Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Mười Lămbước Ra Thế Giới

❊ ❊ ❊

NEW YORK → STOCKHOLM

Sự vô danh có thể mang lại an toàn cho một loài cá hơn là danh tiếng.

Nhưng tôi chỉ vừa từ Geneva về chưa đầy một tháng thì bản mô tả con cá rồng batik của Tyson đã xuất hiện trong số tháng Tư năm 2012 của tạp chí Aqua của Heiko. Thế giới cá cảnh xôn xao trước tin mới. “Scleropages inscriptus là một loại cá rồng mới!” Một trang blog nổi tiếng tuyên bố, ghi nhận rằng nó là “loại cá cuối cùng mà chúng tôi mong đợi vẫn còn chưa được khám phá bởi cá rồng gần như ở vị trí độc tôn trong làng cá cảnh châu Á.” Một nhà bình luận còn tiên đoán một cách lo ngại rằng “con cá này cần có vệ sĩ riêng.”

Tyson đặt tên loài mới là inscriptus vì các biểu tượng như mê cung trên da nó và đặt nó trong chi Scleropages cùng với cá rồng châu Á và châu Úc. Còn về mẫu vật bí ẩn, tài liệu tuyên bố người ta thu được một cặp cá đã chết từ người cung cấp ở Myeik. Bằng cách nào đó chúng đã được chuyển tới Thái Lan, và giờ đang nằm trong một viện bảo tàng lịch sử tự nhiên. Tôi nhìn chằm chằm vào bức ảnh chụp một con cá chết nằm nghiêng, miệng há ra và một bên mắt mờ đục. Nó gần như cùng kích cỡ và có cùng hoa văn loằng ngoằng như hai con cá rồng đã bị đánh cắp khỏi tay Tin Win. Tuy nhiên, khi không có những biểu hiện sống, trông nó thật sự khác biệt: dẹt hơn, xám hơn. Bài mô tả không nói gì đến chuyện ai đã kiếm được mẫu vật.

“Người này ẩn danh và tôi sẽ không tiết lộ,” Tyson nói khi tôi gọi điện đến chúc mừng ông. Tôi bắt gặp ngay lúc ông đang gói đồ đạc để rời căn hộ ở Suriname của mình, sức khỏe ông đã hồi phục đủ để ông đáp chuyến bay xa đến tận Stockholm, ông định trải qua mùa hè ở đây. “Như thế thật không phải với ông bạn tôi. Ông ấy làm trong ngành buôn cá cảnh, và tôi chỉ có thể nói sự việc trông vậy mà không phải vậy thôi.”

Điều tôi thực sự muốn biết là làm thế nào Tyson mô tả được một cá thể có thật nằm ở cách ông nửa vòng trái đất. Để xác định con cá rồng ấy là một loài mới, chẳng lẽ ông và nó không cần phải ở chung trong một phòng? Hỏi ông điều này chẳng khác nào dùng đuôi mèo ngoáy mũi một chú gấu. Ông gạt tôi đi ngay và xin phép đi kiểm tra món bò bít tết mà ông nghĩ mình để quên trên lò - chỉ có điều sau đó ông nhớ ra rằng mình đã ăn nó. “Lần trước người ta gọi điện thì tôi đang nấu món mỳ spaghetti,” ông nói. “Nó bắt cháy nhanh đến nỗi chẳng buồn cười chút nào đâu.”

Kì lạ thay, người biện hộ cho Tyson lại không ai khác ngoài Ralf Britz, ông ta đã gửi bản mô tả của Tyson cho tôi qua email cùng một dòng chữ Latin: Aiea jacta est, “cái chết đã được báo trước.” Tôi tưởng tượng ra cảnh Ralf đang gò lưng trong một chiếc ghế để vuốt ve một con cá trê. Tuy nhiên khi tôi tới gặp ông ở London, ông làm tôi ngạc nhiên khi nói bạn không cần phải ở trong cùng một phòng với cá thể mà mình đang mô tả. “Tất nhiên cô sẽ muốn như thế,” ông nói. “Cô sẽ muốn tự mình nhìn vào nó và không tin vào những gì người khác nói với cô.” Nhưng việc đó không phải là tuyệt đối cần thiết.

Vậy ra đây không phải một vụ giả mạo trong ngành ngư học như tôi từng lo sợ. Có vẻ như người cộng tác ẩn danh của Tyson chỉ việc gửi cho ông các số đo và ảnh chụp mẫu vật. Đó là việc chấp nhận được, dù không hẳn là lí tưởng. Còn về chuyện nó có thực là một loài mới hay không, Ralf đồng ý rằng rất có thể, dù ông ta phản đối cách tiếp cận của Tyson là chỉ dựa trên màu sắc. Nếu con cá rồng batik là một loài riêng rẽ, tại sao siêu cấp huyết long, kim long, ngân long, và cả lục long nữa không phải là loài riêng, giống như anh chàng người Pháp tai tiếng Pouyaud từng biện luận?

Về sau tôi phải công nhận rằng một phần nguyên nhân nằm ở việc thiếu sự nhất trí về định nghĩa thế nào là một loài. Mặc dù khái niệm ấy đối với ngành sinh vật học cũng là vấn đề cốt lõi như nguyên tố với ngành hóa học hay hạt trong ngành vật lý, nhưng các nhà sinh vật học chưa bao giờ có thể đồng ý về một định nghĩa duy nhất. Chẳng hạn Darwin tuyên bố đó là một nỗ lực vô ích. “Thực sự đáng buồn cười khi chứng kiến những luồng ý kiến khác nhau của vô số cá nhà tự nhiên học mỗi khi họ nói về “loài,” ông đã viết như vậy từ năm 1856. “Tôi tin rằng tất cả nguyên nhân là do việc cố định nghĩa một thứ không định nghĩa nổi.”

