NEW YORK → GENEVA
Lịch sử khám phá khoa học đầy rẫy những trò đâm lén sau lưng và trộm cắp bản quyền. Đặc biệt ngành ngư học đã có cả một truyền thống giả dối hèn hạ từ lâu đời. Ngay từ năm 1818, John James Audubon đã lừa người đồng nghiệp là nhà tự nhiên học Constantine Rafinesque chính thức mô tả một con cá giả với những chiếc vẩy chống đạn, mà ông ta gọi là “điều kì diệu của Ohio.” Mất cả mấy thập kỉ sau, các nhà tự nhiên học người Mỹ mới lấy lại được uy tín của họ. Năm 1872, giám đốc một viện bảo tàng của Úc đang đi du lịch tại Queensland đã được phục vụ một món cá phổi đặc biệt có phần mõm trông như cái xẻng. Ông ta gửi bức hoạ con cá đó cho một nhà ngư học, người này đặt tên loài cá là Ompax spatuloides. Loại “cá phổi thứ bảy” này đã có trong sách vở suốt năm mươi năm, cho đến khi có một báo cáo vô danh trên tờ báo Sydney hé lộ rằng nó đã bị làm giả từ mỏ của thú mỏ vịt, đầu cá phổi, thân cá phèn và đuôi con lươn. Đến nay vẫn chưa biết ai chịu trách nhiệm cho việc này.
Trên đường từ Myanmar về nhà, tôi đã cố tìm hiểu làm thế nào Tyson có thể kiếm được con cá batik. Rốt cuộc, ông ta đang ở Suriname, điểm tận cùng của Nam Mỹ. Chẳng lẽ có ai đó đã đánh cắp cá rồng của Tin Win rồi mang nó đi nửa vòng trái đất ngay dưới mũi chúng tôi ư? Hay bằng cách nào đó Tyson đã kiếm được một con khác?
Dần dần, tôi đành tin rằng có một giả thuyết thứ ba hợp lý hơn - và điều này hoàn toàn là lỗi tại tôi. Tôi lo ngại là Tyson đã quá tin vào mình, tưởng tôi sẽ thực hiện thành công nhiệm vụ mang về một cá thể cho ông, nên ông đã cầm cờ chạy trước tàu hoả và hứa mô tả nó trên tạp chí của Heiko - một con cá ông đã không có và sẽ không có được.
Ngay khi trở lại New York, tôi gọi cho Tyson. Lúc này tôi đã sốt sình sịch. Ông ấy thì lại đang có tâm trạng tuyệt vời. “Tôi nghe cô rõ cực kì!” Ông nói. “Cứ như là cô cũng ở trong phòng này vậy.” Rồi ông nói thêm: “Mà tôi đang không mặc quần áo gì đâu. Suriname ấy mà, lúc nào có thể là tôi lột sạch quần áo ngay.”
“Nghe có vẻ mọi chuyện ở đó rất tốt.”
“Chà, chà, chà,” ông lẩm bẩm, như đang xoa hai bàn tay vào nhau. “Được rồi.” Rồi ông im lặng một cách bất thường, chờ tôi báo cáo với ông kết quả chuyến đi của mình. Thay vào đó tôi lại bắt đầu lải nhải thật lâu, thật dài để quanh co trì hoãn hết mức có thể cái kết luận mà tôi không còn lựa chọn nào khác là phải tuyên bố huỵch toẹt: “Nên tôi đã không lấy được con cá, không may là thế.”
Tyson lặng im rồi nói: “Không có bất kì cái gì ư? Không có cả cá đuối gai? Hay cá rồng?” (Ông gợi ý cá đuối như một giải thưởng an ủi.)
“Không, rất tiếc là không.”
“Chà!”
Tôi kể với ông chuyện một nhà buôn cá cảnh có vị tài phiệt đầy quyền lực chống lưng đã độc chiếm nguồn cung cá rồng batik từ sông Tenasserim bị cấm đoán như thế nào. Thậm chí tôi còn thú nhận rằng Tin Win, và người con trai ông đã đi cùng tôi, còn cố mua một con cá rồng cho đối thủ cạnh tranh của Tyson là Ralf. “Nhưng họ cũng không có được nó,” tôi nhanh chóng thêm vào, bỏ qua bất kì chi tiết nào về hai con cá rồng mất tích.
“Kinh khủng thật,” Tyson nói. “Tôi rất buồn khi nghe điều đó.”
“Thật sao?”
“Không! Cô làm tôi vui cả ngày rồi đấy! Nghe này, Ralf Britz đúng là thứ đồ chuột bọ” ông nói. “Hắn là một thằng cha rất bẩn tính. Chấm hết.” Tyson kể với tôi ông nghi ngờ - dù không chứng minh được - rằng Ralf đã cướp công trình của ông về cá chạch sau khi phát hiện ra bản thảo ông để ở một tủ tài liệu khoá kín tại trường Đại học Quốc gia Singapore. Sau đó Ralf nói rằng chuyện ấy thật vô lý vì ông ta thậm chí không có mặt ở Singapore thời điểm đó. Nhưng Tyson vẫn cho rằng thủ đoạn gian trá đã trở thành một hành vi bắt buộc trong những năm gần đây, do các giới hạn với việc thu thập đã bị tăng theo cấp số nhân trong nửa sau sự nghiệp của ông. “Vì thế nên những người làm việc trong ngành ngư học theo hệ thống đã trở nên căng thẳng, giằng co và thực sự cạnh tranh. Sự gian dối bùng nổ khắp mọi nơi.”
