Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Lời Kết

❊ ❊ ❊

Trong ngày sinh nhật thứ mười sáu, một người bạn đã tặng tôi năm con cá vàng trong một cái bình chật ních. Bốn con nhanh chóng nối đuôi nhau chết. Con thứ năm mà tôi đặt tên là Stephen vẫn sống, và sống rất lâu. Lúc nằm ườn trên giường mình, tôi quan sát thân hình màu lòng đỏ trứng gà của nó bên trên giá sách. Giờ khi đã ở một mình, nó không còn bơi nhiều nữa mà chỉ nằm trên sàn bể kính, rõ ràng là rất phiền muộn. Tôi trông thấy sự tồn tại song song giữa cuộc đời nó và cuộc đời tôi: Tôi ở trong phòng mình, nó ở trong cái bình, cả hai chúng tôi đều không khám phá được thế giới rộng lớn hơn. Điểm khác biệt duy nhất đó là không được lựa chọn.

Một ngày kia, khi thấy rõ là Stephen sẽ còn ở lại với tôi lâu nữa, tôi quyết định làm một điều gì đó để thêm thắt gia vị cho cuộc đời tẻ nhạt của nó. Tôi lái xe tới một cửa hàng thú cảnh, nhân viên ở đó chỉ cho tôi tới một dãy hàng chứa những toà lâu đài nhựa và những chiếc xương thổi bong bóng. Tôi không nghĩ mấy thứ đồ trang trí nhân tạo này lại làm Stephen vui lên được. Thay vào đó tôi bảo anh ta là mình muốn mua một cái cây thuỷ sinh thật - loại mà con cá có thể bắt gặp trong tự nhiên. Anh ta nhún vai, biến mất ra phía sau cửa hàng và lại xuất hiện với một cái túi nhỏ chứa nước, bên trong có chứa một cây dương xỉ dài.

Tôi không biết mình đã trông chờ Stephen phản ứng ra sao khi tôi trồng cái cây trong bể của nó. Nhưng niềm vui thích rõ ràng của nó khiến tôi khó mà không hài lòng. Nó bơi vòng quanh như cách tôi hiểu là sung sướng tột độ. Khi nó không bơi quanh cái cây, nó trồi lên mặt nước để dành cho tôi những nụ hôn biết ơn bé tí xíu.

Ngày hôm sau, nó chết.

Sau này tôi biết được rằng có thể cái cây đã thả ra vài loại vi khuẩn chết chóc nào đó. Stephen không phải là nhảy cẫng lên sung sướng mà có khi là quằn quại vì đau đớn. Những nụ hôn gió của nó là những hơi thở hấp hối.

“Cái cây đã giết con cá của tôi,” tôi kể cho người chơi cá ở Phần Lan là anh Tor Kreutzman khi nhắc lại câu chuyện mười lăm năm sau đó.

“Không, đã giết con cá của mình,” anh ta nói.

Anh ta đã nói đúng. Sự thống trị trên những sinh vật khác có thể trở thành gánh nặng trách nhiệm. Ngay cả những ý định tốt đẹp nhất cũng có thể trở nên sai trái khủng khiếp.

❀ ❀ ❀

Sau khi từ Amazon trở về, tôi biết được Heiko đã nói đúng: Thực sự những bộ lạc da đỏ chưa ai phát hiện đang sống trong vùng thượng nguồn sông Jandiatuba, dòng sông mà chúng tôi đã suýt đi quá trong lúc ông ngủ trưa. Họ được gọi là flecheiros, hay Người Mũi Tên, bởi vì gần như tất cả những gì người ta biết về họ là họ bắn những mũi tên tẩm độc vào người lạ lỡ bước ngang qua lãnh thổ của họ.

Mối quan hệ của tôi với Heiko luôn là như vậy: Ngay khi tôi chắc chắn rằng ông toàn ba hoa bốc phét thì một trong những tuyên bố khoa trương của ông hoá ra lại có phần sự thật. Chẳng hạn, trong lời đề tựa cho cuốn hồi kí của mẹ mình, ông viết rằng bà “có lẽ là người phụ nữ phi thường nhất thế kỉ hai mươi” - không chỉ là một nhà tự nhiên học khó ai sánh bằng mà còn là một nhà vô địch tennis, bóng bàn, trượt băng và trượt patanh nữa. Bà cũng là người chiến thắng trong hơn 148 cuộc đua xe máy địa hình (“nữ đấu thủ duy nhất”), và là một trong những người phụ nữ đầu tiên lái xe máy, tàu lượn cũng như ô tô.

