Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Năm Hang Ổ Của Rồng

❊ ❊ ❊

ĐÀI LOAN - ĐẢO BORNEO CỦA INDONESIA

Chiều muộn ngày thứ Năm, tôi đứng chờ trên bãi cỏ sạch tinh tươm như cỏ Astro Turf[*] trước mặt một ngôi nhà lớn màu trắng có cổng mái to đùng ở khu ngoại ô thành phố Chiayi[*]. Thành phố này nằm ở vùng đồng bằng phía tây nam của Đài Loan. Tháng Năm đã nhường chỗ cho tháng Sáu và những tia nắng mềm mại đang rọi chiếu những đầm sen xung quanh. Tôi dừng lại để nhìn vào bên trong một chuồng chim xây quanh một cái cây, trong đó là một đôi chim màu xanh lông mượt như nhung, đầu đen và đuôi dài - loài chim ác là xanh, quốc điểu của Đài Loan và không được phép nuôi làm thú cưng trong nội địa, nhưng người ta vẫn nuôi bất chấp luật cấm.

[*] Một thương hiệu cỏ nhân tạo chuyên cung cấp cỏ cho các sân chơi thể thao.

[*] Thành phố Gia Nghĩa.

Trước thềm Aquarama, tôi đã đặt mục tiêu gặp được một người chơi Nhật Bản trong nhóm tinh hoa, nhưng chưa tìm được bất kì đầu mối nào. Chẳng hạn khi tôi hỏi người nuôi cá rồng ở Malaysia, ông Ng Huan Tong, rằng ai đã mua con cá bạch tạng giá kỉ lục 20 triệu yên của ông ta hồi năm 2002, ông ta bảo mình quên rồi. “Một ông chủ lớn,” ông ta nói và lắc đầu như thể cái tên chỉ chực bật ra. “Một người mê cá rồng.”

Tôi không phải người duy nhất tự hỏi liệu một nhân vật bí hiểm như vậy có tồn tại thực hay không. “Cô không thể nào biết chắc về những câu chuyện cá rồng này đâu,” một vị giám khảo ở Aquarama đã cảnh báo tôi. “Họ trả những khoản tiền khổng lồ. Nhưng không ai biết người mua là ai. Không ai biết nó đang ở đâu.”

Tuy nhiên, bây giờ cuối cùng tôi đã được giới thiệu để gặp một trong những nhà sưu tập thượng lưu ấy - rốt cuộc một người đàn ông cao lớn ở độ tuổi lục tuần cũng đi ngang qua bãi cỏ, nụ cười chào đón hé lộ hàm răng trắng bóng. Đó là Su Wen Hung, người còn được gọi là nhà tài phiệt lông bàn chải, Chủ tịch công ty Rai Hsing Plastic Machinery Works thành đạt, và là chủ nhân của con cá rồng bạch tạng duy nhất ở Đài Loan.

“Ông ấy còn sản xuất cả tóc cho Barbie đấy,” người đồng hành với tôi thì thầm. Đó là Stephanie Lee, một nhà báo trẻ làm việc cho tạp chí chuyên về cá của Đài Loan AquaZoo, tờ báo này đã đăng một bài về con cá rồng của Su. Cô ấy cùng sếp của mình, Osmond Chao, một người cuồng kiểu tóc đuôi ngựa, đã đón tôi vào tối hôm kia ở sân bay Đài Bắc, chúng tôi đã lái xe suốt ba tiếng về phía nam đến thành phố Chiayi. Suốt hai mươi tư giờ qua, chúng tôi lưu lại tại một khách sạn mà Su sở hữu và đã đi xem ngôi nhà mới ông ta đang xây dựng. Ông ta định sẽ xây một cái bể cao từ sàn đến tận trần nhà để trưng bày con cá. Tuy nhiên, chủ yếu chúng tôi giết thời gian và chờ được gặp đích thân chủ nhân của nó.

Thực ra chuyện tôi đến Đài Loan khá là hợp lý, bởi đây là nơi thú chơi cá rồng bùng nổ từ thập niên 1980 trước khi nó lan rộng khắp châu Á. Người ta vẫn còn tranh cãi rằng điều gì đã kích thích cơn cuồng cá này. Theo văn hóa Trung Hoa, việc nuôi thú cưng từ lâu đã được coi là thú chơi của giới thượng lưu - loài vật cưng được yêu chiều nhất trong lịch sử có lẽ là những con chó Bắc Kinh trong cung cấm. Người ta nói rằng chúng được bú trực tiếp từ các bà vú ở Tử Cấm Thành. Tuy nhiên trong Cách mạng Văn hóa thập niên 60 và 70, Trung Quốc đã cấm nuôi thú vì là hành vi “tư sản.” Cuối thập niên 1980, khi chính phủ Trung Quốc vẫn còn mô tả việc nuôi thú cưng trong nhà là “sản phẩm của một xã hội tư bản chủ nghĩa bệnh hoạn” thì người Đài Loan đã phát hiện ra cá rồng châu Á và bỗng chốc tạo ra một loại cá biểu tượng cho quyền lực tối thượng. Phải chăng người Đài Loan muốn chống đối Đảng cộng sản Trung Quốc? Hay họ muốn lưu giữ di sản văn hóa của Trung Hoa? Hay đơn giản chỉ vì người châu Á nói chung thích cá? Một nhà sinh vật học chuyên về cá người Hungary và đang làm việc ở Singapore về sau này đã nói với tôi: “Cô hãy nhìn vào mối quan hệ của họ với bất kì thứ gì xuất phát từ dưới nước, cô sẽ thấy nó rất khác với mối quan hệ trong xã hội chúng ta - nó mang tính cảm xúc hơn nhiều.”

