Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Hai“các Nhà Chức Trách Sẽ Theo Dõi Bạn”

❊ ❊ ❊

MYANMAR

Bên dưới tôi không có gì ngoài một thảm màu xanh lục. Nó cuộn lại thành những đợt sóng nhấp nhô dưới tia nắng sáng trắng loá mắt. Từ Tokyo, tôi bay hết sáu tiếng tới Bangkok. Giờ tôi đang trên một chuyến bay ngắn sang Myanmar, nơi chúng tôi sắp hạ cánh tới thủ đô cũ, Yangon. Tôi nhận ra hẳn là mình đang nhìn xuống những ngọn đồi Tenasserim, dãy núi thấp còn cổ xưa hơn cả dãy Himalayas, chính nó đã tạo nên cái đuôi trên bản đồ đất nước này. Khi đó là tháng Hai năm 2012, và thế giới đã biết đến 32.106 loài cá. Tôi gí mũi vào kính cửa sổ và tự hỏi phải chẳng con số 32.107 đang chờ đợi tôi dưới cánh rừng khổng lồ bên dưới.

So với các nước láng giềng, Myanmar vẫn còn sở hữu tỉ lệ rừng nguyên vẹn khá lớn, chủ yếu vì lịch sử biến động của đất nước này kể từ sau Thế chiến thứ hai đã cản trở sự phát triển. Trước đó, người Anh cai trị vùng đất này - dưới cái tên Miến Điện - như là một tỉnh thuộc Ấn Độ. Bất chấp sự khai thác và bỏ bê với tư cách sân sau thuộc địa, nơi này vẫn là một trong những vùng đất trù phú nhất của Đông Nam Á.

❀ ❀ ❀

Nhưng sự chiếm đóng của quân Nhật đã để lại một mảnh đất tang thương. Sau chiến tranh, dưới sự lãnh đạo của Tướng Aung San, người sáng lập Đảng Cộng sản Miến Điện, đất nước này giành được độc lập từ tay người Anh vào năm 1948 - sáu tháng sau chính vị tướng này đã bị đối thủ chính trị ám sát. Không còn vị lãnh tụ được yêu kính, quốc gia non trẻ chật vật tìm chỗ đứng. Đến thập kỉ 1980, quốc gia này trở thành một trong những nước nghèo nhất và bị cô lập nhất thế giới. Vị tướng thống trị Ne Win vốn là cựu nhân viên bưu điện, nổi tiếng với thói mê tín dị đoan Thần số học. Ông ta khiến tình hình thêm tồi tệ bằng cách bắt buộc huỷ bỏ một số mệnh giá đồng nội tệ và thay thế chúng bằng những đồng tiền chia hết cho số chín. Việc đổi tiền là bất khả thi. Tài sản tiết kiệm cả đời người của dân chúng biến mất sau một đêm.

Tất cả những điều này dẫn đến sự phản kháng mạnh mẽ. Năm 1988, học sinh, sinh viên cả nước tiến hành một cuộc biểu tình trên diện rộng chống lại cơ chế áp bức. Phản ứng của chính quyền rất tàn bạo: Quân đội khai hoả súng máy, giết hơn ba ngàn người. Năm sau đó, như để xoá sạch lịch sử nô lệ, chính quyền quân sự không chỉ đổi tên đất nước từ Miến Điện sang Myanmar mà còn đặt lại tên cho vô số thành phố, thị trấn, đường phố, sông ngòi và núi non.

Những năm tiếp theo không có nhiều sự biến chuyển. Than Shwe, một vị tướng khác lên nắm quyền lực năm 1992. Nổi tiếng là người lánh đời, năm 2005, ông ta cho dời đô từ Yangon tới vùng đất bị bệnh sốt rét hoành hành có tên là Naypyidaw (Nơi ở của các vị vua), cách đó khoảng 360 kilômet về phía bắc. Trong lúc đó, Myanmar vẫn là nước có mức thu nhập bình quân đầu người thấp nhất Đông Nam Á - thấp hơn cả Lào và Campuchia.

Sau khi chính phủ tăng giá nhiên liệu năm 2007, gây ra những thiệt hại to lớn cho người nghèo, hàng ngàn nhà sư đã xuống đường trong bộ Áo vàng Cách mạng, tên gọi bộ áo tu màu đất của họ. Mặc dù Myanmar là đất nước mộ đạo Phật, quân đội vẫn không hề nương tay. Các nhà sư bị đánh đến bất tỉnh và bị bắn bằng đạn cao su, sau đó là bằng đạn thật. Chính phủ mất ba ngày mới dập tắt được các cuộc phản đối.

