Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Barâu Cá Sấu

❊ ❊ ❊

MYANMAR

Tôi tê liệt đến nỗi không buồn nổi. Heiko sẽ không đến. Hơn thế nữa, thậm chí tôi còn không thể cáu tiết với ông. Ông nói em trai nhỏ của vợ mình - Natasha - bị ốm nặng, và họ đã cãi nhau suốt một tuần về chuyện phải làm gì. Rốt cuộc ông không được đi vì nhà có việc như vậy.

Tôi đã ở Yangon gần hai tuần chờ Heiko tới, để thực hiện một thành tích kiểu siêu nhân mà ông vốn nổi tiếng hay làm được, dù suốt thời gian ấy tôi đã mất dần niềm tin, bắt đầu nghi ngờ rằng ngay cả Heiko cũng không thể tới được sông Tenasserim Lớn. Giờ ông không đến được và tôi nghi ngờ gấp đôi chuyện mình có thể tự đi đến đó.

Tuy nhiên, đằng sau sự thất vọng ê chề, tôi vẫn cảm thấy chút nhẹ nhõm. Thứ nhất, tôi không phải lo về chuyện lôi kéo Heiko vào một chuyến khám phá vô ích. Hơn thế nữa, tôi nhận ra cách nhìn của mình về con cá rồng batik đã thay đổi trong thời gian tôi lưu lại Yangon. Tôi không còn coi nó là hoàn toàn “chưa được khám phá” nữa. Dù nó chưa được chính thức mô tả trong các tài liệu, nhưng ở Myanmar này, nó đã nổi tiếng với một vài người. Cho nên việc tôi mò tới tận Tenasserim để mang cá về cho một nhà ngư học người Mỹ nghe hơi hướm trịch thượng trong khoa học một cách đáng ghét. Nếu có ai xứng đáng được quyết định số phận của nó thì tôi tin người ấy chính là Tin Win, ông đã dành quá nhiều phần cuộc đời mình để nghiên cứu về những loài cá bị lãng quên của Myanmar.

Trên thực tế, Tin Win vẫn thường hay hỏi han tôi. Khi tôi kể với ông là Heiko đã hủy bỏ kế hoạch, nhưng tôi vẫn muốn cố đi tìm con cá một mình, con trai ông là Hein đã đề nghị đi cùng tôi tới tận thị trấn ven biển Myeik, thủ phủ của miền cực nam đất nước. Tin Win nghĩ ở đó ít nhất tôi có khả năng trông thấy con cá trong nhà ai đó, và tôi đã dự định sẽ xin phép (và nhiều khả năng bị từ chối) đi tới sông Tenasserim Lớn một cách chính thức. Myeik về cơ bản được mở cửa với khách nước ngoài, mặc dù chúng tôi bị giới hạn trong phạm vi thành phố và cuốn sách hướng dẫn của tôi cảnh báo các chuyến bay từ đó rất hay bị hủy dẫn tới “khả năng cao bị kẹt ở đó nhiều ngày, thậm chí nhiều tuần.” Bất chấp chuyện đó, tôi vẫn mua hai vé khứ hồi. Vào ngày thứ Ba mà đáng lẽ tôi cùng Heiko phải khởi hành chuyến khám phá cùng nhau, tôi đi cùng Hein trên chuyến bay ghé nhiều chặng[*]. Chặng đến Myeik của chúng tôi kéo dài hai giờ.

[*] Khi máy bay ghé nhiều địa điểm khác nhau nhưng chỉ có một số hiệu chuyến bay.

Trong lúc chúng tôi bay ngang biển Andaman hẻo lánh, tôi nhìn xuống mặt nước xanh ngọc lấm chấm tám trăm hòn đảo nhỏ. Trong một thiên niên kỉ, quần đảo rộng lớn này là quê hương của dân du cư Moken, một bộ tộc săn bắt hái lượm gần như cả trên bờ và dưới nước, còn được biết đến với tên gọi là dân du mục trên biển. Họ di chuyển trên những đội thuyền nhỏ, mỗi gia đình nhỏ chung nhau một chiếc thuyền được đục từ một thân cây duy nhất. Năm 2004, người Moken đã áp dụng những kiến thức của mình vê gió, thủy triều và hành vi của động vật để tiên đoán được đợt sóng thần đã làm chết gần ba trăm ngàn người. Dù bộ lạc này sống ở ngay tâm điểm của con sóng vĩ đại nhất, nhưng họ đã rút lên đồi cao từ trước nên không tổn thất một người nào cả. Kể từ đó, chính phủ Myanmar và Thái Lan đã buộc những người này phải lưu trú cố định trên đất với nỗ lực đồng hóa họ.

Dù biển Andaman có tiếng là thiên đường chưa bị con người chạm tay đến, nhưng nhà sinh vật biển Mark Erdmann - người khám phá ra cá vây tay Indonesia - kể với tôi rằng hai năm trước ông đã tới đó lặn và thất vọng ê chề. “Về cơ bản chúng tôi đã đến chậm một năm,” ông nói. “Trên mặt nước mọi chuyện vẫn còn tuyệt vời. Những hòn đảo huy hoàng và bờ cát trắng phau với những khu rừng nhiệt đới trải dài tới tận bãi biển. Nhưng dưới mặt nước, bọn họ đã cho phép người Trung Quốc vào vơ vét sạch cả nguồn hải sản.” Ông mô tả vào ban đêm, đèn của những chiếc tàu đánh cá bằng lưới rà sáng rực như một thành phố trên biển. “Hầu hết các vỉa đá ngầm đã bị vét sạch và cho nổ. Chúng tôi còn thấy cả vài quả bom đánh cá ngay trên đầu mình.”