Tuy nhiên ngài tài phiệt lông bàn chải thì chẳng có cảm xúc tẹo nào. Ông ta chẳng nói gì nhiều hơn về con cá rồng của mình so với những người nuôi cá khác nói về lũ cá bảy màu giá 2 đô la của họ. Ở Đông Nam Á, thú vui nuôi cá thường được gọi là “chơi cá”; và ông Su có cả tá những thú vui khác trong quỹ thời gian của mình, chẳng hạn những chiếc xe Harley-Davidson và những mô hình trực thăng cất đầy trong kho nhà của ông ta. Ảnh chụp những chú bồ câu đạt giải thưởng được gắn dọc bên tường, còn cúp trao cho những chú chó chăn cừu giống Đức thì lấp lánh trên kệ. Ông ta nuôi bồ câu trên mái nhà. Chó thì nhốt trong chuồng riêng, từ đó vẳng ra những tiếng sủa kinh khủng làm rung cả chấn song sắt. “Ông ấy muốn lũ thú nuôi của mình phải hoàn hảo,” Stephenie nói. “Ông ấy chỉ thích những thứ rất hiếm và quý, không một ai khác có.”

Su kể với chúng tôi ông ta đã trả 150.000 đô la cho con cá bạch tạng - bằng nửa mức giá của con cá đã được bán cho vị quan chức Trung Quốc ở Aquarama, mặc dù nó vẫn thuộc những cái giá cao nhất tôi từng nghe. Ông ta nói số tiền ấy không là gì cả; ông ta còn có một chú bồ câu giá gấp đôi, và một con chó giá gấp bốn lần số đó. Khi vợ ông ta đi ngang qua phòng khách, tay khệ nệ túi đồ vừa mua sắm, ông ta dừng lời để vẫy chào vợ rồi thì thầm rằng mình đã bớt một số 0 khi nói với vợ giá của con cá rồng.

Tôi vô cùng ngạc nhiên khi biết thậm chí con cá rồng bạch tạng còn không ở trong khuôn viên ngôi nhà này. Trong lúc chờ ngôi nhà mới của Su hoàn thiện, nó được nuôi ở phòng phía sau của một tiệm cá cảnh bên kia thành phố, đó là một không gian trưng bày sang trọng nơi lũ cá rồng bơi sau các bể kính đặt trong những bức tường ốp gỗ. Tối hôm trước tôi đã trông thấy con cá đoạt giải, dành một khoảng thời gian tôi cho là đủ lịch sự để ngắm nghía sinh vật dị thường như làm bằng sáp ấy. Dấu hiệu màu sắc duy nhất trên người nó là một vệt màu cam nhạt ở chóp vây trông như những tia sáng đầu tiên của bình minh. Thật sự Su đã tốn 150.000 đô cho nó ư?

Việc xác nhận ai đã trả bao nhiêu cho con cá nào cũng giống như chứng thực những mức giá bị người trung gian mua bán tranh thổi phồng lên hàng ngày vậy - hoàn toàn bất khả thi. Các tờ báo chuyên về cá cũng không biết kiêng dè gì mấy. Ngay cả tôi cũng thấy mình bị giằng xé giữa hai tâm trạng: hoài nghi và cổ vũ, tôi nghi ngờ chính mức giá cao chót vót mà mình rất muốn xác nhận. Trong một phút do hiểu nhầm, khi tôi nghĩ Stephanie bảo rằng con cá của Su giá 50.000 đô la chứ không phải 150.000, tôi đã tức giận vì mình mất công đi xa đến thế chỉ vì một con cá rẻ tiền. Giống như những hình thức tìm kiếm sự kích thích khác, từ BASE[*] đến cocain, việc theo đuổi loài cá đắt tiền này cũng có những tác động tương tự, cứ chạm đến một đỉnh cao này thì ta lại cần đến một đỉnh cao khác.

[*] Một chất có chứa khoảng 60% amphetamine (chất kích thích).

