COLOMBIA
Dù tôi đã không lường trước được, nhưng việc tôi có mặt ở Amazon cũng dễ đoán - thậm chí là không tránh khỏi. Câu chuyện nào về cá cũng đều kết thúc ở đây. Nam Mỹ chứa đựng nhiều chủng loại cá hơn bất kì lục địa nào khác, bởi con sông lớn nhất thế giới đang chảy xuyên qua nó. Bắt đầu chỉ là một dòng chảy nhỏ trong con suối ở dãy Andes, rặng núi nhô cao và khô ráo phía trên bờ biển Thái Bình Dương, nó thu thập thêm sức mạnh trong quãng đường chảy về phía tây để cuối cùng chảy ra biển Đại Tây Dương với năng lượng mạnh tới nỗi cách cửa biển hơn 160 kilômet mà người ta vẫn còn nếm được vị nước ngọt. Dòng sông khổng lồ này cũng có một lòng chảo khổng lồ tương ứng, nó có kích thước bằng cả phần đất liền của nước Mỹ, cõng trên mình nó cánh rừng nhiệt đới lớn nhất thế giới và cũng là bà mẹ đỡ đầu của sự đa dạng sinh thái của trái đất. Người ta đã biết đến hơn ba ngàn loại cá sinh sống nơi đây.
Để theo đuổi một loài trong số đó - con cá rồng bạc - tôi đã đặt mục tiêu của mình thấp hơn những chuyến phiêu lưu trước đó. Lần này tôi không theo đuổi loại cá đắt giá và cực kì quý hiếm là siêu cấp huyết long ở tận sâu trong Borneo, thứ mà không ai nghĩ tôi sẽ tìm được. Tôi cũng không định đi tìm chén thánh của các loại cá mới ở vùng chiến sự bị cấm đoán của Myanmar nữa. Thay vào đó tôi chuyển sang Kế hoạch C: bám theo nhà thám hiểm vùng nước ngọt vĩ đại nhất còn sống để ông giúp tôi tìm kiếm một con cá mà chính ông nghĩ là không khó bắt. Tôi cảm thấy tự tin rằng rốt cuộc mình cũng có được một con cá rồng hoang dã trong tầm tay.
Vào ngày cuối cùng của tháng Tám, tôi bay tới thủ đô Bogota của Colombia để gặp Heiko. Tôi đến lúc trời đã tối và tôi run rẩy vì không khí lạnh trên dãy Andes trong lúc chiếc taxi chở tôi tới một khách sạn nhỏ ở một con phố tối tăm gần trung tâm thành phố. Bên trong, sàn đá cẩm thạch sáng bóng như gương. Tôi tưởng sẽ gặp Heiko đang ngồi trong một trong những chiếc ghế da màu đen, đôi mắt mệt mỏi bên dưới vành mũ. Nhưng trong sảnh không còn ai, trừ một người phụ nữ ở quầy lễ tân đang làm thủ tục nhận phòng cho một chàng trai trẻ. Anh ta rất to con nhưng lại tạo cho người khác ấn tượng về một đứa trẻ to xác, với làn da mịn màng đẹp đẽ, thân hình mũm mĩm mềm mại và ánh mắt hoang mang mất phương hướng.
Tôi chỉ vừa nhận được chìa khoá phòng mình thì chiếc điện thoại màu đen trên quầy đổ chuông ầm ĩ. Nhân viên lễ tân trả lời: “Buenas noches.” Cô ta lắng nghe một lát rồi đưa ống nói cho tôi trước sự ngạc nhiên của tôi. Chỉ có thể là Heiko.
“Xin chào?”
Đó không phải là Heiko. Đó là một người đàn ông nói bằng trọng âm Tây Ban Nha, bảo tên ông ta là Humberto. Ông ta nói nhanh đến nỗi tôi không theo kịp, mặc dù cũng nắm được ý chính: Heiko không có mặt ở Bogota như đáng ra phải thế. Thậm chí ông còn không có ở Nam Mỹ. Nhưng ông gửi lời nhắn là tôi cứ tiếp tục đi một mình đến Amazon. Ông sẽ gặp tôi ở đó.
Tôi đã nghe câu này trước đây rồi.
Trên phòng mình, tôi mở email ra và đọc “lời nhắn khẩn cấp từ Heiko.” Ông bị kẹt ở Frankfurt vì chiến dịch đình công trong ngành hàng không và bảo tôi nên bay tới thị trấn bến cảng vào Amazon tên là Leticia cùng một người Ba Lan tên là Michal cũng tham gia chuyến đi này. Sáng hôm sau, người xuất khẩu cá ở địa phương là Humberto mà tôi vừa nói chuyện trên điện thoại sẽ cho chúng tôi đi nhờ tới sân bay.
Đêm đó, tôi chìm vào giấc ngủ chập chờn, một lần nữa mơ thấy mình đang ở trên một con thuyền giữa dòng nước đen. Nửa đêm, tôi thức giấc và nhận ra cơn rung lắc mình cảm nhận được không chỉ là trong ác mộng - nó là một trận động đất. Chiếc giường đang thực sự rung bần bật bên dưới tôi. Quá mệt tới mức không thể xử lý nổi một cơn khủng hoảng khác, tôi nằm lại xuống giường và để mặc cho dãy Andes - chính dãy núi mà 11 triệu năm trước đã dâng lên và tạo ra vùng Amazon - đưa mình vào giấc ngủ.
