Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Ba Cartel[*] Cá Rồng

❊ ❊ ❊

[*] Trong kinh tế học, cartel là một thỏa thuận của các công ty cạnh tranh để kiểm soát giá hoặc loại bỏ một đối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường.

SINGAPORE - MALAYSIA - INDONESIA

Cá rồng chính là một trong những ví dụ điển hình nhất của nghịch lý thời hiện đại: việc nhân giống hàng loạt các loài vật có nguy cơ tuyệt chủng. Từ những năm 1990, khi chương trình chăn nuôi được khởi xướng, CITES đã theo dõi xuất khẩu hợp pháp khoảng 1,5 triệu con cá rồng châu Á, và con số đó còn chưa bao gồm các thị trường nội địa khổng lồ bên trong chính các nước nuôi cá.

Rất nhiều người Singapore dường như cảm thấy người Mỹ đã nhầm lẫn khi chọn cấm nhập khẩu một loài vật được nuôi nhan nhản như thế. “Trước khi đến đây, chắc có lẽ cô nghĩ chỉ có một hai con như loài gấu trúc nhỉ!” Martin Toh, thư kí Câu lạc bộ Cá Singapore bảo tôi, tưởng tượng ra sự ngây thơ của tôi. Tôi quen Martin qua người lái xe taxi đã đón tôi từ chỗ trại cá của Kenny. Anh ta là một người hâm mộ cá rồng không biết nói tiếng Anh và phải vật lộn để mô tả được tình yêu mình dành cho cá. Đi được nửa tuyến đường thì tài xế đưa tôi điện thoại của anh ta, và Martin đã ở đầu dây bên kia, mời tôi tới ăn tối để nói chuyện vê cá rồng. Tối đó, một người đàn ông có má lúm đồng tiền trong bộ vest đã xuất hiện ở khách sạn của tôi. Anh lái chiếc xe tải mà tôi đã có thể khẳng định ngay nó không phải chiếc xe chết chóc của một kẻ giết người hàng loạt, bởi được trang trí toàn hình cá. “Cô muốn ăn ếch không?” Anh ta hỏi.

Món ếch chiên ngon nhất hóa ra lại ở tận bên kia thành phố, trong quầy bán đồ ăn vỉa hè ở một khu dân cư. Các chung cư ở đây giống như một dạng nhà ở xã hội và khoảng 80% dân số Singapore đang sinh sống trong các tòa nhà như thế này. Trong lúc chúng tôi lái xe đến đó, Martin nói với tôi rằng các căn hộ được trợ cấp vừa chật chội vừa ngột ngạt. Anh lấy làm bực bội vì các nhà chức trách về nhà ở không cho phép họ giữ các bể cá quá một mét hai.

Cuộc sống ở Singapore tiện lợi nhưng bị kiểm soát chặt chẽ: tụ tập quá năm người ở nơi công cộng phải xin giấy phép, điều đó khiến các câu lạc bộ chơi cá gặp nhiều vấn đề. Martin là một giám đốc bán hàng cho Exxon, mới ba mươi lăm tuổi, đã có vợ và hai con, anh tìm đến thú chơi cá cảnh như một lối thoát cho cuộc sống. “Ai nấy đều rất tốt,” anh ta nói, “trừ khi cô bắt đầu nói: “Cá của tôi đẹp hơn cá của anh.”

Anh ta kể với tôi, bởi ở đây quá thiếu phương tiện để xả căng thẳng nên đã có khá nhiều vụ cãi cọ liên quan đến cá. Đôi khi những bất đồng này còn dẫn tới các trò chơi xấu. Anh bạn Colin Lim của Martin vừa mất cả một hồ đầy cá rồng, giá trị ước tính cả 30 ngàn đô la, và anh ta nghi chúng bị đầu độc. Sau này, khi tôi tim gặp Colin, một kĩ sư tài năng với cái bĩu môi buồn thảm, anh tâm sự rằng anh đã tìm được một thùng bột clo rỗng ở gần hồ cá trong trụ sở câu lạc bộ của mình. Tôi hỏi ai lại muốn giết lũ cá của anh ta, anh chỉ nhún vai và nói không có dấu vết gì. “Bọn họ biết cá của tôi sắp đẻ,” anh ta thì thào cứ như điều đó giải thích tất cả vậy.

Những âm mưu lắt léo xung quanh loài cá rồng thường làm cho người ta khó tìm được câu trả lời thẳng thắn. Chẳng hạn như Martin không chịu nói cho tôi biết anh ta có cả thảy bao nhiêu cá rồng, chỉ bảo: “Tôi không đếm xuể.” Khi bị thúc ép, anh ta nói thêm: “Cô đang hỏi người khác có bao nhiêu của cải đấy. Thế không hay chút nào!” Thay vì cho tôi xem đàn cá rồng của riêng, anh ta lại dẫn tôi đi xem cá của người khác, giới thiệu tôi với chủ của một công ty tuyển dụng vẫn khoe khoang chuyện mình có tới hàng trăm con cá, vài chục con trong số đó đang bơi lội trong những cái bể đặt ở cửa sổ mặt trước văn phòng ông ta. Vì loài này được nuôi phổ biến khắp thành phố, chưa nói đến các cơ sở nhân giống ở khắp khu vực, Martin cho rằng nó không thực sự gặp nguy cơ tuyệt chủng.

Tuy nhiên, sự thật là chẳng ai tính đến số lượng cá nuôi làm cảnh cả - ít nhất là theo các nhà sinh vật hoang dã. “Một con cá nuôi nhốt chẳng khác nào cá chết nếu xét từ quan điểm bảo tồn sinh vật,” giám đốc khu vực Đông Nam Á của tổ chức TRAFFIC Quốc tế Chris Shepherd nói với tôi như vậy, lập luận rằng chẳng ai lại mang một con cá rồng cảnh trở lại môi trường tự nhiên của nó trước khi chọn lọc nhân tạo làm cho việc đó thành bất khả thi cả - hơi giống như việc ném một chú chó chồn[*] xuống lãnh nguyên[*] vậy. Shepherd gọi các trang trại thương mại nuôi những loài sắp tuyệt chủng là “cơn ác mộng” của mình, bởi nó mở ra một kẽ hở cho việc buôn lậu: Các loài vật bị bắt trộm trong thiên nhiên sẽ được bán đi dưới cái mác vật nuôi. Cuối những năm 1990, ông đã điều tra việc buôn bán cá rồng và phát hiện ra rất nhiều trang trại có buôn lậu cá tự nhiên.

[*] Loài chó giống chồn, mình dài, chân ngắn.

[*] Những vùng Bắc Cực trơ trụi bằng phẳng rộng lớn của châu Âu, châu Á và Bắc Mỹ, nơi tầng đất cái đã bị đóng băng vĩnh cửu.

