Con Rồng Trong Bể Kính

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 78 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương Chínthời Đại Của Những Bể Cá Cảnh

❊ ❊ ❊

ĐẢO BORNEO CỦA MALAYSIA – SARAWAK

Năm 1852, nhà thám hiểm người Áo Ida Pfeiffer mặc bộ váy thời Victoria chỉn chu, đi trên một con thuyền gỗ dài dọc sông Borneo của loài cá sấu ăn thịt người. Hạ trại đêm ở một ngôi nhà dài tại Dayak, bà được dành cho vị trí danh dự bên cạnh bếp lửa, ở đó bà nằm dưới hai cái sọ người và một cái đầu vừa mới bị chặt. “Gió thổi vào lều làm những cái sọ khô va nhau liên tu bất tận,” sau này bà viết, “mùi hôi thối từ chiếc đầu lâu mới thì thật không thể chịu nổi, thi thoảng cơn gió còn đưa nó phả thẳng vào mặt tôi… Không tài nào ngủ nổi, và tôi đã phát sốt vì kinh hoảng.”

Tôi tìm thấy tên của Ida lần đầu tiên trong một đợt khảo sát về những loài cá ở Sentarum, ngay khi tôi chuẩn bị quay lại Borneo một mình, hơn hai năm sau chuyến đi đầu tiên của tôi tới đó. “Các thám hiểm (và kiến thức) về quần thể cá,” tôi đọc được, “bắt đầu với Ida Pfeiffer, người đã khám phá ra vùng hồ Kapuas vào năm 1852.” Chờ đã - cái gì cơ? Một phụ nữ châu Âu trong những năm 1850, khi mà hầu hết phụ nữ đều bị bó buộc với công việc nội trợ, đã tới được tận cái đầm mà mãi thế kỉ hai mươi mốt này tôi còn khó tiếp cận ư?

Tôi nhanh chóng biết được rằng Ida là một nữ tác giả người Áo, nổi tiếng nhờ ghi chép lại những chuyến đi của mình. Hồi còn là một bé gái ở Vienna, bà đã mơ rằng chiếc xe ngựa nào đó đi ngang qua sẽ cuốn bà tới một vùng đất xa xôi nào đó. Tuy nhiên, trước khi đến được bất kì nơi nào, bà đã kết hôn và sinh hạ hai con, kết cuộc trở thành một bà góa ở tuổi trung niên, không tài sản và phải dạy piano trong phòng khách nhà mình. Vì lòng mộ đạo, bà sắp xếp một chuyến đi tới Đất Thánh, xuất bản cuốn sách về chuyến hành hương này và bán chạy đủ để trang trải cho chuyến thám hiểm thứ hai tới Iceland. Sau đó bà tuyên bố với hai người con trai đã trưởng thành của mình rằng bà mong muốn đi thăm thú Brazil, chỉ có điều bà không nhắc tôi một chi tiết nho nhỏ - đó là bà dự định đi đường vòng về nhà, đánh một vòng quanh cả địa cầu.

Tôi lập tức chúi mũi vào cuốn sách bán chạy nhất hồi năm 1850 của Ida - Chuyến đi vòng quanh thế giới của một Quý bà. Biết nói thế nào nhỉ, bà ấy không thực sự là một người phụ nữ tốt tính. Bà háo hức nói xấu người ta và phàn nàn quá nhiều về sự giúp đỡ của những người bề dưới (chẳng hạn một người hầu bị bệnh chân voi làm bà ăn mất cả ngon). Điều trớ trêu là khi cuối cùng đã có cơ hội ngắm phần còn lại của thế giới, Ida lại gần như toàn thấy sự thiếu sót. Bà kết tội Rio de Janeiro bẩn thỉu còn các tộc người Anh điêng ở Amazon thì hoang dã. Bà cảm thấy bị xúc phạm vì tập tục yêu đương tự do của người Tahiti. Khi tới Quảng Châu, bà cải trang thành nam giới để tự do đi lại trên đường, Ida cũng chẳng thích thú gì người Trung Quốc, tuyên bố rằng họ hèn nhát và giả dối. Sau hàng tháng trời mắng nhiếc “những quốc gia hủ bại và ngoại đạo” khắp vùng Viễn Đông, bà mới thở ra một hơi nhẹ nhõm khi cuối cùng cũng tới được nước Nga Cơ đốc giáo - tại đây bà nhanh chóng bị tống vào tù vì bị nghi làm gián điệp. Sau này bà viết rằng người Nga có vẻ ngoài ngu ngốc và thô lỗ, lối hành xử của họ hoàn toàn khớp với vẻ ngoài ấy. Cuốn sách của bà gặt hái thành công vang dội.