Dường như đó là lúc thích hợp để hỏi về bức thư kì lạ tôi nhận được của Heiko, trong đó tuyên bố rằng bản mô tả cá rồng batik của Tyson sắp được xuất bản. Tôi trông đợi được nghe rằng mọi chuyện chỉ là hiểu lầm. Thay vào đó Tyson lại im lặng một lần nữa.
“Được rồi,” cuối cùng ông nói. “Đáng lẽ Heiko phải giữ bí mật chuyện này… Vậy nên nếu lão có nói gì với cô về một bài báo sắp sửa đăng trên tạp chí của lão… Lão có hỏi cô về ảnh không?”
“Có.”
“À, đáng lẽ không nên!” Tyson kêu. “Cô có thể là một biến số.”
“Tôi chỉ thấy hơi khó hiểu,” tôi mạo muội. “Chắc ông phải có mẫu vật trong tay rồi nếu muốn có tư cách mô tả nó.”
“Sự việc lắt léo lắm,” ông nói. “Tôi không được phép tiết lộ thông tin gì.” Rồi ông cười khùng khục. “Hãy chờ đến khi nó được xuất bản.”
Không may, tôi không thể cứ ngồi chờ mà không làm gì. Heiko đã hỏi xin tôi ảnh chụp cá rồng batik, và ông muốn đăng nó lên tạp chí cùng với bài mô tả của Tyson về loài này. Tôi phải quyết định trả lời ông ta như thế nào. Một mặt, đúng là tôi có những bức ảnh đẹp về con cá. Mặt khác, tôi không hiểu làm thế nào Tyson đã kiếm được một con và không muốn gợi nhắc đến chính mình trong một trường hợp gian lận khoa học, khi những bức ảnh của tôi làm cho Tyson có vẻ như có thứ mà ông không có. Tôi lo ngại khi tưởng tượng ra cảnh Tin Win ở Myanmar trông thấy tên tôi trong phần ghi chú bức ảnh và tin rằng tôi đã chơi trò hai mặt với ông.
Tôi cân nhắc các lựa chọn của mình. Tôi có thể nói dối và bảo Heiko là tôi không có ảnh, mặc dù ông biết tôi đã trông thấy con cá. Vấn đề thực sự là tôi không muốn làm ông tức giận - bởi bất chấp phán đoán của bản thân, tôi vẫn không thể không nghĩ về chuyến thám hiểm Amazon mà ông đã mời tôi đi cùng vào cuối mùa hè này. Cánh rừng nhiệt đới rộng lớn nhất còn sót lại trên trái đất trải ra trong tâm trí tôi như một chốn Địa đàng, nơi cuối cùng tôi cũng có thể tìm được con cá rồng hoang dã còn sống giữa thiên nhiên hoang dã thực sự. Những lời mô tả của Heiko về chuyện đi bộ xuyên rừng nguyên sinh cách xa thế giới văn minh nhiều ngày trời đã cầm tù tôi trong sự hồi hộp. Dù nghe có vẻ điên rồ đến đâu khi cố thử đi phiêu lưu cùng ông lần nữa, tôi vẫn chưa nói không.
Điều này làm vấn đề thêm phức tạp và tôi vật vã suy nghĩ có nên gửi ảnh con cá batik cho ông hay không. Cuối cùng chính Jeff là người nghĩ ra một giải pháp. Đầu tiên tôi bảo anh chuyện đó thật lố bịch, và đúng là như thế. Nhưng rồi dần dần tôi đành xuôi theo vì không nghĩ ra cách nào tốt hơn. Tôi đứng nhìn qua vai khi anh tải những bức ảnh ở Myanmar của tôi vào máy tính của anh ấy.
Xưa kia người ta cần đến sự nhẫn nại và kĩ năng tuyệt vời mới thu được hình ảnh rõ nét của một con cá còn sống bằng máy chụp phim. Tuy nhiên, ngày nay, gần như bất kì ai với một chiếc máy ảnh kĩ thuật số tương đối tốt đều có thể làm được điều đó, và những bức hình tôi chụp khá tươm tất, chúng cho thấy những hình hoạ tiết lạ lùng, rối rắm trên mình con cá rồng một cách rõ nét. Jeff chăm lo vụ đó. Chỉ bằng vài cú nhấp chuột, anh cẩn thận chỉnh sửa lại hình ảnh, làm tối và mờ chúng, giảm dung lượng, chèn một điểm sáng vào giữa mặt con cá. Khi anh làm xong, trông tôi như một tay phó nháy đặc biệt vụng về. Chúng tôi hi vọng rằng nếu mấy bức ảnh đủ tệ, Heiko sẽ không muốn dùng chúng.
Và cách đó đã thành công. “Cảm ơn,” ông viết cộc lốc sau khi thấy chúng, “nhưng không may là chúng không thể in được.”