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế, Singapore nằm trong tốp đầu các quốc gia ít tham nhũng nhất trên thế giới. Thế nhưng rất nhiều cá cảnh có xuất xứ từ các nơi khác ở Đông Nam Á đã được thông quan tại đây. Khoảng 95% cá rồng châu Á được xuất đi khắp thế giới từ các trang trại cá ở hai nước láng giềng Malaysia và Indonesia, nơi giá lao động bèo bọt, đất đai phì nhiêu hơn và tệ tham nhũng phổ biến hơn.

Một tuần sau khi tới Singapore, tôi rời đảo quốc này và tiến lên phương bắc, vượt qua eo biển Johor vào đất Malaysia để ghé thăm nhà sản xuất cá rồng lớn nhất nước này, một công ty có tên là Xian Leng (phát âm là xi-an leng). Mãi đến sau này tôi mới biết đó là cả một sự kiện may mắn, bởi một vị giáo sư của trường Đại học Malaya kể với tôi rằng ông từng phải đóng giả làm một tay chơi cá giàu sụ thì mới được phép nhìn thoáng qua các trại cá của Xian Leng. Ông đã sốc khi tôi kể với ông rằng công ty này cử hẳn một tài xế lái BMW đen đến Singapore đón tôi.

Thực ra, họ không gửi BMW đến rước tôi mà để đón một người mua Nhật Bản mới bay từ Osaka sang, tôi chỉ là người được mời đi cùng vị khách này mà thôi. Cả sự việc này nữa cũng là điều may mắn đặc biệt. Những nhà sưu tầm hàng đầu Nhật Bản vốn nổi tiếng là sành sỏi và kín miệng, đa phần trong số đó nghe đồn là thành viên yakuza, một dạng tội phạm có tổ chức của Nhật. Trong lúc nghiên cứu, tôi đã xem bộ phim Nhật phát hành năm 1993 có tên là Cá rồng chiên. Bộ phim là câu chuyện hư cấu kể về một nữ thám tử được thuê để lần theo dấu con siêu cấp huyết long, nhưng lại rơi vào lưới tình với một tên anh chị nắm vai trò chủ chốt trong đường dây buôn lậu cá. Cặp đôi cùng nghe Mahler[*] trong lúc đút cho nhau ăn món cá cảnh quý hiếm. Tôi phải đồng ý với các nhà bình phim rằng bộ phim “vô cùng tệ hại,” nhưng nó cũng đã gieo chút ý tưởng vào đầu tôi về kiểu người Nhật tôi sắp gặp: vest đen, xăm trổ, thiếu mất ngón út.

[*] Tên một nhà soạn nhạc giao hưởng người Áo.

Thay vào đó, con người bước vào sảnh đến của sân bay Changi ở Singapore trông chẳng khác gì một cậu thiếu niên. Anh ta mặc quần bò thiết kế và để tóc mái dài chấm lông mi. Tôi không phải người duy nhất thấy kinh ngạc. Tài xế của Xian Leng nhìn chằm chằm vẻ khó tin rồi vừa cười vừa hỏi: “Cậu bao nhiêu tuổi rồi?”

“Ba mươi,” người mua kia nói với vẻ phẫn nộ rõ ràng. Rồi anh ta chỉ ngón cái vào tôi hỏi: “Cô ấy là ai?”

Tên của người mua này là Satoru Yamamoto; và mặc dù anh đích thực là một người sành sỏi về cá rồng cao cấp, nhưng hóa ra anh ta không phải nhà sưu tập tư nhân. Thay vào đó, anh giống như một người môi giới nghệ thuật trong ngành cá cảnh và làm việc cho Công ty Công nghiệp Cá Kamihata, doanh nghiệp cá cảnh lớn nhất Nhật Bản. Tôi tìm hiểu được điều này trong lúc chúng tôi đi ô tô ra khỏi Singapore, lái thêm hai tiếng lên phía bắc để tiến vào bán đảo Johor ở cực nam của Malaysia. Ngành công nghiệp cá cảnh ở đây bùng nổ từ những năm 1950, khi người ta còn đánh bắt cá hoang dã từ những dòng suối trong rừng. Ngày nay khu rừng ấy gần như đã biến mất, thay vào đó là các nông trường trồng cây cọ dầu để sản xuất ra loại dầu thực vật được dùng trong quá nửa các sản phẩm đóng gói ở siêu thị. Trong những năm gần đây, loại cây này được trồng rộng rãi ở Malaysia và Indonesia. Tuy nhiên, trong con mắt ngây thơ của tôi, những dãy cọ dầu dài bất tận này trông hấp dẫn theo kiểu nhiệt đới - cứ như một thiên nhiên hoang dã được sắp đặt gọn gàng vậy.

Đến chiều, chúng tôi tới được thị trấn Batu Pahat, ở đây chúng tôi được gặp Ng[*] Huan Tong, là nhà sáng lập và giám đốc điều hành Xian Leng. Báo chí đã phong cho Ng là phiên bản Kenny Ông Cá của Malaysia, chỉ ra rằng cả hai người đàn ông cùng là con của gia đình nông dân chăn nuôi lợn, và đều là những người đầu tiên mang trang trại cá cảnh lên sàn chứng khoán của nước mình. Kenny ra mắt năm 2000, một năm sau đó Ng tiếp bước, đưa công ty của mình lên sàn chứng khoán Kuala Lumpur.

[*] Phát âm là “Nghinh”.

Nhưng sự giống nhau của họ chỉ dừng ở đó. Trong khi Kenny xây dựng hình ảnh bản thân là một tay chơi hào nhoáng, khăng khăng bảo mọi người gọi mình là Kenny hoặc Ông Cá, thì Ng sống cùng vợ và sáu đứa con ở tầng trên cửa hàng cá cảnh và chắc chắn là một “ông Ng” rất truyền thống. Không như Kenny, trông ông ta thật sự giống một nông dân, đậm người, hơi khòng, tóc mỏng và khuôn mặt dãi dầu mưa nắng. Ông bỏ học năm 1971, khi mới mười ba tuổi, để giúp việc ở quán ăn của gia đình sau khi họ bỏ việc nuôi lợn. Trong những năm cuối của thời niên thiếu, ông bắt đầu nuôi cá nhiệt đới trong sân nhà và thành lập Xian Leng sau khi phát hiện một con cá rồng của mình bắt đầu sinh sản.

Năm 2002, một năm sau khi lên sàn, ông Ng bán một con cá được quảng cáo là đắt nhất mọi thời đại - một con cá rồng bạch tạng có đôi mắt đỏ. Tin tức nói rằng con cá mang về 20 triệu yên (khoảng 150.000 đô la Mỹ) từ một người mua Nhật Bản ẩn danh. Hồi đó, công ty của Ng chỉ có vài đối thủ cạnh tranh. Ngày nay nó phải đua chen với hơn tám mươi trang trại ở Singapore, Malaysia và Indonesia, dẫn đến việc cạnh tranh giá rất khó khăn. Nếu Kenny luôn tươi cười và ca tụng slogan của công ty: “Chúng tôi mang niềm vui đến cho bạn!” thì biểu cảm thường trực trên khuôn mặt ông Ng là nỗi lo. Ngay cả khi cười, trông ông cũng như đang nhăn nhó.

