Bài thơ “Ulysses by the Merlion” của Edwin Thumboo được xuất bản trong tuyển tập cùng tên (Singapore: Heinemann Educational Books, 1979). Còn về các loài cá rồng châu Á, tôi đã dựa vào dữ liệu của Ng Heok Hee của Trường Đại học Singapore và Maurice Kottelat của Hiệp hội Ngư học châu Âu, cũng như Danh Sách Đỏ các loài gặp nguy cơ của IUCN. Một nghiên cứu về tác động của ngành thương mại với cá hoang dã ở Campuchia là “Đánh bắt, buôn bán và bảo tồn cá rồng châu Á Scleropages formosus ở Campuchia”, tác giả Jodi JL. Rowley, David A. Emmet và Seila Voen, Bảo tồn thủy sản: Hệ sinh thái biển và nước ngọt 18 (tháng Mười một / Mười hai 2008). Nguồn thông tin của tôi về hệ thống phân phối cá rồng toàn cầu tới từ Tim M. Berra, Freshwater Fish Distribution (Chicago: University of Chicago Press, 2007).
Tan Heok Hui của Viện bảo tàng Raffles về Nghiên cứu Đa dạng sinh học thuộc trường Đại học Quốc gia Singapore đã cung cấp nhiều thông tin sâu rộng về ngành ngư học nói chung cũng như cho phép tôi được tiếp cận nhiều tài liệu lịch sử. Tôi biết ơn giám đốc phụ trách các bộ sưu tập Kelvin Lim vì đã lục tìm bài báo năm 1969 “Conserving Malayan fresh-water fishes” của Eric R. Alfred, Malayan Nature Journal 22 (1969). Phần sách viết về sự giới thiệu cá rồng với giới buôn cá cảnh dựa trên một bài phỏng vấn cá nhân với Chew Thean Yeang ở cửa hàng của ông tại Penang, Malaysia. Để tìm hiểu lịch sử chi tiết nghề nuôi cá rồng châu Á ở Singapore, mời xem cuốn The Dragon Fish của John Dawes, Lim Lian Chuan và Leslie Cheong (Waterlooville: Kingdom Books,1999). Các thống kê về lượng xuất khẩu cá cảnh của Singapore được xin từ Cơ quan Nông sản và Thú y Singapore.