Chỉ đến sau này tôi mới nhận ra là mình đã hạ cấp tôi mức nào: Để tránh vướng vào một vụ làm cá giả, tôi đã phải làm giả một con cá.
❀ ❀ ❀
Cá rồng đã mang đến ảnh hưởng rất xấu cho cuộc đời tôi. Nhưng tôi không đơn độc. Gần đây nhất, trong khoảng thời gian tôi theo đuổi con cá, nó cũng đã hạ bệ một vị chánh thanh tra của Cảnh sát Quốc gia Indonesia (tương đương với FBI ở Mỹ). Tháng Ba năm ngoái, Tướng Susno Duadji đã bị kết án ba năm rưỡi tù giam vì tội nhận hối lộ liên quan đến một chuyện tranh chấp quanh trang trại cá rồng ở Sumatra.
Trong lúc đó, mọi sự trở nên hỗn loạn ở Malasia, nơi ngành công nghiệp cá rồng đang bùng nổ, đẩy những người nông dân trồng lúa ra đường và cá tràn ngập thị trường. Rất nhiều trang trại chào mời cách thức đầu tư là bán cá bố mẹ và chia tiền lời từ cá con. Đôi khi đây chỉ là chiêu trò lừa đảo - một dạng lừa đảo đa cấp, trong đó cùng một con cá bị bán đi bán lại nhiều lần cho nhiều người mua khác nhau. Mọi thứ trở nên xấu xí. Nông dân cáo buộc lẫn nhau về các ao hồ bị nhiễm độc. Cảnh sát bắn chết một tên trộm cá giữa ban ngày sau màn truy đuổi tốc độ cao trên ô tô ngang qua những con phố đông nghẹt người. Giá bị đẩy lên quá cao rồi rớt mạnh. Kết quả là Ng Huan Tong - đối tác người Malaysia của Kenny Ông Cá, người đã thẳng thắn chia sẻ với tôi về những dự cảm của ông trước áp lực của nền kinh tế - đã từ chức giám đốc điều hành sau khi một cuộc thanh tra kiểm toán phát hiện gần 30 triệu đô la Mỹ dùng để xây hồ nuôi cá đã biến mất. “Sự việc khá tệ,” một người trong cuộc kể với tôi. “Ông ta không được tiếp cận cửa hàng, trang trại và tất cả mọi thứ của mình.”
Gần quê nhà tôi hơn, một tấn kịch lớn cũng đã diễn ra ở New York. Không bao lâu sau khi tôi đi cùng Trung uý Fitzpatrick trong chuyến lùng sục cá sấu hồi năm 2009, kẻ buôn lậu cá rồng mà anh bắt được năm năm trước ở sân bay JFK đã tái xuất. Simon Chaw sinh sống ở Queens, là một người giao thực phẩm gốc Trung Quốc ba mươi bảy tuổi, đã đổi sang nghề bán ga. Một lần nữa, anh ta bị bắt khi đi nghỉ ở quê nhà Malaysia trở về với một chiếc va li cá rồng nhốt trong những chiếc túi nước. Lần này hành lý của anh ta bị thất lạc khi trung chuyển ở Hồng Kông. Khi cuối cùng nó cũng tới được New York, hải quan để ý thấy chiếc va li đã bị rò nước. Vụ việc bị kéo qua hết toà này đến toà kia trong hơn hai năm. Hiện nay Chaw đang thụ án một năm tù giam ở Trại giam Metropolitan ở Brooklyn - cùng một nơi từng giam giữ John Gotti Jr., thủ lĩnh băng tội phạm gia đình Gambino, thành viên al-Qaeda Najibullah Zazi, kẻ đứng đằng sau âm mưu đánh bom hệ thống tàu điện ngầm New York.
Khi tôi tới thăm Chaw trong tù, tôi thấy ra anh ta là một người chơi cá hiền lành chỉ mong ngóng được đoàn tụ với con cá rồng Rosie yêu quý của mình. Anh ta ngờ rằng giờ nó đang bị nhốt trong một thuỷ cung công cộng ở Texas. (Anh ta chưa được phép chính thức biết nơi nuôi nó.) Khi được hỏi anh thấy điểm gì khó cưỡng lại nơi loài cá rồng châu Á, anh nói: “Tôi tin rằng loài cá này mang đến sự bình yên và may mắn.” Anh ta chẳng hề bận tâm là chính mối quan hệ lằng nhằng của mình với loại cá này đã khiến anh phải chịu cảnh tù tội sau song sắt.
Khi bị bắt, Chaw phàn nàn với một đặc vụ của cơ quan Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ rằng thật “vớ vẩn” khi cá rồng châu Á bị cấm ở Mỹ, trong khi loài cá này được nuôi hàng loạt ở các trại cá. Khi ngài thẩm phán trách mắng anh ta về lời nhận xét này ở phiên toà, không một ai thuộc hệ thống luật pháp biết gì về loài cá này, trong biên bản nó còn được mô tả là “một loại cá vàng mình dẹt.” Tôi có cái nhìn rộng lớn hơn về toàn cảnh sự việc, nhưng ngay cả tôi cũng không biết phải nhìn nhận lời phản đối của Chaw ra sao. Sự thật là có một câu hỏi cơ bản vẫn đang khiến tôi băn khoăn: Tại sao ngay từ đầu loại cá này lại bị cho là buôn bán bất hợp pháp?