Ngày nay, có hơn hai mươi định nghĩa về loài khác nhau chưa được kiểm chứng. Định nghĩa mà phần lớn trong chúng ta vẫn được học ở trường là của nhà điểu cầm học Ernst Mayr. Năm 1940, ông định nghĩa loài là một tập hợp dân số lai giống trong nội bộ. Đây là một “khái niệm loài về mặt sinh học,” và rất nhiều nhà khoa học vẫn còn tin nó là định nghĩa tối ưu của chúng ta hiện nay. Tuy nhiên, những người bất đồng coi đó chỉ là “một huyền thoại trong sách,” khi chỉ ra các loại vật lai rất phổ biến trong tự nhiên - hổ sư tử (lai giữa hổ và sư tử), hay lừa ngựa (ngựa vằn lai lừa), và gấu xám trắng (gấu xám lai gấu Bắc Cực), và còn nhiều nữa. Quan trọng hơn, rất nhiều cơ chế, chẳng hạn như vi khuẩn, không tái tạo dân số thông qua giao phối mặc dù chúng ta cũng phải chia chúng thành các loài.

Để khắc phục các rắc rối này, những năm 1960 chứng kiến một định nghĩa thay thế dần nổi lên, “định nghĩa loài theo hệ phát sinh.” Định nghĩa này bỏ qua toàn bộ hoạt động giao phối, thay vào đó, nó dựa trên sự di truyền từ một tổ tiên chung nhất. Về lý thuyết thì định nghĩa này rất hợp lý, các cơ chế liên quan đến nhau cùng chia sẻ những đặc tính chung vì chúng có cùng một lịch sử tiến hóa. Tuy nhiên trong thực tế, nó đảo lộn trật tự sắp xếp theo bản năng mà chúng ta thường dùng để phân chia thế giới tự nhiên. Chẳng hạn lớp bò sát bây giờ lại bao gồm cả chim, vì cùng tiến hóa từ khủng long. Còn cá ư? Chúng ta không có cách nào giản lược cây phả hệ các loài để chỉ còn một nhánh riêng cho cá, vì cả động vật lưỡng cư, bò sát, chim và thú có vú đều là đại diện cho các nhánh con từ cùng một dòng. Chính vì điều này mà Stefen Jay Gould đã phải buồn bã viết trong báo cáo năm 1981 rằng “chắc chắn không có thứ gì gọi là cá cả.”

Gould dùng cách nói hài hước để chỉ ra cách nghĩ mới này thách thức triệt để lối phân loại truyền thống từ thời Aristotle. Mặc dù vị cha đẻ người Hy Lạp của ngành sinh vật học không nói rõ ra, nhưng ông chủ yếu dựa vào “định nghĩa loài theo hình thái học” kiểu cũ. Năm 1923, nhà di truyền học người Mỹ George Harrison Shull đã viết rất hay rằng các loài vật chỉ nên được định nghĩa dựa trên “sự quan sát tổng thể đơn giản mà bất kì con người có trí tuệ nào đều có thể thực hiện được với sự trợ giúp tối thiểu, chẳng hạn như một chiếc kính lúp cầm tay.” Về cơ bản, đó cũng chính là lập luận của Tyson trong trường hợp con cá rồng batik.

Dù Ralf có muốn tự mình mô tả loài cá rồng mới này như thế nào đi nữa, ông nói với tôi rằng ông vẫn rất mừng khi cuối cùng nó cũng được xuất hiện trong sách vở. “Giờ đây nó đã là một chủ thể. Trước đây thì không phải,” ông nói và chỉ ra rằng một khi đã được đặt tên chính thức thì loài vật này có thể sẽ được thêm vào các cơ sở dữ liệu, chẳng hạn như Danh sách đỏ của IUCN. “Điều đó cũng đồng nghĩa sẽ kéo theo nhiều sự quan tâm cần thiết cho loài cá này, giúp cho chúng ta biết được nhiều hơn về nó và thậm chí còn cứu được nó khỏi bị tuyệt chủng.”

Tuy nhiên, kiểu quan tâm như vậy cũng có mặt trái. Năm 2006, một nhóm các nhà sinh vật học từ Mỹ và Lào đã khuyến cáo trên tờ Khoa học rằng một bản mô tả khoa học có thể đẩy loài vật vào tình cảnh hiểm nghèo, chẳng khác nào một lời quảng cáo “hàng mới” cho giới mộ điệu và làm phát sinh những thị trường mới, với tư cách là một “tấm bản đồ kho báu đích thực cho những người đi thu thập vì mục đích thương mại.” Các tác giả so sánh tình huống tiến thoái lưỡng nan này với những lĩnh vực nghiên cứu có ứng dụng liên quan tới khủng bố sinh học. Bạn sẽ không muốn xuất bản một cuốn sách hướng dẫn cách gửi thư chứa vi khuẩn bệnh than. Vậy có lẽ bạn cũng không muốn xuất bản một tấm bản đồ dẫn lối tới chỗ những chú cá.

Chỉ vài tuần sau khi Tyson giới thiệu cá batik với thế giới, trưởng nhóm nghiên cứu của Kenny Ông Cá là Alex Chang đã tiết lộ là công ty anh ta cũng có hai cá thể. Khi Alex cho tôi xem một đoạn video mờ mịt quay trên điện thoại di động của hai mẫu vật quý giá trên, tôi nghĩ trông chúng giống như những con tôi đã gặp ở Myanmar. Tôi phải tự hỏi liệu có phải rốt cuộc Tin Win - vốn là nhà cung cấp độc quyền ở Myanmar cho Kenny - đã thực sự thu hồi được hai con cá rồng ở sân bay mà không nói với tôi rồi chuyển chúng ra khỏi đất nước, tới chỗ khách hàng nổi tiếng của ông ta hay không.