Thành công tới mức chỉ một năm sau khi xuất bản nó, bà đã lại lên đường nghiên cứu cho tập tiếp theo, Chuyến đi thứ hai vòng quanh Thế giới của một Quý bà. Xuất phát từ London trên một chiếc tàu chở hàng hướng tới Mũi Hảo Vọng, bà dự định đi trọn một vòng quanh trái đất theo hướng ngược lại, từ châu Âu hướng về phía đông thay vì phía tây như trước. Hành trình này đưa Ida tới vùng đất Tây Ấn, - Indonesia ngày nay - nơi bà trở thành người Âu châu đầu tiên ghi dấu mình trong các bộ lạc ăn thịt người Batak ở Sumatra. Bà nổi tiếng vì tuyên bố mình quá già và quá cứng đầu nên khó mà thành món ăn ngon được. Trên đảo Borneo, bà đặt chân tới nước Sarawak ở bờ tây bắc, do James Brooke “người Rajah trắng” kiểm soát. Ông ta là một nhà buôn kiêm nhà thám hiểm lập dị, đã chiếm đánh cả một vùng lãnh thổ cho nước Anh, bất chấp việc không hề được hoàng gia chính thức thụ phong. Brooke cai trị vùng bờ biển ấy như một thái ấp riêng, đồng thời tiến hành một chiến dịch đẫm máu hòng loại bỏ nạn cướp biển và săn người trong vùng. Bởi ông ta vừa bị triệu tập về London để điều trần những tội ác chống lại người bản xứ, Ida thất vọng khi không gặp được ông ta. Thay vào đó, bà được cháu trai ông là Đại tá John Brooke đón tiếp. Người cháu này đã cố thuyết phục Ida không đi vào sông Batang Lupar - còn được biết đến với cái tên sông Cá sấu ăn thịt người.

Tuy nhiên Ida không hề chùn bước. Tháng Một năm 1852, bà đã tiến lên thượng nguồn con sông vào vùng lãnh thổ hoang dã của tộc Dayak ăn thịt người. Lầy lội và u ám, vùng rừng nguyên sinh rộng bao la chỉ nhắc nhở bà về Amazon, dù thậm chí nơi này đất còn ẩm ướt hơn. Những khoảng rừng rậm chìm trong làn sương dày đặc che chắn cả những con voi lùn, tê giác hai sừng, những con nai chỉ to bằng lũ thỏ, đười ươi lông đỏ rực, lợn râu và khỉ mũi vòi[*] với những cái mũi trông y như cái còi xe đạp đang mong muốn người ta bóp nó.

[*] Tất cả những loài vật được nhắc đến trong câu này đều là loài đặc hữu ở đảo Borneo.

Ngoài các tay chèo trên chiếc thuyền dài, bạn đồng hành duy nhất của Ida là một người dẫn đường Mã Lai tới từ bờ biển, chẳng mất nhiều thời gian, bà đã đánh giá anh ta là lười biếng và hỗn xược. Mỗi tối, khi mặt trời tắt nắng, bà lại trèo lên một cái thang khác - người phụ nữ bé nhỏ, lưng hơi khòng, váy xòe buộc túm trên hông - để xuất hiện trên ngưỡng cửa một ngôi nhà dài gần nhất. Với người Dayak, hẳn hình ảnh vị khách trong bộ váy tề chỉnh ấy phải kì lạ lắm. Trang phục thông thường của bộ tộc họ là những vòng cổ bằng hạt thủy tinh, vỏ sò và răng người, cẳng tay và bắp chân họ đeo đầy vòng đồng, còn đầu thì cài từng túm lông chim trĩ sao. Nước da của bà trắng bệch với đôi mắt đen nghiêm nghị và đôi môi mỏng dính mím lại thành một đường thẳng khinh khỉnh. Để tránh ánh nắng gay gắt và những cơn mưa xối xả, trên đầu bà không chỉ là chiếc mũ nan từ Ball mà còn cả một tàu lá chuối to đùng.

Mười bảy ngày sau khi đặt chân lên đất liền, Ida đã tới được chân dãy núi và bà leo lên bằng đôi chân trần, bởi bà đã phải bỏ lại cả giày lẫn tất trong quá trình trèo đèo lội suối. Dây leo quấn chặt quanh chân và eo bà. Các cành cây lòa xòa tạo thành những cái lán mát mẻ cho bà dừng chân nghỉ ngơi. Cuối cùng, bà đi bằng thuyền nhỏ dọc một con sông hẹp chảy qua những rừng cây rậm tới mức không có tia nắng nào lọt qua được tán cây. Rồi dòng suối nhỏ này lại đổ ra một khoảng nước rộng lớn hơn: một cái hồ rộng mênh mang có màu sắc và nhiệt độ nước y như món xúp hành âm ấm. Ida chưa từng trông thấy thứ tương tự. Những gốc cây trơ trụi chọc thẳng lên khỏi mặt nước y như những chiếc totem do bàn tay con người cắm xuống. Nếu không phải vì thi thoảng còn nghe được tiếng chó sủa hay gà gáy, hẳn bà sẽ nghĩ nơi này không có người ở.

Ida đã vô tình đặt chân tới Sentarum, vùng đồng trũng rộng lớn của những cái hồ và rừng đầm lầy xuất hiện theo mùa mà sau này Tyson Roberts tiếp tục đi khám phá vào năm 1976. Cũng tại nơi đây, nỗ lực tìm con siêu cấp huyết long của tôi đã lao vào ngõ cụt trên một hòn đảo bé xíu tên là Pulau Melayu năm 2009. Nói cho công bằng thì Ida thật ra không phải người “khám phá” ra Sentarum, và không chỉ vì con người đã sinh sống ở nơi đó cả nghìn năm rồi. Quan khâm sai của chính phủ Hà Lan là LC. Hartmann từng đi ngang qua khu vực này vào năm 1823, gần ba thập kỉ trước Ida. Tuy nhiên, khi có thêm hai người Hà Lan khác tìm cách trở lại những cái hồ nước đen ở đây, họ đã biến mất một cách bí ẩn. Đó là vào mùa khô.