❀ ❀ ❀
Để tìm câu trả lời, tôi lần theo một chuỗi văn bản luật ngược về Luật Lacey năm 1900, Bộ luật Bảo tồn động vật hoang dã đầu tiên cấp liên bang, vẫn được áp dụng để xử các vụ buôn lậu cho đến ngày nay. Nó được đặt theo tên nghị sĩ bang Iowa John Lacey, ông là người cảnh báo rằng “thế giới đang trở nên vô giá trị như một miếng cam đã bị mút sạch nước.” Bộ luật này vốn là để siết chặt lại những quy định lỏng lẻo của liên bang về loài vật được phép săn đã được thông qua từ cuối những năm 1800. Khi ấy, thiên nhiên hoang dã của Hoa Kỹ đang gặp rắc rối lớn. Do nạn săn bắn quá đà, hai loài vật biểu trưng từng có số lượng cực lớn đã biến mất hoàn toàn: loài bò rừng bison (hay còn gọi là trâu Mỹ) và chim bồ câu di cư. Bò bison đã được cứu trong gang tấc dù có thành phần AND bò nhà lẫn trong hệ gen của nó. Bồ câu di cư thì không được may mắn như vậy. Loài chim xinh đẹp có màu lông nhạt này đã từng có lúc chiếm từ 25 đến 40% số lượng chim của toàn nước Mỹ, nay đã bị săn bắn hàng loạt để làm thức ăn hoặc chỉ để tiêu khiển. Con cuối cùng còn sót lại, tên là Martha, đã chết trong một vườn thú ở Cincinnati năm 1914. Ba năm rưỡi sau, chú vẹt đuôi dài Carolina cuối cùng cũng chết ở đó. Nó là một loại chim có bộ lông ba màu đỏ, xanh và vàng, bị săn để lấy lông. Nó là loại vẹt đặc trưng duy nhất của miền Đông nước Mỹ.
Nhìn trước tương lai, Luật Lacey được sửa đổi trong thập niên 30 để cấm việc vận chuyển động vật hoang dã không chỉ trái với luật liên bang mà còn là bất kì điều luật nào của nước ngoài. Đến lúc này, quy tắc bảo tồn mới của người Mỹ đã bắt đầu được lan rộng khắp toàn cầu. Ngay từ năm 1911, Hoa Kỳ đã dẫn dắt Anh Quốc, Nhật Bản và Nga kí vào Hiệp ước Lông hải cẩu Bắc Thái Bình Dương - một hiệp định quốc tế đầu tiên bảo vệ động vật hoang dã. Chỉ riêng trên quần đảo Pribilof cô độc ở phía đông biển Bering, việc giết hàng loạt hải cẩu chỉ để lấy bộ lông mềm mượt của chúng đã làm giảm số lượng từ hai triệu con xuống còn ba trăm ngàn. Nhờ áp dụng hạn ngạch săn bắn trong hiệp định, dân số hải cẩu đã gần khôi phục lại mốc lịch sử của nó hồi những năm 1950. Bầy hải cẩu ồn ào, quẫy đạp ấy đã cho thấy rằng điều luật bảo tồn thiên nhiên hiệu quả cần phải được áp dụng xuyên biên giới.
Tuy nhiên, đến cuối Đại chiến Thế giới II, người Mỹ vẫn có thể mang về sau kì nghỉ ở nước ngoài của mình nào là giày da cá sấu, vẹt đuôi dài hay thảm làm từ da sư tử mà không bị hỏi han gì. Nhưng việc đó sắp phải thay đổi. Tổ chức Liên Hiệp Quốc non trẻ khi đó đã khai sinh ra IUCN, và năm 1963, cơ quan này kêu gọi phải có hiệp định để quy định việc buôn bán các động vật gặp nguy cơ tuyệt chủng. Một thập kỉ sau, đại diện từ tám mươi tám quốc gia đã tới Washington DC để quyết định loài nào được đặt vào ba danh sách bảo tồn với mức độ khác nhau. Tới năm 1975, khi CITES bắt đầu có hiệu lực, bản danh sách bị hạn chế nghiêm ngặt nhất - Phụ lục I - chứa hơn năm trăm loài động vật và hơn bảy mươi loại cây. Tất cả các loại sinh vật này - bao gồm cả cá rồng châu Á - bị cấm hoàn toàn việc buôn bán qua biên giới.
Một tuần sau khi từ Myanmar trở về, tôi bay tới Geneva để tham dự hội nghị lần thứ hai mươi sáu của Uỷ ban Động vật CITES, được tổ chức ở toà nhà đối diện với trụ sở cũ của Liên Hiệp Quốc, ở đó cờ của các quốc gia bay phấp phới trong gió tháng Ba. Bên trong trung tâm hội nghị, khoảng 150 nhà khoa học tới từ khắp thế giới tập trung lại để đưa ra các kiến nghị liên quan đến những loài vật đang gặp nguy hiểm nhất thế giới. Năm nay, các loài dưới nước thống trị thời gian biểu. Ở đây đang diễn ra những cuộc bàn luận về việc đưa cá mập, cá heo và san hô vào danh sách, về việc quy định hạn mức duy trì cá ngựa từ Đông Nam Á, sò lớn từ Thái Bình Dương và cá tầm từ biển Caspi.
