Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 48 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Bảycá Rồng Ở Đây

❊ ❊ ❊

BRAZIL

Nhưng chúng tôi vẫn đến được Purité. Mãi chiều muộn chúng tôi mới tới được cửa sông hẹp do hai bên bị cây cối chen lấn. Không có dấu hiệu nào của cuộc sống con người nơi đây, dù có rất nhiều cá. Chúng nhảy lên không trung bởi âm thanh từ thuyền của chúng tôi. “Để thông báo là chúng rất vui khi chúng ta tới,” Heiko nói. “Tôi tin như vậy, lũ cá nhảy lên vì vui mừng. Giống như cá heo. Như con người.”

Esteban lái vào một cái hồ nhỏ tách ra khỏi nhánh sông chính và neo tàu ở một chỗ trống giữa các tán cây. Khi ông ta tắt động cơ, sự im lặng hoàn hảo bao phủ khung cảnh. Heiko phá vỡ sự yên lặng ấy bằng một tiếng ùm khi nhảy xuống dòng nước đen, sau khi đã lột sạch quần áo, trên người chỉ còn lại mỗi chiếc quần lót màu xanh. Điệu bộ màu mè như đang diễn trên sân khấu, ông bơi ếch ngang qua hồ rồi biến mất dưới mặt nước, trồi trở lại, đầu tóc lấp lánh như một trái ôliu. “Không ai muốn tắm hả?” Ông gọi Michal và tôi. “Nước tuyệt lắm!” Bơi tiếp vài vòng nữa, ông chậm rãi trèo lên khỏi mặt nước đen và lắc người như một chú chó bị ướt. “Các vị thấy tôi ở trần bơi giữa cái hồ có cả ngàn con cá hổ chưa, và chúng không hề ăn thịt tôi.”

Hồi đầu năm đó Heiko đã viết bài “Hướng dẫn cuối cùng về Cá hổ” cho tạp chí Practical Fishkeeping, mở đầu bằng câu: “Chuyện cá hổ ăn thịt người hoàn toàn là chuyện thần thoại.” Heiko không tin có bất kì con vật nào ăn thịt người, trừ khi có lẽ người đó đã chết từ trước. Khi một con cá sấu bị tìm thấy lúc đang tiêu hoá một người đàn ông ở Úc, Heiko bảo rằng rõ ràng ông ta đã bị mưu sát và vứt xác cho cá sấu ăn để che đậy tội ác.

Với trường hợp cá hổ, Heiko không phải là người duy nhất đứng ra bảo vệ chúng. Tiếng xấu của cá hổ có từ thời Theodore Roosevelt, ông ta gọi nó là “loài cá dữ tợn nhất thế giới,” sau khi suýt chết trong chuyến đi khám phá ở Amazon năm 1914. Tuy nhiên gần đây, rất nhiều nhà ngư học đã phản bác rằng tiếng tăm của cá hổ đã bị thổi phồng, chỉ ra rằng chúng chủ yếu chỉ ăn vây của những con cá khác và thực ra khá nhút nhát.

Duy có Tyson thì lại không đồng tình. “Các nhà ngư học đang ở trạng thái phủ nhận mọi thứ,” ông bảo tôi. “Họ thừa nhận rằng đúng là nếu bạn đu đưa một bàn tay trong nước, một con cá hổ có thể cắn đứt ngón cái hay ngón út của bạn. Nhưng họ lại không chịu thừa nhận rằng nếu bạn đi vào nhầm chỗ và cả bầy cá đói ở quanh đó, cơ thể bạn sẽ chẳng còn lại miếng nào.” Ông cho tôi xem những bức ảnh chân thực về một người đàn ông ở Brazil được cho là đã bị cá hổ ăn thịt. “Nhìn này,” - ông lại còn chỉ rõ - “chúng ăn mất da đầu, thịt sạch môi và nhãn cầu.” Theo lời Tyson, những người bảo vệ cá rồng tuyên bố con cá sẽ không bao giờ ăn nhãn cầu. “Vớ va vớ vẩn,” ông nói.

Tuy nhiên, có một thực tế không ai tranh cãi: Dòng sông Purité đầy nhóc cá hổ. Khi Esteban giăng lưới ở mạn tàu để kiếm bữa tối, ông chỉ bắt được mỗi cá hổ. Chúng to bằng bàn tay tôi, thân màu bạc với phần bụng đỏ rực cùng hàm răng cưa đáng sợ. Heiko cho tôi xem bằng cách dùng một cái que để kéo môi dưới của nó xuống. Ông thả con cá vào một cái bình trưng bày nhỏ rồi hướng dẫn Michal thò tay vào trong giữ con cá đang giãy giụa gí sát vào một bên mặt kính để ông chụp ảnh cho rõ. Michal có vẻ sợ chết khiếp, nhưng Heiko trấn an anh ta: “Chỉ cần không đặt tay gần miệng nó là được.” Rồi ông chỉ vào một vết sẹo lớn màu trắng ở dưới ngón cái: “Một con giống thế này đã cắn hẳn một miếng lớn khỏi tay tôi đấy. Nó chỉ đang cố tự vệ.”