❀ ❀ ❀
Người Ba Lan tham gia chuyến đi chính là cậu bé lớn xác tôi trông thấy khi nhận phòng. Tôi cũng đã ngờ ngợ từ trước đó. Thực ra, tối hôm trước tôi đã hỏi có phải anh ta đến đây để gặp Heiko Bleher không, nhưng anh ta chỉ vẫy tay như thể từ chối giao tiếp. Hoá ra đó là vì anh ta không nói tiếng Anh hay tiếng Tây Ban Nha, mà chỉ nói tiếng Ba Lan.
Thực ra nói như vậy không hoàn toàn đúng. Anh ta đã tự học tiếng Anh suốt cả mùa hè để chuẩn bị cho chuyến đi. Thế nhưng mỗi lần nói chuyện, tôi vẫn có cảm giác như mình đang làm anh ta bị đau thật sự vậy. Sau khi gặp nhau ở sảnh khách sạn sáng hôm đó, chúng tôi đã ngồi kế bên nhau trong im lặng, chờ Humberto xuất hiện để đưa cả hai tới sân bay. Rốt cuộc tôi hỏi: “Anh có cảm nhận được trận động đất đêm qua không?” Tôi lăn hai cánh tay để mô tả. “Động đất ấy. Động đất.”
Đột nhiên mắt anh sáng lên. “Có! Có!” Anh nói. Tôi đã phá vỡ sự im lặng.
Dần dà tôi thu được vài mảnh thông tin từ Michal. Tên đầy đủ của anh là Michal Babinski (chữ Michal phát âm giống như trong Mikhail Gorbachev). Anh hai mươi bảy tuổi. Và anh cũng không phải người đi rừng thành thạo như tôi từng hi vọng. Thay vào đó, anh là nhân viên của một cửa hàng thú cưng ở Gdansk, chưa bao giờ rời khỏi châu Âu. Thực tế, thậm chí anh còn chưa đi cắm trại bao giờ. Anh là một người hiểu biết về cá, đã thắng một cuộc thi nho nhỏ do nhà sản xuất bể cá của Ba Lan là Aquael tài trợ. Tên của nhà máy đó được in trên chiếc áo khoác đen và mũ lưỡi trai mà anh đang mặc. Chuyến đi này chính là giải thưởng của anh.
Khi tôi hỏi Michal anh biết gì về FARC không, anh im lặng cắn móng tay qua lại cứ như hộp mực của cái máy đánh chữ với biểu cảm sợ hãi trên mặt. Anh nói rằng hôn thê của anh, một cô gái làm việc cho cửa hàng thịt, đã rất lo lắng. Rồi cả hai chúng tôi lại chìm vào yên lặng, mải mê suy nghĩ. Michal, anh chàng to lớn với cái ba lô nhỏ cứ như anh chỉ ra ngoài đi dã ngoại, còn tôi thì cõng chiếc ba lô nặng chịch tới mức không đứng lên nổi. Tôi thực sự đã phải thảy nó lên một cái ghế, thụp xuống để tựa nó lên hông rồi lăng mình tới để đứng lên. Tôi đã có cả một mùa hè để chuẩn bị, và tính đến tất cả những lần tôi được cảnh báo rằng Heiko có thể bỏ lại tôi một mình giữa rừng, tôi đã quyết tâm sẽ tự lực cánh sinh tối đa. Ở một cửa hàng đồ thể thao tại New York, người bán hàng vốn là cựu chiến binh từ Iraq đã thuyết phục tôi đầu tư vào một thứ có tên QuikClot, anh ta hướng dẫn tôi đắp nó lên vết thương bị đạn bắn và cảnh báo là khi tiếp xúc với da nó sẽ khiến bỏng rát. Tôi cũng mua những viên thuốc lọc nước; các thanh prôtêin chống đói, bộ xử lý rắn cắn (bao gồm một con dao sắc lẻm, một cuộn dây và một tờ ghi chú bảo bạn nên đi tới bệnh viện); và hai cái khăn khô chỉ dài cỡ sáu centimet nhưng hứa hẹn sẽ nở ra thành khăn tắm cỡ thường khi được thấm nước. Jeff đã thuê cho tôi một chiếc điện thoại vệ tinh làm tôi rất cảm kích. Sự biết ơn giảm đi chút ít với mấy tấm pin năng lượng mặt trời to đùng mà anh bắt tôi mang theo để sạc cho chiếc điện thoại. Tôi đã cố tình “để quên” chúng một cách tiện lợi ở dưới gầm giường, nhưng bị bắt quả tang, thế nên bây giờ chúng bị buộc bên ngoài ba lô của tôi và va vào nhau lanh canh mỗi khi tôi bước đi, hơi xấu hổ một chút.
“Ôi trời ơi!” Humberto Zea kêu lên khi ông ta cố nhấc cái túi của tôi. Ông ta là người dẻo dai, có mái tóc cắt cua, vội vã ào vào trong sảnh và tuyên bố chúng tôi đã bị muộn. Cả hai chúng tôi cùng kéo cái ba lô lên xe ông ta và đẩy nó vào trong cốp. Michal gập người ở ghế sau còn tôi trèo lên ngồi cạnh Humberto.