Tuy nhiên, gần như chắc chắn là Ida chẳng hề hay biết gì về câu chuyện trong quá khứ này, và bà hoàn toàn sững sờ trước nơi mình vừa tìm thấy. Bị cái đầm như mê cung hấp dẫn, bà những muốn dừng lại nghỉ qua đêm với dân địa phương. Nhưng người dẫn đường Mã Lai - chính là “tay đầy tớ láo xược” - đã từ chối bởi quá sợ hãi đám thổ dân ăn thịt người sống ở đó.

❀ ❀ ❀

Một trăm sáu mươi năm sau, tháng Mười hai năm 2011, tôi đứng ngay tại nơi Ida từng khởi đầu chuyến đi của bà năm xưa, nhìn ngắm vùng cửa sông rộng rãi và đầy bùn của dòng sông Cá sấu ăn thịt người. “May mà chúng chỉ ăn thịt đàn ông!” Anh trai tôi gửi mail bảo tôi như vậy. Nhưng cái tên này chẳng phải chuyện đùa. Loài cá sấu nước mặn Crocodylus porosus sinh sống trên con sông này không chỉ là loài bò sát lớn nhất thế giới còn sống, mà còn là loại động vật săn mồi có tập quán chiếm đóng lãnh thổ lớn nhất vẫn còn đi lại trên mặt đất. Trong quán cà phê Tình bạn ở làng chài Lingga ngái ngủ, tôi đã từng ngưỡng mộ những bức hình chụp con cá sấu lưng trắng nổi danh tên là Quý ngài độc thân vui tính, được mệnh danh là Moby Dick[*] của loài cá sấu. Trong suốt mười năm, nó đã khủng bố các làng mạc, ăn thịt người dân trong lúc lẩn tránh xạ thủ, pháp sư và các phiên bản Dundee Cá sấu[*] ném lựu đạn về phía nó nữa. Năm 1993, cuối cùng những thợ săn làng Dayak cũng lôi được con quái vật ra khỏi mặt nước bằng một loạt đạn súng trường. Dài gần sáu mét và nặng hơn một tấn, con cá sấu đã chết trông như một thân cây đổ với nụ cười nhăn nhúm.

[*] Tên của một chú cá voi trong tiểu thuyết cùng tên.

[*] Tên một nhân vật thợ săn cá sấu trong bộ phim truyền hình cùng tên.

Tuy nhiên tôi chẳng trông thấy con cá sấu nào trong lúc đứng nhìn cơn mưa rào đang trút nước xuống bờ bên kia. Bây giờ là mùa mưa, và tôi đã trở lại đảo Borneo để tới Sentarum vào mùa nước nổi, khi cá rồng tụ tập lại để sinh sản. Liệu tôi có tìm thấy những con siêu cấp huyết long trong đám rễ cây chằng chịt ở trên đầm không? Hay chúng đã không còn nữa?

Trong lúc chờ đợi những cơn mưa lấp đầy các hồ ở sâu bên trong đất liền, tôi tới bang Sarawak của Malaysia ở phía tây bắc đảo Borneo để tham dự một hội thảo về nuôi cá rồng ở thành phố thủ phủ Kuching. Khi một quan chức dễ mến ngành ngư nghiệp đề nghị cho tôi đi cùng hai nhân viên của ông ta lên thượng nguồn sông Cá sấu ăn thịt người, tôi chớp ngay cơ hội để lần theo con đường bà Ida Pfeiffer đã mở ra từ những năm 1850 - dù tôi hiểu rằng một khách du lịch như tôi đã không còn có thể tới được tận Sentarum theo đường này nữa.

Thực tế tôi đã đến gần được cái đầm hơn một trăm sáu mươi kilômet khi đi từ hướng bắc, so với cách tiếp cận từ hướng tây nam như lần trước. Tuy vậy, vẫn có hai vật cản ngăn tôi đạt được mục đích: chính là dãy núi mà Ida đã phải trèo qua bằng chân trần, và một vấn đề còn nghiêm trọng hơn: đoạn biên giới giữa Malaysia và Indonesia bị đóng cửa từ khi có tranh chấp quân sự nổi lên giữa hai quốc gia hồi những năm 1960. Người ta bảo rằng sắp tới sẽ có một trạm kiểm soát cho người nhập cảnh, nhưng bây giờ vẫn chưa mở cửa.

Bản đồ Tây Borneo

Thực ra tôi bị thu hút về Sarawak không phải vì những lí do thực tế, mà chỉ vì sự lãng mạn mang tính lịch sử của nó. Mỗi ngày đào sâu thêm về câu chuyện của loài cá rồng, tôi lại càng trân trọng điều này hơn. Bờ biển tây bắc Borneo là trung tâm nhộn nhịp nhất của đảo hồi những năm 1850 - thập kỉ đã chứng kiến phát minh bể cá ở nước Anh, cũng như việc khám phá ra vài bí ẩn thâm sâu nhất của thế giới tự nhiên ở Tây Ấn. Ida Pfeiffer không phải nhà thám hiểm duy nhất đi theo con đường này. Một người khác cũng đã làm vậy, đó là nhà tự nhiên học thực địa vĩ đại nhất của thế kỉ mười chín, và cũng là hình mẫu cho các nhà thám hiểm thời hiện đại mà tôi từng gặp gỡ.