Đó là chuyện ngoài biển. Tôi hi vọng đi theo hướng ngược lại, tức là hướng đông, về phía những ngọn đồi rồi xuống thung lũng sông Tenasserim, nơi diễn ra cuộc nội chiến dài nhất thế giới kể từ năm 1948. Trên lý thuyết, chính nó đã ngăn trở mọi sự phát triển và bảo tồn khu rừng này. Hầu hết những người sống trong thung lũng đều thuộc các bộ lạc thiểu số được gọi là Karen. Họ đã không ngừng đấu tranh đòi tự trị kể từ khi Miến Điện giành được độc lập từ tay người Anh. Theo Bộ ngoại giao Hoa Kỳ, Myanmar có cả một lịch sử lâu dài về việc xâm phạm nhân quyền với người Karen. Hơn ba mươi năm qua, hàng ngàn người đã bị buộc phải tị nạn trong những khu trại nằm dọc biên giới Thái Lan.

Chỉ mới vài tháng trước, có vẻ như cuộc chiến đã leo thang trở lại khi người ta nhận được báo cáo các cuộc giao tranh tăng lên. Chỉ vài tuần trước khi tôi đến, quân đội Myanmar và Karen đã đồng ý một thỏa thuận ngừng bắn chưa từng có. Lần đầu tiên trong sáu mươi tư năm, một nền hòa bình mong manh đã được duy trì trên những khu rừng ẩm thấp rậm rạp của Tenasserim.

Với tôi, có vẻ như vận may không tưởng này chính là khoảnh khắc để tôi đi tìm cá rồng batik. Tuy nhiên, khi hạ cánh xuống sân bay Myeik bé xíu, tôi bắt đầu nhận ra không dễ để mình thoát khỏi thành phố. Khi chúng tôi đi ngang bãi cỏ từ máy máy ra đến cổng, các nhân viên an ninh mặc đồng phục, đeo kính râm phản quang đã dừng chúng tôi lại để tra hỏi Hein bằng tiếng Miến Điện. Anh nói với họ tên của bạn cha mình, một người dân bản xứ nay đang làm việc trong ngành dầu cọ đã đồng ý đảm bảo cho chúng tôi. Sau khi gọi điện, các nhân viên này cho phép chúng tôi đi qua, và tôi nhận ra Ralf Britz đã nói đúng, ở đây tôi sẽ chẳng đi được đến đâu nếu một mình.

Người bạn trên đã cử một cộng tác viên đến đón chúng tôi, một anh chàng cằm chảy xệ lái chiếc SUV màu trắng bật nhạc sàn ầm ĩ. Anh ta đeo kính Ray-Ban và nói chuyện với chiếc tai nghe Bluetooth bằng tốc độ của một tay môi giới chứng khoán trong lúc chúng tôi đi vào thành phố. (Ấy vậy mà tôi đã đọc được thông tin là điện thoại di động không hoạt động ở vùng này kia đấy.) Mãi sau này Hein mới nói cho tôi biết cuộc nói chuyện như tên lửa kia về chủ đề gì: Người đàn ông đang cố gắng tìm cách đưa tôi ra khỏi thành phố và lên phía sông Tenasserim Lớn.

❀ ❀ ❀

Mặc dù tôi không định vi phạm bất kỳ luật nào, nhưng cái khả năng ấy vẫn lơ lửng trong không khí và sau này tôi sớm biết được ở Myeik chẳng có con cá rồng nào. Điều này trở nên rõ ràng sau khi tôi gặp bạn của ông Tin Win, “ông chủ lớn” (như cách Hein gọi) mặc chiếc longyi đen và đi dép tông, ông sốt sắng đề nghị trợ giúp cuộc tìm kiếm của tôi. Ông đưa chúng tôi đi một tour chóng mặt quanh thành phố mà chủ đề là đi tìm cá rồng, dù chuyến đi khá ngắn ngủ do bắt buộc phải thế. Về cơ bản, nó chỉ là việc đến thăm cái bể cá nhà ai đó từng có một con cá rồng. Không ai giải thích với tôi điều này. Vì vậy, từ góc nhìn của tôi, chúng tôi đơn giản là đến gặp một người đàn ông gày gò xăm trổ trong chiếc áo thun sát nách, ông này chỉ cho tôi thấy một cái bể cá rỗng không đặt dưới hàng dây phơi trong sân nhà mình. Tôi bảo ông ta rằng nó rất đẹp.

Theo ông chủ lớn, người dân ở đây gọi cá rồng là me chaung mwae hay “lông cá sấu.” Ông ta giật lông ở cánh tay tôi để minh họa.

“Nhưng cá sấu làm gì có lông,” tôi bảo.

Hein giải thích rằng từ đó dịch sát nghĩa hơn là “râu cá sấu,” bởi vì tiếng Miến Điện không phân biệt giữa râu và tóc hay là lông mày. Tôi ghi chép thật cẩn thận, nhưng sau này mới nghĩ ra là cá sấu cũng làm gì có râu. Ngay cả cái tên loài cá này cũng đã gây khó hiểu và bí ẩn rồi.

Lúc này tôi đã thu hút một nhóm nhỏ những người dân tò mò. Dù người phương Tây hiện nay là đối tượng mới lạ ở Myeik, nhưng trước đây không phải lúc nào cũng vậy. Trước khi bị cô lập trong thời hiện đại, thành phố này từng là cửa ngõ sầm uất của người Trung Quốc, một cảng giao thương chính giữa vương quốc Xiêm (Thái Lan ngày nay) và châu Âu. Chiều hôm đó, trong lúc vị chủ nhà của chúng tôi làm nốt vài việc trong văn phòng ông ở trung tâm thành phố, Hein cùng tôi lang thang ở đường đi dạo cũ của người Anh, ngắm những chiếc thuyền đánh cá đậu chật cả bến cảng, nơi dòng Tenasserim Lớn chảy ra biển Andaman. Những cây cọ dầu đung đưa trong gió. hòn đảo đối diện có bức tượng Phật khổng lồ đang nằm tựa trên một cánh tay.