Khi cuối cùng tướng Than Shwe cũng quyết định về hưu vào tháng Mười một năm 2010, người kế nhiệm do đích thân ông ta lựa chọn - cựu sĩ quan quân đội Thein Sein - đã chiến thắng trong một cuộc bầu cử mà Liên Hiệp Quốc coi là trò khoa trương giả dối. Chưa tới một năm sau đó, khi tôi bước ra khỏi máy bay vào cái nóng hừng hực đến mức làm mờ cả mặt tiền dát vàng của sân bay, tôi đã tưởng mình sẽ bước vào vùng đất phản địa đàng[*] của Orwell.

[*] Tác giả nhắc tới tiểu thuyết năm 1984 của nhà văn George Orwell về đề tài chống phát xít.

Thay vào đó, bên trong sảnh đến có điều hoà nhiệt độ, tôi phát hiện một đám đông người nước ngoài xếp hàng ở chỗ hải quan: tây ba lô đến từ châu Âu, những nhà ngoại giao người Mỹ, các thương nhân Trung Hoa và các chủ nhà băng Singapore. Tôi đã đến cùng với mùa xuân Miến Điện.

❀ ❀ ❀

Sau này nhìn lại, người ta có thể trông thấy những chấm xanh hi vọng đầu tiên ló ra khỏi tuyết trắng từ tận tháng Ba năm trước, khi vị tổng thống mới Thein Sein thừa nhận những vấn đề của quốc gia, chẳng hạn như “những nỗi thống khổ không được nói ra” dọc theo những đường biên giới tang tóc vì chiến tranh. Rồi vào tháng Mười (lúc tôi lên kế hoạch cùng Heiko để theo đuổi con cá rồng batik), quốc hội Myanmar đã hợp pháp hoá các nghiệp đoàn thương mại vốn bị cấm từ năm 1962. Cuối tháng Mười một (lúc tôi phiêu lưu tới Borneo), Hillary Clinton đã trở thành vị ngoại trưởng Mỹ đầu tiên tới thăm đất nước này sau hơn nửa thế kỉ. Một cơn lũ các nhà đầu tư kéo đến tiếp theo, làm căng cơ sở hạ tầng của Yangon tới mức tối đa. Tất cả các khách sạn đều đã bị đặt kín. Ở ngoài nhìn vào, các chuyên gia tranh cãi rằng liệu có chăng sự thay đổi thật sự và liệu nó có kéo dài được lâu. Còn trong nội địa thì khách du lịch vẫn lũ lượt kéo đến.

Gần như tất cả các khách du lịch này đều thăm quan trên một lịch trình đã được chuẩn bị sẵn sàng và được chính phủ cấp phép. Chuyến đi sẽ đưa họ ngược lên cố đô cuối cùng của Myanmar, thành phố Mandalay rồi xuôi xuống những con nước mù sương ở Hồ Inle, cuối cùng sang phía tây tới thành phố cổ Bagan, nơi có hàng ngàn ngôi đền sáng lấp lánh dưới cái nắng của vùng đồng bằng miền trung. Có vẻ như không một ai khác định đi xuống phương nam như tôi, hay ít nhất cũng không đi qua địa điểm Golden Rock[*], một tảng đá đặt chông chênh trên đỉnh núi mà người dân thường nói là giữ thăng bằng trên một sợi tóc của Đức Phật.

[*] Ngôi đền nằm trên tảng đá cheo leo sát mép núi, nổi tiếng nhất Myanmar.

Bất chấp diện tích trải dài hàng ngàn kilômet, khu vực Tenasserim (hay còn gọi là Tannitharyi) chỉ chiếm không đầy nửa trang giấy trong cuốn sách hướng dẫn du lịch của tôi bởi nó quá khó tiếp cận. Trong thời hiện đại, Tyson Roberts là nhà ngư học duy nhất từng thu thập cá ở dòng Tenasserim Lớn. Ông đã lẻn vào qua ngả Thái Lan với sự giúp đỡ của quân nổi dậy Karen cùng những khẩu Kalashnikov. Bọn họ đã phải cẩn thận chọn đường băng qua rừng rậm để tránh những bãi mìn. Những chuyến đi mạo hiểm tới phần thượng nguồn ấy còn lâu mới được coi là đã khám phá tỉ mỉ vùng đất này.