Nghe thì có vẻ như điều này hơi quá lố.

Thế nhưng khi tôi tới thăm căn biệt thự từ thế kỉ mười chín của ông ở ngoại ô Milan, ông đã lôi ra một cái va li nhôm móp méo và một chiếc túi vải màu xanh quân đội có chứa các giấy tờ của bà Amanda, đã mốc meo từ những năm tháng bà ở trong rừng rậm Brazil. Bên trong chồng giấy màu vàng, tôi tìm thấy những bức ảnh một người phụ nữ trẻ đã lao đi trong đôi giày patanh, đang đua xe máy với chiếc mũ phi công trên đầu, và đang vuốt ve một cựu nhân tình tên là Bob, Heiko kể người này chính là cánh tay phải bí mật của Hitler.

Bà Amanda viết rất nhiều nhật kí, nhiều trang trong số đó là những dòng chữ viết tháu trên loại giấy nhàu nhĩ vẫn còn vụn gỗ mà Heiko đoán là giấy vệ sinh hồi bà phải đi tù ba năm ở Frankfurt vì bị nghi ngờ làm gián điệp. Tôi thức suốt đêm đó để chụp lại những gì có thể. Sau này, khi tôi nhờ một học giả người Đức đọc qua các tài liệu này, ông xác nhận rằng bà Amanda đúng là đã viết trên những tờ giấy vệ sinh thời hậu Chiến tranh Thế giới II. Ông ta nói rằng mình vẫn chưa hoàn toàn hiểu được chuyện Hitler lại có thể có một cánh tay phải tên là Bob.

Vậy nên tôi đã học được cách cân nhắc cẩn thận những gì Heiko nói, kể cả khi nó hoang đường cỡ nào. Tuy nhiên tôi vẫn không thể đồng tình với tuyên ngôn của ông là chính việc bảo vệ động vật đã dẫn đến sự tuyệt diệt không thể tránh khỏi của chúng. Hãy cân nhắc đến chuyện loài cá sấu đã được cứu thoát khỏi nạn tuyệt chủng nhờ CITES. Hay cá chép răng đặc Devils Hole chẳng hạn. Nó là loại cá đầu tiên được ghi danh vào Luật về các loài vật có nguy cơ tuyệt chủng của Mỹ năm 1967, sinh sống trong một lòng suối chỉ rộng bằng một cái tủ quần áo ở Nevada. Không có những sự can thiệp sâu rộng của con người - một cơ sở ấp nở trứng của liên bang, những trạm cứu trợ nhân tạo, những cuộc chiến dành chủ quyền mặt nước lên tới tận Toà án Tối cao - thì chắc chắn loài này đã ra đi. Thay vào đó ngày nay vẫn còn vài chục con duy trì sự sống nhờ trợ giúp.

Đồng thời, ý kiến của Heiko cũng có phần nào là sự thật: Việc tuyên bố một loài vật gặp nguy cơ tuyệt chủng có thể khiến nó đáng được khao khát hơn và vì vậy càng làm tăng việc khai thác nó, và chắc chắn đó là những gì đã xảy ra với cá rồng châu Á. Tuy nhiên một vấn đề đau đầu khác có lẽ là chúng ta làm thế nào để quyết định loài nào cần bảo vệ ngay từ đầu. Làm thế nào chúng ta đặt ưu tiên lên một loài động vật so với một loài khác, trong khi có quá nhiều loài đang gặp nguy hiểm? Những con thú ấm áp và có thể ôm ấp được nhìn chung vẫn thu hút nhiều sự chú ý hơn các sinh vật kém hấp dẫn hơn như cá. Nhưng bài học dành cho việc bảo tồn thời hiện đại là rất rõ ràng: Cách tiếp cận vấn đề đúng đắn duy nhất là theo thuyết tổng thể - bảo tồn các hệ sinh thái trong tình trạng trọn vẹn của nó.