“Khi CITES lần đầu tiên ra đời, mục đích chính là đặt ra một hàng rào bảo vệ các loài sinh vật,” trưởng nhóm khoa học gia của CITES, Tom De Meulenaer nói với tôi giữa các buổi thảo luận. Nhà khoa học người Bỉ trong bộ vest đen nghiêm túc này đã từng dự buổi họp bàn đầu tiên của Uỷ ban Động vật năm 1988, khi mới chỉ có hai mươi thành viên ngồi quanh một bàn. Ông nói rằng hồi khởi đầu: “Tất cả chỉ là cấm và cấm mọi thứ.”
Tuy nhiên, cùng với thời gian, tôn chỉ đó đã thay đổi. Các chuyên gia nhận ra rằng thị trường ngoại thương còn xa mới gây nguy hiểm cho các loài động vật bằng việc khai thác ở địa phương hay đánh mất môi trường sinh trưởng. Dần dần, CITES bắt đầu chuyển từ triết lý bài mậu dịch sang ủng hộ thương mại bền vững. Điều này chủ yếu liên quan đến câu chuyện bảo tồn thành công nhất trong hai mươi lăm năm cuối thế kỉ hai mươi: sự hồi sinh của loài cá sấu. Sau Chiến tranh Thế giới II, cơn cuồng da cá sấu để làm giày, thắt lưng và túi xách đe doạ xoá sổ loài bò sát này ra khỏi bề mặt trái đất. Đáp lại, CITES đã cố cấm tiệt việc buôn bán. Tuy nhiên, rốt cuộc giải pháp lại đến từ cách tiếp cận hoàn toàn trái ngược: cho phép thu thập có kiểm soát các quả trứng từ thiên nhiên để cho sinh sản trong môi trường nuôi nhốt lấy da và bán. Đến giữa những năm 1990, mười sáu trên tổng thể hai mươi ba loại cá sấu đã biết của thế giới đã khôi phục số lượng một cách ấn tượng. Dần dần, hoạt động mua bán trái phép biến mất nhờ các trại nuôi cá sấu.
Thành công này khiến CITES bắt đầu cấp chứng nhận cho trang trại cá rồng châu Á vào thập niên 1990. Tuy nhiên hơn mười năm sau, khi tôi bắt đầu đi tìm cá rồng hoang dã ở Đông Nam Á, không một ai nói về chuyện hồi sinh dân số nữa. Thay vào đó, loại cá này dường như đã biến mất khỏi thiên nhiên. Có lẽ chỉ có một cách giải thích đơn giản: Không giống các trại cá sấu, nơi mang lại giá trị kinh tế cho động vật hoang dã với tư cách là nguồn đẻ trứng, việc chăn nuôi cá rồng thực sự là một hệ thống khép kín, gần như không đem lại lợi ích gì cho việc bảo tồn loài cá ấy ở môi trường tự nhiên.
Vì lí do này, và nhiều nguyên nhân khác, việc cho phép chăn nuôi vì mục đích thương mại các loài động vật gặp nguy cơ tuyệt chủng vẫn còn gặp nhiều tranh cãi. “Rất thường xuyên, việc đó chỉ càng làm tăng nhu cầu,” giám đốc chính xác của tổ chức TRAFFIC Quốc tế, Sabri Zain đã nói với tôi như vậy, chỉ ra ví dụ về việc nuôi hổ. Trong thiên nhiên chỉ còn lại khoảng 3.200 chú hổ hoang dã thì một con số ước tính là năm tới sáu ngàn con đang được nuôi ở Trung Quốc để lấy xương, da và thịt. Người Trung Quốc dám chắc việc này sẽ loại bỏ hoạt động săn bắn trộm, nhưng Zain và hầu hết các nhà sinh vật học theo phe bảo tồn đều phản đối. “Chỉ cần một sự tăng nhu cầu nhỏ nhất thôi cũng đủ sức quét sạch toàn bộ dân số loài hổ,” ông lập luận.
Tôi ngạc nhiên khi biết rằng rất nhiều chuyên gia ủng hộ việc thu hoạch động thực vật từ thiên nhiên nếu số lượng của chúng cho phép. Tuy nhiên, những người vận động quyền cho động vật chiếm số đông trong hội thảo lại thấy việc này là táng tận lương tâm - đặc biệt trong trường hợp vật nuôi trong nhà. Hiệp hội Nhân đạo Quốc tế so sánh việc cá bắt ngoài thiên nhiên cũng như hoa bị cắt khỏi cành, chúng giống nhau ở đời sống ngắn ngủi. Các nhóm khác phản đối toàn bộ việc nuôi nhốt động vật. “Cá nhân tôi thấy bể cá là một trò độc ác không thể hiểu nổi,” DJ. Schubert của Viện An sinh Động vật nói với tôi. “Ngay cả với một con cá vàng, đó hẳn là một cuộc sống khủng khiếp.”