Tối đó, trong lúc dùng bữa tôi với món cà ri đầu cá ở một nhà hàng sân vườn bên cạnh cửa hàng nhà mình, ông Ng đã thẳng thắn thừa nhận với tôi rằng ông hối hận vì đã lên sàn. “Tôi đã tưởng đời còn chưa đủ thử thách,” ông nói và nuốt một ngụm bia. Giờ lúc nào ông cũng phải chịu sức ép của Hội đồng quản trị. “Các ngành kinh doanh khác, sau khi lên sàn có thể tăng gấp đôi hay gấp ba và hơn thế nữa. Ngành nông nghiệp thì không thể.”

Ông giải thích rằng đó là lí do vì sao ông cần một thị trường Mỹ mở cửa, chính vì thế ông mới quyết định cho tôi tham quan các trang trại cá thường đóng cửa im ỉm của mình. Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là quốc gia nhập khẩu nhiều cá cảnh nhất từ mọi nơi trên trái đất, nhưng đã kiên quyết cự tuyệt việc kinh doanh hợp pháp các loài vật nằm trong danh sách gặp nguy cơ tuyệt chủng. Ng muốn chỉ cho tôi thấy cả một bầy cá rồng đông đảo đang sinh sôi nảy nở trong các hồ cá của mình.

Tám giờ sáng hôm sau, ông tới đón Satoru và tôi trong một chiếc xe jeep màu xanh, và chúng tôi khởi hành đi qua những ngọn đồi xanh rì, những ngôi nhà màu hồng và một đám nữ sinh đeo khăn quàng đồng phục màu nâu, cả đám phải nhảy lên lề đường để tránh xe chúng tôi. Sau cùng, chúng tôi cũng rẽ vào một con đường đất chạy xuyên qua nông trường cọ dầu. Nằm khuất sau đám cây là một trang trại rộng năm mươi mẫu Anh[*], bao quanh bằng hàng rào thép. Bên trong trại, chín mươi sáu hồ cá đào trên lớp đất đỏ sáng lấp lánh như những viên ngọc hổ phách dưới ánh mặt trời buổi sáng. Khoảng năm ngàn con cá rồng - lứa trưởng thành - đang ẩn nấp dưới mặt nước màu nâu đó, thỉnh thoảng lại bật lên không trung để bắt những con gián sống mà các công nhân ném cả vốc xuống hồ. Ng tin rằng chính thực đơn đặc biệt này đã mang lại màu sắc đặc trưng cho cá của ông. Ông tự mình nuôi lũ gián trong một nhà kho có mùi ngọt ngào kì lạ, để lũ gián phát triển thành số lượng lớn trong những ngăn gỗ hở.

[*] Đơn vị đo diện tích, 1 mẫu Anh bằng khoảng 4.000 mét vuông.

Lúc này ông dẫn chúng tôi vào một nhà kho rộng hơn thế nhiều, chứa hàng dãy bể cá, mỗi bể chứa một con cá rồng duy nhất to hơn một cái kẹo dẻo cá Thụy Điển[*] rất nhiều, mặc dù ít màu sắc hơn. Đáng lẽ những con cá này phải có màu vàng - loài đặc trưng của Malaysia - nhưng trông chúng lại ánh lên màu bạc với những cái vây hoe vàng.

[*] Tên một thương hiệu kẹo dẻo nhiều màu hình con cá.

Điểm mạo hiểm khi mua một con cá rồng non là bạn không thể biết được lớn lên trông nó sẽ như thế nào. Bọn cá này không “trổ mã” thành màu sắc trưởng thành của chúng mãi cho đến khi tới độ sinh sản chín muồi, mà giai đoạn này kéo dài tới ba năm với cá rồng kim long và sáu năm với huyết long.

Việc của Satoru là nhìn vào một con non trông giống hệt các con non khác và tiên đoán tương lai của nó. Trán anh ta lấm tấm mồ hôi, anh đã bắt đầu bằng cách loại các khiếm khuyết không thể chấp nhận được. “Vây bụng bị rách,” anh ta nói, chỉ vào một con và vẽ chữ X lên bể cá bằng bút màu đỏ.

“Đầu có u,” anh ta nói về con tiếp theo.

“Con này có tật ở mắt. Mắt trái không đều.”

“Môi dưới bị trề.”

“Vây tẽ.”

Cuối cùng, anh ta dừng lại ngưỡng mộ con cá thứ sáu. “Con này có màu ánh kim đậm,” anh ta nói rồi lắc đầu nuối tiếc. Những điểm màu trắng nhờ chỉ ra rằng đuôi con cá đã từng bị gãy. Rốt cuộc, anh ta đánh dấu MUA cho mười cái bể. Ng có vẻ chán nản. Ra ngoài, ông thì thầm bảo tôi rằng thường thì công ty của Satoru phải đặt hàng ít nhất một trăm con.

Nhìn toàn cảnh trại cá yên bình, chính tôi cũng không khỏi thất vọng phần nào. Với từng ấy lời đồn thổi về buôn lậu, cướp bóc và tội phạm có tổ chức ở Malaysia, tôi đã tưởng mình sẽ bước vào một vùng Viễn Tây đầy bọn trộm cá cơ. Thay vào đó, Ng dành cả buổi chiều đưa chúng tôi đi qua vùng thôn quê yên bình, Satoru thì gà gật ở ghế trước. Chúng tôi không chỉ thăm các trại cá rồng mà còn cả khu nhân giống cá vàng, cá bảy màu cũng như đủ loại cá kì lạ bất ngờ khác. Có lúc, Ng chỉ vào một chú cá y hệt chiếc pancake màu đen bé xíu trong cái hồ nông và nói với tôi một cách trìu mến: “Cá đuối con. Mới sinh sáng nay. Chưa từng trông thấy thế giới.”

❀ ❀ ❀

THEO TỔ CHỨC CÁ CẢNH QUỐC TẾ, ngành kinh doanh này giao dịch số lượng loài lớn hơn nhiều so với bất kì một ngành công nghiệp nào khác: hơn bảy ngàn loài. Những loại cá biển nuôi nhốt trong các bể nước mặn gần như đều được đánh bắt ngoài đại dương, nhưng cá nước ngọt chiếm tới 90% lượng cá được buôn bán. Trong số đó lại có 90% là cá sinh ra từ các trang trại, chủ yếu ở châu Á.