Với tôi, ông chủ Guo Xianming của tiệm cá cảnh đang nuôi nấng chú cá bạch tạng còn thú vị hơn bản thân con cá. Gần đây ông ta đã tới thăm quan vườn thú bạch tạng ở Borneo do vị tài phiệt than đá tài trợ cho chương trình nhân giống của Alan Teo. Trong bữa trà phục vụ trên chiếc bàn bóng loáng vốn là một thân cây ở phía trước tiệm, Guo cho tôi xem những bức ảnh chụp lũ khỉ trắng như tuyết và cá sấu trắng mờ bên cạnh một cái mỏ than đen sì như thể chính nó đã hút hết màu sắc của những con vật kia.

Tôi vẫn còn buồn vì không thể tự mình thám hiểm sâu trong nội địa Borneo. Trước khi tới Đài Loan, tôi đã thử một lần nữa tìm cách tới Sentarum, nhưng việc đó đơn giản là bất khả thi. Một đại lý du lịch lo lắng cảnh báo tôi về các nhóm khủng bố đạo Hồi đang ẩn nấp trong rừng - thành viên của nhóm Jemaah Islamiyah, họ có thể tận dụng cơ hội trong kì bầu cử tổng thống sắp tới của Indonesia để bắt cóc một du khách phương Tây hòng gây sự chú ý. “Hơn nữa, còn có bộ tộc săn đầu người,” ông ta nói.

Dù tôi không tin các bộ lạc bản xứ vẫn còn tục săn đầu người, nhưng tôi không biết tí gì về nhóm khủng bố kia. Khi tôi gửi email tới quan chức an ninh của Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Jakarta, dường như ông ta không lo lắng mấy. “Khu vực ấy cực kì hẻo lánh,” ông ta xác nhận, nhưng ông cũng chưa từng nghe nói có ai, dù là người Mỹ hay nước khác, từng bị bắt cóc ở tây Borneo cả.

Kì lạ là, chính tôi lại biết một vụ như thế, mặc dù nó chẳng liên quan gì đến bọn khủng bố đạo Hồi hay tộc săn người cả - mà liên quan đến cá rồng. Năm 1998, người ta báo cáo rằng Yoichi Kawashima, người con trai ba mươi mốt tuổi của một nhà nhập khẩu cá ở Nhật, đã bị bắt cóc ở Pontianak và bị giam mười ngày để đòi tiền chuộc. Thủ phạm là một nhóm đàn ông mang dao rựa, súng lục và lựu đạn. Tôi đã đọc về sự việc này trên một tờ báo của Nhật, trên đó không hề nêu tên của thủ lĩnh tội phạm kia, mặc dù sau này tôi đã tìm hiểu được đó là một nông dân nuôi cá rồng có tiếng người Indonesia. Ở Đài Loan, có vẻ như tôi trông thấy cái cau mày nghiêm nghị của ông ta ở khắp mọi nơi. Ảnh của ông ta được trưng trên tường cửa hàng cá của Guo. Nó cũng có trong phòng khách nhà Su. Người đàn ông này đã bán những con siêu cấp huyết long cho họ.

Tất cả những điều này làm tôi có cảm giác bối rối như cá bị mang ra khỏi nước. Và đáng lẽ chúng đã đủ để khiến tôi phải vui vẻ mà ra về, bỏ lại sau lưng vương quốc đầm lầy của đám xã hội đen bán cá. Như Martin của Câu lạc bộ Cá từng nói với tôi ở Aquarama: “Cô cố tự mình kiểm chứng xem điều gì là thật, nhưng cô không thể làm được đâu. Vì một phần sự thật đã bị che đậy. Nên dù cô có nghe thấy điều gì đi nữa thì đó cũng chỉ là những mẩu vụn vặt.”

Anh ta nói đúng. Tôi đã chán việc phải vật lộn để hiểu những lời đồn đại. Xét đến chuyện đó, thậm chí tôi còn chán việc nhìn lũ cá rồng hơn. Tôi quyết định rằng thực ra tôi thấy con cá xấu hoắc, với bản mặt xương xẩu, cái môi trề hờn dỗi và cặp râu trông như con giun. Bể của chúng luôn có vẻ quá chật, và tôi thấy tệ hại khi phải nhìn chúng vất vả chuyển hướng. Bất chấp bản thân, tôi lo là chúng buồn bực đến khủng khiếp, “bị giam cầm vĩnh viễn trong một địa ngục câm lặng để mà suy ngẫm trong vô vọng,” giống như những con kỳ giông axolotl trong câu chuyện của Cortazar.