Nhìn qua hàng rào, Hein trông thấy những con cá thòi lòi[*] dùng cặp vây như chân của chúng để trườn ngang mặt bùn bên dưới, y như cách tổ tiên của mọi loài động vật trên cạn có thể đã thực hiện từ 300 triệu năm trước. Anh kể với tôi là cha anh đã yêu cầu anh bắt và bảo quản loài này để dành cho một thư viện cá ở Myanmar mà ông mơ ước sau này sẽ được mở tại Yangon.

[*] Một loài cá lưỡng cư có khả năng di chuyển và tìm kiếm thức ăn trên cạn, tên gọi trên là do chúng có cặp mắt lồi ở trên đỉnh đầu.

Những năm gần đây, thông lệ thu thập cá thể cho các viện bảo tàng đã làm nổ ra các cuộc tranh luận gay gắt. Phe phản đối viện dẫn trường hợp kinh điển của loài chim anca lớn[*]: một giống chim cao gần chín mươi phân, không biết bay và từng phân bố ở Bắc Đại Tây Dương tới miền nam Tây Ban Nha trước khi tuyệt chủng vào giữa thế kỉ 19 do những nhà sưu tầm quá hăng hái của các viện bảo tàng. Bạn có thể nghĩ những ví dụ như vậy thuộc về quá khứ. Nhưng điều tương tự cũng đã xảy ra trong thời hiện đại này với loại cá siêu sao: cá vây tay. Các nhà khoa học quá háo hức khi khám phá ra “hóa thạch sống” chưa tuyệt chủng, suýt nữa thì họ làm nó tuyệt chủng thật. Từ năm 1952 đến 1992, chính các viện bảo tàng đã bắt ít nhất 173 con trong tổng số khoảng 200 đến 600 cá thể sinh sôi rất chậm chạp này. Tổ chức IUCN đã tuyên bố loài này bị đe dọa nghiêm trọng và nó rơi vào Phụ lục I trong Sách Đỏ cùng với cá rồng châu Á.

[*] Thuộc họ chim Alcidae.

Một vài lời chỉ trích các bộ sưu tập nhân danh khoa học còn đi xa tới mức phản đối luôn cả thông lệ tiêu chuẩn trong việc bảo quản “mẫu vật” để chính thức hóa một loài mới được phát hiện. Trong guồng quay của cuộc đi săn, tôi đã tránh không nghĩ quá nhiều về một thực tế khó chịu là thu thập mẫu vật cá rồng batik cũng đồng nghĩa với việc giết chết nó. Thành thực mà nói, tôi không thể tưởng tượng cảnh mình giết chết một con cá có khả năng đang có nguy cơ tuyệt chủng. Thế nhưng tất cả những nhà ngư học tôi từng nói chuyện đều khăng khăng là sự hi sinh ấy cần thiết để chính thức mô tả một loài mới. Giờ khi Heiko đã không còn liên quan đến việc này, tôi vẫn chưa giải được câu đố mình sẽ làm gì nếu thực sự tìm được con cá - một viễn cảnh mà tôi phải tự trấn an mình là khó có khả năng xảy ra.

Tuy nhiên, tối đó trong bữa ăn, chủ nhà của chúng tôi đã tuyên bố một câu đầy bất ngờ: Sáng hôm sau, ông dự định đưa vài nhà tư vấn người Malaysia đến một trang trại cọ dầu mới ngoài thành phố. Ông có thể gửi tôi đi từ đó vào núi Tenasserim, ở đó tôi sẽ được phỏng vấn một ngư dân từng bắt cá batik để kiếm sống. Chỉ có một trở ngại đáng kể duy nhất là có thể tôi sẽ không được ra khỏi ô tô.

Nghe không giống một giấy phép chính thức, nhưng tôi vẫn quyết định sẽ nắm lấy cơ hội này.

❀ ❀ ❀

Sáng hôm sau, tôi dậy từ khi trời chưa sáng để chờ trước cửa khách sạn, chân toát cả mồ hôi vì hồi hộp. Hơn năm giờ sáng, một chiếc SUV tấp vào với ba người đàn ông ngồi bên trong, tôi đã gặp cả ba trong bữa tối hôm trước. Những tia nắng đầu tiên trong ngày hắt ánh sáng vàng lên mặt đất trong khi chúng tôi lái xe ra khỏi thành phố theo những người Malaysia, một đám mây bụi vẩn lên đằng sau xe họ. Những túp lều mái lá nằm rải rác bên đường. Lũ học trò nhỏ nhảy nhót vụt qua trong những bộ đồng phục màu xanh lá. Cuối cùng, chúng tôi cũng vẫy tay chào chiếc xe kia khi nó dừng lại ở một trang trại, và đi tiếp tới núi Tenasserim. Khi cái nóng của buổi sáng tăng dần, bầu không khí mang lại cảng giác dính dấp, căng thẳng như sữa trước khi sôi vậy.

Chẳng bao lâu sau con đường đất bắt đầu dốc lên, và khung cảnh hiện ra tươi xanh hơn, mát mẻ hơn. Hai tiếng sau chúng tôi đã tới đích đến là làng Tenasserim, một tập hợp những ngôi nhà thấp với mái ngói đỏ nằm nép mình ở chỗ quành của sông Tenasserim Lớn, nơi nó rẽ sang hướng tây đổ ra biển. Đây chính là nơi Ralf Britz đã thề là tôi không bao giờ tới được - nơi ông ta nói có thể sẽ tìm thấy con cá rồng batik.