Điều thú vị ở chỗ Brazil cũng đã đi đến cùng một kết luận về những Người Mũi Tên của họ. Trước đây chính phủ bảo vệ những tộc người da đỏ bị cô lập bằng cách thiết lập mối liên hệ và đặt ra luật lệ cho cuộc sống của họ, một chính sách cầm chắc mang đến sự huỷ hoại với lối sống của họ - không những thế còn mang cả các mầm bệnh chết người mà họ còn chưa phát triển hệ miễn dịch để chống lại. Hồi cuối những năm 1980, các nhà chức trách thay đổi lập trường và thực thi chính sách không thiết lập quan hệ với những bộ tộc này, thay vào đó họ khoanh vùng các khu rừng đang nuôi dưỡng những tộc người này và bảo tồn toàn bộ hệ thống. Hoá ra dòng sông nơi Người Mũi Tên sinh sống - dòng Jandiatuba - lại chảy qua thung lũng Javari, một khu vực được bảo tồn có diện tích gấp đôi đất nước Thụy Sĩ. Người ta tin rằng ở đây có mật độ tập trung đông nhất những bộ lạc chưa được liên lạc với thế giới bên ngoài. Thực sự không có người ngoài nào được phép bước chân vào khu vực bảo tồn. Kể cả các nhà khoa học. Không một ai hết. Hiệp hội người da đỏ Quốc gia của Brazil giám sát các vùng biên giới và thực hiện những chuyến giám sát trên không để theo dõi các hành động xâm nhập bất hợp pháp của người đốn gỗ.

Bảo vệ người da đỏ cũng có tác dụng phụ là bảo vệ hàng triệu acre vuông đa dạng sinh học. Thung lũng Javari vẫn còn là một trong những điểm giàu các loài sinh vật nhất trên trái đất - một nơi hiếm hoi để các loài cá sống ẩn danh một cách đích thực. Khi tôi nhận ra đó chính là khu vực mà Heiko đã muốn khám phá, đầu tôi quay mòng mòng. Tôi tưởng tượng ra cảnh chúng tôi hứng chịu làn mưa mũi tên tẩm độc. Hoặc tệ hơn, xoá xổ cả một bộ lạc da đỏ chỉ vì chứng bệnh ho. Có lẽ chúng tôi sẽ không đi được đủ xa để thâm nhập vào vùng đất được bảo tồn. Nhưng Heiko đã bảo tôi là mục tiêu của ông là tới tận thượng nguồn, nơi ông hi vọng sẽ phát hiện ra những loài cá chưa được biết tới.

Rất lâu sau khi đã về nhà, tôi vẫn bị ám ảnh bởi dòng sông Jandiatuba, nơi chúng tôi đã để hụt mất. Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng thung lũng Javari nên tiếp tục được ở trong vòng bí ẩn và không thể khám phá nổi. Rốt cuộc, khi chúng ta chạm vào sự sống, chúng ta sẽ làm thay đổi nó. Thế nhưng quả thực rất khó để giữ con người tránh xa nơi ấy. Mỗi lần thoáng bắt gặp cuốn Atlas vùng Amazon của mình là tôi lại day dứt khôn nguôi vì cơ hội hụt mất ấy - một khao khát cháy bỏng được biết điều gì ẩn trong những dòng nước chưa từng được khám phá ấy.

Chúng tôi không cần phải băn khoăn lâu. Năm 2014, Heiko đã trở lại Amazon và đi ngược lên dòng Jandiatuba, ở đó ông không chạm trán với Người Mũi Tên mà gặp những kẻ đi đào trộm vàng ở lòng sông. Du hành vào sâu trong nhánh phụ chính của con sông, ông khám phá ra một quần thể động vật phong phú, những loại ông chưa từng gặp lại kể từ khi còn bé: vẹt và chim diệc, ếch nhái và rắn, chuột lang và rái cá lớn quý hiếm. Trong số 181 loài cá ông đã ghi lại, ông dự tính có khoảng 20 đến 25 loài chưa từng được khoa học biết đến. Cá rồng bạc cũng cư trú ở đó với số lượng ít ỏi. Những người câu cá Colombia đã đến đó trước ông.