Dường như với tôi, đó lại là một điều tốt đẹp, khi phần lớn cá cảnh không phải do người ta bắt về từ thiên nhiên nữa. Tuy nhiên, các ý kiến chỉ trích lại cho rằng ngành chăn nuôi này làm mất đi lợi ích kinh tế trong việc bảo tồn thiên nhiên. Hãy lấy Malaysia làm ví dụ. Đất nước này hầu như không để ý gì đến việc bảo tồn các con suối nhỏ trong rừng, cũng chính vì vậy mà ngay từ đầu, nơi đây đã là trung tâm hoạt động buôn bán cá cảnh.

Khi tôi nhận ra lúc này mình đang ở đất nước của cá rồng - chính nơi quê hương nguồn cội của loài cá này - tôi đã hỏi liệu nó có còn sinh sống trong các dòng sông ở địa phương không. “Không còn cá rồng đâu,” Ng bảo tôi. “Hiếm lắm.”

Đến một trong các điểm dừng của chúng tôi, Ng đã giới thiệu tôi với Raymond Cheah, Chủ tịch Hiệp hội Cá Liên bang Malaysia. Ông là một người hiền lành với đôi mắt sáng và rất yêu thích cá bảy màu. Ông còn mời tôi đi cùng trong chuyến thu thập cá và các thực vật thủy sinh từ vùng thôn quê chung quanh. Vài ngày sau đó, tôi gặp Raymond và một người chơi cá ở Phần Lan mới ghé thăm tên là Tor Kreutzman. Người đàn ông này cao lớn vạm vỡ, có mái tóc trắng phau và bộ râu đen, ông luôn dành những kì nghỉ của mình để săn tìm các giống cá quý hiếm.

“Hồi tôi tới đây vào những năm 1980, chẳng có gì ngoài đỉa,” Tor bảo tôi trong lúc chúng tôi lái xe trên một đường cao tốc đẹp đẽ. “Khoảng mươi mười hai năm trước, con đường này mới chỉ có một làn xe chạy.” Ông nhớ lại hồi ấy còn rất nhiều cheo cheo[*] chỉ to cỡ con chó nhỏ.

[*] Tên một loại động vật nhỏ, họ nai, hiện nay chỉ còn tìm thấy ở các cánh rừng nhiệt đới ở châu Phi, Ấn Độ và Đông Nam Á.

“Giờ chẳng còn mấy đâu,” Raymond nói sau tay lái chiếc xe tải.

“Chúng đã bị ăn thịt,” Tor nói.

Trong bữa sáng, Raymond nói ở quanh đây chúng tôi có thể mua được bất kì loại đặc sản nào: thịt hổ, thịt voi, kể cả gấu chó. “Việc đó là bất hợp pháp,” ông nói, “nhưng nếu cô quen người chủ…” Sau đó ông nhắc thêm rằng mỗi năm có ít nhất một người dân ở đây bị hổ ăn thịt. Vài năm trước còn có người bị trăn nuốt chửng.

Tuy nhiên, không còn dễ tìm được những khu rừng rậm nữa. Chúng tôi đi qua những tấm biển cảnh báo có voi đi ngang nhưng chẳng thấy voi đâu. Khỉ nhảy nhót trên cây ở hai bên vệ đường, tụ tập trong một vạt rừng thưa trông giả tạo y như hậu trường phim điện ảnh. Cuối cùng, chúng tôi phải đi bộ qua một nông trường cọ dầu, ở đó Tor dùng một cái lưới nhỏ để bắt cá chọi Xiêm từ một con lạch đầy bùn. Raymond nói ngày trước ở con sông gần đó từng có cá rồng màu xanh, nhưng giờ không còn nữa. “Bởi số tiền trả giá cho chúng,” ông nói. “Cái giá rất, rất điên rồ.”

Một cách nữa để những con cá cảnh được chăn nuôi trở nên phản lại những người anh em hoang dã của chúng chính là mức độ phổ biến tăng lên khi chúng được nuôi nhiều. Thay vì kiềm chế bớt cơn cuồng cá rồng châu Á, việc nhân giống thương mại cho loài này dường như càng thổi phồng thêm tên tuổi chúng, làm nảy sinh hàng loạt các vụ trộm bắt đầu từ những năm 2000. Trong một khoảng thời gian, tôi đã tự hỏi có phải những tội ác này đã thuộc về quá khứ. Cả Ng và Kenny Ông Cá đều chẳng nhắc gì đến các vụ trộm cướp. “Ăn trộm một con cá không đơn giản như trộm một món đồ trang sức đâu,” Kenny bảo tôi.

Tuy nhiên, Raymond mách tôi rằng chẳng ai muốn nhắc về mặt tối của việc kinh doanh cá cảnh cả. “Hầu hết những người nuôi cá rồng đều rất kín tiếng,” ông nói. “Họ chỉ kể với cô một nửa thôi, và sau đó họ dừng lại.” Để cho tôi thấy chuyện thật, ông đưa tôi tới gặp bạn mình là Tony Tan. Ông này là chủ nhân của một trang trại có tên Tập đoàn Cá rồng châu Á Wo Long. Lại nép mình trong một nông trường cọ dầu khác, nơi đó không khác gì một doanh trại quân đội: chẳng có gì ngoài một bức tường bê tông cao vút cắm hàng rào thép gai. Một tháp canh nổi lên trên cổng chính, và một loạt những tiếng sủa dữ tợn chào đón chúng tôi, mặc dù chẳng thấy tăm hơi lũ chó đâu vì chúng bị nhốt trong chuồng đến tận đêm.

Khi cánh cổng hé mở, Tony lao về phía xe tải của chúng tôi. Ông có dáng người dẻo dai, rắn chắc, da đen sạm vì nắng và miệng ngậm một điếu thuốc. Trước đây ông từng là thợ sửa xe hơi và đã khởi nghiệp nuôi cá “kiểu hảo hán” như ông vẫn nói, tức là từ con số không và tự mình làm nên tất cả. Đầu tiên, ông nuôi cá vàng và cá koi. Nhưng lũ này chỉ lãi được chút ít, nên ông chuyển sang cá rồng, dù việc ấy không hề dễ dàng.

Chỉ vào ba công nhân đang vá một cái lỗ trên hàng rào lưới màu xanh, ông kể với tôi rằng mới hai tuần trước, một tên trộm đã trèo qua tường trại và cắt thủng hàng rào, trộm mất ba mươi con cá trong đêm. Ông nói vụ đó chẳng thấm là bao nếu so với vụ việc từ ba năm trước, mười gã có vũ trang đã xông vào trại của ông vào một đêm nọ. Chúng xông qua cổng, gí một khẩu súng vào thái dương ông, rồi trói ông lại cùng bảy công nhân khác. Bọn cướp trong bốn giờ đã bắt hết cá và đưa chúng vào một cái xe tải. Có lúc chúng còn nghỉ giải lao để nấu nướng và lấy trứng gà của Tony ăn. Lúc hai giờ sáng, khi cuối cùng chúng cũng bỏ đi, chúng đã bắt được tổng cộng 60 con cá lớn và 402 con non. Đó là vụ cướp có vũ trang thứ hai ở trại này. Trong một thập kỉ nuôi cá rồng, Tony nói ông từng bị cướp tám lần.