Dù sao tôi cũng không nghĩ như vậy. Alex bảo rằng con cá là do nhà cung cấp ở Malaysia chuyển tới, tôi thấy khá hợp lý. Tuy nhiên, dù là thế nào, họ cũng đã phải mang lậu chúng ra khỏi Myanmar - và gần như chắc chắn là bắt chúng từ tự nhiên[*].

[*] Mặc dù người ta vẫn có thể lập luận rằng một loài mới với giới khoa học thì không phải chịu những rào cản trong buôn bán, vì tên của nó không xuất hiện trong bất kì một danh sách được bảo vệ nào, nhưng CITES đã nhanh chóng ra một thông báo rằng cá rồng batik cũng được coi như cùng một loại với cá rồng châu Á xét theo mục đích buôn bán quốc tế.

❀ ❀ ❀

Bất chấp những nguy cơ khi mô tả một loài vật mới, tôi vẫn thiên về hướng đồng ý với Ralf rằng chúng ta không thể bảo vệ những gì chúng ta không hiểu. Hơn nữa, tôi đã học được rằng còn rất nhiều điều cần khám phá ở loài cá. Khi mới khởi sự viết bài về cá rồng châu Á, tôi cho là mình sẽ bắt đầu bằng cách tìm đến một nhà nghiên cứu chuyên về loại cá này trong tự nhiên - chỉ có điều tôi phát hiện ra trên đời này không có ai như vậy. Cái ảo tưởng phổ biến rằng nền khoa học hiện đại đã bao trùm được hết toàn bộ thế giới sống, rằng mỗi một khe hở đều có một chuyên gia nào đó không thực sự đúng.

Mãi đến giữa thế kỉ hai mươi, các nhà sinh vật học vẫn thường phân chia chuyên môn trong một nhóm cụ thể của động vật - chẳng hạn cá hay chim hay giun đất. Đến thập niên 1950 và 1960, cuộc cách mạng tế bào nổ ra trong lĩnh vực này “như một cơn lũ,” theo lời của EO. Wilson - độc quyền tài trợ. Số lượng các nhà sinh vật học tế bào chạy đua giải mã bộ gen phình to ra, trong khi các chuyên gia về những nhóm cơ chế sinh vật dần bị gạt sang bên, công việc nghiên cứu của họ bị coi là môn khoa học cổ lỗ sĩ. “Ngày nay rất khó để tìm được một người chỉ thuần túy nghiên cứu về cá,” Tan Heok Hui, người đàn ông của cá tại Trường Đại học Quốc gia Singapore nói với tôi. “Vài người tin rằng như thế là hơi lỗi thời rồi.”

Tôi đã tìm được một trong những nhà sinh vật học cuối cùng theo trường phái truyền thống từ ông Tyson. Ông đã được rèn luyện trong một môn khoa học cũ gọi là phương pháp phân loại. Như một đồng nghiệp trẻ từng bảo tôi: “Có lẽ ông ấy là người đã xác định nhiều loại cá hơn bất kì ai còn sống.” Háo hức được gặp trực tiếp ông lần đầu tiên, tôi bay tới Stockholm sau khi Tyson phát hành bài nghiên cứu được một tháng và tìm đường tới lối vào bên hông của Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên của Thụy Điển, nơi ông ở trong mùa hè đó. Một dáng người to cao mặc áo sơ mi sọc đỏ và quần màu xám có dây đai lục tục đi xuống cầu thang để dẫn tôi vào. Ông có cái mũi bị rỗ, mái tóc bạc bù xù và mí mắt sụp bên trên đôi mắt xanh lơ.

“Rất vui khi cô đến!” Ông nói vui vẻ trong lúc dẫn tôi đi vào một hành lang tới phòng thí nghiệm rộng rãi với những cái tủ màu trắng và cửa sổ lớn nhìn ra một bãi cỏ xanh. Thực sự mọi mặt phẳng có thể để đồ đều chất đống những cái bình thủy tinh với kích cỡ khác nhau chứa loại chất lỏng màu cam, bên trong là những cái xác lạ lùng, khủng khiếp của những loại cá đã chết từ lâu. “Tất cả những cái bình cô trông thấy đều là những bộ sưu tập, hầu hết chưa được phân loại,” Tyson nói. “Tôi vẫn đang phân loại dở.”

Trong quá trình năm mươi năm, Tyson đã để lại một đống những loại cá bị ngâm tẩm trong lúc ông lặn lội khắp quả địa cầu như một vị thần ngoại giáo của ngành ngư học, tay cầm chiếc lưới cá thay vì cây đinh ba. Ông đã thu thập tất cả các loại cá trong phòng này, từ châu Phi những năm 1960 và 1970, khi mới chỉ là một sinh viên của trường Stanford và sau đó là trợ lý giáo sư ở Harvard. Khi rời Harvard năm 1975, sau khi không giành được vị trí giáo viên chính thức trong một thời đại mà chuyên môn của ông không còn được cần đến nữa, ông đấu tranh để được mang bộ sưu tập này đi cùng mình tới Học viện Khoa học California, ông sống năm năm tiếp theo ở đó. Từ thập niên 1980, ông đã trở thành cộng tác viên nghiên cứu cho Viện Nghiên cứu Nhiệt đới Smithsonia ở Panama, nhưng đó chỉ là một mối quan hệ lỏng lẻo. Thực tế, ông là một nhà nghiên cứu lưu động, chuyển hết từ viện bảo tàng này tới đại học kia rồi lại tới một bảo tàng khác. “Ông ấy di chuyển như điên vậy,” một đồng nghiệp lâu năm kể với tôi. “Không ai biết ông ấy kiếm tiền từ đâu. Thực sự ông ấy sống bằng một số tiền rất nhỏ.”