Tôi đã tưởng sẽ thực hiện một cuộc phỏng vấn âm thẩm với một ngư dân ở ghế sau ô tô. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của tôi, một quan chức địa phương từ Đảng Liên đoàn Thống nhất và Phát triển - đảng của các vị tướng lãnh đạo - đã đích thần tới chào tôi. Một người đàn ông gầy gò, tươi cười trong chiếc mũ màu xanh dẫn tôi đi theo con đường đẩy bụi tới một ngôi nhà thấp bằng gỗ, bên trong là sàn nhà sáng bóng và đổ đạc bằng gỗ liễu gai.

Một người đàn ông to cao quãng độ ngũ tuần ngồi trong một chiếc ghế bành, ông đội chiếc mũ có vành và đeo túi ngang bụng: chính là người đánh cá chuyên bắt cá batik. Ông có mười người con và mười đứa cháu, ông ta giải thích thông qua một thông dịch viên rằng mình lớn lên ở Tenasserim và cả đời đã biết về con cá rồng có hoa văn chữ viết. Nhưng nó chẳng qua chỉ như những con cá khác ở chợ, - một loại cá ăn được - cho mãi đến giữa những năm 2000, khi một người đàn ông có tên là Myint Too tới tìm nó.

Tôi không những đã nghe về người này mà còn gặp ông ta ở Yangon. Ông ta vốn là đối thủ cạnh tranh của Tin Win, từng tuyên bố mình đang nỗ lực nuôi cá batik cho sinh sản ở một nơi hẻo lánh tại miền nam, nơi mà người nước ngoài không được phép đặt chân tới, mặc dù ông ta khăng khăng mình chưa bán bất kì con nào ra nước ngoài. Đó là một việc vốn không thể thực hiện một cách hợp pháp nếu không có giấy phép của CITES.

Tuy nhiên, ngư dân này kể với tôi rằng Myint Too đã thuê ông ta hàng năm bắt càng nhiều cá rồng càng tốt. Ở thời điểm đó, ông ta ước tính mình đã chuyển hơn một ngàn con tới Yangon. Ông ta nói loài cá này từng có rất nhiều trong tự nhiên, thậm chí chúng sống cả trong những con suối nhỏ gần làng. Bây giờ, để tìm được nó, ông ta phải đi mất hai ngày xuống phía nam, tới một nhánh sông có tên là Tenasserim Nhỏ mãi sâu trong rừng rậm, nơi nhóm du kích Karen kiểm soát.

Tôi hỏi mình có thể tiếp cận khu vực có loại cá này không, và tất cả đàn ông trong phòng đều cười ồ. “Tôi nghĩ lần tới cô có thể tới đó,” một người nói. “Bởi vì giờ họ vừa mới kí một hòa ước.”

Còn về chuyện xem cá batik, người đánh cá than rằng ngay lúc này ông ta không có con nào - lại một lần nữa tôi tới sai thời điểm. Ông ta bắt cá rồng ở con nước nổi khi chúng tới kì sinh sản. Nhưng Heiko lại khăng khăng sắp xếp chuyến đi của chúng tôi trong mùa khô.

Thất vọng ê chề, tôi cảm ơn mấy người đàn ông vì họ đã dành thời gian cho mình. Vị quan chức chính phủ dẫn tôi ra ngoài, bước vào làn không khí ám mùi cá và đưa tôi xuống một khu chợ trên sông, nơi mấy người phụ nữ bán các loại cá họ bắt được hàng ngày. Từ đó, chúng tôi trèo xuống những bậc thang bằng bê tông để tới bờ sông đầy bùn. Một chú lợn đang lục tìm thức ăn trong bãi rác ở đó. Tôi nhìn lên chỗ dòng sông rộng biến mất vào một thung lũng xanh um và nhớ lại điều Ralf Britz đã nói: “Đã biết bao lần tôi mơ về chuyện đi đến Tenasserim. Ở đó sẽ có biết bao nhiêu điều còn ẩn giấu.”

Ngay lúc đó, một trong mấy người đàn ông gọi chúng tôi ở trên bờ, tuyên bố rằng chúng tôi phải đi ngay lập tức - đã có nhà chức trách khác bắt đầu đặt câu hỏi.

Chúng tôi trở lại Myeik ngay trưa hôm đó.

❀ ❀ ❀

Dù có vẻ như tôi đã không có cách nào tìm được con batik, nhưng chuyến bay quay về Yangon của chúng tôi còn tới mấy ngày nữa. Vì vậy Hein và tôi giết thời gian bằng cách đi thăm thú các loại cá địa phương. Chúng tôi tới thăm một nơi bán những con tôm hùm sặc sỡ như một chiếc tàu vũ trụ tráng men và một nhà máy chế biến, nơi hàng ngàn con mực ướp cay đang nằm phơi mình dưới nắng.

Trong đêm cuối của chúng tôi ở làng, ông chủ nhà mời chúng tôi tới lễ khánh thành và tiệc khai trương ở một hòn đảo gần đó. Đó là một nhà máy chế biến cá chuyên xuất khẩu sang Trung Quốc và Nhật Bản. Chạng vạng tối, chúng tôi dùng một chiếc thuyền gỗ cọt kẹt để băng qua cảng và lên đoạn dốc tới một câu lạc bộ đồng quê sang trọng. Ở đó, đám thương nhân ngồi thoải mái trên những chiếc ghế bành bằng liễu gai, một tay cầm ly rượu, tay kia cầm thuốc lá.