❀ ❀ ❀

Năm 1852, đúng vào cái năm Ida tới Sentarum, giữa Đại Tây Dương, một chàng trai trẻ mảnh khảnh, đeo kính cận đứng trên chiếc thuyền cứu sinh, ra sức tát nước đang bị ngấm vào thuyền. Con tàu đưa chàng Alfred Russel Wallace hai mươi chín tuổi từ Amazon ở Brazil về lại London đã bốc cháy, và Wallace phải kinh hãi chứng kiến công sức làm việc bốn năm trời của mình tan thành mây khói theo đúng nghĩa đen. Lửa liếm vào các cánh buồm và toa hàng, nơi Wallace cất giữ gần như mọi ghi chép của mình cùng với hàng ngàn mẫu vật (trong đó có hàng trăm mẫu vật giới khoa học chưa từng biết tên) mà ông đã mạo hiểm cả mạng sống để thu thập. Con vật duy nhất sống sót sau thảm họa là một chú vẹt.

Wallace trải qua mười ngày lênh đênh trên xuồng trước khi cả ông và thủy thủ đoàn được một con tàu đi ngang qua cứu vớt. Khi về tới London, ông đã thề thốt là từ nay không còn chuyện thu thập gì nữa. Nhưng chẳng bao lâu sau, cơn ngứa chân đã trở lại. Ông chọn Tây Ấn là điểm đến tiếp theo - Archipelago của Mã Lai - bởi những hòn đảo này được biết tới là quê hương của các loài động vật quý hiếm đáng thèm muốn nhất. Không như các nhà tự nhiên học xuất thân thượng lưu ở thời kì đó, Wallace chỉ có tài sản rất khiêm nhường và hi vọng sẽ trang trải chuyến đi của mình bằng cách bán các mẫu vật cho viện bảo tàng hoặc nhà sưu tầm tư nhân thông qua một đại lý ở London.

Mùa xuân năm 1854, Wallace đến Singapore, ở đây ông gặp gỡ vị Rajah Trắng - James Brooke - những người mà Ida Pfeiffer đã bỏ lỡ. Với lời hứa bảo vệ của Brooke, Wallace quyết định hướng tới Borneo, và tới Sarawak vào tháng Mười một cùng lúc với những cơn mưa đầu tiên trong mùa mưa năm đó. Ông hạ trại bên ngoài Kuching và khởi hành đi thu thập côn trùng và động vật - đặc biệt là loài đười ươi giống người to lớn ở Borneo -orangutan. Sau khi bắn chết và nhồi bông con đười ươi mẹ còn đang cho con bú, ông ta tự tay nuôi nấng đứa con sơ sinh của nó và dần trở nên gắn bó với “con thú nhỏ” của mình, bắt đầu ghi lại những thiên hướng rất giống loài người của nó.

Trong khoảng thời gian này, gần năm năm trước khi Darwin cho xuất bản cuốn Nguồn gốc Muôn loài, Wallace đã thai nghén cuốn Định luật Sarawak, viết rằng “mọi loài vật mới sinh ra đều trùng hợp cả về thời gian và không gian với những loài gần gũi đã tồn tại trước nó.” Ông đã sắp nắm bắt được một ý tưởng mang tính cách mạng. Nhưng ông vẫn chưa thể tìm ra cơ chế vận hành đằng sau nó: Làm thế nào lại có hiện tượng này xảy ra.

Ba năm sau, ông vẫn còn lưu lại Tây Ấn, lúc này đặt đại bản doanh ở hòn đảo nhỏ xíu mang tên Ternate, và mắc bệnh sốt rét ở đó. Giữa những cơn sốt nóng lạnh bột phát, suy nghĩ của ông không ngừng vờn quanh các câu hỏi: Làm thế nào mà các loài mới được khởi tạo? Thực ra một giống loài là gì? Nhớ lại tác phẩm ông đã từng đọc trước đó cả chục năm - cuốn Tham luận về Quy tắc dân số của Thomas Malthus - Wallace xem xét những áp lực như bệnh tật hay nạn đói không ngừng ngăn cản sự sinh sôi của loài người như thế nào. Ông nhận ra rằng cũng chính những lực lượng ấy có tác dụng tương tự lên loài vật, và thường là trong những chu kì nhanh hơn. Từ kinh nghiệm của riêng mình, ông quan sát thấy trong nội bộ các loài, những biến thể nhỏ vẫn thường đem lại cho một cá thể những lợi thế nhất định so với loài vật khác - chẳng hạn những con chim ưng có móng vuốt sắc nhọn hơn để bắt mồi, hay những chú hươu cao cổ có cần cổ dài hơn để vươn tới tầng lá cao hơn.

Đột nhiên ý tưởng đến với ông như một tia chớp: Chính những khác biệt nhỏ này, do chịu áp lực như Malthus từng miêu tả, có thể đã sản sinh ra những dạng sống có mức độ chuyên môn cao hơn. Loài vật nào thích nghi tốt hơn với môi trường sống của chúng thì sẽ tồn tại, loài nào kém thích nghi sẽ chết - vậy là loài mới ra đời. Khi cơn sốt của Wallace qua đi, ông nhanh chóng việt một bài tiểu luận có tên “Về thiên hướng các loài tách biệt vĩnh viễn với nguyên mẫu của chúng,” rồi gửi nó tới cho thần tượng Charles Darwin để ông ta “xem xét.”