Khi ngồi trong căn phòng ốp gỗ ở cửa hàng cá cảnh Đài Loan, nhìn con cá bạch tạng nhợt nhạt như bị bệnh đang lượn vòng trong bể của nó, tôi lại có tất cả những suy nghĩ quen thuộc này. Nhưng ngoài ra còn có cả những điều khác nữa. Tôi chợt nhận ra rằng cái truyền thuyết được dựng nên cùng với loài cá rồng không chỉ là tìm kiếm bản chất nào đó của thiên nhiên hoang dã, hay một thứ hung dữ và hơi đáng sợ như tôi từng tin tưởng nữa. Nó còn là công cuộc tìm kiếm một điều đối lập: sự kiểm soát. Ngay từ đầu, việc đưa một con cá rồng vào trong phòng khách nhà bạn rất có thể là cách để giới thiệu một con quái vật đen tối, đáng sợ vào cái lồng an toàn, văn minh mà bạn đang sống; nhưng nó nhanh chóng biến thành một phương tiện chinh phục. Đó là chuyện bạn bắt được một loài săn mồi nguyên thủy vẫn ẩn thân dưới dòng nước đen ngòm và lột sạch sự hung dữ của nó, cho đến khi chỉ còn lại một sinh vật trong suốt như lông bàn chải đánh răng và bị tẩy trắng từ đầu đến chân như tóc của một cô Barbie.

Tôi nghiền ngẫm con cá trước mặt mình đã trải qua nhiều biến đổi đến thế nào từ nguồn gốc tự nhiên của nó và tự hỏi liệu tổ tiên nó có còn sống trong đầm lầy hay không. Câu hỏi ấy cứ gặm nhấm tôi mãi vì những lí do tôi không tài nào giải thích đầy đủ được. Tôi chỉ biết mình phải trở lại Borneo. Tôi phải tìm ra con cá rồng hoang dã ấy, để thấy tận mắt sự thật. Đêm hôm sau, tôi hủy chuyến bay về nhà và bắt đầu chặng quay đầu ì ạch của riêng mình.

❀ ❀ ❀

TRONG GIỚI CÁ CẢNH, mọi con đường đều dẫn trở lại với Kenny Ông Cá. Vậy nên tôi không hề thấy ngạc nhiên chút nào khi rốt cuộc cũng tìm được một người đi thám hiểm cùng mình tới Sentarum, và người đó chính là nhà cung cấp độc quyền siêu cấp huyết long cho Kenny. Hery Cheng, một người Indonesia gốc Hoa hai mươi chín tuổi, là chủ trang trại cá rồng lớn nhất ở Pontianak do cha anh ta sáng lập năm 1980. Một ngày sau khi tôi rời Đài Loan và bay trở lại Borneo thuộc Indonesia, Hery dẫn tôi lên đỉnh một tháp canh để ngắm toàn bộ những hồ cá bằng bê tông của anh ta ở cạnh sông Kapuas. Khoảng năm bức tường ngăn cách trang trại của anh ta với nhà hàng xóm, Willy Sutopo - chính là nhà lai tạo đã tháp tùng tôi trong chuyến đi đầu tiên tới Borneo. Tôi nhớ lại Willy từng nói có lời đồn trang trại bên cạnh - trại của Hery - vừa bị cướp. Khi tôi hỏi Hery về chuyện này, anh ta bảo chuyện ấy không đúng, rồi cười và nhíu mày. “Đúng là người ta hay bép xép với cô nhỉ,” anh ta bảo.

Nội chuyện Hery có thể cười xòa trước một câu hỏi như thế cũng cho thấy anh ta khác biệt. Willy thì thấy lo lắng khi đi cùng một nhà báo. Ngược lại, Hery nổi bật lên như một pháo đài điềm tĩnh giữa một biển lời đồn đại. Anh có nét mặt buồn ngủ và một mái đầu luôn luôn bù xù, dường như lúc nào cũng có vẻ đang chầm chậm rít thuốc lá. Anh tự học tiếng Anh cũng theo cái kiểu dửng dưng như khi đồng ý đi cùng tôi tới Sentarum. Anh đã nói rõ rằng chúng tôi không có cơ hội tìm thấy một con siêu cấp huyết long nào trong tự nhiên đâu. Tuy nhiên, anh sẵn sàng thử.

Trạm dừng đầu tiên của chúng tôi là gặp một nông dân dạn dày sương gió tên William Albertos Tomey, chính là người đã đi cùng Shigezo Kamihata - “nhà thám hiểm thứ hai thế giới” - tới Sentarum năm 1993. Đây là chuyến thám hiểm tôi đã đọc được trong cuốn sách mà ông Kamihata cho tôi ở Aquarama, trong đó có một bức ảnh cái hồ rộng lớn và một hòn đảo bé xíu. Người ta bảo rằng trên đó có chôn một vị vua và dân địa phương tránh tới đó vào ban đêm, tin rằng hồn ma của ông vua này vẫn còn ám ảnh nơi đó. Tuy nhiên ông Kamihata khăng khăng chọn hòn đảo ấy làm nơi cắm trại; và một trong những người dẫn đường của ông cho rằng anh ta bị đánh thức giữa đêm bởi một đốm lửa xanh phát ra từ một tảng đá, trên đá xuất hiện khuôn mặt của một ông già.