Schubert không phải người duy nhất nghĩ như vậy. Trong những năm gần đây, các cuộc vận động quyền cho động vật trên khắp hành tinh ngày càng chú trọng đến loại cá từng bị coi nhẹ này. Ở châu Âu, vài chính phủ thậm chí đã bắt đầu pháp lí hoá vấn đề này: Năm 2004 tại thành phố Monza nước Ý đã đã cấm nuôi cá vàng trong bình vì hình dạng của chúng hạn chế lượng ôxy và các cạnh tròn của chiếc bình khiến chú cá có cái nhìn “méo mó với hiện thực.” Hà Lan nhanh chóng nối bước. Ở Vương quốc Anh, Đạo luật An sinh Động vật năm 2006 cấm việc trao cá vàng làm phần thưởng trong các hội chợ, cũng như bán cá sống cho trẻ dưới mười sáu tuổi. Năm 2010, việc này đã dẫn đến vụ bắt giữ một cụ bà sáu mươi sáu tuổi người Anh. Bà ta đã bị phạt 1.000 bảng, nhận lệnh giới nghiêm và phải đeo vòng chân kiểm soát vì đã bán một chú cá vàng cho cậu bé mười bốn tuổi.
Dù những câu chuyện trên nghe có vẻ ngớ ngẩn, nhưng chúng là dấu hiệu cho thấy một cuộc cách mạng đang gần kề. Ngày càng có nhiều nhà ngư học bắt đầu thừa nhận trí tuệ của loài cá, điều này vốn từ trước đến nay vẫn bị bỏ qua. Một nhóm người Anh đã viết trong bài báo Cá và Ngư nghiệp nêu rõ sự thay đổi lớn trong ngành này vào năm 2003:
Ngày nay ta đã không còn thấy (hay ít nhất là giảm hẳn) hình ảnh loài cá nhàm chán và trí tuệ cấp thấp, chủ yếu hoạt động dựa trên “bản năng” với rất ít sự linh hoạt trong hành vi, nhất là với định kiến “não cá vàng[*]” của chúng nữa. Bây giờ cá cũng được xem xét trên bậc thang trí tuệ xã hội, tuân theo các chiến lược của Machiavelli về kiểm soát, trừng phạt và hoà giải.
[*] Nguyên văn three-second memory - giả thuyết trí nhớ ngắn hạn của cá chỉ tồn tại ba giây.
Theo một nhà sinh vật học tiến hóa người Mỹ tên là Gordon Burghardt, một số loại cá thậm chí còn biết chơi. Khi đi nghiên cứu cho cuốn sách Nguồn gốc trò chơi của Động vật, ông chỉ mới bắt đầu nghi ngờ, dần dần ông viết hẳn một chương dài nhất về những con cá chép và cá nhái trong đầm nhảy bên trên những chú rùa. Một trong số những ví dụ thuyết phục hơn của ông là về loài cá quái bạc, chúng có tiểu não lớn nhất trong các loài cá và dường như chúng thích thú với việc giữ thăng bằng quả bóng bằng miệng. Dù cá rồng có họ hàng rất gần với lũ cá mê thể thao nói trên nhưng chúng chưa bao giờ gây ấn tượng với tôi về tính thông minh nhanh nhẹn cả. Tuy nhiên, một chuyên gia ở Thủy cung New England từng đảm bảo với tôi rằng chúng thể hiện một trí thông minh kỳ lạ.
Từ lâu tôi vẫn tự hỏi những loài vật thông minh như vậy có thấy buồn chán khi sống trong bể cá không. Khi tôi đặt câu hỏi này với Svein Fossa, cựu chủ tịch Hiệp hội Cá cảnh Quốc tế mà tôi đã gặp ở Aquarama, ông chỉ ra sự mâu thuẫn của những người khó chịu vì sợ cá rồng buồn chán, trong khi rất, rất nhiều loại cá khác đang bị chèn ép đến chết trong những chiếc tàu đánh cá hay bị bỏ lại thoi thóp trên sàn tàu. Ông tưởng tượng rằng nếu được lựa chọn thì chú cá thà làm vật nuôi của người còn hơn, “nếu chúng biết suy nghĩ, dù tôi nghi ngờ chuyện đó,” ông nói thêm. “Tôi tin rằng rất nhiều loài động vật, bao gồm cả cá, đều là sinh vật có tri giác - nhưng thế nào là có tri giác?”
Trong suốt những năm quen biết Fosså, một người Na Uy cao lớn với đôi mắt xanh tròn xoe, đeo kính gọng tròn và đôi má đỏ hồng, tôi đã luôn nghĩ về ông như một triết gia biết tất tần tật về cá cảnh (mặc dù ông thích cụm từ “người bạn đồng hành động vật” hơn là “thú cưng”). Fosså kể với tôi rằng ông đã tham gia các buổi họp của CITES về ngành công nghiệp cá cảnh từ năm 1999, và hồi ấy ông rất ngây thơ về cách thức hoạt động của hiệp ước này: “Tôi đã tưởng vấn đề ở đây là về khoa học, về lẽ phải. Tôi mới sai lầm làm sao.”