Cá hổ không phải mối lo duy nhất trong dòng Amazon này. Ở đây còn có cá candiru nổi tiếng, một loại cá da trơn có thân hình giống một cây tăm, loại động vật có xương sống duy nhất ngoại trừ dơi hút máu mà chỉ sống bằng máu tươi. Bình thường candiru chui vào mang những con cá lớn, bám vào đó bằng những cái ngạnh nhỏ xíu, hút no nê máu rồi lại bơi ra và vùi mình xuống lòng sông để tiêu hoá. Tuy nhiên, thỉnh thoảng candiru lại nhầm lẫn, có lẽ là do nhầm dòng nước tiểu với urê thải ra từ mang cá, nên đã chui vào nhầm chỗ - một dương vật hay âm đạo hay thậm chí là hậu môn người. Điều này rất tệ cho cả con candiru lẫn vật chủ, vì con cá chắc chắn sẽ chết, còn con người thì bị kẹt với một con cá chết ở vị trí bất lợi nhất. Năm 1987, nhà ngư học George Boulenger giới thiệu một cá thể candiru với Hội Động vật London và tuyên bố: “Cách duy nhất để ngăn nó khỏi chui vào bàng quang, ở đó có thể gây ra chứng viêm nặng dẫn đến tử vong, là ngay lập tức cắt cụt dương vật.”

Nhiều câu chuyện đã được thêu dệt từ chi tiết này, mặc dù tính xác thực của chúng còn rất mơ hồ. Heiko không tin bất cứ câu chuyện nào. Ông nghi ngờ người Anh điêng bịa ra chúng để ngăn người da trắng khỏi tè vào nước uống của họ. Sau đó, khi ông tìm được một con candiru bám trong mang của một con cá khác, ông đã cho tôi thấy những cái ngạnh nhỏ xíu của nó trước khi thả nó về với dòng nước mà ông đang lội đến ngang bụng. Việc đó xảy ra chỉ vài phút sau khi một con lươn điện trồi lên ngay bên cạnh ông như một cặp kính viễn vọng, há miệng hớp hơi, bởi vì đó là cách con lươn thở. Cách săn mồi của nó là chích dòng điện lên tới 860 volt vào con mồi, về lý thuyết, điện năng ấy đủ sức giết chết một người.

Nhưng Heiko khăng khăng bảo rằng sống trong rừng rậm còn an toàn hơn băng qua một con phố ở New York. Ông nói mọi truyền thuyết về những loài vật hoang dã đáng sợ chỉ là sản phẩm của Hollywood từ những bộ phim Tarzan kiểu cũ của thập niên 1930 và 1940. “Cô không phải sợ gì cả,” ông nói với tôi trong lúc lội ở dòng nước đầy cá hổ, tay giăng cái lưới để bắt những con cá nhỏ. Ông quan sát từng con một, rồi ném hầu hết chúng qua vai và vẩy một con cá ép vây khỏi ngón tay. Tìm được thứ gì đáng quan tâm ông đều nhét nó vào một cái túi nhựa đựng đầy nước. Chúng sẽ ở yên đó đến lúc ông chụp ảnh xong, rồi ông sẽ thả hoặc bảo quản chúng. “Tôi chụp lại mọi thứ để lập danh sách các loài cá ở đây,” ông giải thích.

Trong lúc Heiko thu thập cá, Esteban nhóm lửa đun nước để nấu bữa tối rồi giúp tôi mắc võng giữa hai cái cây non. Cái võng đi kèm một cái màn chống muỗi có khoá kéo mở ra như bóc vỏ chuối, tôi đã mua nó ở New York và thực tập buộc nó trong công viên Quảng trường Washington cho đến khi một người lang thang tốt bụng cảnh báo là tôi sẽ gặp rắc rối với pháp luật. Dù đã gợi ý tôi mang võng, Heiko lại mang theo lều cho ông và Michal. Họ dựng lều ngay gần đó. Khoảng bảy giờ, trời tối đen như mực trừ vài ngôi sao trên đầu chúng tôi. Chúng tôi ngồi trên lớp cỏ mục, ăn cá hổ luộc chín, món yêu thích của Heiko, và nghe dàn hợp âm ếch nhái như thể chúng đang nhảy nhót xung quanh trên những cây gậy pogo.

Cho đến gần đây, chỗ cắm trại của chúng tôi vẫn còn ngập trong nước. Nơi này là một trong những khu rừng ngập nước lớn nhất ở Amazon, mỗi năm ngập trong nước khoảng sáu tháng. Trong mùa mưa, cả cá rồng và cá đĩa đều về đây sinh sản giữa những thân cây. Giờ là mùa khô và nước đã rút đi nhiều, theo lý thuyết sẽ dễ tìm được cá hơn.

Sau bữa tối, chúng tôi dong thuyền ra mặt hồ tối om và bắt đầu tìm kiếm. Heiko cúi người trên mũi thuyền, đầu ngón chân co quắp để xem xét mặt nước bằng một cái đèn pin, thi thoảng lại dùng lưới bắt thứ gì đó thú vị. Cuối cùng ông nói với Esteban: “No hay nada.” Chẳng có con cá đĩa nào ở đây. Cũng không có cá rồng. Để tìm chúng, có vẻ như chúng tôi sẽ phải đi đến cái hồ lớn mà bác ngư dân Fausto đã kể.

❀ ❀ ❀

Sáng sớm hôm sau, chúng tôi khởi hành lên thượng nguồn. Thi thoảng chúng tôi cũng phải dừng lại ở những dòng suối nhỏ do thuyền to quá không vào được. Trong lúc Michal và Esteban ở lại trên thuyền, Heiko băng rừng bằng chân trần, tôi lẵng nhẵng bám theo sau. “Cảm giác đi chân trần thích lắm,” ông nói trong một chuyến đi như vậy lúc bước qua một cái hang tatu. “Cô cảm giác được thiên nhiên. Cảm giác được mình đang ở đâu.”