Nhiều năm sau, lúc này Tomey đang vẽ cho chúng tôi một tờ bản đồ đầm lầy theo trí nhớ của ông ta, nói đùa về chuyện ông đã làm đoàn Kamihata bị lạc ở đó như thế nào. Ông ta khoanh tròn một điểm ở giữa tờ giấy - chính là hòn đảo nhỏ kì lạ - và nói rằng đó là nơi chúng tôi sẽ tìm được người Iban bản xứ có thể dẫn chúng tôi tới chỗ con Huyết long.

Theo lời Kamihata, thủ lĩnh bộ lạc đó đã mời đoàn của ông ở lại ba đêm, hứa hẹn mỗi đêm họ sẽ được chọn một người đàn bà khác nhau. “Tôi tưởng tượng là họ muốn có dòng máu của chúng tôi - hay chính xác hơn là DNA,” Kamihatat viết về cộng đồng cách biệt ấy, “giống dịch vụ ngựa giống ở người vậy.” Ông nói rằng mình đã từ chối lời đề nghị và nói với tộc trưởng: “Mục đích duy nhất của chúng tôi là thăm nơi sinh trưởng của Huyết long hoang dã.”

Sau khi đưa tôi tấm bản đồ vẽ tay, Tomey báo cho Hery biết tin cuộc thi cá rồng ở địa phương vốn đã lên lịch vào tháng Bảy vừa bị hủy, vì người ta lo ngại cuộc bầu cử tổng thống Indonesia sắp tới có thể khiến Borneo bất ổn. Quả thực, những người nông dân gốc Hoa này từng trở thành mục tiêu trong những thời kỳ bất ổn chính trị trước đây. Giai đoạn kinh khủng nhất là năm 1998, khi đế chế đã kéo dài ba thập kỉ của Suharto sụp đổ, những người thiểu số gốc Hoa bị tấn công trên khắp Indonesia, họ chỉ đại diện cho phần trăm dân số rất nhỏ nhưng lại kiểm soát một phần lớn tài sản của đất nước. Giống như nhiều người khác, Hery cùng gia đình anh đã phải trốn chạy sang Malaysia trong những tuần tồi tệ nhất.

Tôi đã nghe nói về cuộc khủng hoảng, về chuyện những chiếc xe tăng lao vào vệ sĩ của những trang trại cá rồng lớn nhất như thế nào, dường như việc đó lại càng thêm phần bí ẩn đen tối cho con cá. Tuy nhiên, tôi không nhận ra hồi đó ở Borneo này mọi chuyện còn thế nào nữa. Hery đã giải thích cho tôi sau khi chúng tôi rời khỏi trại của Tomey và lái xe đi mua đồ dùng ở một siêu thị.

Trong khi gần một nửa dân số ở Borneo thuộc các giáo phái đạo Hồi khác nhau, khoảng hơn một phần ba dân số là người Dayak, một tên gọi nôm na để chỉ hàng chục bộ tộc bản địa như Iban. Cuối những năm 90, chiến tranh nổ ra giữa những người Dayak và người Madura. Trong vòng hơn ba mươi năm, chính phủ đã cho tái định cư những người Hồi giáo từ hòn đảo nghèo khó, khô cằn Madura tới đây. Trước khi cuộc xung đột cuối cùng được bình ổn năm 2002, hơn một ngàn người đã thiệt mạng và 180.000 người khác phải tha hương. “Tôi nghĩ thậm chí người Dayak còn ăn thịt người Madura,” Hery nói. Chắc hẳn anh trông thấy nỗi kinh hoàng trên mặt tôi bởi anh cười toe toét trân an tôi và nói thêm: “Không sao đâu!”

Tôi vẫn còn đang cố hiểu những gì vừa được nghe kể thì chúng tôi đã tới siêu thị, một tòa nhà lớn với đèn neon sáng trưng và những lối đi rộng rãi, bóng loáng. Một cậu bé chạy trên lối đi và nhảy vào vòng tay Hery - đó là đứa nhỏ nhất trong ba đứa con của anh, đang đi mua sắm cùng vú nuôi. Hery đã không gặp thằng bé một thời gian vì vừa chia tay vợ gần đây. Anh kể với tôi chuyện đó khó khăn như thế nào và trường tư ở đây đắt đỏ ra sao. Anh cùng với tất cả những người gốc Hoa khác đều phải cho con học trường tư, bởi hệ thống trường công ở Indonesia dạy đạo Hồi. Dường như đây chỉ là những vấn đề khá thường gặp, nhưng trong lúc tôi đứng giữa khung cảnh thân thuộc, sạch sẽ kì lạ ấy, cùng chọn dầu gội đầu với Hery, tôi lại thấy mình vẫn mải lo lắng về chuyện ăn thịt người.