Trong lúc chúng tôi thẳng tiến tới sân bay, tôi biết được ông ta là thế hệ thứ hai trong gia đình buôn cá đã quen biết Heiko từ thập niên 90. “Ông ấy là người rất đặc biệt,” Humberto nói, trấn an tôi là Heiko biết rõ cần phải xử lý đám du kích thế nào. “Tôi không biết làm sao ông ấy làm được thế. Ông ấy biết cách xử lý tình huống.” Humberto kể khi đi thám hiểm, Heiko ăn không từ một thứ gì và đã kháng được cả muỗi. “Có cả triệu con muỗi ở chỗ cô sắp tới,” ông ta thêm vào rồi liếc xéo qua tôi, “mà chúng thích da thịt trắng trẻo lắm đấy.”
Trước đây Humberto đã từng đi cùng Heiko để tìm các loại cá mới cho thị trường cá. Cả 150 loài hiện nay Humberto đang xuất khẩu, bao gồm cá rồng, đều được bắt từ thiên nhiên thay vì nuôi trong trại. Điều này là chuyện bình thường ở Nam Mỹ. Khi nói tới ngành ngư nghiệp, gần như không nơi đâu có thể cạnh tranh với châu Á, nơi sản xuất phần lớn số cá nuôi.
Tuy nhiên bây giờ, mỗi năm sản lượng cá rồng đánh bắt được lại càng thấp hơn nhu cầu của người Trung Quốc. Humberto nói rằng nguồn cung đã sụt giảm trong thập kỉ vừa qua, nên gần như không còn con cá rồng bạc nào xuất khẩu từ Colombia thực sự có nguồn gốc tại đây nữa. Thay vào đó, chúng bị đưa lậu ra khỏi Brazil, nơi loài vật này từ lâu đã được mặc định bảo vệ vì nó không xuất hiện trong “danh sách trắng” rất ngắn các loài vật được phép xuất khẩu.
Đáng ngạc nhiên là Humberto lại khăng khăng rằng ngành buôn cá cảnh không phải thủ phạm gây ra số phận đáng buồn của loài cá rồng Colombia - mà là cuộc chiến chống ma tuý của nước Mỹ. Kể từ những năm 1990, người Mỹ đã chi hàng triệu đô la không chỉ để trợ giúp quân đội Colombia chiến đấu với bọn buôn ma tuý FARC, mà còn để xịt thuốc diệt cỏ vào các nơi trồng thuốc phiện. Những khẩu súng phun sương này thường trượt và thải ra cả đống thuốc vào rừng nhiệt đới. Người dân ở đây bị bệnh. Dù Mỹ vẫn tuyên bố hợp chất hoá học của họ “thực sự không độc với cá,” nhưng các chuyên gia từ lâu đã phản đối điều này. Cá rồng đặc biệt dễ bị tổn thương do chúng là giống săn mồi trên mặt nước, trực tiếp tiêu thụ những con cá bị nhiễm độc. “Chính phủ đổ lỗi cho những nhà buôn cá,” Humberto nói khi chia tay chúng tôi ở sân bay, “nhưng họ không phải là vấn đề.”
Dựa vào tất cả những gì vừa nghe, tôi bắt đầu lo ngại rằng việc tìm được một con cá rồng hoang dã có thể không đơn giản như tôi đã nghĩ. Tôi còn đang nghiên ngẫm vấn đề suốt chuyến bay hai tiếng về phương nam thì Michal đột nhiên kêu: “Pseudotrophéu socolofi.” Tôi nhìn sang và thấy anh ta đang chỉ vào một con cá có màu xanh điện ngoài bìa cuốn sách đang đặt trên đùi tôi. Tôi xem phần ghi chú. Anh nói đúng.
Cuốn sách này là hồi ký của một nhà nhập khẩu cá nhiệt đới người Mỹ, mô tả bằng cách nào mà thị trấn Leticia, nơi chúng tôi sắp tới đã biến thành trung tâm của ngành buôn cá cảnh hồi thập niên 1950. Leticia là một cảng chính kết nối Trapezium, phần đất kéo dài về phía nam từ Putumayo và mang lại cho Colombia con đường duy nhất tiếp cận vùng trung tâm Amazon. Người ta chỉ có thể đến nơi này bằng thuyền hoặc máy bay. Ngay cả trong thời nay cũng không có con đường nào để đi vào hay ra khỏi đây.
Khi đến nơi, chúng tôi được hướng dẫn tới gặp một người tên là Jimmy ở sân bay nhỏ bé màu vàng. Nhưng cũng chẳng có Jimmy nào xuất hiện. Heiko đã cho tôi tên của một cái khách sạn không lái xe taxi nào từng nghe nói tới. Vậy nên Michal và tôi mất cả nửa tiếng đứng chờ trên vỉa hè giữa cái nóng sực của buổi chiều muộn. Sân bay bắt đầu vắng người. Mặt trời lặn ở đường chân trời.