Lúc này Tyson đặt mình vào một cái ghế ở cạnh bàn làm việc để cho tôi thấy bản thảo ông đang duyệt lại về cá oarfish - chính là loại cá ông đã mô tả như một tác phẩm để đời của mình (hay là một trong những tác phẩm để đời). Oarfish là một loại cá biển khổng lồ, gần như bước ra từ thần thoại, thuộc lớp Regalecus, có nghĩa là vua vì phần sọ màu đỏ như vương miện trên đầu chúng. Chúng là loại cá có xương dài nhất thế giới, từng có con dài gần tám mét - bằng chiều cao của tòa nhà hai hoặc ba tầng. Các thủy thủ thời xưa thường nhầm chúng với rắn biển, mặc dù loại cá này hiếm khi được trông thấy trừ khi chúng rời khỏi đại dương, điều này đôi khi vẫn xảy ra. “Chúng bơi ra khỏi nước để trèo lên bờ, chẳng khác nào tự sát,” Tyson giải thích và cho tôi xem bức ảnh khoảng ba mươi lính hải quân Hoa Kỳ đang nâng thân mình của một con oarfish tại California. Một khi con cá quyết định lên bờ, người ta không tài nào thay đổi ý định của nó được nữa. Cứ trói nó và kéo ra biển là nó lại lao vào đất liền lẫn nữa. Cô độc, ngoan cố và lang thang khắp các đại dương trên thế giới, chúng làm tôi liên tưởng tới chính Tyson.

“Tôi vẫn còn vài loại cá chưa phân loại xong,” ông nói và nhìn khắp phòng. Ông giật hai sợi dây đai quần, nhấc mình khỏi ghế, khòng lưng xuống bệ cửa sổ, gập đôi người lại để xem xét một đám mẫu vật. “Để xem tôi có tìm được thứ tôi đã trông thấy hôm nọ không… À, đây rồi!”

Ông nhặt một cái bình cao lên, cúi người để xoáy cái nắp và lôi ra một con cá nhỏ nước tong tong có chiều dài bằng một chiếc giày với phần mõm giống một cái kìm. Đó là cá quái bạc, một trong những sinh vật thông minh có não bộ lớn. Các nhà nghiên cứu đã thấy chúng chơi bóng trong bể của mình. Tuy nhiên Tyson tin rằng con này là loại mới và khác với tất cả những loại ông từng trông thấy.

Ông cố kéo cho miệng nó mở ra rồi đưa cho tôi con cá. “Xem xem cô có lôi nó ra được không,” ông nói và chỉ vào một mảnh giấy bị nhét trong mồm nó cứ như một vận may trong chiếc bánh quy đoán vận thực sự kinh tởm vậy. Con cá chỉ là một xác chết lạnh ngắt, cứng hơn tôi tưởng và sặc mùi độc chất hóa học. Ngón út của tôi thò xuống nửa cuống họng nó thì tôi trông thấy một cái nhíp và tôi liền đổi hướng. Mảnh giấy nói rằng con cá tên là Mormyrops nigricans. Tyson nghĩ cái tên không đúng. Ông lao về phía máy tính của mình để tra cứu về con vật. “Không giống nhau hả?” Ông nói, nhìn qua lại giữa con cá trong tay tôi và con trên màn hình. “Hay là giống nhỉ?”

Với tôi trông chúng khá giống nhau. Nhưng Tyson lại cúi xuống và bắt đầu đếm vẩy. “Xem chúng to thế nào này!” Ông nói và chọc vào con cá. “Thấy không! Thấy tôi nói về cái gì chưa!”

Tôi chẳng thấy gì. Tôi còn đang bận nghĩ con cá này chui vào bình năm 1973 như thế nào. Khi đó Tyson còn là một giáo sư trẻ măng ở Harvard, đang tiến hành nghiên cứu sông Congo ở Zaire cho Hội Địa lý Quốc gia. Rồi bốn mươi năm có lẻ sau đó, nó được ra khỏi bình, và bụp - Zaire đã không còn tồn tại nữa (giờ đây nó đã là Cộng hòa Dân chủ Congo), còn Tyson đã là một ông già gần bảy mươi hai tuổi không có chỗ ở cố định, bị cao huyết áp, chứng tắc mạch, viêm khớp và đau chân. Căn bệnh này ông đổ lỗi cho việc đi lại quá nhiều trong lúc làm việc. Bệnh béo phì đã lẻn vào đời ông ở tuổi trung niên. Chứng mất ngủ khiến ông bị mệt mỏi kinh niên. Nếu ông nhét con cá trở lại cái bình, tôi tự hỏi rồi có bao giờ nó lại được ra nữa không?

“Xem lại con cá này có khiến ông nhớ lại nhiều kí ức không?” Tôi hỏi.

“Vô vàn kí ức,” Tyson nói. Ông kể cho tôi nghe về cái hồ, nơi ông bắt được loài quái bạc, hồ Mai-Ndombe. Ở đó mặt nước màu đen như mực và rộng đến nỗi có thể nhìn thấy nó từ trên mặt trăng, ông đã khám phá ra một loại cá mới ở đó, con cái của loài này lại rực rỡ hơn con đực - một điều hiếm thấy trong thế giới động vật - và ông đã đặt tên nó là transvestitus.