Tôi không chắc mình có tin câu chuyện về bộ tộc ăn thịt người trong thời hiện đại của Hery hay không. Tuy nhiên sau này tôi đã xác thực được là anh nói đúng. Trong cuộc chiến sắc tộc, quả thực những nhóm Dayak đã chặt đầu các nạn nhân và ăn gan của họ để làm sống lại một tập tục cổ xưa giữa những thợ săn người. Một thầy tu người Hà Lan chứng kiến cảnh hỗn loạn ấy đã kể lại với phóng viên người Anh tên Richard Lloyd Parry như sau:

Anh phải cố gắng hiểu quan điểm của những người Dayak ngày nay. Họ bị chính phủ phớt lờ. Họ không có vai trò chính trị gì. Không một ai nắm giữ những vị trí trọng yếu, không một ai có tầm ảnh hưởng trong quân đội… Tất cả những gì họ có là đất đai, mảnh đất đã là của họ từ ngàn đời nay. Giờ chính quyền đến chiếm đoạt nó… Các công ty khai thác gỗ đến, rồi lại thêm những mối quan tâm thương mại khác… Chỉ có một và một điều duy nhất kích động tất cả những chuyện này mà thôi: đó là sự bất lực.

Sáng sớm ngày hôm sau, Hery đón tôi bằng chiếc xe truyền động bốn bánh màu xám, và chúng tôi khởi hành trên một con đường mòn của những người đi đào vàng ngày xưa, chạy dọc theo sông Kapuas. Phần lớn con đường không tệ lắm - chắc chắn là không xấu đến mức ngăn bác tài Hussein lái xe xuống những con dốc thẳng đứng, bẻ lái quanh những khúc cua ngoặt, hay lướt qua mấy chiếc xe máy và đạp chân phanh ngay phía trước ổ gà, lũ trẻ hoặc mấy chiếc xe tải chất cao nghệu những sọt quả đen có gai của cây cọ dầu.

Cách đây không lâu, phần lớn đảo Borneo đều không thể đi nổi. Tuy nhiên, trong thập kỉ 1980 và 1990, những người tiều phu đã chặt hết rừng nhiệt đới ở đây với tốc độ chóng mặt, họ xuất khẩu nhiều gỗ hơn cả Mỹ Latin và châu Phi cộng lại - chủ yếu là tới các nước giàu có như Hoa Kỳ hay Nhật Bản. Tiếp theo những cây cọ dầu xuất hiện. Từ những năm 1990 đến 2005, diện tích đất được khai phá để trồng cọ dầu khắp đất nước Indonesia đã tăng gấp ba lần. Toàn bộ việc phá rừng và phát triển này mang đến kết quả là dễ dàng tiếp cận các khu vực hẻo lánh hơn, và đến lượt nó lại dẫn đến sự gia tăng buôn bán động vật hoang dã bất hợp pháp.

Hiện nay, trên lý thuyết người ta chỉ mất mười hai giờ để lái xe hết bốn trăm tám mươi kilômet về phía đông bắc từ thành phố Pontianak đến thượng nguồn sông Kapuas. Nhưng nếu lốp xe bị xịt và có mấy nhóm xin tiền “mãi lộ” (là những nhóm đàn ông mang theo dao cùng một thùng quyên tiền và đẩy một cái cây chắn đường), rồi xe tải lại bị kẹt qua đêm đằng sau một chiếc xe bị hỏng, thì chuyến đi kéo thành hai ngày. Chúng tôi qua đêm trong một thị trấn tên là Sintang, ở một khách sạn mà Hery muốn tránh né, bởi có lần anh từng đếm được đến ba mươi mấy con gián trong phòng. Tôi ngủ như một xác ướp quấn trong cái màn mà tôi không biết làm thế nào để mắc.

Đến tận lúc ấy, khu rừng nguyên sinh mà tôi mong gặp vẫn còn chưa thấy tăm hơi. Sáng hôm sau lúc chúng tôi đi tiếp, tôi hỏi Hery về một tòa nhà trang trí mái cong mà tôi tưởng là một cái đền xây trên trảng cỏ. “Chỗ đó để xin bằng lái xe,” anh nói. Một DMV[*].

[*] Sở Quản lý xe cơ giới của Mỹ.

Tôi nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ và cố mường tượng quá khứ, khi người phương Tây đầu tiên tới được thượng nguồn sông Kapuas - ông ta là một quan chức Hà Lan tên là George Muller, ngay sau đó đã bị người Dayak chặt đầu năm 1825. Công bằng mà nói, mọi chuyện có thể sẽ khác nếu ông ta không đi thẳng tới gặp một vị sultan Mã Lai để thuyết phục vị này kí vào một thỏa ước công nhận quyền cai trị của người Hà Lan. Vị sultan đã lập tức ra giá cho cái đầu của Müller.