Cuối cùng tôi nhận ra Jimmy là một ngư dân địa phương đã đứng ở đó trong suốt thời gian qua. Anh ta là người gầy gò mặc chiếc áo cầu thủ bóng đá đang ngồi nhìn chúng tôi từ bên kia đường trên một cái xe máy. Chú của anh ta đã cử anh tới đón hai người sắp đi cùng Señor Bleher tới rừng Putumayo. Nhưng Jimmy chỉ nhìn Michal và tôi thoáng một cái - dù chúng tôi là hai người duy nhất đứng chờ ngoài sân bay - và thậm chí không buồn nghĩ rằng hai người đó chính là chúng tôi.
❀ ❀ ❀
Rốt cuộc tối muộn hôm đó Heiko cũng đến. Tôi nghe tiếng ông trong sân khách sạn và vội chạy ra ngoài, tự hỏi mình có bị ảo giác khi nghe ra giọng ông không. Nhưng đúng là ông đang ở đó, mặc một chiếc áo kaki, đội mũ màu ôliu và đeo cặp kính tráng gương kiểu phi công. Đằng sau cặp kính khuôn mặt ông trông thật kinh khủng. Do cuộc đình công ở Frankfurt, ông đã trải qua năm mươi hai giờ ở các sân bay và trên máy bay. “Lũ người Đức khốn kiếp,” ông nói. “Bọn họ cứ việc làm gì mình muốn thôi.” Rồi ông hỏi tôi: “Anh chàng Ba Lan đâu?”
“Đang ngủ,” tôi nói, hi vọng Heiko cũng làm việc tương tự. Thay vào đó, ông tiết lộ một cuộc khủng hoảng mới: Chuyến bay của chúng tôi tới Putumayo đã khởi hành sớm một ngày và giờ không còn chuyến nào trong một tuần nữa. Chưa rõ còn cách nào khác để chúng tôi tới đó không. Heiko muốn thuê một chiếc thuỷ phi cơ, nhưng Colombia đã xoá sổ hết những loại này để chống buôn lậu ma tuý. Một tiếng đồng hồ tiếp theo ông tiếp tục bàn bạc các lựa chọn bằng tiếng Tây Ban Nha với Fausto, chú của Jimmy, một ngư dân tóc bạc có bộ ria quặp. Cặp kính bạc của ông Fausto bị mất một bên gọng và ông thay nó bằng sợi dây.
Rồi Heiko tuyên bố là ông đang chết đói, chúng tôi đi vào thị trấn, ngang qua một công viên nhỏ đầy phân chim. Lúc chiều tôi đã trông thấy một bầy lớn những con vẹt kêu keng kéc thả bậy ở đó. Cuối cùng chúng tôi đến một nhà hàng trên phố chính, ngồi bên ngoài, giữa âm thanh hỗn tạp của âm nhạc và còi xe máy. Heiko gọi món pirarucu, tên địa phương của cá hải tượng, người anh em họ to lớn của cá rồng. Tôi để ý thấy ở đây cá hải tượng - chứ không phải cá rồng - mới là ngôi sao, nó có mặt trong các bức ảnh treo tường cũng như tên của các quán xá nơi đây. Rất dễ nhận ra tại sao. Nó không chỉ là loại lớn nhất trong họ cá lưỡi xương mà còn là một trong những loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới, có kích thước và hình dáng gần giống một con cá đuối điện. Có thể các bạn nghĩ ai lại đi nuôi một loài vật như thế. Tuy nhiên tôi đã nhìn thấy nó trong những hồ cá ở khắp Đông Nam Á, nơi nó được chào mời như món hàng cao cấp, một con cá rồng dạng lớn. Năm 2009, khi hai người đàn ông bị chết đuối bí ẩn ở hồ Kenyir của Malaysia, người ta đổ cho nguyên nhân là do Quái vật Kenyir, một con cá hải tượng bị đồn là phát triển quá lớn so với bề của nó và bị thả vào hồ. Người ta tin rằng con cá đã đâm thủng thuyền của hai nạn nhân.
Dù câu chuyện này gần như chắc chắn là bịa đặt, nhưng cá hải tượng đúng là có thói quen đâm sầm vào những loại thú ăn thịt cũng như con mồi; với chiều dài lớn nhất con người từng ghi nhận là bốn mét hai, cú đâm có thể khá mạnh. Tuy nhiên ngày nay hải tượng hiếm khi đạt tới một nửa kích thước ấy, bởi chúng đã bị khai thác gần cạn kiệt với biệt danh “cá tuyết của Amazon,” nổi tiếng vì lớp thịt không có xương của chúng. Gần đây các nhà nghiên cứu phát hiện ra số lượng loài này đã giảm sút hoặc bị khai thác tới 93% ở các địa điểm kiểm tra, đồng thời các nỗ lực nuôi cho sinh sản ở loài này vẫn chưa đi đến đâu. Thế nhưng tên của nó vẫn có mặt trên thực đơn ở khắp Nam Mỹ. Ở đây người ta ướp muối và cuộn miếng thịt lại như điếu xì gà để bảo quản trong cái nóng vùng nhiệt đới.
Người phục vụ đã đảm bảo với chúng tôi là món pirarucu của anh ta còn tươi, nhưng Heiko mới cắn một miếng đã nhổ toẹt ra và tuyên bố nó bị ướp muối. Đĩa thứ hai được mang ra và ông cũng trả lại. Bực bội, ông tuyên bố mình thà đi ngủ với cái bụng đói và chúng tôi cùng lê bước về khách sạn.