Vì Tyson không tìm được con cá rồng nào, Heiko và tôi sẽ cần phải tới phần hạ nguồn sông Tenasserim. Tôi không biết có làm được việc đó hay không, - Ralf Britz rõ ràng không nghĩ vậy - nhưng tôi vẫn cố xua đi mọi nghi hoặc trong lòng mình trong lúc đứng ở hàng người chờ kiểm tra an ninh ở Sân bay Quốc tế Yangon. Ngay giữa đám đông khách nước ngoài như thế, tôi vẫn lo lắng về việc bị phát hiện là phóng viên. Nếu có ai hỏi, tôi không chắc phải giải thích tại sao mình lại mang theo máy ghi âm, máy tính xách tay, thiết bị cắm trại và bản đồ khu vực chiến sự. Thêm vào những lo ngại trên, tôi lại còn mang theo quá nhiều tiền mặt, dầy tới mức không nhét vừa trong ví mình và phải nhét vào đủ chỗ trên người. Đất nước này không chấp nhận loại thẻ tín dụng hay séc du lịch nào, còn máy ATM thì không tồn tại. Một khi đã bước chân tới đây, bạn không có cách nào nhận được tiền.

Chứng hoang tưởng của tôi càng trầm trọng thêm vì tất cả những gì tôi đã đọc về bộ máy giám sát khét tiếng của Myanmar, vốn được xây dựng theo nguyên mẫu KGB của Liên Xô cũ và mật thám Trung Quốc. Một hệ thống chỉ điểm viên rộng lớn được cho là đã kiểm soát toàn bộ cư dân, nghe lỏm khắp hang cùng ngõ hẻm từ tiệm trà tới đền chùa. Cuốn sách của tôi nhấn mạnh: “Vào một thời điểm nào đó trong hành trình của bạn, (và có thể bạn sẽ không biết là lúc nào đâu) các nhà chức trách sẽ theo dõi bạn.” Lãnh sự quán Hoa Kỳ cảnh báo khách du lịch cần đề phòng email và điện thoại bị giám sát và đồ đạc cá nhân bị lục soát.

Tuy nhiên các nhân viên ở bàn nhập cảnh và hải quan chỉ đơn giản vẫy tay bảo tôi qua. Ở bên ngoài, tôi tìm thấy chàng trai trẻ của nhà nghỉ Quê hương 2 - nơi tôi đã đặt trước - mặc chiếc váy truyền thống gọi là longyi, đang tươi cười và giơ tấm biển đề tên tôi. Cậu ta dẫn tôi cùng một nhóm nhỏ khách du lịch ba lô tới chỗ một chiếc xe tải xanh và trắng cổ lỗ sĩ đang đứng phơi nắng. Chiếc xe rồ máy một cách kì quái. Trong lúc chúng tôi tiến vào thành phố, tôi rướn cổ ngóng ra ngoài cửa sổ mở, cảm giác làn gió phả vào mặt như một hơi thở nóng bỏng. Các nhà sư chân đất đi bộ ngang qua phố. Phụ nữ mang theo những chiếc ô sặc sỡ, khuôn mặt trát kem chống nắng màu vàng tên là thanaka. Bên lề đường, tôi trông thấy một cái chậu đầy gà chết nhũn như chổi lông phủi bụi.

Nhà trọ Quê hương 2 là một ngôi nhà ba tầng màu xanh lá nằm ở ngoại ô thành phố với một quán cà phê vui vẻ bày tràn ra vỉa hè. Sau khi nhận phòng, tôi chỉ vào tấm bản đồ treo trên tường đằng sau quầy lễ tân và hỏi cô gái làm giấy tờ cho mình rằng liệu tôi có thể đi du lịch tới sông Tenasserim Lớn không.

“Được chứ, được chứ,” cô nói trước sự ngạc nhiên của tôi, và bảo tôi đăng kí với Dịch vụ tổ chức du lịch Myanmar do nhà nước sở hữu. Cô còn chỉ đường cho tôi đi bộ tới văn phòng ấy ở trung tâm thành phố.

Lúc khởi hành xuống phố, tôi cố giữ mắt nhìn vào vỉa hè, bởi những cái hố thông thẳng xuống cống đang bốc mùi hôi thối nồng nặc. Nhưng rất khó để không nhìn lên. Những đại lộ rợp bóng cây của Yangon là nơi tập trung đông nhất những tòa nhà thời kì thuộc địa trên khắp vùng Đông Nam Á. Sau khi người Anh chinh phục thành phố này năm 1885, họ đã tái thiết lại thủ đô Myanmar theo phong cách thời kì chuyển giao giữa hai thế kỉ. Hơn một thế kỉ sau đó, hầu hết những kiến trúc này vẫn còn vẹn nguyên, rực rỡ sắc màu dù đã có phần xuống cấp, giống như một bức vẽ bằng bút chì bị tẩy dở, mờ nhòe đi, nhạt bớt đi và đầy vệt bẩn.

Đối diện với một ngôi chùa hai nghìn năm tuổi đánh dấu vị trí trung tâm thành phố, tôi tìm được mặt tiền tòa nhà có tấm biển đã bong tróc ghi hàng chữ màu hồng cherry: “DỊCH VỤ TỔ CHỨC DU LỊCH.” Bên trong, một chiếc quạt trần bám bụi thổi lật vài tờ quảng cáo đặt trên cái kệ kim loại gần như trống không.