Làng Semitau, tiền đồn cuối cùng ngoài rìa Sentarum là lãnh thổ cuối cùng của người bản địa rơi vào ách thống trị của đế quốc, tận cuối năm 1916. Trong hầu hết thế kỉ sau đó, nơi đây chỉ là một vùng đất nghèo nàn với những túp lều tranh và ống nước bằng tre nứa. Rồi cơn bão cá rồng bùng nổ và cả đống tiền đổ về đây, mang về nhựa đường và ống nước. Hery và tôi đến nơi lúc đã xế chiều, chúng tôi ngạc nhiên khi biết có một nhà trọ nhỏ mang tên Khách sạn Cá rồng Borneo vừa mới được khai trương phục vụ các nhà buôn cá. Hai tấm ảnh lớn chụp thánh địa Mecca được treo trong tiền sảnh, và một cửa hàng ở bên kia đường bán thứ cà phê sánh đặc như dầu mỏ.

Chúng tôi quyết định qua đêm trước khi mạo hiểm đi lên trên nữa và tối đó Hery dẫn tôi đi gặp người đã bán cho cha anh con cá rồng đầu tiên hồi thập niên 1970. Haji sống trong một ngôi nhà sàn xây bên trên đầm lầy. Ông trạc lục tuần, có hàng ria con kiến và mặc một cái xà rông[*] màu xanh, “vẫn còn vài con cá rồng tự nhiên đấy, nhưng không phải ở quanh đây đâu,” ông nói với tôi thông qua Hery. “Trong thiên nhiên cá lớn hơn, đẹp hơn, đỏ hơn.” Đã bốn, năm năm kể từ lần cuối ông tận mắt nhìn thấy.

[*] Loại váy truyền thống của Indonesia.

Khi tôi giở tấm bản đồ vẽ tay của chúng tôi ra, Haji chỉ ngón tay vào điểm chính giữa. “Pulau Melayu,” ông gọi tên hòn đảo, “Iban.” Sau này chúng tôi tìm thấy tộc người ấy ở hòn đảo nhỏ bé này, đúng y như ông Kamihata đã nói trong cuốn sách của mình.

❀ ❀ ❀

SÁNG HÔM SAU, Hery và tôi khởi hành lên thượng nguồn trong một chiếc xuồng nhỏ của con rể ông Haji. Chẳng bao lâu chúng tôi đã đi ngang qua một khu rừng sinh trưởng thứ cấp[*] mới ở độ tuổi còn non. Những đường sọc trong lớp đất sét dọc bờ sông cho thấy mực nước ở đây còn thấp. Mùa khô đang đến. Thi thoảng chúng tôi lại đi qua những ngôi nhà nổi của các ngư dân theo mùa ở đây, họ sẽ nhanh chóng chuyển xuống hạ nguồn để làm việc cho những nông trường cọ dầu.

[*] Sinh trưởng thứ cấp là quá trình sinh trưởng ở thực vật do sự phân chia của các mô phân sinh bên (lateral meristems) làm thực vật phát triển thân, rễ theo chiều ngang (làm nó to ra). Sinh trưởng thứ cấp xảy ra ở cây hai lá mầm.

Hery buồn bực vì chúng tôi không tìm nổi một con Huyết long trong đám ngư dân địa phương. Việc thu mua hàng mới từ sâu trong đất liền đang ngày càng trở nên cấp bách vì lũ cá rồng ở Pontianak đẻ ngày càng ít. Nguyên nhân gần như chắc chắn là do nhiễm độc thủy ngân, một tác dụng phụ của việc khai thác vàng trái phép mà các trại cá đang sử dụng, gây ra sự ô nhiễm với nguồn nước. Ngày nay số vàng còn sót lại trong lòng sông chẳng đáng giá là bao - chắc chắn không nhiều bằng tiền bán cá rồng - nhưng không ai có thể ngăn nổi hủ tục ấy. Hery kể rằng mới hai ngày trước chuyến đi của chúng tôi, một đám đông giận dữ đã đốt trụi sở cảnh sát để phản đối sự can thiệp của chính quyền.

Đầu giờ chiều, xuồng của chúng tôi vòng qua một khúc quanh và Sentarum đột ngột trải ra trước mắt, một khoảng bao la xanh màu trà. Phía bắc là những đỉnh núi xanh nhạt của rặng Kapuas Hulu. Ở ngay chân núi, không thể nhầm lẫn được, chính là Pulau Melayu, hòn đảo trong cuốn sách của ông Kamihata, nhỏ xíu như một dấu chấm làm ngắt quẵng đường chân trời.

Mất một lúc chúng tôi tưởng là không thể tới được nơi đó. Mực nước thấp hơn chúng tôi đã nghĩ và xuồng bị kẹt trong bùn. Nhưng chúng tôi đã cố bằng tất cả sức lực và cuối cùng cũng trèo lên được bờ đá dốc đứng. Nếu bề ngoài hòn đảo đã mang vẻ một ý tưởng lạc điệu trong thế giới này thì giờ nó càng phi thực hơn nữa, bởi hoàn toàn trống trải. Không thấy bóng dáng những người Iban đáng lẽ phải dẫn chúng tôi tới chỗ con siêu cấp huyết long đâu hết.

“Để tôi đeo khuyên mũi vào cho cô chụp ảnh nhé,” Hery đề nghị, cố làm tôi vui lên.