Ông trèo xuống một con lạch và bắt đầu phân loại cá trong cái lưới cầm tay của mình. “Dưới mỗi cái lá lại có một con Apistogramma” ông thở hắt ra, nhắc tới tên một vật nuôi phổ biến chỉ to bằng cái kẹp giấy. Ông đã tìm được một con cá mà ông nghĩ là loài mới từ đêm hôm trước - một sinh vật nhỏ xíu có những chấm xanh, chóp vây màu đỏ và một đường sọc đen chia đôi cơ thể nó. Giống như con cá đĩa yêu quý của Heiko, Apistogramma thuộc một nhánh cá tiến hoá khá nhanh gọi là Cichlidae. Trong những năm gần đây, các nhà sinh vật học trường phái bảo thủ đã bắt đầu bị chia rẽ trong việc quyết định xem loài vật nào cần được bảo vệ nhất - những loại thuộc nòi giống linh hoạt mà việc bảo tồn chúng có thể đảm bảo cho tương lai thích nghi và sự hình thành loài mới trong quá trình tiến hoá, hay những loài cổ xưa nhất, như cá rồng chẳng hạn. Một mặt, cá rồng là loài độc nhất vô nhị, một dư âm từ những kỷ nguyên xa xôi. Mặt khác, nó đã là một ngõ cụt trong thuyết tiến hoá và chỉ thay đổi rất ít trong hơn 100 triệu năm. Điều gì là quan trọng hơn - bám lấy lịch sử sự sống hay là tạo điều kiện cho tương lai? Với tôi, có vẻ như đó là một vấn đề không thể lựa chọn được.

Vì giờ đang là mùa khô, tất cả những con lạch nhỏ đều bị thu hẹp lại. Ở một chỗ gần như nước chỉ rỉ ra, Heiko tìm được khoảng 150 con cá trong một lần tung lưới. “Cô có tưởng tượng được ở chỗ ít nước như thế này mà lại có lắm cá thế không?” Ông nói và giải thích rằng trong những tuần tới con lạch này sẽ khô kiệt hẳn và tất cả chỗ cá này sẽ chết sau khi đã để lại trứng của chúng trong bùn. Chỗ trứng sẽ ở nguyên đó cho đến khi nở ra vào mùa mưa tới.

Quay trở lại thuyền, chúng tôi tiếp tục xuôi dòng Purité, đây đó lại xuất hiện những bãi cát trắng phau - dấu tích của một thời kì xa xưa khi toàn bộ phần phía tây Amazon còn là một đại dương lớn trong nội địa. Giữa buổi sáng, Heiko chọn một chỗ đặc biệt xinh đẹp để dừng lại và chụp ảnh những con cá ông đã thu thập được. Ông lôi theo cái hòm bằng nhôm của mình lên cát và tạo ra một khung cảnh những cành cây xanh để đặt bình cá nhỏ lên đó. Khi ông yêu cầu tôi mang tới một thùng trong số nước uống ít ỏi của chúng tôi, tôi vui vẻ vâng lời vì tưởng là cuối cùng cái nóng như thiêu đốt cũng ảnh hưởng đến ông. Rồi tôi nghe thấy tiếng ục, ục, ục và kinh hoàng khi trông thấy ông đổ nước vào bể cá. Lý do của ông là vì nước sông đen quá. Ông quỳ xuống trong nắng, chiếc mũ lưỡi trai màu đen xoay ngược, thủ thỉ cùng con cá như thể một nhiếp ảnh gia thời trang: “Xòe vây ra nào” và “Nào cưng ơi, ta biết em yêu ta mà” và “Đúng rồi! Đúng rồi! Đúng! Đúng!”

Esteban thả lưới từ trên thuyền và chẳng bao lâu sau ông ta đã gọi to lên đầy phấn khích bằng tiếng Tây Ban Nha. Ông đã bắt được một con cá đuối to bằng chiếc mũ sombrero[*]. Nó có màu nâu với những chấm tròn viền đen và cái đuôi nhọn hoắt. Ông lôi nó lên bãi sông và giơ cao lên bằng cách nắm lấy hai mang cá, cặp mang nằm ở vị trí như một chiếc quai ở trên đôi mắt đặc biệt nhạy cảm của nó. Loài cá đuối Amazon này, cũng giống như cá heo và những bãi cát trắng nơi đây, là một chứng tích khác của quá khứ xa xôi khi dòng sông còn kết nối với Thái Bình Dương. Gần đây vài loại cá đuối đã trở nên phổ biến trong giới buôn cá cảnh, thậm chí có những mức giá ngang ngửa với cá rồng.

[*] Loại mũ rộng vành truyền thống của người Mexico, có màu sắc trang trí rất sặc sỡ.

Tuy nhiên lý do Heiko muốn bắt một con cá đuối là vì ông Tyson đã yêu cầu. “Tyson sẽ vui lắm đây,” Heiko nói trong lúc nghiên cứu con cá trên bãi cát. “Tôi chưa từng trông thấy con nào như thế này.” Ông bảo tôi chụp cho mình một bức với con cá, nó bất ngờ chích vào bàn tay ông (mặc dù nhăn nhó đau đớn, Heiko vẫn nói rằng nó chỉ đang tự vệ). Vì mục đích khoa học - chứ không phải báo thù - ông tuyên bố rằng mình buộc phải giết sinh vật tội nghiệp này. Ông nhét nó vào một cái túi nhựa lớn rồi đổ phóc môn vào, phần thuốc còn lại ông đặt cạnh những chai nước. “Đừng có uống cái này,” ông nói, “nếu không cô sẽ chết đấy.”