Sáng hôm sau, chúng tôi đi tới một doanh trại quân đội để xin đi nhờ trên chuyến bay chở hàng; nhưng chuyến bay mỗi tháng chỉ có một lần tới vùng ngoại vi Putumayo ấy lại vừa mới khởi hành. Vậy là chỉ còn một lựa chọn: đi bằng thuyền. Như thế tức là chúng tôi phải di chuyển 240 kilômet trên nhánh chính sông Amazon vào Brazil, rồi rẽ trái vào dòng Putumayo, ở đó nó có tên là Içá. Dù chuyến đi rất dài nhưng Fausto cổ vũ chúng tôi. Ông nói rằng trong mùa mưa, các ngư dân Colombia bắt cá rồng bạc ở một nhánh phụ của sông lá Içá Purité, chúng tôi có thể tìm thấy một cái hồ lớn tên là El Lago Grande ở nơi đó. Ông nói rằng trong cái hồ ấy không chỉ có cá rồng, mà còn cả cá đĩa, loại cá mà mẹ Heiko đã theo đuổi trong những năm 1950, và con trai bà chưa từng ngừng theo đuổi ở khắp những vùng nước mới. Có vẻ như đó là câu quyết định vấn đề. Heiko tuyên bố chúng tôi sẽ đi tới Purité và bắt đầu sắp xếp một chiếc thuyền.
Lúc đầu tôi không thích thú gì ý tưởng băng qua biên giới vào Brazil. Tôi lo là chúng tôi không có các giấy tờ cần thiết, mặc dù Heiko chẳng có vẻ gì là sợ. Tuy nhiên, dần dần tôi thấy sự thay đổi kế hoạch này có thể lại hoá may. Ai cũng nói rằng cá rồng ở Brazil vẫn còn khá nhiều, bởi nước này chiếm tới hai phần ba Amazon. Tôi phải thừa nhận là nghe theo lời khuyên của một người đánh cá Colombia có vẻ là cách tốt nhất để tìm con cá hoang dã.
Tuy nhiên, trong lúc chuẩn bị cho chuyến khởi hành sắp tới, tôi nghe tiếng Heiko chửi thề trong sân: “Merda!” Tôi ra ngoài và thấy ông chủ thuyền mà Heiko đã thuê, một người Anh điêng Ticuna tên là Esteban Melendez Holanda, đang giải thích bằng tiếng Tây Ban Nha là chúng tôi phải mất thêm một ngày nữa mới xin được giấy phép vào Brazil cùng với lượng xăng cần có để tới được tận Purité. Với tôi thêm một ngày không là gì. Rốt cuộc, Theodore Roosevelt đã mất tới hai tháng để đi xuôi dòng Nghi Hoặc năm 1914. Còn Alfred Russel Wallace thì biến mất trong rừng Amazon tới bốn năm hồi giữa thế kỉ 19 cơ mà.
Hiển nhiên cả hai người kể trên đều không cần phải đảm bảo cho anh nhân viên cửa hàng thú cảnh ở Gdansk phải có mặt trên chuyến bay về Ba Lan vào cuối tuần. Theo thoả thuận với nhà sản xuất bể cá đã tài trợ chuyến đi cho Michal, Heiko phải mua vé máy bay và ông không định trả thêm phí đổi chuyến, điều đó có nghĩa là chúng tôi khá eo hẹp về thời gian. Cả hai chúng tôi nhìn Michal, anh ta đang chơi xếp bài trên điện thoại. Heiko xoa trán. “Lúc nào tôi cũng gặp rắc rối,” ông nói. “Nhưng lần này đúng là rắc rối thật rồi.”
Một trong những rắc rối này còn là việc ông không lấy được tấm bản đồ nào từ viện địa lý ở địa phương. Sáng hôm đó ông đã ra về trong tâm trạng tức tối. Bây giờ ông yêu cầu tôi mang tấm bản đồ của mình ra, chăm chú nghiên cứu nó rồi đập ngón tay vào một nhánh phụ hoàn toàn mới ở phần bên kia của Amazon, dòng Jandiatuba ở Brazil.

Tất cả những con sông chúng tôi đề cập tới đều nằm ở phía bắc, nhưng dòng sông này lại chảy vào Amazon từ cao nguyên Brazil ở phương nam. Tuy nhiên chuyện làm tôi sợ nhất là vị trí quá gần với thị trấn du lịch Leticia của nó.
“Gần quá!” Tôi phản đối, tưởng tượng một con sông đầy chặt những người đi du ngoạn trong ngày.
Heiko cười phá lên. “Nhìn theo tay tôi này.” Ông di tay theo hình dáng ngoằn ngoèo của con sông tới tận thượng nguồn. “Thấy nó dài thế nào chưa. Chỗ này chẳng có ma nào đâu. Không ai đi tới đó hay từng đi tới đó cả. Có thể còn có cả vài bộ lạc Anh điêng chưa ai biết đến nữa.”