Tôi hỏi ông nghĩ kẻ nào đã bắt cá. “Bọn chúng là dân chuyên nghiệp đấy,” ông nói, đoán rằng lũ cá có thể đã bị đưa lậu lên phương bắc qua biên giới Thái Lan. Ông từng trình báo năm vụ với cảnh sát, nhưng chẳng ích gì. “Tôi rất thành thật. Có sao nói vậy, Chính phủ của chúng tôi chẳng làm được gì. Họ chỉ biết cái này thôi.” Ông xoa hai ngón tay vào nhau để ám chỉ tiền.

Theo lời Tony, sự việc đáng sợ nhất xảy ra khoảng năm tháng trước khi tôi đến, khi mười lăm gã xông vào trại vào một buổi chiều, đe dọa sẽ bắt cóc và tra tấn ông nếu ông không kí khống các giấy tờ bảo chứng việc chuyển nhượng nửa triệu đô la Mỹ. Ông đã kí. Sau khi chúng bỏ đi, ông đã chặn giao dịch chuyển tiền. Tên thủ lĩnh trẻ của một băng nhóm địa phương đã bị bắt và ở tù bốn ngày trước khi được bảo lãnh tại ngoại để chờ xét xử.

Tối hôm đó, khi chúng tôi ăn tối cùng Tony với món cá chuối rán giòn, tôi hỏi ông đã bao giờ đụng mặt kẻ tấn công trong thị trấn chưa. Ông chỉ qua cửa nhà hàng vào con phố tối om bên ngoài và bảo: “Xe của nó kia kìa.”

“Đó là lí do tôi không thích nuôi cá rồng,” Raymond thì thầm. “Ít nhất ban đêm tôi có thể an tâm ngon giấc.”

❀ ❀ ❀

NHỮNG CÂU CHUYỆN ĐEN TỐI quanh loài cá rồng khiến người ta chóng mặt và thật khó hòa hợp với bức tranh lớn hơn về thú vui này. Chắc chắn những người chơi cá mà tôi từng gặp đểu vô hại. Họ tự gọi mình là hội cuồng cá rồng, chưng những hình xăm cá tạm thời, và lên các diễn đàn mạng để thể hiện niềm đam mê của mình bằng loạt các biểu tượng cảm xúc. Rất nhiều người nói về việc nuôi cá như một cách xả căng thẳng tuyệt vời, mang đến sự bình yên và điềm tĩnh.

Đêm trước khi tôi rời Singapore, Martin từ Câu lạc bộ Cá đưa tôi tới căn hộ của cha anh. Căn phòng được trang trí bằng ván ốp màu đỏ bóng lộn để tô điểm thêm cho con siêu cấp huyết long. Chúng tôi ngồi ở bàn ăn, tắt hết đèn, cùng nhấm nháp soda cam và ngắm nhìn bể cá được chiếu sáng. Martin coi trọng việc tôi được chiêm ngưỡng con cá đúng cách, để tôi “hiểu” được anh thấy gì trong một con cá rồng.

“Hãy tưởng tượng giờ là một giờ sáng,” anh hướng dẫn tôi bằng giọng nhẹ nhàng. “Cô đang căng thẳng. Cô vừa bị sếp mắng… Giờ hãy ngắm con cá.” Bàn tay anh lướt êm trong không trung. “Hãy nhìn cái đuôi chuyển động.”

Đúng là tôi bị hút về phía những cử động uyển chuyển của thân thể uốn lượn ấy một cách kì lạ. Nhưng tôi không thể tưởng tượng được chuyện mình ngắm nhìn một con cá hàng giờ mỗi đêm, như rất nhiều người chơi cá vẫn kể. Tất nhiên, tôi còn chẳng phải một người nuôi cá điển hình chứ chưa nói đến fan cuồng cá rồng. Thú nuôi cá thường là trò của đàn ông, đặc biệt lại là cá rồng nữa. “Cá rồng là cái thú của đàn ông,” Ng Huan Tong đã nói với tôi như vậy khi ở trang trại của ông. “Đàn bà không thích những sinh vật như vậy.” Một người Malaysia khác mô tả loài này như một kẻ bất kham: “Nó rất hung dữ. Nó là một chàng cao bồi, giống Nhóc Billy[*] ấy.” Ông ta bắn ngón tay vào không khí rồi gọi cá rồng là “Ronald Reagan của loài cá.”

[*] Biệt danh của một nhân vật sống ngoài vòng pháp luật có thật trong lịch sử nước Mỹ.

Tên của Reagan có vẻ được nhắc đến nhiều thật - có lẽ vì hình ảnh cao bồi của chính ông, hoặc vì cá rồng châu Á bắt đầu nổi lên từ thời kì của Reagan hồi thập kỉ 1980. (Trùng hợp ở chỗ Reagan cũng là vị tổng thống Hoa Kỳ duy nhất mang một Đệ nhất Ngư[*] vào Nhà Trắng - một con cá vàng tên là Ron, sống trong cái bình có dấu triện của tổng thống.)

[*] Tác giả dùng chữ First Fish trong nguyên tác để chơi chữ, vì những thứ liên quan đến tổng thống Mỹ đều được gắn thêm từ First, chẳng hạn như First Lady, First Daughter…

Một biểu tượng khác của thập kỉ 1980 thường được nhắc tới là Rambo. Tôi để ý thấy kiểu đứng tiêu chuẩn của các nông dân - thậm chí cả vài dân chơi hạng nặng - khi khoe một con cá rồng trong hồ giống cách ôm khẩu bazooka ghê gớm. Hình ảnh thường được đưa lên các danh thiếp hay tài liệu quảng bá, trong đó người nuôi đứng trong nước hồ ngập đến bụng, một tay tóm phần gần đuôi (không phải việc dễ dàng gì, tốt nhất phải đeo găng thật dày khi làm) kẹp dưới nách còn tay kia kẹp đóng chặt miệng con vật, rồi ôm nó ngang người như ôm súng.

Tất cả những việc này dường như đều ngốc nghếch và hiền hòa - chỉ là đóng giả làm anh hùng - đến nỗi thật khó để tin những chuyện đen tối quanh cá rồng là thật. Tuy nhiên, quả thật người ta đồng thời cũng cảm nhận được một chút hung hiểm gắn liền với loài cá này. Một nhân vật trong nghị viện Malaysia từng báo cáo về “lời đe dọa” dưới hình thức tin nhắn có chứa ảnh chụp một con cá rồng đã chết. “Giờ tôi lo ngại cho sự an toàn của bản thân,” ông ta kể với báo chí.