Trong bữa tối, Hein và tôi ngồi cùng với một nhóm các nhà băng Singapore. Họ kể với chúng tôi rằng chuyến thăm của Hillary Clinton gần đây đã kéo theo cả lũ các nhà đầu tư. Giờ đây ai nấy đều muốn cắn một miếng bánh Tenasserim và áp lực dọn rừng để đón các trang trại cọ dầu là rất lớn. Tôi đã để ý thấy một tấm biển màu xanh của nhà nước đặt ở chỗ nhìn ra bến cảng với tuyên bố khu vực này PHẢI TRỞ THÀNH BÁT DẦU CỦA MYANMAR (đây là một cách chơi chữ vì Đồng bằng Irrawaddy thường được gọi là “bát cơm” của Myanmar).

Không lâu sau món thứ ba, điện thoại của Hein đổ chuông. Ông Tin Win vẫn thường định kì gọi để liên lạc với hai chúng tôi. Tuy nhiên lần này ông báo tin quan trọng. Một ngư dân vừa đến Myeik, mang theo hai con cá batik. Ngày mai một người buôn bán cá cảnh ở địa phương là U Myeik (rõ ràng được đặt tên theo quê quán) sẽ đưa chúng tôi tới mua hai con cá ấy ngay trước chuyến bay của chúng tôi. Sau khi Hein cúp máy, anh có vẻ bị sốc. Rồi anh bắt đầu cười không ngừng được. Cuối cùng anh kể cho tôi nghe cha mình đã kết thúc cuộc gọi như thế nào: “Con trai, nếu không lấy được con cá thì đừng về nữa!”

Tin Win định sẽ gửi con cá rồng tới cho Ralf Britz.

Sáng hôm sau, U Myeik gặp chúng tôi ở khách sạn. Anh ta là một chàng trai trẻ không biết cười với mái tóc đen rối nùi. Tôi ngồi sau xe máy của anh ta còn Hein thì đi theo trên một chiếc xe thuê tới địa điểm cách chúng tôi vài cây số: một mái nhà tranh của gia đình anh ngư dân, có bán đồ ăn vặt ở mặt trước. Các túi khoai tây chiên và kẹo kẹp trên mấy sợi dây thừng giăng ngang lối vào như một tấm rèm kết bằng hạt. Bên trong, không gian chật hẹp len chặt những món đồ bình dị và mấy chồng gạo. Ở một góc nhà, trên chiếc bàn thấp gỉ sét là một cái bể hình vuông màu xanh được chiếu đèn quá sáng đến mức chúng tôi khó nhìn vào. Trong đó là hai con cá rồng quá to so với cái bể.

Đúng, chúng là cá rồng. Tôi nhận ra cái miệng hờn dỗi mà ở bất kì đâu cũng là biểu cảm không may, đôi mắt phẳng dẹt phản chiếu ánh sáng y như những nút bấm trong thang máy kia. Đồng thời, hai con cá này cũng khác với bất kì con nào tôi từng gặp, nó có màu xanh nhờ, phủ những hoa văn loằng ngoằng như giun màu đồng bên trên. Chúng nhắc tôi nhớ đến những người phụ nữ tộc Chin ở phương bắc, họ xăm hình đầy mặt, thậm chí cả trên mi mắt. Những hình vẽ trên mình con cá trông rất giống chữ viết tròn của Miến Điện, và tôi những muốn hoa văn ấy thực sự nói lên điều gì đó - bầt kì điều gì. Kể cả là quảng cáo Budweiser thì tôi cũng vẫn vui. Nhưng Hein đọc kĩ các dấu vết ấy và tuyên bố chúng vô nghĩa.

Hai chú cá được bắt từ một nhánh sông hẻo lánh của dòng Tenasserim, do anh trai của người ngư dân chở bằng thuyền suốt quãng đường mười tiếng đồng hồ từ Myeik tới đây. Anh ta là một thợ sửa máy kéo gầy trơ xương, có bộ răng to. Lúc này anh chào chúng tôi, vui ra mặt, và mời chúng tôi ngồi xuống hai chiếc ghế nhựa không đồng bộ. Trên tấm bản đồ tôi mang theo, anh ta chỉ cho chúng tôi thấy làng của mình và chỗ đã bắt lũ cá rồng, sâu hơn về phía nam so với chỗ tôi từng đến. Anh ta nói mãi đến gần đây khu đó vẫn còn chiến sự. Nhưng hai mươi ngày trước, nhóm du kích Karen đã xuống núi chỉ để đến thăm, không mang vũ khí. Anh ta cho chúng tôi xem bức ảnh nhỏ của ông nội mình, ông đã nhận được huy chương danh dự vì chiến đấu chống lại chính nhóm du kích kia hồi những năm 1940.

Trong lúc tôi ngắm nghía khuôn mặt người đeo kính trong bức ảnh cũ kĩ, cuộc mặc cả diễn ra. Người đàn ông đòi Hein trả 300 đô la cho hai con cá rồng. Hein mặc cả còn 200. Họ cự nự nhau. Rồi Hein bước ra ngoài và gọi về nhà cho cha ở Yangon, nói chuyện thì thầm và gật đầu lia lịa. Sau khi tắt máy anh trở lại và chốt giá 250 đô. Con số ấy cách xa cả dặm so với cái giá ở Tokyo hay Thượng Hải, nhưng nó cũng là cả gia tài đối với người ngư dân và gia đình anh ta.