❀ ❀ ❀

Heiko không phải là người duy nhất vẫn còn đi thám hiểm. “Giữ bí mật nhé, cô bé,” Tyson Roberts tinh quái dặn dò tôi trong lần gần nhất ông gọi điện, thú nhận là ông định trở lại Myanmar, “tới vùng đất của những bãi mìn, gián điệp và xạ thủ” để tìm các loài mới. Sự kiện xuất bản cuốn sách để đời của ông về loại cá lưỡi xương lớn nhất thế giới trong năm 2012 - Systematics, Biology, and Distribution of the Species of the Oceanic Oarfish Genus Regalecus (tạm dịch - Khoa học phân loại, Sinh học và Sự phân bố của các loài cá trong Chi cá Hải tượng Regalecus) - dường như đã tiếp thêm sinh lực cho ông. Bất chấp sức khoẻ mong manh, Tyson vẫn quay trở lại Myanmar rồi sau đó lại khởi hành sang bên kia quả địa cầu.

Trong lúc đó, đối thủ của ông là Ralf Britz - một chuyên gia về loại cá nhỏ nhất thế giới từng biết đến, một con cá tuế chỉ to bằng một hạt kẹo ngậm Tie Tac - cũng nối gót ông không xa. Ralf cũng đã trở lại Myanmar nơi ông tiếp tục khám phá thêm các loại cá nhỏ bé như cá hút máu Danionella Dracula, chúng có những cặp răng nanh bé xíu và cá dương vật Danionella priapus[*], con đực của loài này mang theo dương vật ở giữa hai vây xương chậu của nó. Khi cuối cùng tôi cũng gặp được Ralf ở Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London, ông đã không có đôi mắt đỏ (như Tyson sau này hỏi lại) mà là mắt xanh lơ, tóc bạc lởm chởm và một cái mũi khoằm. Giống như Tyson, ông ta cũng kêu ca về sự thay đổi bản chất của sinh học, chuyển từ nghiên cứu toàn bộ hệ động vật sang phân tích ADN của chúng. “Chắc chắn chúng ta đang để mất đi kiến thức,” ông nói. “Trên diện rộng.”

[*] Vô tình đây lại là loại cá thứ ba mươi được đặt tên theo dương vật. Chỉ có một loại cá duy nhất, con cá bống được chính thức mô tả năm 1801 là mang tên âm đạo - Trypauchen vagina (Ghi chú của tác giả).

Năm 2014, chính Ralf là người đã thông báo trên một trang blog nổi tiếng về cá cảnh tin tức đau buồn về cái chết của người bạn và người đồng sự lâu năm của ông. “Nếu không có sự giúp đỡ của ông ấy thì tôi đã không đi được đến đầu trong cuộc săn lùng cá rồng batik của mình. Ông Tin Win đã ra đi ở tuổi bảy mươi.” Ralf đã viết. “Kiến thức sâu rộng và niềm đam mê của Tin Win dành cho các loại cá nước ngọt Myanmar khiến ông trở thành chuyên gia về cá giàu kiến thức nhất ở Myanmar.” Tên tuổi ông sống mãi cùng một loại lươn có ngạnh và cá ngựa vằn màu vàng được đặt theo tên ông, cũng như công ty xuất khẩu cá cảnh mà con trai Hein và bà goá phụ Tin Pyone của ông tiếp tục điều hành. Ngay trong những giờ phút cuối cùng, khi Tin Win biết rằng trái tim mình sắp dừng nhịp, ông vẫn mơ ước được mở một viện bảo tàng trưng bày các loại cá bản địa của Myanmar.