Lớn lên ở Los Angeles hồi thập niên 40, Tyson khởi đầu là một cậu bé đi thu thập các tổ chim có trứng bên trong, cho đến khi mẹ cậu bảo rằng nếu cậu cứ tiếp tục làm vậy thì sẽ chẳng còn chú chim nào nữa. Vậy là cậu chuyển sang tìm đá, khoáng vật, hoá thạch, nấm, châu chấu và bướm. Dần dần, cậu bắt đầu giăng lưới bắt tôm sông ở sông Los Angeles, hồi hai bên bờ vẫn còn khá hoang sơ. Chẳng bao lâu cậu chuyển sang dam mê cá và dành hàng giờ nghiên cứu bộ sưu tập tầm cỡ thế giới ở Trường Đại học Stanford.

Tyson kể rằng từ bé ông đã quyết định sẽ không bao giờ kết hôn hay có con bởi ông biết mình muốn trở thành một nhà sinh vật học chuyên về vùng nhiệt đới và sẽ dành cả đời để du hành. Nhờ nỗi ám ảnh độc nhất ấy của ông, giờ đây thế giới chúng ta đã biết nhiều điều hơn về cá ở châu Phi, Đông Nam Á, New Guinea và Nam Mỹ. Trong nhiều trường hợp, các hệ sinh thái dưới nước mà ông từng nghiên cứu đến nay đã bị phá huỷ.

Tuy nhiên Tyson sống qua một thời đại mà ngành sinh vật học truyền thống đã bị xem thường chẳng khác nào bộ môn sưu tầm tem. Các bộ sưu tập lịch sử tự nhiên không còn nhận được tài trợ để duy trì đúng mức. Thậm chí có nhiều trường hợp chúng còn bị vứt ra ngoài. Bất chấp những tranh cãi gần đây về chuyện thu thập các hệ động vật có xứng đáng được ca ngợi hay không, chính những thư viện các dạng sống như thế đã là nền tảng của khoa học sinh học. Ở Viện bảo tàng Lịch sử tự nhiên của Thụy Điển, chúng ta thực sự đang đứng bên trên một tầng hầm chứa đầy những cá thể do chính Linnaeus bảo quản từ 250 năm năm trước.

Tôi đi theo ông Tyson xuống một hành lang dẫn vào thư viện sách, nơi ông muốn tới để tra cứu về một loại cá lạ trong bình từ cuốn Danh mục các loại cá nước ngọt của châu Phi từ năm 1909. Ông tìm được ba tập sách bọc da và thảy chúng lên một chiếc bàn. Cuốn đầu tiên bật mở ra đúng trang có hình vẽ của một con cá quái bạc trông nghiêng như một ông già cằm hô. “Tôi luôn thích bức này,” ông nói. “Trông cái mặt nó kìa.”

Rồi ông giở tiếp vài trang nữa và thấy một con cá mảnh dẻ với những cái sọc của hổ, hàm răng sắc nhọn và đuôi tẽ ba. “Đây là một loài cá ở Congo mà tôi chưa bao giờ bắt được. Chưa bao giờ gặp… chưa bao giờ luôn…” Ông nhắc lại câu ấy thêm năm sáu lần nữa, vừa nói vừa lắc đầu. Không thèm cân nhắc đến chuyện chính ông là người đã bắt được gần như tất cả những loại cá khác ở Congo mà thế giới được biết đến. Chỉ duy nhất loại cá này là thoát được.

Tôi cũng đồng cảm với ông. Tôi tự hỏi liệu năm mươi năm tới, tôi có còn bị con cá rồng hoang dã mà mình chưa bắt được ám ảnh nữa không. Tôi cũng tự hỏi liệu năm mươi năm tới có còn ai biết nhiều về cá như ông Tyson hay không. Khi thế hệ hiện nay chết đi, sẽ không còn chuyên gia nào chuyên nghiên cứu các nhóm sinh vật nữa, vài nhóm trong số đó thực sự rất rộng. Có loài có thể biến mất trước cả khi có ai để ý đến chúng.

“Những người mang danh là nhà sinh vật học tế bào về cơ bản là dốt nát,” Tyson phàn nàn. “Họ không thực sự hiểu được mối quan hệ giữa các sự vật.” Tối giản sự sống xuống cấp độ gen làm ông nổi điên. Gần đây các công ty ở Mỹ còn bắt đầu đăng kí bản quyền cho những phần mục ADN phát sinh trong tự nhiên nữa. “Với tôi đó là một hành động báng bổ,” ông nói. “Tôi không tin vào Chúa. Tôi là người vô thần. Nhưng làm vậy vẫn là báng bổ!”

Sang năm sau, năm 2013, Toà án Tối cao Hoa Kỳ đã phủ quyết việc cấp bản quyền này. Tuy nhiên, thế giới ngày càng tiến gần với thương mại hoá sự sống đến tận gốc rễ hơn. Năm 2010, Hiệp ước về Đa dạng Sinh học đã khởi xướng Nghị định thư Nagoya, tạo ra khung pháp lý để củng cố quyến định đoạt của các quốc gia với các nguồn lực sinh vật của họ. Lấy ví dụ, về mặt lý thuyết, điều này có nghĩa là các nông dân Đông Nam Á nuôi cá từ Amazon sau này sẽ phải chia sẻ lợi nhuận với các nước Nam Mỹ, gốc gác của lũ cá này. Năm 2011, Malaysia đã đăng kí bản quyền cho giống kim long của nổi tiếng của họ. Giờ đây người Indonesia cũng đang tiến hành các thủ tục để làm điều tương tự với siêu cấp huyết long.