Ngay khi đó chúng tôi bị giật mình trước hình ảnh bất ngờ của một chiếc thuyền đỏ trắng lớn đang tiến tới khúc quành, hướng lên thượng nguồn. Trên đó đông chặt những người đang toả ra hai bên mạn thuyền cả tầng trên và tầng dưới, vài người trong số họ vẫy tay khi thuyền đi qua. Chúng tôi chưa từng gặp ai trên sông Purité, nơi đó có vẻ hoàn toàn không có người ở. Thế những người này là ai? Họ đang đi đâu?

Câu trả lời đến lúc ban chiều, khi chúng tôi nghe thấy một tiếng cầu kinh kì lạ phát qua loa và thoáng trông thấy một toà nhà xây trên bãi cỏ bên trên dòng sông. Một người phụ nữ đang giặt đồ bên bờ sông đầy bùn đã giải thích rằng họ là một cộng đồng tôn giáo. Cho đến gần đây, có năm mươi người sống ở đó. Giờ thì hơn một trăm người khác vừa tới. Heiko đã gặp những giáo phái như vậy ẩn náu khắp rừng Amazon. Ghê tởm sự hiện diện của những kẻ xâm lấn rừng, ông từ chối đi lên chào hỏi họ.

Cuối giờ chiều là khoảng thời gian trong ngày mà Heiko hi vọng sẽ trông thấy bầy vẹt bay về phía hoàng hôn, nhưng chúng tôi chỉ nhìn thấy vài cặp đôi lẻ tẻ. “Thật đáng thất vọng vì cô không gặp con chim nào,” ông nói. Heiko tin rằng rừng ở Purité đã bị người ta săn bắn quá nhiều - ông cho rằng điều này là hợp lý vì chúng tôi đã tới đây theo lời khuyên của một người Colombia chuyên đi câu trộm cá. “Từ góc nhìn của lũ động vật, tôi vô cùng thất vọng. Con người hẳn đã làm nhiều chuyện ở đây. Nếu không thì phải còn nhiều loài vật nữa.”

Ông bắt đầu nghĩ tới đứa con gái hai tuổi của mình ở Milan. “Tôi muốn đem Amanda đi thăm rừng khi rừng vẫn còn tồn tại. Thế hệ tiếp theo sẽ chẳng trông thấy gì hết.”

Đêm đó, Heiko dẫn Michal và tôi vào rừng để ngắm lũ côn trùng, nhưng chúng tôi không tìm được nhiều lắm. Khi tôi chỉ cho ông thấy một con bọ màu nâu khá lạ với cái đầu màu đen, ông bảo tôi đó chỉ là một con gián rừng của Amazon. Ngày hôm sau, Heiko phát hiện dấu chân của một con báo sư tử trên bùn. Lát sau, khi chúng tôi nghe được tiếng sột soạt, thứ lao ra khỏi bụi rậm lại là thứ chúng tôi ít ngờ tới nhất. “Tận trong rừng rậm sâu nhất như thế này, chúng ta đã tìm được một động vật hoang dã: một con chó!” Heiko kêu lên.

Con chó có lông màu vàng và gầy đến nỗi trông nó như bộ xương di động, nhưng cái đuôi của nó vẫn vẫy vui vẻ. Chúng tôi không còn ở gần cộng đồng thờ phượng kia nữa, nên Heiko nghĩ hẳn con chó đã bị đám thợ săn bỏ lại. “Chắc còn mẩu bánh mì cũ để cho nó đấy,” ông nói, nhưng tôi không tìm được gì. Khi ông quay lại với lũ cá của mình, tôi mò trong đống thanh prôtêin dự trữ bí mật và cho con chó ăn từng miếng một. Esteban cúi người xuống một bên mạn thuyền. “Cómo se llama?” Ông ta hỏi con chó. Tên mày là gì?

Theo lời nhà động vật học James Serpell của trường Đại học Pennsylvania, từ xưa loài người đã yêu thích những con chó sói được thuần hoá để làm thú cưng, trước cả khi sử dụng chúng cho bất kì mục đích nào khác như đi săn chẳng hạn. Ông lập luận rằng sự thuần hoá động vật - một phát minh có thể sánh ngang với các dụng cụ bằng đá, tôn giáo, ngôn ngữ, toán học và thậm chí cả công nghệ hiện đại về tầm ảnh hưởng của nó tới nền văn hoá của loài người - có thể đã bắt đầu chỉ từ mong muốn giản đơn cần sự bầu bạn với thú vật. Ngay cả ngày nay, rất nhiều bộ lạc vẫn còn mang cá thể non của các loài khác về cho bú và nuôi nấng.

Một giả thuyết song song nữa mà gần đây đã thu hút được nhiều sự chú ý trong giới khoa học gia là chó, cũng như mèo, có thể đã tự thuần hoá chính mình. Có thể những con sói có tính cách nhất định đã bắt đầu lảng vảng gần các khu trại của con người hòng bòn mót chút xương xẩu, rồi phối giống với những con vật tương tự khác và tự lựa chọn bị thuần hoá theo thời gian. Sự thật đáng chú ý hơn là chính chúng ta, với tư cách một loài, cũng đã làm những việc tương tự. Trong quá trình tiến hoá từ các tổ tiên giống vượn của mình, loài người hiện đại đã phát triển cơ thể theo những con đường giống với cách các loài vật được thuần hoá biểu hiện: mặt ngắn lại, răng nhỏ đi, đường nét nữ tính hơn. Có vẻ như, theo một cách bí ẩn nào đó, chúng ta cũng đã tự thuần hoá. Có lẽ chúng ta nhận ra nét hoang dã mình đã đánh mất ở những con cá - thậm chí cả khi bây giờ chúng ta đang huỷ hoại nó.