Có đầy rẫy những lời đồn về bạo lực liên quan đến cá rồng. Vụ tồi tệ nhất mà tôi xác thực được chính là thảm án Chan Kok Kuan ba mươi mốt tuổi bị đâm đến chết. Anh là một thợ hàn chuyển sang mở cửa hàng cá cảnh ở miền bắc Malaysia. Năm năm sau vụ án, người ta vẫn không bắt được kẻ sát nhân (hay những kẻ sát nhân.) Sau chuyến xe buýt dài ba giờ từ thủ đô Kuala Lumpur tới thăm quê nhà Taiping của Chan, tôi tìm thấy cửa hiệu năm xưa nay đã đóng cửa. Sau này, khi tôi liên lạc được với gia đình nạn nhân, người cha Chan Ah Chai giải thích rằng từ ngày phát hiện ra thi thể bị chém nát của con trai, ông đã yêu cầu đóng cửa nơi ấy vĩnh viễn và nói: “Buôn cá là một nghề vừa nguy hiểm vừa bấp bênh.”

Taiping chỉ cách hồ Bukit Merah có ba mươi hai kilômet, theo lời đồn đây là nơi sinh sống của loài kim long. Trải rộng trên diện tích bảy ngàn mẫu Anh, khoảng nước xanh rờn rộng bao la ấy được cho là một trong những nơi cuối cùng trên mảnh đất Malaysia vẫn còn tồn tại cá rồng hoang dã. Tuy nhiên, khi tới, tôi thấy đó chẳng còn là thiên nhiên hoang dã nữa, thay vào đó là một khu nghỉ dưỡng khổng lồ có những cầu trượt nước, các trò chơi trong lễ hội, nhà hàng bán thức ăn nhanh trên các cầu cảng sáng rực. Ở ngôi làng gần đó, một ngư dân kể với tôi hồi thập niên 1990 ông đã bắt được biết bao cá rồng ở đây, nhưng giờ chúng đã biến mất: “Chẳng còn con nào cả.” Gần đây, một người chủ trì chương trình thực tế về cá đã phải bí mật thả một con cá rồng nuôi xuống hồ để giả vờ bắt được nó trên sóng truyền hình.

Tôi đã bắt đầu có cảm giác loài quái vật bí ẩn ở đây không phải những con cá rồng được định giá cao đang bơi trong các bể kính ở khắp nơi trên thế giới, mà chính là một con cá rồng hoang dã. Câu chuyện này giống như truyền thuyết Quái vật chân to hay Quái vật hồ Loch Ness vậy - một sinh vật mà người ta vẫn bàn tán và tin là có thật nhưng chưa ai thực sự nhìn thấy. Tất nhiên cũng có người tuyên bố rằng đã trông thấy chúng. Anh chàng Martin của Câu lạc bộ Cá kể với tôi là đã từng thấy một con cá rồng ở Bukit Merah trong lúc đi nghỉ ở đấy. Tuy nhiên, lúc bị hỏi dồn, anh ta lại cười có vẻ không thoải mái và chữa ngượng: Anh ta chỉ nhìn thấy một thoáng lấp lánh vàng dưới mặt nước.

Với tôi, có vẻ như nếu thực sự tồn tại cá rồng hoang dã, có thể chúng sẽ sống ở một vùng xa xôi, kém phát triển hơn nhiều. Trong lúc đứng ăn McDonald giữa những cây hương bồ đong đưa và ngắm màn sương sớm từ dưới hồ bay lên, tôi nghĩ mông lung biết đâu không phải loài kim long từng phát triển mạnh ở những vùng này, mà chính là con siêu cấp huyết long trong truyền thuyết, con Ferrari trong các loài cá, đến từ Indonesia. Theo một nghĩa nào đó, tôi cảm thấy siêu cấp huyết long mới là một con cá rồng thật sự, chính nó mới thúc đẩy thị trường cá rồng nở rộ và thu hút cơn cuồng màu đỏ của người Trung Quốc. (“Đó là lí do Pepsi không xâm nhập nổi vào châu Á,” Martin đã giải thích với tôi rằng một lon nước màu xanh dương không có cơ hội chiến thắng nào trước lon Coca màu đỏ.) Alex Chang, nhà khoa học đứng đầu nhóm nghiên cứu của Kenny Ông Cá, đã bảo tôi rằng vẫn có khả năng bắt gặp một con siêu cấp huyết long đâu đó nhảy bật lên khỏi mặt nước ở đảo Borneo. Bản thân cái tên ấy đã nhuốm mùi phiêu lưu không thể nhầm lẫn, gợi cho người ta liên tưởng tới những cánh rừng nguyên sinh chứa đầy sinh vật huyền bí. Tôi nuốt nốt mấy miếng khoai tây chiên cuối cùng và quyết định rằng hòn đảo trứ danh kia sẽ là điểm đến tiếp theo - để truy tìm một con cá rồng hoang dã.

❀ ❀ ❀

ĐÁNG LẼ TÔI PHẢI NHẬN RA Borneo không phải một nơi nhỏ bé. Nó gần như là một tiểu lục địa - là hòn đảo lớn thứ ba thế giới và là viên ngọc quý của Quần đảo Mã Lai, một quần thể gồm hơn hai mươi lăm ngàn đảo lớn nhỏ nằm giữa Đông Nam Á và nước Úc. Trong hầu hết thiên niên kỉ vừa qua, Borneo bị tách biệt khỏi phần còn lại của thế giới. Những người Âu Châu đầu tiên đặt chân lên đảo vào năm 1521 là một bộ phận trong đội tiên phong của Magellan trên hành trình vòng quanh thế giới (dù bản thân Magellan đã không thể đi xa đến thế, do đã bị giết ở Philippines). Tuy nhiên, người thời đó đã không thể vượt qua nổi địa hình lầy lội trên đảo. Mãi đến thế kỉ mười chín, người Hà Lan và người Anh mới lần đầu tiên thật sự khám phá được hòn đảo.

Ngày nay có ba quốc gia cùng chia nhau đảo Borneo: Indonesia, Malaysia và vương quốc giàu trữ lượng dầu mỏ Brunei. Vương quốc nhỏ bé này thậm chí còn sở hữu một trang trại rộng hơn chính nó ở Úc. Siêu cấp huyết long tới từ Kalimantan - Borneo thuộc Indonesia - vốn chiếm phần lớn của đảo, tức hai phần ba diện tích ở phía nam. Trong cuốn sách hướng dẫn du lịch của tôi, Kalimantan xuất hiện như một khu vực xám xịt trống trơn, điểm thu hút du lịch duy nhất của nó là một khu bảo tồn đười ươi ở mũi phía nam. Địa điểm Pontianak thậm chí còn chẳng được nhắc tới. Nó là một thành phố cảng xù xì với nửa triệu dân, nằm nép mình trên dải đồng bằng toàn đầm lầy của sông Kapuas vĩ đại, nơi tôi mong đợi sẽ tìm được con siêu cấp huyết long.