Trong lúc tôi ngồi trước mặt Tyson ở thư viện, chứng kiến ông nổi đoá lên vì cơn sốt đổ xô đi đăng kí bản quyền cho các sản phẩm thuần tuý từ sự tiến hoá và chọn lọc tự nhiên, khuôn mặt ông đỏ lựng và hai nắm tay siết lại. Bỗng nhiên ông bùng nổ. “Bắn bỏ chúng đi! Giết hết đến tận tên khốn cuối cùng dính dáng đến việc này!” Ông kêu lên. “Không! Không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ, không bao giờ được!”

Sau này tôi mới nhận ra mình đã nghe được câu nói này ở đâu trước đó. Như một vị vua của ngành ngư học đã phát điên, ông Tyson vừa mới thốt ra những lời chăng chối của Vua Lear[*].

[*] Nhân vật trong vở kịch cùng tên của văn hào Shakespear.

❀ ❀ ❀

Tôi không bao giờ biết được làm thế nào Tyson kiếm được con cá rồng batik, dù tôi cũng có những suy đoán của mình. Tôi nghĩ con cá ấy đến từ một nhà buôn cá cảnh ở Thái Lan, người đó đã kiếm được ai đó lén tuồn con cá ra khỏi Myanmar. Theo các tài liệu của ông Tyson, hai cá thể mà ông mô tả được thu thập từ năm 2011 - thậm chí trước cả khi tôi đặt chân đến Yangon. Có lẽ Tyson không biết đến con cá ấy mãi cho đến sau này. Hoặc có lẽ chuyện ông khuyến khích tôi đi tìm một cá thể thứ ba khi đã có trong tay hai con cho thấy việc thu thập cá có thể trở thành hành động tham lam đến thế nào.

Dù sao đi nữa, con cá rồng batik cũng nhanh chóng chìm vào quên lãng. Sau khi được mô tả, dường như nó không còn làm ông Tyson bận tâm nữa. Tôi cũng đã bỏ qua nó: Mục tiêu của tôi chuyển hướng sang một con cá khác, loài cá rồng bạc của Amazon, Osteoglossum bicirrhosum. Ngay lần đầu tiên chúng tôi trò chuyện, ông Tyson đã khuyến khích tôi viết về nó. Hồi đó tôi bỏ qua gợi ý này. Loài cá này chưa bị liệt vào danh sách gặp nguy cơ, vì vậy nó vẫn được mang vào biên giới Mỹ một cách hợp pháp, các con nhỏ được bán với giá chỉ từ 30 đến 50 đô. Rõ ràng là tôi cũng đánh giá sự hiếm có như bất kì người nào - tôi không quan tâm tới một con cá được cho là phổ biến.

Tuy nhiên, theo lời ông Tyson, con cá bạc mới đích thực là một arowana (cá rồng), cái tên ấy tới từ ngôn ngữ của tộc Tupí-Guaraní, cũng từ đó chúng ta có những từ như jaguar (báo đen) và tapioca (bột sắn). Cùng với người họ hàng từ Phi châu, cá rồng bạc là giống đầu tiên được chính thức mô tả năm 1892, và cũng là loại đầu tiên gia nhập thế giới cá cảnh ở giữa thế kỉ hai mươi. So với các loại biến thể màu sắc đa dạng ở loài cá châu Á và châu Úc, cá rồng bạc giống như một mẫu vật chưa được tô điểm - mẫu vật đầu tiên thu thập được. To hơn các loại khác một chút và phần khung xương linh hoạt giống rắn hơn cả, loại này có sức bật tốt nhất trong họ cá rồng, chính vì vậy chúng có biệt danh là khỉ nước. Cái miệng gần như một chiếc cầu kéo theo chiều thẳng đứng khiến cho con cá có vẻ ngoài hơi giống rôbôt. Ấn tượng này được làm dịu đi phần nào nhờ cái đuôi thon về cuối, với một phần viền gợn sóng như tấm khăn.

Dù có mức giá thấp, Tyson nói với tôi rằng cá rồng bạc là loại mang tới lợi nhuận khá lớn ở Amazon. Ông mô tả ngư dân đi vào vùng đầm lầy vào mùa sinh sản mỗi năm và bắt các con cá non trong miệng cá bố. Tuy nhiên, gần đây tôi nghe nói sản lượng đánh bắt được mỗi năm lại giảm đi khoảng 70%. Sự suy giảm này có nguyên nhân một phần là do nước dâng cao hạn chế đường tiếp cận của các ngư dân và đẩy lũ cá rồng vào sâu hơn trong rừng. Tuy nhiên tôi vẫn băn khoăn liệu thời tiết có phải là nguyên nhân duy nhất không.

Vài năm trở lại đây, Trung Quốc đã thò ống hút vào rừng Amazon và thu về hàng triệu con cá rồng bạc, quảng bá chúng như là “món khai vị” - để tiến tới cá rồng thật sự sau này. Trên đường tới Borneo mùa thu trước, tôi đã ghé qua Quảng Châu, ở đó tôi gặp một nhân viên cũ của Kenny Ông Cá tên là Lin Jieming. Anh ta đã tách ra kinh doanh riêng với mảng cá rồng bạc. Lin đưa tôi tới cơ sở nuôi cách ly ba mươi ngàn con cá rồng bạc mà anh nhập về hàng tháng trước khi phân phối chúng ra khắp cả nước. Anh ta nói rằng mỗi năm người Trung Quốc mua về hơn một triệu cá thể - mặc dù nhu cầu còn cao gấp hai lần như thế. Các nhà cung cấp của anh ta đã báo lại rằng ngày càng khó tìm được loại cá này.