Chiều muộn hôm đó, tôi đang ngồi cạnh Heiko ở mũi tàu thì động cơ giật cục và tắt hẳn, một sự im lặng phủ khắp con sông. Trong lúc chúng tôi chờ Esteban đổ đầy bình xăng, Heiko khoanh hai tay lại và nhìn lên bầu trời, lúc này đang mang màu u ám của một cây dừa cạn. Ông nói với tôi rằng hồi ông còn nhỏ và sống trong rừng Amazon, động cơ còn chưa tồn tại. “Chỉ có mái chèo,” ông nói.

Nỗi hoài niệm trong giọng ông làm tôi cảm động theo. Đột nhiên tôi thấy buồn kinh khủng. Khi mới lần đầu tiên viết bài về cá rồng, tôi đã bị hút về phía những lời đồn thổi và kịch tính cao trong thế giới cá, tới những cá tính lập dị và nỗi ám ảnh của con người trong giới ấy. Nhưng không có cách nào để nghĩ về cá rồng - hay bất cứ loại cá nào - mà không phải đối mặt với một sự mất mát quá lớn tới mức trí não loài người khó mà hiểu nổi. Cho đến nay, tôi đã tới đây là để tìm một con cá hoang dã, để trải nghiệm chính tự nhiên hoang dã ấy, và tất cả những gì tôi có trong chuyến đi của mình chỉ là một giáo phái, một con gián, và một con chó đang chết đói. Bất chấp bản thân, nước mắt dâng lên trong mắt và chảy tràn xuống má tôi.

Nếu Heiko có biết chuyện đó thì ông cũng không nói gì. Ông tiếp tục nhìn lên trời. “Yên bình quá,” ông nói. “Có lẽ cô sẽ thấy nhớ điều này khi quay lại New York.”

❀ ❀ ❀

Bóng tối bao trùm khi chúng tôi tới được El Lago Grande. Hồ Lớn. Trong bóng tối, tôi chỉ có thể nhận ra hình dáng những bờ sông cây cối chằng chịt, tối tăm và khôn dò đang hắt những cái bóng lẫn vào nước như đang nhuộm nó. Đây chính là cái hồ mà Fausto và Jimmy đã kể lại là nơi ngư dân Colombia bắt được hàng ngàn, hàng vạn con cá rồng, tuồn lậu những con non ra khỏi đất Brazil vào mỗi mùa mưa. “Có vẻ như một cá rồng đang sắp nhảy lên mặt nước,” Heiko nói khi đứng ở mũi thuyền, nhìn mặt nước màu chàm. Tôi căng mắt ra để nhìn xem ông thấy gì, nhưng việc ấy là vô nghĩa trong ánh sáng đang tắt dần.

Chúng tôi dựng trại trên một con dốc bằng đất, trong lúc Heiko ở lại trên thuyền để chụp những con cá ông vừa bắt được ngày hôm đó, chùm sáng từ chiếc đèn pin của ông chiếu rọi bể cá làm nó trông giống chiếc quan tài bằng vàng. Estaban đang luộc một trong những con cá ấy để ăn tối. “Anh có thể kể lại là anh đã ăn một con Geophagus camopiensis xinh đẹp!” Heiko nói với Michal.

“Tôi thấy không sao hết,” Michal nói.

Khoảng chín giờ, chúng tôi trèo lên thuyền và khởi hành vào màn đêm đen như nhung, tim tôi đập thình thịch vì hồi hộp. Vì động cơ sẽ làm lũ cá sợ chạy mất nên Heiko đang ngồi phía trước để lái thuyền trong lúc Esteban nhận phần đuôi. Tuy nhiên, khoảng mười phút sau, chúng tôi đã gần như bị kẹt và Heiko lại tức điên lên vì kích cỡ của con thuyền. Thêm mười phút nữa và ông vẫn cố gắng chèo, mỗi sải tay đưa chúng tôi nhích lên phía trước một khoảng gần như không nhận thấy được. Phải mất nửa tiếng sau chúng tôi mới tới được một rừng ngập mặn gần nhất, thuyền nhanh chóng đâm sầm vào nó. “Chưa bao giờ trong đời tôi đi thu thập cá đĩa trong một con thuyền to và vụng về như thế này!” Heiko nói. “Thực sự là bất khả thi mà!”

Tuy nhiên ông vẫn nằm úp bụng xuống và cúi mặt qua thân thuyền để chiếu đèn pin vào khoảng nước mịt mù. Tôi có thể trông thấy gan bàn chân ông vẫn còn đang bị xước vì chỗ gai cọ dầu ông giẫm phải khi đi bộ chân trần trên đất liền. Ông nhận xét bằng tiếng Tây Ban Nha rằng nước có vẻ không sâu lắm, điều đó không hứa hẹn gì vì cá đĩa thích bơi ở tầng nước sâu. “Tôi không nghĩ chúng ta sẽ tìm được cá đĩa ở đây,” ông nói. “Tôi thực sự không nghĩ vậy. Tôi không nghĩ cá đĩa ở đây nữa cơ.”

Chúng tôi không còn lựa chọn nào khác là bật động cơ lên để tìm ở những chỗ sâu hơn trên hồ này. Trong lúc chúng tôi rẽ nước, Heiko chiếu đèn lên đám cá sấu Nam Mỹ có tên là caiman. “Rắn,” ông nói và chiếu đèn vào một đôi mắt đỏ ngầu lủng lẳng trên cây. Một con vật lớn nhảy qua bụi cây và Heiko đoán nó là một con chuột lang nước, loài gặm nhấm lớn nhất thế giới hoặc một con heo vòi, tuy giống lợn nhưng lại có họ hàng gần hơn với ngựa hoặc tê giác. Michal cũng tìm kiếm những con vật đó cho đến khi anh ta hắt đèn pin vào mắt Heiko quá nhiều đến nỗi ông cấm luôn việc làm của anh chàng.