Vấn đề duy nhất là Hein không muốn mang cá rồng lên máy bay cùng chúng tôi, ngộ nhỡ gặp rắc rối. Bất chấp việc bị cô lập, Myanmar vẫn là thành viên của CITES từ năm 1997 (dù thực tế ở đây hiệp ước ấy hiếm khi được thi hành). Dù Hein không mang cá ra khỏi đất nước nhưng anh không chắc về các quy định trong nước và nghĩ sẽ thận trọng hơn khi yêu cầu chúng được chuyên chở tới Yangon. Tiền nong sẽ được thu xếp thông qua U Myeik.

Trong lúc đám đàn ông bàn bạc chi tiết, tôi quỳ xuống sàn để ngắm hai con cá rồng kĩ hơn, một trong hai con có một vết xước chảy máu ở bên hông, có thể nó đã bị thương lúc bị bắt. Vì cặp đôi này bị bắt cùng nhau, và vì chúng không cố giết nhau (một biểu hiện của tình thương mến thương nơi loài cá rồng), tôi chắc hẳn chúng là một cặp.

Cặp tình nhân đáng thương. Tôi thấy tội nghiệp cho chúng, bị bắt từ vùng nước tối trong rừng, nhét trong cái bể xanh xa lại đèn đuốc sáng rực này, rồi sẽ lại bị hi sinh trên bệ thờ khoa học và trói buộc vào Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên của London mãi mãi. Nếu Ralf Britz tuyên bố cá rồng batik là một loài mới, một trong hai con này sẽ bị coi là “nguyên mẫu” của loài, số phận đã định nó sẽ vĩnh viễn đại diện cho loài của mình, được bảo tồn trong một cái kho mát lạnh, tối om của bảo tàng.

Ngắm con cá vừa quen vừa lạ, giống như một tác phẩm thất lạc của Picasso trên áp mái nhà ai đó, tôi cố quyết định xem mình có thực sự nghĩ chúng một loài mới không, hay chỉ là một biến thể khác của loài cá rồng châu Á cũ kĩ. Tôi chỉ có thể chắc chắn một điều: Loài cá ở Tenasserim này đã bị cô lập một thời gian rất dài, nhưng giờ đây sự vô danh của chúng sắp chấm dứt.

Đây không phải là cách tôi tưởng tượng ra cảnh đi tìm con batik chút nào: một chuyến xe SUV có điều hòa, kết thúc là cái nhìn chớp nhoáng về dòng sông Tenasserim; con cá thần thánh được chuyên chở như cốc cà phê mang đi trong cái hộp styrofoam; và một cái giá cắt cổ theo tiêu chuẩn Myanmar được trao tay. Trong lúc nhìn lũ cá từng là cá hoang ấy, rõ ràng tôi cảm thấy khó chịu. Về lý thuyết, tôi đã đạt được điều mình muốn, đã tìm được những con cá rồng có họa tiết bí ẩn kia. Tuy nhiên, lúc này tôi phải xem xét lại điều mà mình vừa mới góp phần gây ra. Mãi về sau này tôi mới bất ngờ ngộ ra điều đó khi vô tình đọc một đoạn văn do Charles Kingsley viết từ năm 1855 - ông cũng là một người chơi cá:

Sự thực là niềm vui khi tim ra một loài mới quá lớn; nó là một mối nguy hiểm về mặt đạo đức; bởi nó mang theo cái cám dỗ nhìn vào thứ ta vừa tìm được với tấm lòng sở hữu như thể nó là sáng tạo của chính ta; niềm tự hào của ta, như thể Chúa còn chưa biết đến nó sau từng ấy thời gian; thậm chí còn gây ra tị hiềm vì vinh dự được đặt tên cho nó theo tên ta, và được ghi danh trong cuốn Kỷ yếu của Hội gì-gì-ấy với tư cách là người khám phá ra nó, cứ như tất cả thiên thần trên trời còn chưa từng ngưỡng mộ nó, lâu thật lâu trước khi ta được sinh ra hay nghĩ đến.

Chính tôi cũng không miễn nhiễm trước quyền năng thay đổi con người của cá rồng. Hay cả ông Tin Win nữa. Một thời gian sau Hein nói hớ ra với tôi. Anh bảo rằng lúc đầu cha anh định kiếm mẫu vật cho Ralf Britz, nhưng giờ ông đã thay đổi ý định: Ông có thể giữ lại hai con cá cho riêng mình thôi.

❀ ❀ ❀

Công việc của chúng tôi đã xong, Hein và tôi đáp chuyến bay trở lại Yangon. Ở một trạm chuyển tiếp trong thị trấn ven biển Dawei, một người đàn ông Miến Điện tóc bạc bước lên máy bay và lại gần chỗ tôi nói: “Chắc cô là người đã tới Tenasserim!”

Vì là hành khách nước ngoài duy nhất nên tôi rất dễ bị nhận diện, nhưng sự việc này khiến tôi lo lắng không yên vì chuyến đi ngắn của tôi tới chỗ dòng sông đáng lẽ phải là chuyện bí mật. Tôi càng lo ngại hơn khi nhân viên an ninh ở sân bay Myeik tuyên bố rằng chính quyền đang đi tìm một người phụ nữ có mô tả nhân dạng giống tôi đã ghé thăm làng Tenasserim.

Tôi bảo người lạ trên máy bay là ông đã lầm. Tuy nhiên, ông ta vẫn tự giới thiệu mình là nhà sinh vật học U Tin Than của Quỹ Động vật Hoang dã Thế giới (WWF) và đề nghị được nói chuyện với tôi ở Yangon.