Phải chăng cả loài cá bạc này cũng đang thu hẹp lại, tiến dần đến mức khan hiếm? Tôi hi vọng tìm được câu trả lời bằng cách đi cùng Heiko tới rừng Amazon. Ít nhất có một nhà ngư học không nghĩ đó là một ý kiến hay. “Nghe này, hãy tin tôi, đừng đi thực địa với Heiko tới bất kì đâu, bởi vì ông ta sẽ làm cô thất vọng,” ông đã cảnh báo tôi. “Có cho tôi tất cả trà ở Trung Quốc thì tôi cũng chẳng đi cùng ông ta đâu.”

Tôi không lo chuyện Heiko sẽ cho tôi leo cây lần nữa, vì không như vận rủi của chúng tôi ở Myanmar, lần này đây không phải ý tưởng của tôi mà là của chính ông. Điều làm tôi lo lắng là rõ ràng ông không để tâm gì đến chuyện an toàn. Ông bảo tôi rằng trong đời ông chưa từng đưa ra quyết định nào dựa trên sự sợ hãi, việc đó thì tôi đã bắt đầu tin là thật. Chẳng hạn vào năm chúng tôi gặp gỡ, ông thản nhiên mời tôi đi cùng trong chuyến thu thập ở thung lũng Caquetá của Colombia - sau này tôi đọc được rằng đó là vùng sản xuất cocaine lớn nhất thế giới và bị những tên buôn ma tuý và các nhóm du kích kiểm soát. Ông không hề nhắc tới chi tiết đó.

Trong những năm gần đây, Heiko đi vào Amazon qua ngả Colombia thay vì Brazil. Ông nói đó là vì vùng Amazon của Colombia vẫn còn những cánh rừng mưa nguyên sinh ít được khám phá nhất. Người khác thì bảo đó là vì ông không được đón chào ở Brazil từ khi bị bắt vì tình nghi trộm cắp sinh học và bị tống giam ở Manaus. “Tôi sẽ không đời nào đi thám hiểm cùng ông ta, kể cả có được trả tiền đi nữa,” một nguồn tin trong giới cá cảnh báo tôi, “vì tôi có thể chắc 100% là mình sẽ vi phạm pháp luật.”

Tất cả những điều này làm tôi thấy khá bất an. Vì vậy, sau khi từ Stockholm trở về New York, trước khi đồng ý đi cùng chuyến thám hiểm kéo dài hai tuần vào cuối mùa hè đó, tôi nghiêm túc điều tra nhánh sông hẻo lánh mà Heiko dự định tới, nơi có tên gọi là Calderón. Amazon không chỉ là một con sông duy nhất mà đúng hơn là cả một hệ thống nhánh sông rộng bao la, trải dài tới tận hơn tám mươi ngàn kilômet mặt nước. Hai trong số các nhánh phụ của nó - dòng Madeira và Negro - đã nằm trong số mười con sông lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, nhìn chung chỉ có dân địa phương và vài học giả là biết được tên của các nhánh sông tại đây, ngay cả những nhánh lớn nhất.

Trường hợp Calderón cũng vậy. Không có nhiều thông tin về nơi này, nhưng tôi tìm được một bản báo cáo của chính phủ nói rằng các “hoạt động buôn lậu ma tuý” đã kết thúc ở khu vực này từ những năm 1990. Năm 1998, một giáo phái theo thuyết khải huyền tên là León de Judá đã chuyển đến đây. Giáo phái này tôn sùng Ezequiel Gamonal, một ông thợ chữa giày nhỏ thó, nóng tính từng tuyên đoán thế giới sẽ đi đến tận diệt năm 2000. Vào thời khắc chuyển giao giữa hai thiên niên kỉ, thế giới đích thực đã kết thúc… với Gamonal, ông này chết đúng vào năm đó ở tuổi tám mươi hai. Sau cái chết của ông ta, cộng đồng này vẫn tồn tại và tiếp tục mặc kiểu quần áo trong Kinh Cựu Ước phỏng theo thiết kế trong một bộ phim Hollywood do Cecil B. DeMille làm đạo diễn: Mười điều răn. Tôi xem những bức ảnh chụp đàn ông trong bộ áo choàng thời La Mã, râu ria rậm rạp và cảm thấy nhẹ nhõm ghê gớm. So với lũ mafia vung vẩy súng ống, tôi có thể đối phó được một giáo phái hậu tận thế như vậy ổn hơn. Hơn thế nữa, báo cáo còn khẳng định sự tồn tại của cá rồng - dù nó nêu lên các lo ngại rằng số lượng loài này đã giảm thiểu nghiêm trọng do cách đánh bắt bằng chất độc.

Cảm thấy an tâm, tôi lên kế hoạch gặp Heiko ở Bogota vào cuối tháng Tám. Sau đó, hai tuần trước khi khởi hành, tôi hoảng hốt nhận ra mình đã hiểu sai lộ trình. Sông Calderón là địa điểm thứ hai chúng tôi sẽ đi nếu thời gian cho phép. Nơi đầu tiên và quan trọng nhất là Putumayo, một nhánh sông chính của Amazon, nơi đánh dấu biên giới phía nam của Colombia với Ecuador và Peru trước khi chảy vào đất Brazil, ở đó nó có tên là Içá. Tôi lao vội tới cuốn Atlas về sông Amazon của viện Smithsonian mới mua và đọc: “Putumayo-Içá là một trong những thung lũng cô lập nhất của Lòng chảo Amazon.” Thế cơ đấy!