Dần dần chúng tôi tới được một rừng ngập mặn thứ hai và Heiko lại biến mất nơi mũi tàu. “A,” giọng ông từ bên dưới vọng lên. “Dừng!” Ông đã tìm được một con cá bướm, từng là “vua của các loại cá cảnh” vào thời ông nội của Heiko, trước khi cá đĩa đẩy nó ra khỏi ngai vàng, để đến một ngày cá đĩa lại phải nhường chỗ cho cá rồng. Ông đã bẫy được một con cá hình tam giác màu bạc với bốn cái sọc dọc màu đen và đưa tấm lưới cho Michal, anh ta cố bắt con cá bằng tay không.

“Không, không được làm theo cách đó,” Heiko sốt ruột nói, giật cái lưới và úp ngược nó lại để con cá dễ dàng rơi tõm vào một cái nồi chứa đầy nước, ông đang dùng tạm nó làm bể cá. “Anh luôn luôn phải tránh cầm trực tiếp cá trên tay - chúng có lớp nhầy rất nhạy cảm.”

Một lúc lâu sau, ông tiếp tục nhìn qua mép thuyền, lẩm bẩm bằng tiếng Tây Ban Nha và thu lấy những con cá nhỏ. Cuối cùng ông bực tức thở hắt ra và nói nửa vời: “Ông muốn bắt cá sấu đấy à?”

Esteban đã chèo lái cho chúng tôi về phía một con cá sấu nhỏ, nhưng thuyền kềnh càng quá mức. Chúng tôi lao vào thân cây đước và con cá sấu bỏ đi.

Tôi đã tưởng bây giờ chúng tôi cuối cùng cũng đi tìm cá rồng. Nhưng thay vào đó, Heiko đột nhiên bảo tối nay đến đây thôi. “Vamos,” ông nói và chỉ cho Esteban quay lại chỗ cắm trại. Tôi hốt hoảng hỏi về chuyện tìm cá rồng. Heiko trả lời có phần mệt mỏi là ông đã căng mắt ra tìm suốt nhưng chẳng thấy gì cả.

Đêm xuống chính là lúc để bắt cá rồng, khi nó nổi lên gần mặt nước, tính cảnh giác đã chùng xuống và đôi mắt của chúng phản chiếu ánh sáng đèn pin. Vì chúng tôi đã đi xa đến nước này - và Heiko còn phải đưa Michal về cho kịp chuyến bay - chúng tôi chỉ có một đêm nay ở El Lago Grande mà thôi. Với tôi có vẻ như Heiko đã từ bỏ quá dễ dàng. Thế còn câu chuyện ông lùng sục bên ngoài suốt đêm trong dòng nước đen thì sao? Cứ như ông đang trừng phạt tôi vì cái hồ này không có con cá của ông - con cá đĩa vậy. “Ông có nghĩ ban ngày chúng ta cũng trông thấy cá rồng không?” Tôi hỏi sau khi chúng tôi đã về trại.

“Vấn đề là cái hồ này quá rộng - cô có để ý thấy không hử?” Heiko nói trong lúc cà răng qua mạn thuyền và súc miệng bằng nước đen. “Và cá rồng là loại cá cô độc, không phải sao?”

Nghe loáng thoáng được câu chuyện, Estaban nhìn lên, khuôn mặt sáng bên trên ngọn đèn lồng mà ông ta đang cầm. “Quería arowana?” Ông ta hỏi và gật đầu về phía tôi. Cô ấy muốn cá rồng sao?

“Si,” Heiko nói. “Difícil, no?”

Esteban lặng lẽ gật đầu - rất khó khăn.

❀ ❀ ❀

Tôi gần như không ngủ được mà chỉ nằm nghe những hợp âm điên rồ của lũ côn trùng. Tôi có thể cảm nhận từng giờ ban đêm trôi đi, cùng với cơ hội cuối cùng của tôi để tìm được một con cá rồng hoang dã. Lúc bình minh, tôi nhảy ra khỏi võng của mình, chệu chạo nuốt món súp lá cây và nhìn quả cầu mặt trời vàng óng dâng lên trên El Lago Grande, cảm thấy chán nản và nhụt chí. Bầu trời trong vắt và cái mát lạnh của buổi đêm vẫn còn nấn ná. Nhưng khung cảnh bình yên này chỉ nhắc tôi nhớ lại rằng đêm đã qua - khu rừng đã chìm vào giấc ngủ. Cơ hội tốt nhất để tìm một con cá rồng của tôi đã biến mất.

Esteban là người dậy thứ nhì. Ông ta trèo qua mạn thuyền, nơi ông nằm ngủ, cười rạng rỡ với tôi trong lúc lội qua bãi bùn để tìm củi đốt lửa. Tiếp theo Heiko ra khỏi lều, làu bàu với tôi. Trong lúc uống cà phê, ông tuyên bố rằng mình vẫn còn phải chụp ảnh đám cá đang để tạm trong mấy cái nồi từ đêm qua. Trong lúc đó, ông bảo Esteban đưa tôi đi xem liệu có tìm được cá rồng hay không. Trước viễn cảnh có thể phải chụp ảnh với nhiều con cá hổ hơn nữa, Michal cũng chọn đi cùng tôi.