Sáng hôm sau, tôi gặp ông ta trong một tiệm cà phê kiểu phương Tây mới ngay bên cạnh khách sạn của tôi, trong lòng không chắc phải mong chờ điều gì. “Vậy là cô đã đến sông Tenasserim?” ông ta hỏi lại trong lúc đi vào khoang ngồi và đặt một chồng sách lên bàn, bao gồm cả cuốn sách của chính mình: Giới thiệu về các Loài thú có vú lớn của Myanmar.

“Không,” tôi nói một cách không thoải mái. Tôi vẫn còn bị chấn động vì thông báo của nhân viên an ninh ở sân bay và cũng thấy cần phải bảo vệ những người đã đưa tôi tới rặng đồi đó.

Tin Than khăng khăng: “Cô chưa đến làng Tenasserim sao?”

“Bị cấm mà,” tôi lẩm bẩm.

Ông ta nhìn tôi dò hỏi nhưng vẫn nói tiếp, giải thích rằng ông đã luôn muốn nghiên cứu con sông bởi vị trí địa lý bị cô lập của nó. Ông ta tin rằng ở đó đầy các loại cá đặc hữu chưa được khám phá.

Trong lúc chúng tôi nói chuyện, tôi biết được Tin Than vốn là dân ở duyên hải phía tây Myanmar, mặc dù ông dành phần lớn thời gian trong hai thập kỉ tị nạn ở Thái Lan, ở đó ông kiếm được công việc nghiên cứu sinh vật ở thực địa cho tổ chức WWF, giám sát việc bảo tồn động vật hoang dã trong đất nước mình. Để điều tra các hoạt động buôn bán động vật hoang dã trái phép, ông đã bí mật lẻn vào Tenasserim, sống cùng những người săn bắt trộm. Thay vì thiên đường chưa bị con người chạm tới như tôi hình dung, ông mô tả về vùng đất vô pháp vô thiên, ở đó cứ mỗi ngày lại có vài chú voi và hổ còn sót lại biến mất dần.

Lúc vô tình chạm mặt tôi trên máy bay chiều hôm trước, ông ta vừa từ chuyến đi đánh giá tác động môi trường của một dự án khu liên hợp công nghiệp tỷ đô trở về. Các nhà phát triển dự án của nước ngoài định xây dựng nó trên làng Dawei còn say ngủ, cách Myeik khoảng 240 kilômet về phía bắc. Khu liên hợp này sẽ bao gồm một cảng nước sâu, các nhà máy thép và phân bón, một nhà máy lọc dầu và một nhà máy nhiệt điện. Một đường cao tốc từ bốn tới tám làn sẽ cắt xuyên qua rặng núi nối tới tận Bangkok.

Tenasserim một lần nữa lại đóng vai trò là cửa sau của Trung Quốc, con đường từ đó hàng hóa châu Á tiến sang phương Tây. Bằng cách chuyển hóa khu vực này, chính phủ Myanmar hi vọng cạnh tranh với Thâm Quyến ở miền Nam Trung Quốc, cũng từ một làng chài bước lên siêu đô thị, nơi sản xuất ra khoảng 90% đồ điện tử của toàn thế giới. Chính cuộc bùng nổ công nghiệp hóa ở Trung Quốc này đã mở ra thị trường tiêu thụ cá rồng, đồng thời gây ô nhiễm cho khoảng 80% sông ngòi của chính họ đến mức cá cũng khó sống. Có vẻ như người Trung Quốc vẫn khao khát thiên nhiên hoang dã, vậy nên cái đó trên đất nước họ chỉ còn rất ít.

Tương tự như vậy, tôi không chỉ thất vọng vì đã không được chứng kiến con cá rồng batik ở nơi sinh trưởng tự nhiên của nó, mà còn buồn vì nhận ra những khu rừng tôi từng ghé thăm không còn được coi là thiên nhiên hoang dã thật sự trong mắt các chuyên gia nữa. Kể cả Borneo. Kể cả bán đảo Mã Lai. Thậm chí là Tenasserim. Tất cả những khu rừng này đã bị hủy hoại nghiêm trọng trong vòng vài thập kỉ ngắn ngủi. Theo lời Heiko, trên toàn thế giới chỉ còn hai địa điểm thực sự được coi là rừng nhiệt đới hoang dã: một cánh rừng ở New Guinea và một nơi ở Amazon. Khi hủy chuyến đi tới Myanmar, một lần nữa ông mời tôi đi cùng trong chuyến khám phá khu vực hẻo lánh của Amazon thuộc Colombia. Đó sẽ là cơ hội cuối cùng để tìm cá rồng hoang - một loài ngân long được biết đến với cái tên khỉ nước. Tuy nhiên, ngay lúc này tôi đã quá mệt - và quá thất vọng với Heiko - để nghĩ đến chuyện đồng ý.

Tôi hỏi Tin Than về con cá rồng, nhưng ông ta nói mình chưa từng nghe về nó, bởi chuyên môn của ông là thú có vú. Tuy nhiên, sau này ông cũng bắt đầu nói về một loại cá lạ ông bắt gặp ở những rặng đồi xa xôi. “Tôi không biết tên nó,” ông nói, thêm vào là một con cá có thể có giá đến hàng chục ngàn đô la. “Họ bắt được nó ở vùng sâu xa nhất của rừng Tenasserim.”

Ông đã bắt gặp nó trong bể cá ở một trang trại cọ dầu của người đàn ông giàu có và quyền lực nhất Myanmar. Tôi nghe nói người này là nhà sưu tập cuồng nhiệt cá koi cao cấp - và cũng là bạn của Myint Too, người cung cấp độc quyền cá rồng batik.