“Không được,” người phụ nữ đứng sau quầy gỗ sậm màu nói thẳng khi tôi hỏi về chuyện thăm sông Tenasserim Lớn. “Bị cấm.”

❀ ❀ ❀

Có vẻ như tôi không làm được gì nhiều trừ việc ngồi chờ Heiko tới, nhưng mãi hai tuần sau ông mới đến. Rất may tôi đã xoay xở được một mối liên lạc ở đây để tới gặp trong thời gian chờ đợi. Không lâu trước khi rời New York, tôi biết được Kenny Ông Cá có một nhà cung cấp độc quyền ở Myanmar tên là U Tin Win (U là kính ngữ phát âm là ooo[*]). Nhận được email của tôi, ông ta trả lời rất nhanh: “Gửi Emily, gửi lời chào nồng nhiệt từ Yangon (Rangoon), Myanmar. Trong thời gian cô ở Yangon, con trai tôi là Mr. Ye Hein Htet sẽ tháp tùng cô. Thỉnh thoảng sẽ có cả tôi và vợ tôi nữa. Vợ chồng tôi đã ngoài 60 và không được nhanh nhẹn cho lắm.”

[*] Người Miến Điện thường không có họ, nhưng tên của họ lại bao gồm hai hoặc ba phần. Để làm vấn đề thêm phức tạp, mỗi cái tên lại đi kèm cả tá kính ngữ, tùy thuộc vào quan hệ của người đó với người nói (Chú giải của tác giả.)

Quả nhiên, lúc 8 giờ 59 phút sáng sau khi tôi tới Myanmar được một ngày, một chàng trai trẻ ăn mặc gọn gàng với khuôn mặt vuông và cặp kính dày đã xuất hiện trước cửa Nhà nghỉ Quê hương 2. Đây chính là Ye Hein Htet, anh bảo tôi có thể gọi mình là Hein. Trong lúc chúng tôi lái xe đến trang trại của gia đình anh ở ngoại ô Yangon, anh kể với tôi mình từng khám phá khắp Myanmar cùng cha, “Mr. Tin Win,” để tìm kiếm các loại cá cảnh - dù chưa bao giờ lên tận sông Tenasserim Lớn.

Đường trải nhựa dần nhường chỗ cho đường đất trong lúc chúng tôi đi qua một khu chợ ngoài trời. Ở đó có những người phụ nữ đội nón lá đi mua rau củ và hoa. Cuối cùng chúng tôi cũng tới một ngôi nhà nông trang màu xanh khiêm tốn, bao quanh là một bức tường trang trí những đường viền vàng, cắm hàng rào thép gai bên trên. Chờ chúng tôi ở đỉnh dốc là cha mẹ Hein, một cặp vợ chồng đáng kính đang ngồi cạnh nhau: ông Tin Win trong chiếc váy longyi màu nâu với mái tóc trắng như tuyết, và vợ ông - bà Tin Pyone - mặc một chiếc váy batik in hoa, búi tóc đen cuộn sau gáy. Khi họ đứng lên để chào tôi, tôi thấy cả hai đều không cao đến vai mình.

Bên trong ngôi nhà nhỏ được sơn màu xanh lá bạc hà và trang trí bằng những tấm rèm màu vàng cùng đồ gỗ sậm màu. Trên bàn cà phê, ai đó đã bày sẵn một khay cam bổ miếng và mấy chai coca bên cạnh một chồng sách về cá xếp gọn gàng - một trong số đó chắc chắn là cuốn giới thiệu vẽ các loại cá ở Myanmar do chính Tin Win viết. Bên kia phòng là bàn thờ Đức Phật, một bể cá có những chú cá vàng tí hon lấm chấm đốm xanh, và một màn hình ti vi to đang chiếu slide mở đầu của một bài thuyết trình PowerPoint. “Nếu cô có thể bớt chút thời giờ quý báu…,” ông Tin Win nói và khiêm tốn chỉ về phía ti vi.

Trước khi kinh doanh cá cảnh, Tin Win từng là giáo sư hóa học và để chuẩn bị cho chuyến viếng thăm của tôi, ông đã làm sẵn bốn bài thuyết trình đầy đủ thông tin. Tôi có thể tóm tắt như sau: Thứ nhất, cá ở Myanmar rất giống ông Tin Win và gia đình ông - nhỏ nhắn, nhiều màu sắc, bị đánh giá thấp và (theo đúng từ yêu thích của ông Tin Win) lại rất quý giá. Nhiều loài cá tí hon thuộc về chi Danio với những cái chấm nhỏ, đốm và sọc mà bạn phải nheo mắt mới thấy được. Con cá trong bể của ông Tin Win là một loài mới mà ông được tự hào đặt tên là Danio tinwini theo tên mình năm 2009. Tên ông cũng được đặt cho một loại lươn màu đen trắng là Mastacembelus tinwini, do chính Ralf Britz mô tả chứ không phải ai khác. Điều này dẫn tới hiểu biết quan trọng thứ hai mà tôi nhanh chóng thu được là: Gần như chắc chắn tôi đang ở trong phòng khách của mối liên lạc bí mật ở Myanmar của Ralf, cái người mà ông ta đã không chịu hé lộ với tôi.