Phải chăng vị quý tộc giàu có, lớn hơn Wallace tới mười lăm tuổi với những mối quan hệ tốt hơn nhiều đã đánh cắp ý tưởng của ông ta? Bất chấp những giả thuyết rằng Darwin có thể đã mượn một vài chi tiết, câu trả lời về cơ bản vẫn là không. Dù trùng hợp đáng kể, nhưng có vẻ như cả hai người trong cùng thời điểm đã độc lập đi đến cùng một giả thuyết về sự tiến hóa nhờ chọn lọc tự nhiên. Cái ý tưởng mà Wallace chợt lóe lên trong cơn sốt thì Darwin đã ấp ủ suốt hai mươi năm ròng, do lo ngại những phản đối mang tính tôn giáo mà lý thuyết này có thể gây ra.

Dĩ nhiên, nhà khoa học lớn tuổi hơn cảm thấy đau đớn vô cùng trước viễn cảnh tác phẩm để đời của mình bị hớt tay trên. “Mọi sự sáng tạo của tôi, dù nó đã đi đến mức nào, sẽ bị hủy hoại,” ông viết cho bạn mình, nhà địa lý nổi danh Charles Lyell. Ông này sau đó đã vội vã sắp xếp một cuộc họp khẩn ở Hội Linnean[*]. Tại đây, vào ngày 1 tháng Bảy năm 1858, lý thuyết của Darwin đã được công bố lần đầu tiên, cùng bài tiểu luận của Wallace nằm ở phần cuối cùng.

[*] Hội nghiên cứu về lịch sử tự nhiên, sự tiến hóa và hệ thống phân loại sinh vật, ra đời từ năm 1788 ở London do Ngài James Edward Smith sáng lập.

Khi còn đang mải chu du trên những hòn đảo cách đó nửa vòng trái đất, Wallace nhận được một bức thư giải thích điều gì đã xảy ra. Đáng lẽ ông có thể phản ứng cay đắng hơn. Thay vì vậy, ông chỉ thấy vinh dự vì tên mình đã được tham dự vào sự kiện. Ông dành bốn năm tiếp theo ở vùng Tây Ấn, vậy là tổng cộng mất tám năm, một phần vì không đủ tiền về nhà. Sau khi đã giải quyết được một câu đố, ông lại sắp sửa mở ra cánh cửa tới câu đố tiếp theo - và lần này thì nhân vật trung tâm là cá rồng châu Á.

❀ ❀ ❀

Dần dà, Wallace bắt đầu xem sự phân bổ của muôn loài là một bức tranh ghép mà sau khi hoàn thành, người ta sẽ thấy được lịch sử địa chất của trái đất. Trên các hòn đảo gần Ball và Lombok, chỉ cách nhau gần ba mươi lăm kilômet, ông kinh ngạc khi phát hiện ra các chủng loài động vật khác nhau hơn cả hệ động vật của ông và Nhật Bản. Sau cùng, ông kết luận rằng có hai quần thể động vật sinh trưởng ở vùng Archipelago của Mã Lai: một ở phía tây, do hổ, tê giác và các loài linh trưởng thống trị, còn một quần thể ở phía đông lại đặc trưng với những loài chuột túi, gấu koala và những loài chim thiên đường. Năm 1859, ông đề xuất một đường ranh giới chạy theo hướng đông bắc qua eo biển hẹp giữa hai đảo Ball và Lombok - một đường chia cắt mà ngày nay chúng ta biết tới với cái tên Đường Wallace. Ông nghi ngờ rằng những hòn đảo nằm phía tây của đường ranh giới này, chẳng hạn như Ball và Borneo, từng gắn liền với lục địa Á châu, còn các đảo ở phía đông gồm Lombok, Sulawesi và New Guinea thì gắn với châu Úc.

Những phần thẫm màu thể hiện tiến trình liên kết của các mảng lục địa chính trong các giai đoạn băng giá khi mực nước biển hạ xuống còn 200 mét.

Phương pháp vẽ địa hình đáy biển bằng sóng âm phản xạ về sau này sẽ chứng minh Wallace đã đúng. Đường ranh giới của anh lần theo rìa của Thềm Sunda, phần mở rộng của thềm lục địa châu Á. Trong các kỷ băng hà, khi mực nước biển còn thấp hơn bây giờ, đất liền nối cả hai bờ châu Á và châu úc với các hòn đảo ở ngoại vi của chúng. Nhưng trong vòng 50 triệu năm qua, mực nước sâu giữa hai thềm lục địa đã trở thành rào cản chia cắt thảm thực vật và quần thể động vật ở đây.

Wallace đã khởi xướng nên một lĩnh vực hoàn toàn mới: địa sinh học, môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố của các loài qua không gian và thời gian. Sau này, ông chia cả quả địa cầu thành tám phần theo hệ động vật, ngày nay các nhà khoa học vẫn còn sử dụng cách phân chia này. Tuy nhiên, hơn một thế kỉ sau đó vẫn còn một điều bí ẩn xung quanh Đường Wallace làm đau đầu các nhà khoa học. Một trong những bằng chứng rõ rệt nhất cho cách phân chia này là sự phân bổ của các loài cá. Chẳng hạn, những loài cá nước ngọt được tìm thấy ở Bornea và các loài sống cách chúng hàng ngàn cây số ở châu Úc không hề trùng lặp nhau - ngoài một ngoại lệ duy nhất. Rốt cuộc thì loài cá rồng làm gì ở cả hai bên của đường ranh giới này?