Tôi nghi ngờ chuyện đó. Làm gì có chuyện Heiko, Michal và tôi, trong thời gian không đầy một tuần, có thể tới được những bộ lạc Anh điêng chưa ai biết đến cơ chứ. Cũng chẳng ai đảm bảo được là lựa chọn ngẫu nhiên này lại có cá rồng. Rốt cuộc, tại sao những người ngư dân ở Colombia lại gợi ý chúng tôi đi hơn 560 kilômet tới tận dòng Purité nếu họ vẫn còn có thể bắt được nó ở ngay quê nhà? Tôi hỏi Heiko những điều trên, nhưng ông chỉ gạt bỏ những lo ngại của tôi. “Cá rồng có mặt ở khắp lòng chảo Amazon này, chỉ trừ phía trên thác nước,” ông nói. “Đừng lo. Chúng ta sẽ bắt được cả đống.”
❀ ❀ ❀
Đêm đó, tôi thức dậy giữa cơn mưa rào đổ rầm rầm xuống mái nhà. Tới 4 giờ sáng, cơn mưa vẫn tiếp tục đổ xuống khi tôi gặp Heiko và Michal ở mảnh sân đã ngập nước. Chúng tôi cùng chất đồ dùng lên cốp xe taxi. Chúng tôi đi xe qua thị trấn tối om tới bến cảng, lật đật bước trên những tấm ván trơn trượt, đung đưa một cách đáng ngại trong lúc mang tất cả lên thuyền. Hầu hết đồ nghề của Heiko đều nhét vừa trong một cái hòm bằng nhôm lồi lõm, dán băng dính và nhãn giấy chằng chịt đến nỗi tôi nghĩ hẳn nó đã đồng hành cùng ông nhiều thập kỉ.
Tôi đã sai. Nó mới có một năm tuổi.
Thứ duy nhất Heiko không mang là nước đóng chai, vì ông nói mình luôn uống thẳng từ sông; ông cũng càu nhàu vì hàng lít nước mà tôi đã thuyết phục Michal là chúng tôi cần phải vác theo để được uống nước tử tế. Heiko càng buồn bực hơn vì kích thước chiếc tàu, vốn không phải cái ông đã chọn. Ông kêu ca vì nó quá lớn, khó lòng đi qua những con lạch nhỏ. Nhưng giờ đã quá muộn để đổi nó. “Đành phải mượn một cái xuồng của người Anh điêng vậy,” ông thở dài.
Với tôi, cái thuyền gỗ chẳng có vẻ gì là to. Nó được sơn màu xanh lơ với những đường viền màu vàng, thân tàu hẹp chỉ vừa chỗ cho hai hàng ghế băng mà lúc này chúng tôi đang ngồi, trên đầu phủ tấm bạt nhựa. Ghé mông ở đuôi thuyền, người lái thuyền Esteban không được che chắn gì nhưng vẫn cười nồng hậu với chúng tôi trước khi khởi động máy. Một làn hơi dầu diesel xộc lên trong không khí và chúng tôi khởi hành, hướng vào Amazon trong bóng tối, nước mưa lạnh châm vào mặt chúng tôi đằng sau lớp vải áo poncho dày dặn. Áo của Heiko có màu xanh hoàng gia như tấm áo choàng phù thuỷ, chiếc mũ trùm cũng được viền chỉ bạc như màu râu của ông. Ngồi ở gần mũi tàu, ông cúi người tới, chống tay trên đầu gối và nhìn ra phía trước như thuyền trưởng Ahab đang đi lùng con cá voi trắng.
Khi nhắc tới những chuyến đi biểu tượng để tìm cá, tiêu chuẩn của văn học Anh luôn hướng về dòng nước mặn. Câu chuyện nổi tiếng nhất - Moby-Dick - thậm chí còn chẳng nói về cá, mà là về một loại thú có vú. Heiko phẫn nộ vì các loài cá nước ngọt đã bị mô tả hời hợt không chỉ trong trí tưởng tượng chung mà còn cả trong giới khoa học. “Trên hành tinh này chỉ còn rất ít nhà ngư học chuyên về cá nước ngọt,” ông nói với tôi. Sông và hồ có lẽ chính là cái nôi của tiến hoá và sự đa dạng sinh học - nhưng đại dương bao la lại quyến rũ hơn. Những năm 1980 Heiko đã gặp Jacques Cousteau ở thành phố Manaus của Brazil, nơi nhà đại dương học đang quay phim tài liệu trên sông Amazon trong một lần hiếm hoi ông lạc ra khỏi biển cả. “Rất kiêu căng,” Heiko nhớ lại, lẩm bẩm là trong bộ phim của Cousteau không có lấy một con cá đĩa. “Lão ta chẳng bao giờ hiểu về nước ngọt cả.”
Gần đây, đài BBC đã mời Heiko tới London để tư vấn tư liệu cho chương trình Hành tinh Trái đất. “Tôi đã kể cho họ nghe về những dạng sống thú vị nhất trên hành tinh này,” ông nói, lấy ví dụ một con cá tên là golomyankas[*], sinh sống ở hồ Baikal của Siberia, hồ cổ nhất và sâu nhất thế giới. Ông giải thích rằng loài cá này sống ở tầng sâu hơn 914 mét, nơi áp lực nước khiến nó không thể nào sinh sản được. Kết quả là con cái mang thai phải bơi lên gần mặt nước, nơi nó nhanh chóng bị nổ tung để thả những con non trở về với đáy hồ. Cuối cùng, Heiko nói các nhà sản xuất không nghĩ rằng công chúng sẽ quan tâm tới một loại cá nhỏ như vậy. Thay vào đó, họ tập trung vào cá heo.