Sau bữa sáng, ba chúng tôi trèo lên thuyền, bỏ Heiko lại và tiến ra hồ lớn, tới một bãi đước ở hướng ngược lại. Tại đó Esteban tắt động cơ và để chúng tôi trôi một lát. Hôm đó trời rất đẹp. Mặt nước đen phản chiếu bầu trời xanh. Hai chú chim trắng đập cánh bên trong những tán cây dầy đặc và một con gì đó trông giống tắc kè vừa nhảy qua mặt nước.

Sau vài phút, Esteban giơ một ngón tay lên môi và rón rén bước tới mũi thuyền, nhấc tấm lưới xanh có viền là những bong bóng màu da cam lên. Ông ta đứng bất động một lát, mắt dán vào mặt nước. Rồi bằng một cử động bất ngờ và trơn tru, ông kéo cái lưới lên, làm nó rơi xuống thuyền với một tiếng bịch rất lớn, khiến lũ chim giật mình kêu líu ríu trong rừng đước.

Điều gì đó ở Esteban khuyến khích sự tự tin của tôi. Tôi tin vào ông, một người Anh điêng Ticuna tốt bụng, đẹp trai và vui tính. Ông thường cho thuyền đi chậm lại mỗi khi trông thấy tôi cố lắp kính áp tròng vào mắt mà không được vì gió mạnh.

Giờ ông kéo lưới vào và nhấc nó lên, nước vẫn nhỏ tong tong. Trong lưới không có gì. Ông cau mày và chỉ cho tôi vấn đề ở đâu. Ngoài chuyện giờ là ban ngày, hoàn toàn không phải lúc để đi bắt cá rồng và chúng tôi lại còn đi bằng thuyền có động cơ trong khi mọi người đều biết là bạn phải lặng lẽ tiếp cận con cá, thì lưới của chúng tôi còn thủng lỗ chỗ nữa. “Muchas piranhas,” Esteban nói và lắc đầu tiếc nuối.

Dù vậy ông vẫn cố thử lần nữa, lần này bắt được một con cá màu bạc mất đuôi. Tiếp theo là một con cá to và loè loẹt với các hoạ tiết như da báo, giống một vị huấn luyện viên aerobics từ thập niên 1980.

Trong lúc đứng cạnh Esteban nhìn ông xử lý tấm lưới một cách khéo léo, bình tĩnh, bất chấp bản thân, tôi cân nhắc lại tình huống nhờ ánh mặt trời ấm áp trên đầu. Ngày xửa ngày xưa tôi đã muốn biết tại sao một loại cá cảnh lại khó cưỡng đến nỗi người ta phải đem lậu nó vào nước Mỹ, mạo hiểm cả sự tự do của mình. Ba năm rưỡi cùng quãng đường qua mười lăm nước sau đó, giờ tôi đang ở Brazil (có thể là xâm nhập bất hợp pháp) để tự mình đuổi theo con cá ấy. Ở thời điểm nào đó, mọi chuyện đã vượt tầm kiểm soát.

Nhưng đáng lẽ lần này phải là nỗ lực hợp lý nhất trong cuộc săn lùng của tôi. Không như những lần cố gắng đầy tham vọng trước đó, lần này tôi đã quyết tâm tìm một con cá rồng không chính thức gặp nguy cơ tuyệt chủng và nó sống ở một cái hồ mà dân đánh cá vẫn đến bắt thường xuyên. Hơn nữa, tôi không đi một mình mà còn đi cùng Heiko Bleher, nhà thám hiểm tầm cỡ thế giới, người đã tuyên bố là đã một tay tạo dựng ngành buôn bán cá rồng hồi những năm 1960.

Thế mà tôi vẫn không thể tìm được nó.

Tôi nghĩ về mẹ của Heiko, bà Amanda Bleher, người không bao giờ tìm được con cá đĩa đã khiến bà vác cả đám con cái băng qua cái địa ngục xanh ở nơi này để tìm kiếm. Tôi nghĩ về Alfred Russel Wallace, đứng trên một chiếc tàu cứu hộ ở giữa biển Đại Tây Dương, nhìn công sức bốn năm gầy dựng của mình hoá thành tro tàn trong ngọn lửa đã huỷ diệt con tàu đưa ông trở về nước Anh. Trong tay ông chỉ còn lại một chiếc hộp thiếc duy nhất mà ông cứu được từ đám cháy. Hoá ra, bên trong nó lại là những hình vẽ về các loại cá ở Amazon của ông, và một trong số chúng là bức phác hoạ tinh tế của một con cá rồng. Nửa thế kỉ sau, ông vẫn còn cố gắng trong vô vọng để xuất bản những bức vẽ ấy, bởi không có một viện bảo tàng nào muốn chúng khi không có vật mẫu.

Trên bề nổi, những chuyến đi tới Amazon của bà Amanda Bleher và Alfred Russel Wallace đều là những thất bại thảm hại. Nhưng tôi ngờ rằng không ai trong số hai người đó chọn khác đi nếu có cơ hội làm lại. Trường hợp của tôi cũng tương tự. Nếu tôi thất bại thì có sao? Ngay từ đầu, câu chuyện đã không còn là đi tìm một con cá hoang dã nữa - không hẳn là thế - mà là phiêu lưu khám phá và thấu hiểu, cả ba điều trên tôi đều đã thu hoạch được rất nhiều.

Esteban cười yếu ớt với tôi. Những nỗ lực của chúng tôi rõ ràng là vô vọng. Tôi gật đầu đồng ý. Đã đến lúc từ bỏ và trở về chỗ cắm trại để bắt đầu chuyến đi dài về nhà. Tôi ngồi xuống cạnh Michal, và Esteban trèo lên tàu. Ông bật động cơ, nó gầm lên khi khởi động, cắt ngang sự yên tĩnh. Trước âm thanh bất ngờ ấy, một thứ gì đó nhảy lên khỏi mặt nước như một cái nút chai sâm banh khi bật mở. “Cá rồng!” Esteban kêu lên, chỉ ngón tay xuống nước.