Chuyện cá rồng sinh trưởng ở châu Úc là hợp lý bởi người ta tin rằng loài cá này tiến hóa trên siêu lục địa Gondawana, nửa phía nam của Pangaea[*]. Siêu lục địa này từng có lúc chứa cả châu Úc với vùng đất rộng lớn ở phương nam: Nam Mỹ, châu Phi, Nam Cực và Madagascar. Khi Gondwana tan rã, tổ tiên của các loài cá rồng khác nhau đã trôi dạt trên khắp các lục địa ở nam bán cầu. Nhưng tại sao lại có cá rồng ở Đông Nam Á, một nơi vốn chưa bao giờ thuộc về Gondawana? Suốt một thời gian dài người ta vẫn tin rằng bằng cách nào đó loài cá này đã bơi từ châu Úc đến đây. Nhưng ý kiến này không đứng vững được trước câu hỏi làm thế nào một loài sinh vật đã thích nghi với nước ngọt lại có thể thực sự băng qua được các đại dương.

[*] Một siêu lục địa từng tồn tại trong đại Trung sinh, thuộc liên đại Hiển sinh.

Cuối cùng, vào năm 2000, hai nhà nghiên cứu người Nhật đã giải được câu đố hóc búa. Bằng cách dùng đến “đồng hồ phân tử,” ý tưởng cho rằng sự tiến hóa của ADN diễn ra gần như không ngừng nghỉ, họ cho thấy loài cá rồng châu Á và cá rồng châu Úc đã từng có chung một tổ tiên gần nhất quãng độ 140 triệu năm trước trong Kỷ Phấn Trắng Sớm - sớm hơn rất nhiều so với những gì con người từng nghĩ dựa trên sự giống nhau của chúng.[*] Thế nhưng phát hiện đáng kinh ngạc thật sự lại là khi hai nhà nghiên cứu nhận ra chính xác điều gì đã xảy ra trên bề mặt trái đất vào thời kì các loài bị chia tách: Đó là khi tiểu lục địa Ấn Độ tách rời khỏi châu Phi, bắt đầu hành trình trôi dạt 100 triệu năm của nó về phía châu Á, va phải châu lục này rồi khai sinh ra dãy Himalayas.

[*] Cá rồng không phải là một loài cá lâu đời như cá mút đá hay cá mập, nhưng ở chúng đúng là có điểm gì đó đặc biệt. Khoảng 215 triệu năm trước cuối Kỷ Tam Điệp, một lớp cá có tên khoa học là teleost (cá xương thật) xuất hiện và dần dần trở thành loài vật có xương sống thành công nhất trên trái đất - ngày nay chúng đại diện cho khoảng 96% số loài cá còn tồn tại. Loài đầu tiên đã thống trị biển cả trong lớp cá vô địch này rất có thể chính là cá lưỡi xương, cá rồng cũng thuộc bộ cá này. Rõ ràng loài cá rồng đã tìm thấy thiết kế tối ưu ở thân thể dài mảnh và những cái lưỡi như mũi dao găm, nên chúng gần như không mấy thay đổi kể từ thời ấy (Chú giải của tác giả.)

Có vẻ như loài cá rồng châu Á đã lên một chuyến tàu cực chậm băng qua nơi mà ngày nay là biển Ả Rập, rồi xuôi theo những tuyến đường thủy thời tiền sử của Đông Nam Á tới tận nơi ngày nay là đảo Borneo, sâu trong thềm lục địa Sunda. Loài cá này đã chứng kiến lịch sử của trái đất - sự hình thành vùng đất ngay dưới chân chúng ta.

❀ ❀ ❀

Ngược lại, nỗ lực thực hiện lại một hành trình nghẹt thở của tôi lại có vẻ khá yên bình. Đêm đầu tiên của tôi trên sông Cá sấu ăn thịt người, tôi nằm cuộn tròn trên nền của một căn lán bằng gỗ bên cạnh hai nhân viên ngư nghiệp với lông ngực khỏe khoắn đang ngáy o o đều đặn. Chong Ted Kin và Amri Bin Sulai đã cùng nhau đi ngang dọc khắp vùng nông thôn Sarawak suốt mười năm nay để kiểm tra giấy phép đánh cá. Đặt lưng xuống chiếu một cái là họ ngủ ngay tắp lự, tôi phải nhón chân bước qua họ để tắt đèn. Rồi tôi nằm xuống trong bóng tối ẩm ướt bên dưới một con thằn lằn tặc lưỡi thành tiếng từ trên trần nhà - tôi không hề biết thằn lằn làm được điều này.

Ngoài chuyện khó ngủ, trải nghiệm tôi trải qua trong quá trình ngược lên thượng nguồn con sông không hề giống chuyện của Ida Pfeiffer chút nào. Cứ cho là giữa chúng tôi đã có cả một thế kỉ rưỡi, nhưng tôi vẫn thấy ngạc nhiên vì phần này của Borneo đã phát triển đến thế nếu so với những vùng đất tôi từng trông thấy. Thứ nhất, giả thuyết của tôi về chuyện chúng tôi sẽ di chuyển bằng thuyền hóa ra thật là ngây thơ. Một trong các nhân viên ở phòng ngư nghiệp giải thích chuyện họ thậm chí còn chẳng thuyền, là vì “dưới nước rất lắm cá sấu.” Thay vào đó, chúng tôi chỉ mất một ngày đi đường bộ để băng qua vùng lãnh thổ mà Ida mất tới ba tuần mới đi hết.