Điều này trở nên rõ ràng không có gì để bàn cãi trong bài thuyết trình thứ hai tiêu đề “Các nhà ngư học thời xưa và ngày nay quan tâm đến quần thể cá ở Myanmar.” Sau loạt ảnh các nhà tự nhiên học của thế kỉ mười chín với râu tóc rậm rạp, tôi thích thú khi thấy một slide có hình Tyson Roberts. Trước đây tôi không thể tìm được ảnh của ông trên mạng. (Tin Win gọi ông là “Robert Tyson,” điều này khá hợp lý vì sau này tôi mới biết Tyson lại gọi Tin Win là “Win Tin.”) Trang slide chiếu ảnh một người đàn ông to béo với mái tóc xám đang ngồi gù lưng bên chiếc kính hiển vi và gọi Tyson là “một nhà ngư học xuất chúng”, người “hồi sinh ngành nghiên cứu cá của Myanmar sau Thế chiến thứ hai.”

Tôi sắp sửa kể cho Tin Win nghe mình tới để thu thập con cá rồng Myanmar về cho Tyson thì nhìn thấy slide tiếp theo, bức ảnh một người đàn ông gọn gàng với chòm râu dê, mặc chiếc áo sơ mi màu xanh vỏ chanh: Ralf Britz. Thực ra, Ralf có mặt trong rất nhiều ảnh của Tin Win: thư giãn trong một chiếc võng, uống bia, lội sông… Không như Tyson, rõ ràng ông ta là một người bạn thân thiết của gia đình.

Sau này tôi biết được Ralf không chỉ đặt tên con lươn theo tên Tin Win và là đồng tác giả cuốn sách của ông, mà còn giúp ông thay đổi cả cuộc sống. Tin Win lớn lên ở Mandalay trong thập niên 40 và 50, bên cạnh một nghệ sĩ có hồ cá vàng mê hoặc cậu. Chàng trai Tin Win cũng trở thành người chơi cá hồi năm 1972, cùng khoảng thời gian anh gặp vợ mình là Tin Pyone, cũng là một nhà hóa học. Sau bảy năm hôn nhân, Hein chào đời. (“Một đứa con trai quý báu và khó khăn lắm mới có,” Tin Pyone nói.) Ở Myanmar, kiếm sống chỉ với đồng lương giáo sư là việc rất khó khăn. Tin Win kể với tôi toàn bộ lương tháng của ông chỉ đủ mua không quá 1.200 cốc trà (một cốc trà cùng lắm là 25 cent). Nhưng ngay cả với đồng lương còm cõi ấy, giữa lúc đất nước điêu tàn và giới trí thức tan tác, ông vẫn tiếp tục nghiên cứu cá trong thời gian rảnh. Ông không thể chính thức mô tả một loài nào bởi không có chuyên môn và cũng không đủ thiết bị phù hợp. Hơn nữa, như tất cả những người khác ở Myanmar trong khoảng thời gian đó, ông gần như bị cô lập hoàn toàn khỏi phần còn lại của thế giới do chính phủ quân phiệt. Điều này có nghĩa là không một ai sống trong đất nước này đủ tư cách mô tả con cá rồng batik hay bất kì một loại cá nào ở bản địa. Kể từ năm 1963, cũng chưa có nhà ngư học nào của Miến Điện làm việc đó.

Cuối thập kỉ 90, một trong những sinh viên của Tin Win vô tình gặp Ralf trong tiệm trà ở Yangon và đã giới thiệu với ông ta vị giáo sư mê cá của mình. Tuy nhiên, khi Ralf yêu cầu được đến xem bể cá của ông, Tin Win đã rất sợ. Vào thời đó, giao thiệp với người nước ngoài có thể gặp nguy hiểm. Nhưng ông vẫn chấp nhận rủi ro và một tình bạn đã nảy nở. Ralf gợi ý rằng có thể có cả một thị trường chưa được khai phá dành cho những giống cá nhỏ bé, sặc sỡ của Myamnar. Năm 1998, Tin Win nghỉ hưu và mở một tiệm cá cảnh xuất khẩu. Hai năm sau, ông trở thành nhà cung cấp độc quyền cho Kenny Ông Cá.