Người ta bảo các nhóm cướp có vũ trang vẫn lượn khắp dòng sông này để tấn công vào những trang trại nuôi cá rồng nằm dọc hai bên bờ. “Ở đó có rất nhiều trại cá - quá nhiều,” Alex Chang bảo tôi. “Một số trang trại có diện tích bằng nửa Singapore luôn.”

Tôi cho rằng các nông dân nuôi cá sẽ biết chỗ tìm cá hoang dã, vì hồi đầu họ phải đánh bắt từ thiên nhiên để tạo nên ngành thương mại này. Thế nhưng mãi mà tôi vẫn chẳng bắt liên lạc được với người dân nào ở đây, y như lời cảnh báo của một nhà ngư học ở trường Đại học Quốc gia Singapore. “Các trại cá ở đó được bảo vệ nghiêm ngặt. Gần như là do mafia bảo trợ vậy,” ông từng nói. “Nếu quen đúng người thì cô an toàn, nhưng nếu không thì sẽ nguy đến tính mạng… có thể lắm.”

Cuối cùng, một thương nhân tôi gặp ở Singapore cũng đã dắt mối cho tôi liên lạc với một thanh niên tên là Willy Sutopo, cha anh ta là người sáng lập trại cá lâu đời nhất trong thị trấn. Anh ta đồng ý giúp tôi tìm hiểu tình hình. Từ Malaysia, tôi bay khoảng 1.400 kilômet về phương nam, tới thủ đô Jarkata của Indonesia, nơi Willy đã dành nửa cuộc đời ở đó. Anh ta gặp tôi ở sân bay, một thanh niên Indo gốc Hoa hai mươi tám tuổi, chân đi dép tông, mặc quần soóc kẻ ca rô và áo thun Nike màu đỏ. Anh ta từng theo học ngành kế toán vài năm ở trường Đại học Purdue, Tây Lafayette, bang Indiana; trong lúc chúng tôi cùng ngồi chờ chuyến bay đến Borneo, anh ta kể với tôi là Pontianak cũng không khác mấy so với Tây Lafayette. Cả hai thành phố đều chỉ có một rạp chiếu phim và một trung tâm thương mại. Cả hai đều đầy rẫy lời đồn thổi. “Tất cả mọi người đểu quen biết nhau,” anh ta nói. “Chẳng vui tí nào.”

Willy ngủ suốt chuyến bay chín mươi phút trong lúc chúng tôi bay về phía đông bắc ngang qua biển Java, mặt nước bên dưới chúng tôi rải rác những điểm chấm là các hòn đảo nhỏ. Khi cuối cùng đường bờ biển phía tây của đảo Borneo cũng hiện trong tầm mắt, tôi nhìn xuống để ngắm con sông Kapuas ngoằn ngoèo như một chú rắn bằng bùn lầy đang vòng quanh thành phố Pontianak, một tập hợp hỗn độn những ngôi nhà thấp mái xanh mái đỏ.

Trong truyền thuyết Indonesia, pontianak là một ma cà rồng nữ, đã chết trong lúc mang thai và quay lại báo thù bằng cách cắt đứt bộ phận sinh dục của nam giới. Từ những năm 1700, vị sultan[*] đầu tiên của Pontianak đặt cho thành phố cái tên này vì nghĩ đã trông thấy một bóng ma như thê ẩn hiện quanh lầu đài của mình. Người dần địa phương rất tin vào cầu chuyện này và luôn đề phòng những phụ nữ có nước da nhợt nhạt và mái tóc dài - chẳng may mô tả ấy lại trùng khớp với nhân dạng của tôi. Trong phòng vệ sinh của sân bay nhỏ và hỗn loạn ấy, một người phụ nữ mặt mày nghiêm trang, đầu quấn khăn đã chụp bức ảnh trực diện tôi đang rửa tay rồi lao ra khỏi cửa.

[*] Một tước hiệu chỉ nhà vua được dùng ở các xứ nơi Hồi giáo là quốc giáo. Ban đầu sultan trong tiếng Ả Rập có nghĩa là “sức mạnh”, “quyền lực” hoặc “sự thống trị”. Vào khoảng năm 1000, sultan trở thành vương hiệu và đến khoảng năm 1250 thì được dùng rộng rãi ở nhiều nước châu Á và châu Phi.

Cũng vào khoảng thời gian thành phố mang cái tên Pontianak đầu những năm 1700, dòng người đào vàng bắt đầu tới đây từ miền nam Trung Hoa. Như ở các nơi khác tại Đông Nam Á, họ tạo nên các kongsi, hay hiệp hội thương lái, vừa giống một hội kín vừa giống một tiểu bang tự quản. Ngày nay đa phần dân trong thành phố vẫn là gốc Hoa, rất nhiều người chính là hậu duệ của những người đào vàng đầu tiên ấy, và ngành buôn cá rồng cũng rất phù hợp với truyền thống của các kongsi. Nông dân nuôi cá là tầng lớp giàu có trong thành phố.

Một chiếc SUV màu đen với cửa kính đen đang chờ Willy và tôi ở sân bay. Trong lúc chúng tôi tăng tốc trên những con phố đầy xe máy, tôi bắt gặp vài thoáng hình ảnh chủ đạo ở đây: đàn ông ngồi trên những cái ghế nhựa thấp ngoài quán cà phê để hút thuốc; một nhà máy sản xuất đỉnh của các thánh đường hồi giáo, nơi hàng chồng hình trăng lưỡi liềm lấp lánh dưới ánh nắng; và một bảng hiệu khổng lồ có ảnh người đàn ông Mã Lai với nụ cười tỏa sáng đang quảng cáo chương trình làm giàu nhanh chóng có liên quan tới siêu cấp huyết long.

“Nếu cô bước chân vào bất kì một ngôi nhà nào, nhiều khả năng cô sẽ thấy họ đang nuôi một con cá rồng hơn là không nuôi,” Willy bảo tôi. “Nó giống như niềm tự hào địa phương vậy.” Rất nhiều người dân ở đây kiếm tiền bằng cách nuôi cá đến một kích cỡ nhất định rồi bán lại. Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là một ngôi nhà nhỏ màu trắng của chú Willy, ông ta có nuôi khoảng sáu con cá trong căn bếp chứa đầy chảo wok[*] của mình.

[*] Một loại chảo sâu lòng, chuyên để làm các món xào của người Hoa.