Sáng hôm sau, trong lúc chúng tôi lái xe xuống phía nam, Chong và Amri bắt đầu hát gelombang, gelombang, tiếng Mã Lai nghĩa là “sóng vỗ,” vờ như chúng tôi đang bập bềnh trên sóng nước chứ không phải trồi sụt trên con đường đất bùn đầy hố lún, hòng an ủi tôi. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ và thấy những cánh đồng lúa đã nhường chỗ cho các hàng cọ dầu dài bất tận quen thuộc - mối họa lớn nhất với sự đa dạng sinh học ở Borneo, cùng với nạn chặt phá rừng. “Giờ thì nó hái ra tiền đấy,” Chong nói, lập luận rằng sự phát triển này có lợi cho khu vực. “Một khi đã mở cửa rừng thì thiên nhiên hoang dã sẽ ngày càng bị đẩy lùi, biến mất hoặc tuyệt chủng,” anh thừa nhận. “Đó là những vấn đề mà các nhà bảo vệ môi trường nêu ra. Nhưng tôi nghĩ chuyện ấy cũng đâu quan trọng đến thế. Chúng ta vẫn phải kiếm tiền chứ.”

Tôi nghĩ về những cánh rừng nguyên sinh ở miền đông Bắc Mỹ, gần như đã bị chặt phá hết cả vào thời điểm nào đó sau khi Tân Thế Giới bị thuộc địa hóa. Một điều tương tự đang xảy ra ở Borneo này, nhưng với tốc độ nhanh hơn nhiều. Ít nhất 25% rừng xanh ở đây đã bị dọn sạch kể từ giữa thập kỉ 1980. Ngày nay, những vùng “rừng rậm nguyên sinh” mà Alfred Russel Wallace từng ngưỡng mộ chỉ còn không đầy một nửa.

Điều đó không có nghĩa là sân sau nhà tôi và nhà Chong được tạo ra như nhau. Những cánh rừng nhiệt đới như ở Borneo này chỉ chiếm chưa tới 6% diện tích đất của thế giới, nhưng lại chứa hơn một nửa những loài sinh vật từng được biết đến. Quần thể động thực vật ở đây - mà đặc biệt là của Archipelago Mã Lai - cực kỳ đa dạng. Một trong những nguyên nhân là do tính cô lập của các hòn đảo, khiến chúng trở thành nơi vun trồng cho sự hình thành các loài. Chẳng phải tự nhiên mà Wallace và Darwin đều lần lượt giác ngộ trong lúc nghiên cứu các loài động vật của vùng Archipelago Mã Lai và Galápagos.

Một điều nghịch lý tồn tại song song trong thế giới cá là: Nước ngọt chỉ chiếm 2,% toàn bộ lượng nước trên trái đất, hầu hết lại còn bị đóng băng hoặc ở sâu trong lòng đất. Phần còn lại, chưa tới một phần vạn của lượng nước trên hành tinh này, tạo thành tất tật sông ngòi, suối, hồ và ao trên đời. Ấy vậy mà chính cái phần nhỏ bé ấy lại chứa gần một nửa các loài cá. Hồ chính là phiên bản đảo của thế giới nước - chúng là những phòng thí nghiệm tự nhiên cho các thử nghiệm tiên hóa cơ bản.

Không may là các loài vật ở đảo - và cả cá nước ngọt - cũng dễ tuyệt chủng hơn, bởi chúng chỉ chiếm giữ các khu vực nhỏ lẻ và tiến hóa trong môi trường ít loài ăn thịt, ít cạnh tranh và bệnh tật hơn. Năm 1967, ngành địa sinh học do Wallace khai sinh đã bước vào một trang sử mới, khi nhà sinh thái học Robert MacArthur và EO. Wilson nghĩ ra thuật ngữ địa sinh học hòn đảo để mô tả những nghiên cứu về đảo và cuộc sống trên đó. Theo mô hình của MacArthur và Wilson, khi một nửa hệ sinh thái của một hòn đảo bị hủy hoại, gần 10% các loài sinh vật trên đó sẽ biến mất. Đến lúc 90% môi trường đã bị biến mất thì khoảng một nửa các loài sinh vật cũng bị tuyệt diệt. Ví dụ điển hình nhất là những gì đã xảy ra ở Singapore. Tại hòn đảo này, hơn 95% rừng nguyên sinh đã bị chặt hạ. Mô hình này tuyên đoán rằng đảo quốc Sư tử sẽ mất gần 75% các loài động và thực vật. Trên thực tế, con số thực có thể đã lên tới 73%, theo một nghiên cứu khác.

Cá rồng châu Á chưa bao giờ có nguồn gốc từ Singapore. Tuy nhiên, hồi những năm 1980, sau khi quốc gia này gia nhập CITES, chính phủ đã bắt đầu tịch thu các cá thể ở những cửa hàng cá cảnh địa phương và thả chúng vào khu bảo tồn thiên nhiên trên đảo. Từ đó, một số lượng lớn cá rồng đã được phối giống và phát triển mạnh. “Chúng tôi đang lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan thú vị,” nhà sinh vật học nước ngọt Peter Ng nói với tôi từ hồi ở Đại học Quốc gia Singapore. Các loài bản xứ cần được bảo tồn, còn những loài ngoại lai đáng lẽ phải bị xóa sổ hoặc kiểm soát. “Tôi là nhà sinh vật học kiểu cũ. Tôi tin vào một câu thần chú đơn giản: Tiêu diệt mọi loài ngoại lai tận gốc rễ.”

“Anh có thực sự nghĩ đến chuyện giết chúng không thế?” Tôi hỏi.