Để kết luận cho các bài thuyết trình của mình, Tin Win hé lộ rằng ông biết mọi điều về con cá rồng batik. Đầu những năm 2000, lần đầu tiên ông nghe được về một giống cá lạ ở miền nam có màu xanh lúc còn bé nhưng khi lớn lên lại bắt đầu lộ ra các hoa văn hồng nhạt, chúng đậm dần thành màu đồng. Thậm chí ông còn thu được một con, nhưng nó đã bị đánh cắp khỏi ngôi nhà này. Các nhà chức trách bắt được tên trộm, tống gã vào tù, nhưng họ không thu hồi được con cá. Tin Win chắc chắn nó đã bị bán cho một đối thủ cạnh tranh. Ông gọi loài mới này là Cá may mắn Chaung Phya, theo tên con suối nơi ông tin là nó đã được tìm thấy. “Có lẽ tôi chính là người đầu tiên đưa nó lên mạng Internet - đó là lỗi của tôi,” ông nói, giải thích rằng kể từ đó, con cá rồng đã bị lén đưa ra khỏi đất nước. “Tôi sợ rằng chẳng bao lâu nữa sẽ không còn cá hoang dã đâu.”

Ông kể với tôi Ralf đã yêu cầu ông bắt một con, nhưng ông không nghĩ mình làm được, bởi vì dòng Tenasserim Lớn là lãnh thổ của quân nổi dậy.

Tôi thú nhận rằng chính Tyson đã bảo tôi đến lấy cho ông một con.

“Tôi nghĩ cô không thể tìm tới tận gốc gác của nó đâu,” Tin Win nói. “Chính phủ không cho phép người nước ngoài đến đấy, rừng sâu lắm.”

❀ ❀ ❀

Tất cả những điều trên đều chẳng hứa hẹn chút nào và tôi tốn nhiều thời gian lo lắng rằng mình đã trói buộc Heiko vào một cuộc thám hiểm nhiều nguy cơ thất bại. Tôi liên tục tự trấn an rằng ông biết mình đang lao vào cái gì, bởi ông không lạ lẫm gì với những khó khăn trên đường khám phá - ngay cả ở đây đi nữa. Hồi những năm 1980, khi mới có vài người nước ngoài được phép đến Miến Điện, ông đã nghiên cứu cá ở miền bắc và viết một bài báo cực hay. Một người chơi cá từng kể với tôi anh ta đọc đi đọc lại bài đó đến mức giấy rã ra.

Tuy nhiên tôi vẫn cảm thấy ăn năn mỗi lần nghe lại điệp khúc không thể tới được quê hương con cá rồng batik. Còn tận mười ngày mới đến lúc Heiko tới, để giữ đầu óc tránh xa những vấn đề trước mắt, tôi ghé thăm chùa Shwedagon, địa điểm Phật giáo được sùng kính nhất Myanmar. Ngôi chùa nằm ở trên đỉnh Yangon như một chiếc vương miện bằng vàng. Tôi tới lúc chiều tối, khi ánh hoàng hôn đang khiến ngọn tháp cao một trăm mét như rực cháy, soi tỏ hàng ngàn viên kim cương và đá quý được gắn lên phần mái trên của nó. Đám đông phật tử đi vòng quanh ngôi chùa, quỳ xuống cầu nguyện hay chụp ảnh selfie phía trước tường thần phật. Tôi theo dõi một vị sư rón rén bước qua một con gián.

Đạo Phật dạy người ta tôn trọng tất cả các dạng sống, dù nó có thấp kém đến đâu, ở đó động vật và con người được kết nối trong vòng luân hồi sinh tử và tái sinh. Khi tôn giáo này được truyền từ Ấn Độ qua Trung Hoa ở thiên niên kỉ đầu tiên, nó cũng mang theo tập tục phóng sinh cho những con vật bị bắt để tích đức. Sau khi bắt được một chú cá định dành cho bữa tối chẳng hạn, người ngư dân có thể quyết định thả nó ra.

Cũng vào khoảng thời gian này, xuất hiện những ghi chép đầu tiên về một loại cá chép thường có màu xám, dù thi thoảng lại có một con đỏ hơn xuất hiện như một mái tóc đỏ trong gia đình toàn người tóc nâu vậy. Một nghìn năm trước, những cá thể dị biệt có màu sắc sáng hơn này được coi là vật thiêng. Khi bị bắt, chúng sẽ được tha chết và thả vào những cái “hồ vị tha” trên đất chùa. Đầu thế kỉ mười ba, loại cá mới sinh ra ngắn và béo hơn, vây dài hơn và đuôi tẽ đôi - cho đến khi cá vàng mà chúng ta biết ngày nay xuất hiện. Trong một thời gian, cá vàng là đồ chơi riêng của hoàng gia. Tuy nhiên, đến những năm 1500, loại thú nuôi này đã phổ biến đến mức cả người giàu và người nghèo đều nuôi chúng trong những cái bình sứ.