Tài liệu nói tiếp rằng trong khu vực này từng có rất ít nghiên cứu khoa học bởi vị trí quá hẻo lánh, và bởi tất cả những kẻ buôn lậu ma tuý và các nhóm chiến binh ở đó. Đặc biệt, Putumayo cũng là đại bản doanh của FARC, viết tắt trong tiếng Tây Ban Nha của Các lực lượng vũ trang cách mạng Colombia, một nhóm nổi tiếng hay bắt cóc người quanh khu vực và giam họ trong rừng. “Chỗ đó là một điểm nóng, và ý tôi không phải là chuyện nhiệt độ,” một nhân viên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ đã trả lời bức thư hốt hoảng của tôi như vậy. “Đó là một trong những nơi chiếm đóng cuối cùng của các nhóm du kích. Nhiều năm qua đã có nhiều người Mỹ bị mất tích ở đó… Tôi xin lỗi nếu đã làm cô hoảng sợ, nhưng đó là một nơi tôi sẽ không muốn đến.”

Tôi tìm được một học giả đã viết một cuốn sách về Putumayo, chỉ có điều chính bà cũng sợ phải đi tới dòng sông ấy. Tôi gọi cho một nhà nhân chủng học đang nghiên cứu khu vực liền kề nơi đó ở Peru. Ông bảo tôi mình không hề bén mảng tới phía biên giới Colombia kể từ khi một đồng nghiệp của ông ở Trường Đại học Wisconsin bị bắt cóc tại đó hồi thập niên 1980. Mọi thứ đều có vẻ mờ mịt trước khi tôi bắt gặp một dự án mới có nhiệm vụ bảo tồn đa dạng sinh học ở Lòng chảo Putumayo do Quỹ Thiên nhiên hoang dã Thế giới (WWF) điều hành. Khi tôi bắt liên lạc được với điều phối viên Camilo Ortega ở Bogota, tôi biết được anh vừa trở về từ một ngôi làng ở Putumayo Thượng sau khi tham dự một lễ hội tôn vinh chính loài cá rồng. Anh gửi cho tôi những bức ảnh chụp đám diễu hành có các hình nộm cá bằng giấy khổng lồ giống như những con rồng trong lễ hội của người Trung Quốc vậy.

Điều này nghe có vẻ rất hứa hẹn. Nhưng khi tôi hỏi Ortega về chuyện làm việc ở khu vực đó, anh nói: “Chắc chắn là rất khó khăn,” rồi anh thừa nhận với một tiếng cười cả thẹn, rằng đội của anh gần như “đã bị bắt cóc” hồi đầu năm, anh phát âm từ đó là “bắt coóc”. Các nạn nhân chỉ bị nhốt vài ngày. Tuy nhiên sau đó WWF đã quyết định ngừng đưa người của họ vào khu vực này.

Tuy nhiên Putumayo không phải là một dòng sông nhỏ. Nó dài hơn 1.600 kilômet và chảy qua bốn quốc gia. Cố gắng định nghĩa cho toàn bộ chiều dài đó cũng giống như hỏi về tình hình chính trị từ Tehran đến Tel Aviv vậy. Khi tôi cho Ortega biết tên ngôi làng mà chúng tôi sẽ được thả xuống từ một chiếc máy bay nhỏ, anh có vẻ rất ngạc nhiên. “Chỗ đó vô cùng khó tới,” anh nói, dù anh không nghĩ các nhóm du kích sẽ có mặt ở khu vực hẻo lánh như thế. Anh nghĩ ở đó thậm chí còn không có người.

Rốt cuộc, tôi quyết định tin tưởng Heiko. Bất chấp những lo ngại của tôi, ông đã đi thám hiểm ở Amazon từ những năm 1950. “Ông ấy gần như được sinh ra ở đó,” người bạn Holger Windelov của ông trấn an tôi khi tôi gọi điện tôi nhà ông này ở Đan Mạch chỉ hai ngày trước chuyến đi vì lo lắng. “Ông ấy đã ở trong khu rừng đó từ nhỏ.”

Winderlov là một nhà nhập khẩu cây thuỷ sinh đã về hưu, trước đây từng mua hàng từ mẹ Heiko. Tôi gọi cho ông ấy là vì ông là người duy nhất tôi biết từng thực sự đi thám hiểm cùng Heiko. Năm 1996, hai người đàn ông đã tới tận sông Iténez dọc biên giới phía tây của Brazil với Bolivia, lần theo con đường mà bà Amanda Bleher đã đi cùng Heiko và các con năm 1954. Heiko đã kể cho tôi nghe về chuyến đi ấy - rằng khu rừng như ông còn nhớ đã biến mất, bị xoá sổ để lấy đất làm trang trại chăn nuôi, và những người Anh điêng chân đất trước kia nay đi ủng cao su và xem ti vi. Tuy nhiên, theo lời của Winderlov, chuyến đi ấy là một trải nghiệm nhớ đời. Suốt một tuần họ chỉ gặp có vài người. Heiko tìm cá còn Winderlov tìm cây thuỷ sinh. Ông kể với tôi rằng quyết tâm của Heiko không gì sánh được. Ông giong thuyền ngoài sông quá nửa đêm và lặn xuống dòng nước đen kịt.

“Trong đó không có những thứ nguy hiểm hay sao?” Tôi hỏi.

“Có, nhưng Heiko có bao giờ nghĩ về nguy hiểm đâu,” Winderlov trả lời. “Ông ấy không biết sợ… Có phải là từ đó không nhỉ?”

Vì lí do gì đó mà tôi bảo ông là đúng như vậy.

Winderlov chỉ có một cảnh báo: “Đừng nghĩ cô có thể quyết định mình sẽ làm gì ở đó - ông ấy mới là người quyết định. Nếu cô đi cùng cô sẽ phải làm theo ông ấy. Nếu không ông ấy sẽ bỏ cô lại.”

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.