“Chúng tôi đang rất bối rối,” Ng thừa nhận, nói thêm rằng cũng có vài tiền lệ tồn tại với các loài ngoại lai đang gặp nguy cơ tuyệt chủng. Trường hợp gần đây nhất mà anh gặp phải là loài ô-pốt[*] ở Australia thì được bảo tồn, trong khi lại bị bắn giết theo hệ thống ở New Zealand, bởi chúng là loài gặm nhấm gây hại ở đây. Giờ thì không ai có thể quyết định việc phải nghĩ về loài cá rồng châu Á như thế nào được nữa: Đối tượng kì bí và quý giá hay loại hàng hóa sản xuất hàng loạt hoặc một loài ngoại lai đang gặp nguy hiểm. Điểm dễ thấy duy nhất: Nó đã không chỉ là một loài cá nữa.

[*] Loài thú có túi ở Australia.

❀ ❀ ❀

Sau khoảng ba tiếng lái xe, chúng tôi tới một thị trấn nhỏ tên là Lubok Antu ở thượng nguồn sông Cá sấu ăn thịt người, nơi Chong và Amri định kiểm tra một trại nuôi cá rô phi. Chong bảo tôi Lubok Antu có nghĩa là Phá[*] Ma. “Nơi này là một thị trấn cao bồi,” anh ta nói, giải thích rằng nó đánh dấu đường biên giới nơi các công nhân nhập cư người Indonesia tràn vào Malaysia. Nó cũng nổi danh là tuyến buôn lậu gỗ cùng với động vật hoang dã như đười ươi hay cá rồng non. Vì cá rồng không sinh sống ở phía bên này dãy núi, nên nếu có một con xuất hiện nơi đây thì cũng có nghĩa là nó được mang tới từ bên Sentarum, chỉ cách một đường biên giới sang. Tuy nhiên, vài ngày trước, lúc còn ở Kuching, tôi đã thăm một trạm giải cứu cá rồng công khai từ các vụ buôn lậu và phát hiện một cảnh tượng khác thường: Nơi bảo tồn cá mà chẳng có nổi một con cá. Sau mười tám tháng hoạt động, người ta chưa từng cứu nổi một con nào. Lúc này, khi đứng trước nơi được coi là trung tâm buôn lậu cá, tôi tự hỏi điều đó có nghĩa là không có con cá nào bị buôn bán trái phép, hay là không có vụ nào từng được báo cáo, hay là chẳng còn con cá nào để mà bắt cả?

[*] Vùng nước mặn rộng lớn có dải đất, cát chặn ở trước, ngăn cách với biển, thông ra biển nhờ một dòng nước hẹp và chảy xiết.

Càng đến gần đầu nguồn, con sông càng khác xa với những gì bà Ida từng mô tả. Một cái đập thuỷ điện khổng lồ được xây dựng hồi những năm 1980 đã xả đầy nước vào rừng, biến nó thành cái hồ màu xanh ngọc rộng mênh mông, toả sáng rực rỡ tương phản với bờ hồ đất đỏ của nó. Những ngọn cây đã chết chọc lên khỏi mặt nước như những bàn tay xương xẩu ở nơi trước đây từng là rừng. Cơn lụt do con đập gây ra đã đẩy khoảng ba ngàn người Dayak ra khỏi hai mươi sáu căn nhà dài, buộc họ phải đào mồ đào mả trước khi xây dựng. Giờ thì ngôi nhà duy nhất nằm ở rìa phía xa của cái hồ nhân tạo là một khách sạn hạng sang - Khu nghỉ dưỡng nhà dài Batang Ai do Hilton điều hành, quảng bá một trải nghiệm đặc trưng của bản địa.

Trên bản đồ, Sentarum trông như ở ngay sau khúc quành, nhưng thực ra một rặng núi hùng vĩ nằm chắn ngang giữa tôi và cái đầm bên kia biên giới ở Indonesia. Trong lúc tôi quan sát những đỉnh núi xanh mướt và cố tưởng tượng cảnh bà Ida trèo qua chúng, tôi đã sẵn sàng ra đi. Thế giới mà bà từng trông thấy đã không còn tồn tại nữa - ít nhất là ở phía này ngọn núi trên đất Malaysia.

Chúng tôi lái xe tới trạm kiểm soát nhập cảnh quốc tế mới mà tôi từng nghe kể, nhưng nó vẫn chưa hoạt động. Công trường xây dựng vắng tanh, ngoại trừ một công nhân duy nhất đang đội chiếc mũ cứng. Tiến vào khu vực trung lập đến gần một cánh cổng lớn bị khoá, chúng tôi bước xuống xe và nhìn chòng chọc sang đất Indonesia. Ai cũng có thể đi bộ quanh cái cổng, nhưng tôi đã được cảnh báo rằng lén lút băng qua biên giới có thể khiến tôi ăn đạn. Thay vào đó, tôi trèo lên hàng rào bê tông và để hai cánh tay lủng lẳng qua chấn song như một con đười ươi, những ngón tay tôi ngọ ngoạy không ngừng. Quê hương của con siêu cấp huyết long đang ở ngay trước mũi tôi, chỉ cách có bốn mươi tám kilômet về phía trước. Nhưng tôi sẽ không thể tới được đó theo đường này.

sử từ rất lâu rồi. Đó là bộ sưu tập các sinh vật kỳ lạ được sưu tầm để trưng bày. Bầy thú ấy lần đầu tiên xuất hiện trong lịch sử trước sự kiện đô thị hóa, khi mối tiếp xúc với động vật hoang dã còn rất hiếm hoi, và việc nuôi các loài vật n
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Emily Voigt

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.