Theo quan điểm của Fosså, tất cả mọi chuyện đều liên quan đến chính trị. Để nêu một ví dụ, ông kể lại chuyện năm 2010, người ta đã đề nghị đưa cá ngừ vây xanh của Đại Tây Dương vào Phụ lục I. Loại cá này vốn là nguyên liệu nổi tiếng để làm sushi và số lượng của chúng đã giảm hơn 80% kể từ thời điểm bắt đầu kỉ nguyên đánh bắt cá, rõ ràng nó đang bị đe dọa bởi việc buôn bán trên thị trường quốc tế[*]. Tuy nhiên, những nhà vận động hành lang quyền lực do Nhật Bản dẫn đầu đã ngăn chặn thành công lời đề nghị này. Trong khi đó, cả một chi ếch cạn của Trung Mỹ mà một nửa số loài trong đó là những loại ếch thường đã rơi vào Phụ lục II bởi không có ai thèm quan tâm đến việc phản đối. “Chúng bị đưa vào chỉ đơn giản vì có quá ít loài bị liệt kê đến nỗi tất cả mọi người đều nghĩ: “Chà, chúng ta phải liệt kê cái gì đó chứ nhỉ,” Fossa nói với tôi điều này ở Geneva.
[*] Chính cá ngừ vây xanh - chứ không phải cá rồng cháu Á hay cá koi - mới là loài cá đắt nhất thế giới. Năm 2013, một con cá nặng 221 kilogram đã được bán với giá 1,8 triệu đô la. (Ghi chú của tác giả)
“Ngay cả những người đề nghị việc đó cũng nói rằng loài ếch này không hiếm lắm,” bạn của ông Fosså là Jim Collins nói thêm. Ông là người vận động hành lang còn lại của ngành công nghiệp thú nuôi có tham dự hội nghị. Collins là một người Anh mê bò sát, ông sở hữu bộ sưu tập rắn chuông lớn nhất thế giới và cũng có một người bạn thân mất năm ngoái do bị rắn hổ mang chúa cắn. Collins lừ mắt nhìn những nhà hoạt động vì quyền động vật ở bên kia phòng, gọi họ là “lũ điên.”
“Bọn họ sẽ chẳng chịu dùng những lời tử tế như thế với chúng ta đâu,” Fosså đáp lời.
Tuy nhiên, cả hai người đàn ông đều ghét cay ghét đắng những người vận động cho lệnh cấm buôn bán toàn bộ động vật hoang dã. “Cô có thể hỏi họ liệu người ta có được buôn bán châu chấu không, và họ sẽ bảo không,” Collin phàn nàn, lập luận ràng liệt kê các loại động vật mà không có mục đích gì là hành động phản tác dụng, bởi con người thực sự đi thu thập những loài nằm trong Sách Đỏ chỉ để cho vui.
Fossa đồng tình: “Ngay khi cô kêu lên con gì đó rất hiếm, lập tức sẽ có những kẻ muốn có nó.”
Tôi cũng từng nghe lập luận này trước đây, không chỉ mỗi Heiko nói mà còn cả trong giới học giả nữa. Vài năm về trước, một nhóm do nhà sinh vật học người Pháp Franck Courchamp dẫn đầu đã tìm cách khảo sát xem con người đánh giá sự khan hiếm như thế nào bằng cách đong đếm những khó khăn mà khách tham quan một sở thú ở Paris chấp nhận trải qua chỉ để xem vài con thú nhất định. Họ ghi nhận khách trả bao nhiêu tiền, đi bộ lên bao nhiêu bậc cầu thang và liệu họ có chịu đi dưới một vòi phun nước hay không. Các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng mọi người dành gấp đôi thời gian để nhìn một chú ếch hay tắc kè được đánh dấu là hiếm gặp so với khi chúng chỉ được ghi là ếch hay tắc kè bình thường.
Một lý thuyết kinh tế tiêu chuẩn từ lâu đã tuyên bố rằng chỉ mỗi việc buôn bán không chắc sẽ đẩy các loài vật đến chỗ tuyệt chủng, bởi chi phí ngày càng tăng dành cho việc săn lùng những cá thể cuối cùng của một loài đang giảm dần dân số. Nói cách khác, đến một lúc nào đó, bạn sẽ phải bỏ ra nhiều tiền để bắt con cá rồng cuối cùng trong đầm hơn là giá trị nó có thể thu được trên thị trường. Courchamp thì không nghĩ vậy. Năm 2006, ông cùng những người khác đã đề xuất một mô hình mới, tích hợp một khía cạnh cơ bản trong hành vi của loài người. Kể từ thời của Adam Smith[*], các nhà kinh tế học đã hiểu biết rộng rãi về “nghịch lý giá trị,” hay một tên gọi khác là “nghịch lý nước và kim cương.” Trong khi nước có giá trị thực tiễn vô cùng to lớn, nó lại chẳng đáng giá chút nào trong trao đổi. Ngược lại, các loài động vật hiếm lại giống như kim cương. Chính giá trị bị thổi phồng của chúng càng đẩy mạnh việc khai thác bất cân đối, khiến chúng ngày càng hiếm hơn nữa và do đó đáng thèm muốn hơn nữa, cho đến khi chúng bị hút vào xoáy nước tuyệt chủng.