Một trong số đó có màu đỏ thẫm đến nỗi trông gần như màu đen. “Con cá yêu thích của chú tôi đấy,” Willy nói trong lúc chúng tôi ngồi trên sàn trải bạt ni lông để ngắm nhìn con vật kì lạ. “Nó là con cá rồng sống có màu sẫm nhất.” Thường những con cá như thế này sẽ bị mù bởi màu sắc của chúng là để ngụy trang trong môi trường sinh trưởng hoàn toàn tối đen. Nhưng con này lại không mù.

Việc cá rồng có thể đổi màu tùy thuộc vào môi trường sống của chúng khiến người ta có thể làm giả một vài màu nhất định. Đặt một con cá màu xanh trong bể trắng, sau một thời gian nó bắt đầu có ánh vàng. Đặt một con màu đỏ trong bể đen và nó sẽ đỏ thẫm hơn. Tôi tự hỏi con cá này sẽ trông như thế nào ngoài tự nhiên khi không có tất cả những sự tác động ấy. Tôi đã rong ruổi khắp nơi suốt hai tuần, thăm tới năm trại cá rồng và trông thấy biết bao nhiêu cá trong hồ lẫn trong bể - nhưng vẫn chưa gặp con nào “có vẻ” từng thuộc một hệ sinh thái nào đấy.

Mặc dù tôi chẳng còn muốn thăm thú một trại cá nào khác, nhưng trại của nhà Willy chỉ cần đi ngược lên thượng nguồn sông Kapuas có nửa giờ và tôi rất háo hức thoát khỏi thành phố để đến gần nơi sinh trưởng tự nhiên của loài cá này hơn. Tuy nhiên trong lúc lái xe qua những cánh đồng lúa xanh rì, Willy nói với tôi rằng người ta không thể tìm được cá rồng hoang ở vùng hạ nguồn này nữa. Nếu chúng thực sự còn tồn tại - và anh ta nghĩ là rất có khả năng - thì hẳn chúng phải sống ở các vùng thượng nguồn xa hơn, trong một hệ thống hồ xuất hiện theo mùa và các khu rừng ngập nước đan xen nhau được biết đến với cái tên Danau Sentarum. Chính Willy cũng chưa từng đặt chân tới Sentarum và không hề muốn đến. Anh ta đã đưa một người mua Nhật Bản đi được nửa đường đến đó và không thích trải nghiệm ấy chút nào: đường xấu, chỗ ngủ nghỉ không thể chấp nhận nổi, thức ăn không nuốt được. Anh ta không phải người thích cuộc sống khó khăn.

Suốt nhiều năm liền, trại cá của gia đình Willy được duy trì rất ngăn nắp. Tuy nhiên gần đây cha anh lại quyết định rằng để mặc cho nó thuận theo tự nhiên sẽ đẹp hơn. Lúc chúng tôi đến nơi, tôi để ý thấy cỏ mọc hoang trên bờ các hồ nhân tạo. Chúng tôi dành cả buổi sáng để ngắm lũ siêu cấp huyết long - một vài con trong số chúng gần bằng tuổi chúng tôi, suýt soát ba mươi tuổi. Đó là những con cá thế hệ đầu tiên cha của Willy mang về từ Sentarum khi còn là một tiều phu chuyên đi sâu vào rừng ở đó. Tuy nhiên giờ đây bọn chúng đều đã thích nghi với cuộc sống an nhàn. Một công nhân ném lũ ếch sống xuống mặt nước, cá rồng lập tức bật lên đớp lấy mấy cẳng chân khẳng khiu của lũ ếch, giờ đây những cái răng nanh sáng lóa của chúng chuyển sang màu cam nhiều hơn là đỏ.

Vì lí do an toàn, trang trại được viền quanh bằng bốn bức tường gạch, còn hồ thì đào cách sông ba trăm mét. Khi lời cầu nguyện vang lên ở phía xa, chúng tôi đi trên một trảng cỏ tới tận chỗ mép nước, nhìn qua hàng rào thép gai vào những chiếc xà lan đi qua. Willy kể với tôi là người hàng xóm kế bên nhà anh vừa mới bị cướp. Ông ta là người kí được hợp đồng cung cấp độc quyền cho Kenny Ông Cá. “Tôi nghe được từ một nguồn khá tin cậy, nhưng không xác minh được,” anh ta nói. “Chuyện này khá bí mật.”

Tôi hỏi liệu chúng tôi có thể mạo hiểm đi xuống nước - để ít nhất cũng trông thấy nơi lũ cá rồng từng sống - nhưng Willy bảo ở đây không an toàn. Sau đó anh ta đưa tôi đi thuê một chiếc thuyền một người chèo, ông lái thuyền vẫn thường chèo thuyền qua lại các bờ sông ken đặc những ngôi nhà sàn bằng gỗ xập xệ. Đàn ông tắm trên sông, lũ trẻ thì mặc độc quần nhỏ để bơi và hú hét khi chúng tôi qua. Một nhóm ba người phụ nữ che ô hồng đi trên một con thuyền khác cắt ngang đường chúng tôi.

Trong lúc chúng tôi lướt lên thượng nguồn dưới cái nắng dữ dội của mặt trời vùng xích đạo, tôi nheo mắt nhìn về dòng nước ở xa. Sông Kapuas là con sông dài nhất Indonesia, uốn lượn trên quãng đường khoảng 1.120 kilômet, gần bằng khoảng cách từ New York tới Chicago. Xuyên suốt từng ấy dặm đường, tôi vẫn cảm nhận được cái đầm lầy đã sản sinh ra con siêu cấp huyết long đang hút tôi lại gần như nam châm. Tôi muốn tới nơi hoang dã ấy - để chứng kiến con cá thực sự là một phần của thế giới tự nhiên.

Tôi dành những ngày còn lại trong tuần cố tìm cách đi đến Sentarum và ngày càng nản chí. Có vẻ như việc ấy là bất khả thi. Không có con thuyền bình thường nào đi xa đến thế. Mỗi tuần có một chuyến bay tới thị trấn nằm ở trung tâm vùng đất ấy, nhưng nó thường bị hủy và bạn rất dễ bị mắc kẹt ở đâu đó vì mưa lớn. Vấn đề nghiêm trọng hơn nữa là rào cản ngôn ngữ: Có rất ít người trong thành phố này nói được bất kì câu tiếng Anh nào, và ra khỏi Pontianak thì tình hình càng tệ hơn.

Ngoài chuyện không kiếm được ai đi cùng, không có cách nào giao tiếp với dân địa phương, không biết gì về đường đi lối lại trong đầm lầy và kinh nghiệm câu cá chỉ là một con số không tròn trĩnh, tôi còn không thể lưu lại đảo Borneo vô thời hạn. Tôi phải bay về Singapore, một nơi cách đây hơn 640 kilômet. Cả thế giới cá cảnh đang tụ hội về đó cho sự kiện hoành tráng nhất thế giới dành cho cá cảnh, một dịp được quảng cáo là “Nơi bạn không thể không ước được đặt chân tới!”

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.