Tôi rút lại lời nói! Tất cả mọi chuyện đều là về con cá ấy!

Cả ba chúng tôi bật dậy và đứng nhìn trân trối vào chỗ nước khoả ra nơi một vệt màu bạc vừa mới nhảy lên. Rồi Esteban có một ý tưởng. Chúng tôi sẽ không rón rén đi lại và rình con cá rồng như cách truyền thống nữa. Không, chúng tôi sẽ làm ngược lại. Ông bật động cơ lần nữa, lao con thuyền vào thẳng trong đám đước và bắt đầu đi dọc đường rìa của nó. Michal và tôi đập tay xuống thùng xăng, vừa đập vừa hú hét. Đột nhiên một con cá rồng khác nhảy lên dọc thân thuyền. Rồi một con khác nữa, con cá này to đùng, lộn người hai vòng trên không trung. Có lẽ nó phải dài đến chín mươi centimet, lớp vảy bạc lấp lánh với phần bụng ửng hồng. Khi lao lên không trung, nó đã rời khỏi mặt nước hoàn toàn và trong một khoảnh khắc lơ lửng ngang tầm mắt, nó cũng nhìn chúng tôi khi chúng tôi nhìn vào nó.

“Oa!” Michal nói, anh ta không quen với những màn trình diễn mãn nhãn như thế này.

Esteban thì mừng ra mặt.

Còn tôi? Tôi nhớ lại câu chuyện bạn tôi là Amos Yu ở Borneo đã kể. Amos yêu các loại cây - anh điều hành một vườn ươm - và anh bị ám ảnh với việc tìm được một loại cây đặc biệt: Nepenthes platychila, một cái cây nắp ấm màu đỏ biết bẫy và tiêu hoá côn trùng bên trong những cái lá đặc biệt của nó. Loại cây này được cho là loài đặc hữu của cánh rừng nhiệt đới nguyên sinh trên dãy Hose xa xôi của đảo Borneo. Vì thế Amos đã thực hiện một chuyến đi đắt đỏ và gian khổ tới đó. Anh tìm được loại thu hải đường mà người ta chưa gặp lại trong hơn một trăm năm. Nhưng không có cây nắp ấm. Anh trở lại đó lần thứ hai và vượt qua hai thác nước mới tới được chỗ một bức tường đá sa thạch, nơi người ta tin là có cây nắp ấm mọc. vẫn không có. Anh trở lại lần thứ ba và lên tới thác nước thứ ba. Vẫn không có. Trong chuyến đi lần thứ tư, sau khi tiêu tốn tám năm và 20.000 đô la để theo đuổi loại cây này, anh tìm được nó ngay trong ngày đầu tiên, mọc trên một thân cây. Nó không đặc biệt xinh đẹp và anh thậm chí không bao giờ cố bán nó. Tuy nhiên, cảm xúc trong anh vẫn vỡ oà đến mức suýt nữa anh đã khóc. Anh cảm thấy vui sướng hân hoan và tự hào quá đỗi - và một niềm cảm kích vì đã được sinh ra trong một thế giới lạ lùng và tuyệt vời đến thế - nhưng hơn bất kì điều gì, anh thấy nhẹ nhõm khôn tả. Khi tìm được thứ mình tìm kiếm suốt bấy nhiêu năm, anh đã thoát khỏi vòng kiềm toả của nó với cuộc đời mình, được trả tự do khỏi câu thần chú đang trói buộc anh. Trong lúc chiêm ngưỡng loài cây khiêm tốn ấy, mà lúc này anh đã nhận ra rằng nó cũng chỉ là một cái cây, ý nghĩ đầu tiên của anh là: “Ta không cần quay lại đây nữa!”

Tôi cũng cảm thấy chính xác điều tương tự. Trong chuyến đi dài về nhà, chúng tôi sẽ hết sạch nước uống vì Heiko đã dùng để đổ vào bình cá, rồi hết xăng và nhờ một người Anh điêng Ticuna tốt bụng tiếp cho mà không chịu lấy tiền. Khi cả chỗ xăng ấy cũng đã cạn, khiến Michal có nguy cơ lỡ chuyến bay, Heiko chạy ào tới mũi thuyền và chộp lấy mái chèo mà chèo như điên trên dòng sông Amazon.

“Ôi Chúa ơi!” Michal nói khi ngẩng đầu khỏi trò Sudoku, rồi lại quay về với trò chơi.

“Cô biết không,” Heiko gọi tôi giữa những hơi thở nặng nhọc, khi tôi cũng đi tìm một mái chèo khác trong vô vọng, “chuyện này lúc nào, lúc nào cũng xảy ra. Tôi không bao giờ có nổi một chuyến nào - trong số chín trăm chuyến - khám phá xuôi chèo mát mái cả.”

Trải qua tất cả, tôi vẫn được an ủi với nhận thức rằng mình đã tìm được mục tiêu của cuộc săn đuổi, một con cá hoá ra cũng không có gì đặc sắc hơn hệ sinh thái vĩ đại xung quanh nó. Bất chấp mọi việc, cá rồng cũng chỉ là một con cá, cũng bình thường và phi thường như bất kì con cá nào.

Ít nhất thì cho đến lúc này, nó vẫn còn tồn tại ở đó - ngoài thiên nhiên.

Phác thảo cá rồng bạc của Alfred Russel Wallace năm 1851.

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.