[*] Cá dầu.
Khi bình minh lên, cơn bão đã qua và bầu trời xám xịt bắt đầu trong dần. Heiko rót cà phê từ cái bình ủ nhiệt ra và phân phát bánh sandwich chuối. Chúng tôi cuộn tấm bạt che lại, để lộ lớp khung thuyền và nhìn ra ngoài mặt sông rộng lớn màu nâu và hai bên bờ sông bùn lầy trải rộng. Bất chấp cơn mưa lúc sáng, bây giờ vẫn là mùa khô và nước ở mực thấp khác thường - khô hạn hơn bất kì lần nào Heiko từng chứng kiến ở Amazon này. Vì thế nơi này không còn những chiếc tàu lớn nữa. Khi một cái xuồng đông người lướt qua, Estaban gọi với ra bằng tiếng Tây Ban Nha, rằng đó là chuyến tàu chuyên chở khách tới São Paulo de Olivença, thị trấn nhỏ nơi chúng tôi sẽ rẽ phải để vào Jandiatuba.
“Tôi luôn thấy ngạc nhiên khi người ta bảo tôi là họ sẽ đi du lịch sông Amazon,” Heiko nói, chỉ ra nhánh chính của con sông đã bị chặt phá rừng và xói mòn đến thế nào. Ông kể lại rằng sự huỷ hoại này chỉ trong vòng một thế hệ. Trong năm mươi năm qua, người ta đã chặt phá và đốt trụi nhiều diện tích rừng nhiệt đới của Amazon hơn trong cả năm thế kỉ trước. Những người chăn nuôi gia súc, nông dân và thợ gỗ với quy mô công nghiệp chiếm phần lớn con số phá hoại này. Gần đây hơn nữa, những người dân tái định cư cũng bắt đầu xâm lấn rừng.
Cứ mỗi chuyến đi khám phá ông lại phải vào sâu hơn nữa, tới những góc hẻo lánh hơn nữa để tìm khu vực thiên nhiên hoang sơ. Theo thống kê chính thức mới nhất, sông Amazon có hơn một ngàn nhánh phụ. Trong cuộc săn lùng miền hoang dã của mình, Heiko tuyên bố ông đã thực sự tới tất cả các nhánh phụ lớn. “Nhánh mà lúc này chúng ta đang đi là nơi duy nhất tôi chưa đào sâu,” ông nói.
Nói xong ông liền ngả ra nằm ngủ dưới ánh nắng ấm áp, hai cánh tay gập dưới đầu, vành mũ kéo xuống che khuất kính râm. Michal bắt chước với đôi tai nghe trên tai. Tôi ngồi đối diện chỗ họ nằm và nghĩ về tuyên bố của Heiko. Về bản chất ông sắp sửa kết chuyến với sông Amazon, hay ít nhất là với các nhánh phụ lớn của sông. Dù điều này còn nhiều nghi vấn, nhưng ý tưởng ấy vẫn khiến tôi có cảm giác u sầu, như thể cả thế giới nằm trong một chiếc bể cá và chúng tôi đã đi đến thành bể.
Có lần Heiko làm tôi ngạc nhiên khi nói rằng ông có cảm giác mình sống trong thời đại thích hợp nhất để làm một nhà thám hiểm. Các phương tiện di chuyển hiện đại cho phép ông tới được nhiều địa điểm chỉ trong vài ngày, khi mà những người đi trước ông phải mất tới nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mới tới được. “Tôi có thể hoàn thành mười sáu chuyến trong một năm, còn họ không làm nổi trong một đời, ngay cả mẹ tôi cũng không làm được như vậy,” ông nói.
“Nhưng chẳng phải sẽ hơi buồn nếu ông có thể tới những nơi đó dễ dàng đến thế sao?” Tôi hỏi.
“Chà!” Ông ngẫm nghĩ một lát. “Tất nhiên đi thám hiểm như Wallace thì rất kì thú. Nhưng giờ cô có thể trông thấy nhiều hơn, có thể hiểu nhiều hơn rất nhiều.”
Ngày vẫn trôi qua và Heiko đã thức giấc, cái nóng ban chiều dần dần giảm bớt. Tuy nhiên, trời càng về tối thì chúng tôi càng thấy lạ vì vẫn chưa tới được Jandiatuba, trong khi trên bản đồ nó có vẻ rất gần. Lúc năm giờ ba mươi, mặt trời lặn sau lưng chúng tôi, sáu giờ ba mươi trời đã tối mịt. Heiko trèo lên mũi tàu để quan sát mặt nước bằng ngọn đèn pha yếu ớt chớp tắt để Estaban trông thấy mình đang đi đâu từ đằng đuôi tàu. Lúc này trên sông chỉ còn mỗi thuyền của chúng tôi. Chúng tôi đã đi hơn mười hai tiếng. Sét đánh bập bùng ở đằng xa.
Hơn tám giờ, cuối cùng chúng tôi cũng trông thấy ánh đèn neon ở gần bờ. Khi lại gần, tôi có thể nhìn ra được một cầu cảng nổi: ván gỗ sáng lên vì tảo bám, một người đàn ông ngủ trên võng, một tấm biển sơn cái tên thị trấn lạ hoắc bằng mực đỏ.