Chúng tôi leo lên một đường mòn ngắn tới đỉnh ngọn đồi trung tâm dốc đứng để nhìn toàn cảnh hồ nước phản chiếu bầu trời xanh. Tôi có cảm giác gờn gợn như đang đứng giữa con ngươi của một tròng mắt nào đó.

Nghĩ đến chuyện này, bản thân hòn đảo cũng là một thứ lạ lùng. Người bản địa nói nó có ma thuật, kiểu như bạn có thể chọc một cái gậy xuống đất là nó bắt đầu mọc thành cây vậy. Trên một bãi cỏ nằm giữa đám bụi cây, tôi phát hiện một tảng đá lớn có hình vẽ nguệch ngoạc bên trên mà tôi nhận ra từ cuốn sách của Kamihata - bia mộ của vị vua được cho là đã ám hòn đảo này.

Tuy nhiên, khi Hery và tôi nghe tiếng cười vẳng lại từ các tán cây, đó không phải là một giọng nói siêu nhiên nào cả. Chúng tôi quay lại và thấy một ngư dân Malaysia đen trũi vì nắng, mặc chiếc quần đùi màu xanh. Ông ta vừa đi hết đường mòn và đang đứng cười sằng sặc trước ánh mắt bất ngờ của hai chúng tôi. Khi Hery giải thích việc chúng tôi đang làm ở đây - việc tôi đã từ New York tới tận đây để tìm kiếm một con cá rồng và muốn người Iban dẫn tôi đi như thế nào - người đàn ông càng cười dữ dội hơn, chảy cả nước mắt.

Khi lấy lại được bình tĩnh, ông ta giới thiệu mình là Ali và tuyên bố với một nụ cười toe toét rằng chúng tôi đã chọn đúng thời điểm tồi tệ nhất để ghé thăm Sentarum, khoảng thời gian hai tuần mà người Iban thực sự bỏ lại ngôi làng họ đang sinh sống ở thượng nguồn cách đây vài giờ. Nước cạn quá không đi thuyền tới đó được, còn đi bộ thì dốc lại quá cao.

Tôi nheo mắt nhìn theo hướng ông ta đang chỉ, cái bờ ở phía xa kia, và nói rằng trông nó đâu có xa đến thế. Ali khăng khăng là chỗ đó nhìn thế thôi chứ xa lắm. Ông ta đã cố đi bộ và tưởng mình chết đến nơi. Ông diễn tả lại chuyện ấy bằng cách cúi người xuống, thở khò khè, rên lên với mỗi bước chân nhấc khỏi lớp bùn vô hình.

Khi tôi hỏi chuyến leo núi sẽ mất bao lâu, khuôn mặt ông đột ngột xịu xuống. Ông quay sang Hery và nói tôi đùa chắc - ở đó có cả cá sấu. Ông chỉ vào chỗ cá sấu đang sinh sản và nói rằng những con trưởng thành bơi qua bơi lại suốt.

Tôi nhìn ngang qua mặt nước u ám và tự hỏi còn cái gì khác lẩn lút bên dưới mà tôi không thấy được. Theo lời Ali, ông ta đã bắt được năm mươi con cá rồng hai hoặc ba năm trước, nhưng giờ thì chẳng còn con nào cả. Rồi ông thay đổi câu chuyện và bảo tháng Một năm nào ông cũng bắt được năm mươi con.

“Càng hỏi càng chẳng ra sao,” Hery bảo. “Tôi không nghĩ ông ta đang nói thật đâu.”

Khi chúng tôi quay lại đường mòn để ra về, Ali vỗ vào lưng tôi một cách thân thiện, tôi quay lại và thấy bàn tay ông đang giơ ra một món quà. Đó là một con cá khô, cứng đờ và có cả râu. Khi tôi bảo ông mình không thể nhận nó, ông xé nó thành mấy miếng và đưa tôi cái bụng.

Ở chân đồi chúng tôi tìm thấy gia đình Ali, hai người đàn bà và ba đứa trẻ chen chúc trong một cái thuyền đánh cá nhỏ. Người già hơn, mặc chiếc áo thun DKNY và đi tông, mang theo một cái giỏ, bà ta tự hào nắm chân lôi một con đại bàng ra khỏi giỏ, lông của nó mắc cả vào nan giỏ. Khi tôi hỏi sao nó không bay đi, bà ta cười và làm hành động như chặt đứt khuỷu tay, ám chỉ rằng cánh của nó đã bị bẻ gẫy.

Chúng tôi đứng đó một lúc để nhai miếng cá muối, nhìn chú đại bàng kia bước tập tễnh và kêu. Nó có bộ lông màu hạt dẻ, cái đầu và lông chân trắng. Thật lâu sau khi đã trở về New York, tôi vẫn còn bị ám ảnh bởi kí ức về chú chim từng được tung bay tự do này, cũng như về con cá mà tôi không thể tìm thấy.

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.