Khi dính tới loài cá này, chẳng ai chịu nói thật với cô cả.”
Tuy nhiên, khi Teo tái xuất hiện, anh ta đã giới thiệu thành công tôi với một trong các khách hàng của mình. Vài ngày sau khi Aquarama kết thúc, tôi bay khoảng 3.200 cây số ngang qua Biển Đông để tới điểm đến cuối cùng - tự mình đi gặp mặt một ông chủ của con cá có giá tới sáu chữ số.