Trớ trêu ở chỗ, nghi thức phóng sinh cho những con vật hoang dã lại sản sinh ra loại cá nuôi trong nhà đầu tiên, giờ đây chúng bơi lội trong những cái bình thuỷ tinh khắp thế giới với dân số lên đến hàng triệu con.

❀ ❀ ❀

Tôi cảm thấy như chính mình cũng đang bơi vòng quanh trong bể. Đám khách du lịch cùng tôi bay tới đây đều đã đi hết, hướng lên phía bắc, và nhân viên của Nhà nghỉ Quê hương 2 dường như bắt đầu nhìn tôi tò mò. Sáu ngày trước khi Heiko đến, để thoát khỏi sự nhòm ngó trong nhà nghỉ, tôi bắt một chuyến taxi ngắn để đi thăm ba con voi bạch tạng trong một ngôi làng ngoại ô. Được tôn sùng là biểu tượng của sự thanh khiết và quyền năng, ba con vật xuất hiện trong nội địa khoảng mười năm trước. Giống như những con cá thiêng ngày xưa, chúng nhanh chóng bị bắt và được trưng bày làm biểu tượng của quyền năng thiêng liêng.

Ba chú voi bây giờ ngự trong một cái đình bằng bê tông với phần mái dát vàng. Với lớp da hồng chứ không hẳn là trắng, chúng có đôi mắt to như hạt ngọc và lông màu vàng. Bị xích chân trước, chúng chỉ lắc lư lên xuống như những bệnh nhân trong viện tâm thần. Một tấm biển đề NHỜ VOI TRẮNG MÀ ĐẤT NƯỚC SẼ ĐƯỢC YÊN BÌNH, THỊNH VƯỢNG VÀ TRÁNH ĐƯỢC MỌI TAI ƯƠNG.

Tôi không chịu nổi thêm nữa. Sau khi vào xem voi cùng tôi, anh chàng nghệ sĩ hip hop kiêm lái xe taxi của tôi đề nghị dẫn tôi tới nơi ở của người chống đối nổi tiếng nhất Myanmar. Aung San Suu Kyi là con gái của vị lãnh tụ bị ám sát năm xưa, tướng Aung San. Bà bị giam lỏng trong nhà gần hai thập kỉ qua trước khi được thả vào năm ngoái. Ngôi nhà từ lầu bị coi là cấm địa của bà giờ là địa điểm du lịch nổi tiếng, theo lời anh tài xế.

Tôi bắt đầu nghĩ là không phải vậy sau khi anh ta thả tôi xuống một bãi cỏ hoang vắng nằm giữa đường cao tốc và một bức tường đá có hàng rào nhọn hoắt. Tôi đã tưởng anh ta cũng bước ra, giống như ở chỗ con voi, nhưng thay vào đó thì anh ta lại lái xe đi mất.

Tôi đi bộ tới một cái cổng đóng kín và nhìn lên tấm ảnh đen trắng của tướng Aung San, hai bên nó là máy camera an ninh chĩa thẳng vào mặt tôi. Không có đường vào. Tất cả những gì tôi có thể làm là chờ lái xe quay lại, vài phút sau anh ta về thật.

“Anh đi đâu đấy?” Tôi hỏi sau khi trèo vào xe và anh ta lái đi.

“Tôi phải đi đổ xăng,” anh ta nói. “Đừng lo. Cô không gặp rắc rối gì đâu.” Rồi anh ta thêm: “Tôi thì có thể chứ cô không sao đâu.”

Câu đó thực ra chẳng làm tôi thấy khá hơn.

❀ ❀ ❀

Tôi tự nhủ rằng mình chỉ ngày càng hoang tưởng thôi, rằng không ai quan tâm những gì tôi sắp làm đâu. Nhưng ngay hôm sau, - năm ngày trước khi Heiko đến - chuyện lạ đã xảy ra. Tôi đi xuống nhà để ăn sáng và một trong mấy cậu bé ở nhà nghỉ chào tôi như thường lệ: “Wazzzzzzzup?” (Cậu ta đón chào tất cả khách khứa ở đây bằng ngôn ngữ của họ - “Bonjour” với người Paris, “Good morning” với người London, “Wazzzzzzupp?” với người New York.) Tuy nhiên, sáng hôm đó, cậu ta còn cúi người tới và thêm vào bằng giọng tinh quái: “Cô đã đến thăm nhà của Aung San Suu Ki!”

Tôi cứng đờ cả người. Làm sao cậu ta biết được?