[*] Nhà kinh tế học nổi tiếng của Scotland, sống ở thế kỉ 18.
Khi tôi hỏi Fossa ông có nghĩ việc tuyên bố cá rồng châu Á là loài cá gặp nguy cơ tuyệt chủng cao nhất thế giới cũng chính là hành động tự nó gây ra kết quả đó hay không, tương tự như khi người ta cho bán một bộ sưu tập hạn chế, ông cân nhắc câu hỏi thật kĩ. “Rất khó trả lời,” ông nói, “nhưng ít nhất thì nhu cầu dành cho nó cũng đã leo thang khủng khiếp khi nó được đưa vào Sách Đỏ - người ta khám phá ra điều đó rồi.”
Còn về chuyện làm thế nào mà ngay từ đầu con vật đã được ghi vào Phụ lục I thì tôi không tài nào làm sáng tỏ vấn đề. Vài người còn nhớ được những ngày đầu tiên của hiệp ước đánh giá cách tiến hành việc này là hơi bừa bãi. Các loài động vật bị liệt kê hàng loạt mà không có tranh biện thật sự hay bằng chứng khoa học gì. Những người đưa ra nghị quyết thường chỉ nói chuyện khơi khơi và không để lại nhiều tài liệu kiểm chứng. Dường như không có ai kì vọng tôi đào bới được gì nhiều trong quá khứ.
❀ ❀ ❀
Tuy nhiên tôi đã bỏ qua một cuộc họp về hải sâm và bắt một chuyến xe buýt đi xuyên thành phố tới kho lưu trữ của Cơ quan thư ký CITES. Hầu hết các tài liệu từ thời đầu đã bị ném đi, chỉ còn lại đúng một giá sách chứa các tệp hồ sơ. Nhưng tôi vẫn thấy nản lòng khi ngồi ở một chiếc bàn họp và bắt đầu lật giở qua cả một núi tài liệu màu vàng.
Tôi đã biết chuyện giữa những năm 1960, tổ chức IUCN đã sáng lập một nhóm riêng để cứu các loại cá nước ngọt. Tại Singapore, tôi lần tới Eric Alfred, cựu giám đốc ngành động vật ở Viện bảo tàng Quốc gia, ông cũng là người phụ trách xác định loài vật nào đang gặp nguy cơ tuyệt chủng ở Đông Nam Á. Lớn lên ở bán đảo Mã Lai hồi những năm 1930, công việc của ông là di chuyển khắp bán đảo khi nó vẫn còn là “một vùng hoang sơ rộng lớn,” để hỏi han các ngư dân xem loài cá nào đang ngày càng hiếm gặp. Cuối cùng, Alfred gợi ý hai loài để đưa vào Sách Đỏ của IUCN dành cho Những loài vật gặp nguy cơ tuyệt chủng, cả hai loại cá làm thức ăn này đều tái tạo dân số rất chậm và đều phổ biến với giới câu cá: đó là cá chép vàng lớn Jullien và cá rồng châu Á. Cặp đôi sau đó đã xuất hiện trong Phụ lục I của CITES hồi những năm 70. Câu hỏi là Tại sao? Trong số tất cả những loài cá trên đời, tại sao lại thêm chúng vào một hiệp định hạn chế thương mại quốc tế trong khi vấn đề của chúng chỉ có ở địa phương - đó là đánh bắt quá đà và mất dần nơi sinh trưởng?
Đến lúc tôi gặp được Alfred năm 2011, ông đã ở độ tuổi tám mươi và đã rời xa thế giới cá từ ba thập kỉ trước đó. Những dòng suối nguyên sơ của tuổi trẻ ông giờ đã cạn kiệt, thay vào đó là những trang trại cọ dầu kéo dài bất tận. Ông thú nhận mình không hề biết rằng cá rồng châu Á lại trở thành một vật nuôi thời thượng và đắt tiền đến thế. Trong lúc chúng tôi ngồi ở vườn trước nhà ông trên một quả đồi yên tĩnh trông xuống trung tâm Singapore, ông nói cho tôi biết từng ấy năm đã dạy cho ông điều gì: “Nói đến vấn đề bảo tồn, chúng ta nên bảo vệ môi trường thay vì động vật. Cứ để mặc cho chúng tự chăm lo lấy thân.”
Rốt cuộc tôi cũng mò ra được bản liệt kê đầu tiên dành cho cá rồng châu Á trong đống tài liệu ấy. Nó đã được đánh dấu D - viết tắt từ “delete” (xóa bỏ). Nói cách khác, đáng lẽ con cá phải bị loại khỏi bản thảo vì thiếu chứng cứ ủng hộ cho việc đưa nó vào danh sách. Vì lí do gì đấy mà nó vẫn còn ở lại. Không ai biết tại sao - cũng như không ai biết được hậu quả vô tình do sự nổi danh đó mang lại.