Có rất nhiều bàn cãi xung quanh tổng số lượng loài vật trên trái đất, và cả về số lượng những loài đã được mô tả, phụ thuộc vào nguồn tư liệu dẫn xuất và các phương pháp dùng để tránh sự trùng lặp. Tôi đã dựa vào bản chỉnh sửa thứ hai của “Numbers of Living Species in Australia and the World” của Arthur Chapman cho Nghiên cứu các nguồn sinh vật học của Úc (tháng Chín 2009). Mời các bạn đọc “Global species richness estimates have not converged” của M. Julian Caley, Rebecca Fisher, và Kerrie Mengersen, Trends in Ecology & Evolution 29 (April 2014); và “How many species are there on earth and in the ocean?” của Camilo Mora, Derek P. Tittensor, Sina Adi, Alastair G. B. Simpson, và Boris Worm, PLOS Biology 9 (April 2011). Mora và Caley đã giúp tôi hiểu ra những dữ liệu nói gì.
Lời trích dẫn của Melanie Stiassny có trong bài phát biểu của bà năm 1997 cùng với Ian J. Harrison, “Vanishing from freshwater: Species decline and the machinery of extinction,” Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ (amnhorgsciencebiodiversityextinctionDaylbytesStiassny Preshtml). Số lượng trung bình các loài cá được phát hiện mỗi năm dựa trên Catalog of Fishes (mời xem chương 1).
Tài liệu chia cá rồng châu Á thành các loài khác nhau là “The different colour varieties of the Asian arowana Scleropages formosus (Osteoglossidae) are distinct species: Morphologic and genetic evidences” của Laurent Pouyaud, Tomy Sudarto, và Guy G. Teugels, Cybium 27 (2003). Dù Pouyaud hồi đáp lại yêu cầu được phỏng vấn, tôi đã gặp được người đồng tác giả của ông là Sudarto ở Jakarta và Mark Erdmann, người khám phá ra con cá vây tay của Indonesia ở Bali. Để biết thêm về cuộc tranh cãi xung quanh con cá vây tay Indonesia, mời đọc “Tangledtale of a lost, stolen and disputed coelacanth,” Nature (July 13, 2000) của Heather McCabe và Janet Wright. Cuốn sách của Samantha Weinberg A Fish Caught in Time: The Search for the Coelacanth (New York: HarperCollins, 2000) cung cấp nhiều chi tiết thú vị về toàn bộ câu chuyện cá vây tay. Về nghiên cứu sắp xếp toàn bộ bộ gen của cá vây tay, mời đọc “The African coelacanth genome provides insights into tetrapod evolution” do tập hợp nhiều chuyên gia quốc tế thực hiện, Nature 496 (ngày 18 tháng Tư, 2013).
Con số tăng trưởng các loài cá trong ngành công nghiệp cá cảnh có từ bài báo khai sáng của Svein A. Fossa “Man-made fish: Domesticated fishes and their place in the aquatic trade and hobby,” OFI Journal 44 (tháng Hai năm 2004). Thông tin về Herbert Axelrod xuất hiện trong “The strange fish and stranger times of Dr. Herbert R. Axelrod,” Sports Illustrated (ngày 3 tháng Năm, 1965); “A life of money and myths,” Star-Ledger (25 tháng Tư, 2004); và Discus do Bernd Degen và Herbert Axelrod viết (Ruhmannsfelden, Germany: Degen Mediahouse, 2011). Tôi cũng rất biết ơn cháu trai của ông Herbert Axelrod là Glen Axelrod và Gary Hirsch vì góc nhìn của họ.