Khi gọi cho Jeff từ điện thoại ở sảnh, tôi kể cho anh chuyện đã xảy ra rồi lập tức thấy hối hận khi nghĩ có thể đường dây này bị nghe lén. Anh bình tĩnh khuyên tôi xem trang Wikitravel về nhà nghỉ Quê hương 2 và nói nó có vài thông tin quan trọng về bọ rệp.

Trang web không chỉ khẳng định nhà trọ có chấy rận mà còn nói rằng nó “RẤT gần gũi với chính quyền, vì nhà nghỉ này thuộc sở hữu của con rể một vị tướng cấp cao!… Vì vậy hãy cẩn thận khi gửi bưu thiếp hòm thư dưới quầy lễ tân - có thể nó sẽ bị ai đó bạn không trông đợi đọc trước…”

Tôi nhìn cậu bé phục vụ bữa sáng một cách nghi ngờ lúc ra ngoài để cho thoáng đầu óc, cố giải mã bằng cách nào cậu ta nghe được chuyện tôi đi đâu ngày hôm trước. Mặt trời nóng rực ập xuống đầu tôi, tôi bắt đầu bị mất nước và phải dừng ở một tiệm trà. Lúc tôi đến được mái chùa dát vàng ở trung tâm thành phố thì đã là đầu giờ chiều, tôi quyết định trả vé vào cửa và ngó nghiêng một chút. Ngôi đền cổ nhỏ và kém ấn tượng hơn so với vẻ bề ngoài. Tuy nhiên, ngay khi chuẩn bị ra về, tôi dừng lại để xem một huy hiệu hình con cá bằng đá quý trên một bàn thờ ở đó. Một vị sư tiếp cận tôi, tự giới thiệu và đề nghị trả lời bất kì câu hỏi nào. Anh ta cao và gày nhưng dẻo dai, ở độ tuổi hai mươi với cái đầu trọc lốc.

“Con cá này có ý nghĩa gì?” Tôi hỏi.

Nhà sư trẻ nói rằng nó là biểu tượng của lòng quả cảm. Anh ta giải thích rằng nếu không sợ hãi, mọi sinh linh đều có thể bơi qua biển khổ mà không sợ bị chìm. Rồi anh ta lại hỏi tôi có thích ở nhà nghỉ Quê hương 2 không.

“Sao anh biết tôi đang ở đâu?” Tôi hỏi, bị bất ngờ đến nỗi không thể tỏ ra lịch sự.

“Tôi đã đi theo cô,” anh ta vui vẻ nói.

“Nhưng tôi đã đi bộ hàng giờ liền rồi.”

Anh ta gật đầu, khuôn mặt vẫn giữ biểu cảm bình thản mà tôi không đọc nổi.

Tôi lẩm bẩm là mình phải đi rồi chuồn xuống cầu thang về phía lối ra. Ngay khi tôi chuẩn bị bước ra ngoài nắng, một cô gái trẻ chắn đường tôi, gí một con chim sẻ đang giãy giụa vào mặt tôi. Đầu tiên tôi không hiểu nổi việc cô ta đang làm. “Thả nó ra!” Tôi kêu lên, chính tôi cũng phải ngạc nhiên vì mức độ giận giữ của mình. Rồi tôi nhận ra là cô ta chỉ đang kiếm sống: Cô ta muốn tôi cho cô ta tiền để thả con chim này để tích đức. Tôi nhanh chóng dúi một tờ đô la bẩn thỉu vào tay cô ta và cô ta thả nắm tay ra, sinh vật nhỏ bé lao vút lên trần nhà như một thợ lặn lao lên tìm dưỡng khí.

❀ ❀ ❀

Tôi không biết liệu nhà sư kia đi theo mình vì tò mò thuần tuý hay vì lí do nào hiểm ác hơn. Quá nhiều ngày không có việc gì để làm ngoài lo lắng đã khiến tôi rơi vào trạng thái sợ ngày tận thế. Tôi quyết định bỏ nhà nghỉ Quê hương 2 và tới một khách sạn boutique mới toanh của Singapore ở trung tâm thành phố. Nó không chỉ cho tôi cảm giác riêng tư hơn mà còn có điều hoà nhiệt độ và một thú xa xỉ hơn nữa: mạng wifi, để tôi có thể liên lạc với Heiko dễ dàng hơn nếu cần thiết. Và rồi, chỉ hai ngày trước khi ông dự định đến, tôi kiểm tra email và trái tim đập thình thình trước lời nhắn trong hòm thư đến. Dòng tiêu đề là “tin tức không may, khủng khiếp.”

“Emily thân mến,” tôi đọc, “tôi cực kì (vô cùng) xin lỗi cô, nhưng tôi phải huỷ chuyến bay đến Myanmar hôm nay…”

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.