Heiko trông thấy tấm biển và rống lên: “Esto no es São Paulo de Olivençal!” Trong lúc ông đang ngủ, Esteban đã đi quá mất chỗ rẽ. Chúng tôi đã bỏ xa Jandiatuba hơn bảy giờ đồng hồ. Rốt cuộc chúng tôi đã tới Içá - dòng Putumayo.
❀ ❀ ❀
Tôi rất vui sướng. Heiko thì không. Tôi có cảm giác như chính số phận đã đưa tôi đến ngưỡng cửa của cá rồng. Heiko thì nghĩ chúng tôi đang gặp rắc rối thực sự. Chúng tôi đã tới thị trấn Santo Antonia do Içá, nằm ngay cửa sông Içá, cũng là nơi Heiko tuyên bố là nơi “tồi tệ nhất vùng Amazon.” Ông nói có lần ông đếm được tới năm con chuột trong phòng khách sạn của mình. Ông nói thà phải ở tù còn hơn.
Chúng tôi cần tới mười hai giờ nữa nếu muốn đi tiếp lên dòng Içá tới Purité. Heiko không chắc là chúng tôi còn đủ xăng để tới đó rồi quay về. Ông đòi được xem bản đồ lần nữa rồi hết nhìn từ nó sang tôi, lại nhìn từ tôi sang nó. Ông thở dài. Ông di ngón tay hết đường này đến đường kia.
Đêm đó chúng tôi ngủ luôn trên ghế băng ở trên tàu, muỗi vo ve quanh tai. Trời vẫn còn tối và Michal đang ngáy o o khi tôi thức dậy vì tiếng vỗ của Heiko gọi người trông bến trong chiếc võng dậy bán xăng cho chúng tôi. Tôi xem đồng hồ: mới 3:57 phút sáng. Tôi ngồi lên và trông thấy Heiko hướng dẫn Esteban đi tiếp đến sông Purité xa xôi, nơi chúng tôi sẽ tìm được cá rồng theo lời của những ngư dân ở Colombia. Ông đã quên luôn chuyện trở lại dòng Jandiatuba, gần hơn nhiều mà những người Anh điêng cũng chưa ai biết đến.
“Tôi chỉ không muốn quay lại,” ông nói khi quay sang và thấy tôi đang nhìn. Có lẽ đúng vậy thật. Hoặc có thể ông chỉ tỏ ra tử tế vì biết tôi tha thiết muốn tìm cá rồng như thế nào - và dòng Purité dường như là cơ hội tốt nhất của chúng tôi.
Dù sao giờ chúng tôi cũng có hẳn một chuyến đi dài trước mắt. Khi mặt trời lên, cá heo nước ngọt màu hồng như Pepto-Bismol[*] nổi lên đây đó trên mặt nước. Tôi có thể thấy Içá vẫn xanh hơn Amazon rất nhiều dù bản thân nó cũng là một con sông lớn. “Nó chỉ là một trong những nhánh phụ nhỏ hơn của Amazon mà đã lớn đến thế này,” Heiko tấm tắc khen. Lần cuối ông đến đây là năm 1977, khi ông phát hiện ra một trong những loại cá đáng tự hào nhất - con cá đĩa màu đỏ đầu tiên, một chú cá rực rỡ với những đường vạch trắng và cặp vây màu được in hình trên chiếc áo phông đen ông đang mặc lúc này. Ông kể với tôi chỉ tìm thấy một con duy nhất, rồi ông đem nó về cho lai giống với cá loại khác, con cá trở thành tổ tiên của loại cá đĩa đỏ ở khắp mọi nơi, vì người ta không bao giờ lại tìm được nó trong thế giới hoang dã nữa.
[*] Tên một loại thuốc tiêu hoá có bao bì màu hồng.
Thi thoảng chúng tôi lại đi qua dăm mái nhà gỗ do những người nông dân nghèo sống ở ven biển dựng lên để chiếm đất. Heiko dừng lại ở từng nhà, trèo lên những bậc thang dốc để hỏi bằng tiếng Bồ Đào Nha xem có ai từng trông thấy con cá như trên áo ông chưa. Một người đàn ông đứng ở ngưỡng cửa, vây quanh là năm đứa trẻ đảm bảo với Heiko là ông có thể tìm được con cá đĩa ấy ở Purité. Tâm trạng tốt hơn hẳn, Heiko cảm ơn người nông dân và phát kẹo cam cho lũ trẻ, đứa nhỏ nhất mút mát lớp ni lông gói kẹo trong lúc một con côn trùng bay vo ve quanh ngón tay nó.
Trở lại thuyền, Heiko cẩn thận đánh dấu lại tên của làng này trên tấm bản đồ của tôi rồi đặt nó xuống ghế ngồi. Đột nhiên, một cơn gió mạnh thổi nó xuống sông. “Cứt thật!” Ồng kêu lên rồi nhảy qua mấy cái túi tới chỗ đuôi thuyền. Esteban dừng máy và quay thuyền lại. Nhưng chẳng ích gì - tấm bản đồ duy nhất của chúng tôi đã chìm.
Tôi muốn khóc. Ngày hôm qua chúng tôi vừa mới đi lạc xa đến thế, kể cả với một tấm bản đồ dẫn đường, giờ tôi không nghĩ mình có thể đến được Purité nữa.