Khi Tin Than cho tôi xem những bức ảnh ông ta chụp con cá, mọi nghi ngờ của tôi biến mất: Nó chính là một con batik. Ông ta nói công nhân ở đó bất chấp tất cả, kể cả mạng sống, để tìm cá trong khu vực nguy hiểm. “Họ đang bí mật làm việc đó,” ông nói. “Họ không muốn kể cho ai khác.” Tin Than lo ngại rằng loài cá này sẽ nhanh chóng biến mất khỏi thiên nhiên.

“Hồi trước tôi sẽ gặp nguy hiểm nếu nói chuyện với cô một cách công khai như thế này,” ông ta nói. “Nhưng giờ thì không, tôi nghĩ vậy.” Rồi ông nhìn đăm đăm một lúc lâu vào bức ảnh con cá rồng của mình. “Hồi xưa chúng tôi đã bị cô lập như những con cá sống trong những con lạch.”

❀ ❀ ❀

Cá rồng đã biến mất. Ý tôi là cặp cá trong chiếc bể màu xanh mà Hein thay mặt cha anh đã mặc cả mua - chúng đã biến mất.

Hein và tôi trở lại Yangon vào tối thứ Sáu, hai con cá đáng lẽ phải đi sau chúng tôi trên một chuyến tàu chở hàng vào ngày Chủ nhật. Nhưng chúng không xuất hiện. Cả thứ Hai và thứ Ba cũng không thấy đâu.

“Gã này làm sao ấy,” Tin Win lo ngại về U Myeik, điện thoại di động của anh ta đã bị tắt, nếu không thì cũng đổ chuông mà không ai nghe máy. Tin Win nhờ người bạn ở miền nam hỏi thăm hộ. Nhưng người ta không biết cả cá lẫn người đánh cá đang ở đâu. Người ngư dân nọ còn chưa được trả tiền, nên không có chuyện anh ta ôm tiền bỏ trốn.

Chuyện gì đã xảy ra? Trong bữa trưa ở một nhà hàng Trung Hoa tên là Con vịt vàng, Tin Win đoán có thể ai đó rất quyền lực không muốn loài cá mới được chính thức mô tả, bởi việc đó sẽ làm lộ nguồn gốc của con cá và ảnh hưởng xấu đến hoạt động buôn lậu. Phải chăng đối thủ của ông là Myint Too đã can thiệp vào chuyến hàng? Hay còn một kẻ khác?

Tôi chờ con cá cũng y như đã từng chờ Heiko. Mệt mỏi. Nóng nực. Luôn trong trạng thái lo lắng hồi hộp. Giữa lúc mọi chuyện bị ngưng trệ như vậy, tôi nhận được một email hoảng hốt của Tyson, hỏi tôi đã tìm được con cá rồng cho ông chưa. “Tôi nghe nói ai đó đang ráo riết săn lùng một cá thể,” ông viết. Làm sao ông ta biết?

Vì thấy tội lỗi nên tôi trì hoãn việc trả lời. Làm sao tôi có thể giải thích chuyện gì đã xảy ra? Tyson đã chỉ đường dẫn lối cho tôi lần theo con cá - chỉ để dẫn dắt người của đối thủ Ralf đến đúng chỗ nó.

Rốt cuộc, tôi đành phải từ bỏ việc chờ đợi người ta tìm được con cá rồng. Tôi rời Myanmar khi bí ẩn vẫn chưa được giải quyết. Nhưng thậm chí tôi còn chưa về được đến nhà thì một bức thư điện tử khó hiểu của Heiko đã tới. “Tôi đã thuyết phục được Tyson mô tả loài Scleropages như một loài mới từ Myanmar,” ông tuyên bố, đề cập tới cá rồng bằng tên giống loài của nó, rồi giải thích là ông định in bài mô tả của Tyson trên tạp chí khoa học Aqua do ông làm chủ và cũng là chủ biên. “Nhưng đừng nói cho ai biết!”

Heiko hỏi liệu tôi có bất kì thông tin nào về nơi con cá batik sống không. “Tyson chưa bao giờ đến đó nhưng lại có mẫu vật,” ông viết, yêu cầu tôi gửi cho bất kì một bức ảnh chất lượng cao nào mà tôi đã chụp con vật hay quê hương của nó. “Thấy không, đây là những việc tôi đã muốn làm cùng cô, mà không thể, do bị huỷ vào phút chót.”

Chuyện này thật khó hiểu vì toàn bộ ý nghĩa chuyến đi Myanmar của tôi là để kiếm về một mẫu vật cá rồng cho Tyson mô tả loài mới. Tôi đã thất bại. Vậy làm thế nào Tyson có con cá ở mãi tận bên kia thế giới, ở vùng Nam Mỹ? Không thể có chuyện ông đặt được tay lên hai con cá đã biến mất của Tin Win, đặc biệt là trong khoảng thời gian ngắn như thế. Nhưng Heiko lại tuyên bố bài mô tả của Tyson sẽ có mặt trong số tạp chí tháng sau - một bước ngoặt gần như xảy ra tức thời.

Tôi bỗng thấy tức giận: Heiko đã bỏ mặc tôi ở giữa một đất nước khép kín nhất thế giới, nơi tôi phải trải qua gần một tháng trời mất trí. Trong khi đó ông ta vẫn chiến thắng nghịch cảnh và tìm thấy con cá rồng batik đã bị đánh cắp khỏi bàn tay chuyên gia hàng đầu trong đất nước ấy về các loại cá bản địa. Giờ Heiko lại còn cả gan xuất hiện ở phút chót và đòi hỏi ảnh và thông tin về nơi cư ngụ của con cá. Nếu Tyson thực sự đã có mẫu vật, sao ông ta còn cần tôi mang về?

Tôi lại phải tự hỏi: Tyson có hay không có con cá?

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.