Trong một thời đại mà ngành ngư học không còn đại diện cho lĩnh vực được quan tâm nhất, chính tấm lòng nhiệt huyết để tìm hiểu và giao tiếp với thiên nhiên là điều làm tôi ngưỡng mộ nhiều nhất trong thú chơi cá. Tôi luôn bị ấn tượng với những người chơi nghiêm túc thuộc tên biết bao nhiêu loại cá. Chính Linnaeus đã viết rằng đó chính là bước đầu tiên tới sự thông tuệ: “Vì nếu cái tên đã mất thì kiến thức về sự vật cũng chẳng còn.” Chính những con người một lòng đam mê ấy là cái móc nối còn tồn tại từ thế kỉ mười chín, khi các nhà tự nhiên học nghiệp dư khai sinh ra ngành sinh học hiện đại. Ngày nay họ chú ý tới những loại cá mà tất cả mọi người bỏ qua, để ý tới tình cảnh nơi quê hương của chúng, và trong nhiều trường hợp thậm chí còn duy trì cả các “hộp báu,” để giữ lại một số lượng các cá thể bị bắt đang suy giảm dần ngoài tự nhiên.

Tất nhiên, họ cũng khai thác cá và kéo chúng ra khỏi thiên nhiên để thả vào những chiếc bình nữa. Những người ủng hộ lập luận rằng số lượng cá bị lấy đi là tối thiểu. Tuy nhiên, mỗi năm trên thế giới có 100 tấn cá biển bị thu thập để làm vật nuôi, trong khi 100 triệu tấn bị khai thác làm thức ăn. Trong thế giới cá nước ngọt, sự phá hoại nơi sinh sống của chúng thậm chí gây ra mối nguy lớn hơn cả việc đánh bắt. Chẳng hạn Brazil đã chấp thuận các kế hoạch xây dựng hơn 150 cái đập dọc sông Amazon trong mười sáu năm tiếp theo để tiếp thêm năng lượng cho một đất nước khát điện. Một vài con đập trong số đó sẽ là những cái đập lớn nhất thế giới, bao gồm đập Belo Monte, được xây dựng trên sông Xingu, nơi một loại cá da trơn màu đen trắng tuyệt đẹp có tên là cá mút kính ngựa vằn trú ngụ. Những người chơi cá quan tâm đến việc nhân giống cho nó than thở một nghịch lý là nó bị cấm xuất khẩu trong khi toàn bộ nơi sinh trưởng của nó sẽ bị huỷ hoại trước năm 2019. Họ chỉ ra rằng việc khai thác cá để buôn bán cá cảnh chưa từng dẫn loài nào tới bước tuyệt chủng. Tôi tin rằng đó là sự thực - hay ít nhất là tôi chưa tìm được trường hợp nào như vậy.

Tuy nhiên khái niệm tuyệt chủng có thể là một chỉ dấu sai lầm cho những điều đang thực sự xảy ra với thế giới tự nhiên, bất chấp sự rõ ràng hấp dẫn trong khái niệm đó. Câu chuyện thực sự về đời sống hoang dã chỉ được kể trong phần màu xám, cái phần làm tuyệt giống của loài vật. Ở Borneo, tôi đã chứng kiến siêu cấp huyết long từ một loại cá thường, giờ trở nên cực kì khan hiếm. Ở Myanmar, các ngư dân ở Tenasserim báo cáo rằng ngày càng khó tìm được được cá batik hơn, họ ngày càng phải đi sâu hơn vào trong rừng. Trên khắp vùng Amazon, tôi cũng nghe những câu chuyện tương tự về cá rồng bạc và tự hỏi liệu sự sụt giảm ấy có ảnh hưởng gì đến cá heo sông và rái cá lớn, những con vật coi nó là thức ăn hay không.

Cá bạc ngày nay đang được nhân giống ngày càng nhiều ở châu Á, nhưng bản thân việc này cũng mang lại những vấn đề của riêng nó. Ở Borneo, ngay bên ngoài Sentarum, tôi đã đến thăm một ngôi làng nơi người dân nuôi các loại cá rồng trong một cái hồ cách vùng có thể bị lụt không xa mấy. Các chuyên gia cho rằng gần như không thể tránh được các vụ thả cá vô tình như vậy, và vài con siêu cấp huyết long ít ỏi còn sót lại chẳng bao lâu sẽ trở thành một loài cá ngoài đảo bị buộc phải cạnh tranh với những con cá xâm thực to lớn hơn, khoẻ hơn đến từ đất liền. Loài người đã đồng hoá các dạng sống trên đất liền từ hàng thiên niên kỉ nay, rải những loại động vật thống trị giống nhau ra khắp quả địa cầu. Giờ chúng ta lại đang làm vậy dưới nước nữa, một phần không nhỏ là vì ngành cá cảnh. Rất nhiều loại trong số hơn bảy ngàn loài mà ngành này di chuyển khắp thế giới rốt cuộc sẽ bị thả ra các dòng sông và hồ nước ở bản địa. Cuộc săn lùng những thứ mới lạ đã mang lại hệ quả ngược là trộn lẫn mọi thứ với nhau, với kết quả khó tránh là sự tương đồng tẻ nhạt.

Bất chấp khao khát không ngừng nghỉ tìm kiếm cái mới của chúng ta, có vẻ như Kenny Ông Cá đã nói đúng: ít nhất trong lúc này cá rồng vẫn chứng minh được ngôi vương trong thế giới vật nuôi. Từ New York cho tới Thượng Hải, hội cuồng cá rồng tiếp tục lao vào loài cá thời tiền sử này, đam mê mang họ tới những giới hạn không tưởng. Năm 2015, một người được coi là chuyên gia tầm cỡ thế giới về cá rồng châu Á - Alex Chang, trưởng bộ phận nghiên cứu của Kenny Ông Cá - đã bị bắt Úc khi cố đưa lậu hai mươi con cá rồng châu Á (trong số các loại cá khác) vào nước này trong túi hành lý của mình.

Đọc về vụ bắt giữ Alex trên bản tin, tôi nghĩ lại những ngày đầu tiên viết bài ở Singapore của mình, khi nhà khoa học vui tính này là người đầu tiên dẫn tôi đi xem tận mắt cá rồng, và còn nói không ngớt về chuyện trông con cá giống một thỏi vàng ra sao. Kể từ đó, tôi vẫn luôn tìm tới anh để hỏi thăm những kiến thức sinh học về loài này. Alex đã dành sáu năm nghiên cứu việc sinh sản và hệ gen của nó để đạt được tấm bằng tiến sĩ. Giờ thì anh đang đối mặt với mười năm tù giam ở Úc.[*] Tôi vẫn không tài nào hiểu được tại sao.

[*] Tháng Mười một năm 2015, sau vài tháng đi tù và gần một năm quản thúc tại gia, Alex đã nhận bản án một năm chín tháng tù giam nhưng được thả ngay do đã hoàn thành kì hạn.

Thậm chí chính tôi cũng gặp khó khăn khi phải tách mình ra khỏi cá rồng, một thứ đã thống trị cuộc sống của tôi. Bất chấp việc đã tìm ra mục tiêu, thực tế tôi vẫn không thể ngừng tìm kiếm. Khi Heiko lên kế hoạch quay lại Amazon và di chuyển lên Jandiatuba, ông đã mời tôi đi cùng trong chuyến ấy. Bất chấp bản thân, tôi đã nghiêm túc cân nhắc lời đề nghị, cho đến khi cuối cùng Jeff cũng đưa ra ý kiến và khăng khăng bảo rằng nỗi ám ảnh của tôi đã đi quá xa. Vậy là tôi dừng lại.

Bây giờ chúng tôi đang chờ đợi một đứa bé chào đời, em bé tên Pisces. Ngày nào đó có thể con tôi sẽ muốn nuôi cá. Về phần mình, tôi nghĩ Stephen sẽ vẫn là con cá cuối cùng của tôi. Kí ức về cái miệng há hốc hớp không khí của nó vẫn làm tôi co rúm người lại. Tuy nhiên tôi vẫn mua một cái bể Wardian, tiền thân của bể cá ngày nay, mà vị bác sĩ người London Nathaniel Bagshaw Ward đã phát minh năm 1829. Nó cao khoảng ba mươi centimet, trông như một nhà kính nhỏ và được dán kín hoàn hảo để hơi nước không thoát ra, tạo ra một hệ sinh thái tự duy trì. Ở bên trong tôi trồng một cây dương xỉ, nó vẫn lên xanh tốt cho dù tôi không hề tưới lấy một lần trong suốt cả năm. Thi thoảng, tôi nhìn vào cái hộp đẫm sương màu xanh mát trong căn hộ nhỏ ở thành phố của mình và lại được trở về với thiên nhiên hoang dã.

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.