NEW YORK – SINGAPORE
Rốt cuộc tôi cũng tìm được Tyson Roberts. Một tháng sau thời điểm trên, tôi lần theo dấu vết Tyson Robert tới một căn hộ cho thuê ở Panama, ông đang dưỡng thương sau một trận tắc mạch máu ở chân, khiến ông phải nằm viện tới tám ngày. Ông tới Panama với tư cách là cộng tác viên của Viện Nghiên cứu Nhiệt đới Smithsonian, nhưng giờ thì ông không được dùng đến chân. “Tôi giờ là nỗi hổ thẹn vô bờ bến của họ,” ông khổ sở nói khi tôi gọi điện. “Tôi đã hoàn toàn thay đổi cuộc đời mình.” Ông đã gần bảy mươi mốt tuổi và trong suốt bốn mươi năm qua, đã chọn Bangkok thành nhà mình, dù có lúc này lúc khác. Giờ ông không thể bay về nhà trong tình trạng này vì áp suất có thể giết chết ông bằng cách đẩy chỗ nghẽn mạch máu lên thẳng hai lá phổi, gây ra tắc mạch phổi. Nói cách khác, giờ ông đã mắc kẹt. Tình hình còn tệ hơn nữa vì ông còn sắp mất cả ngôi nhà được phân cho chuyên gia của mình. Ông không biết giờ mình phải đi đâu.
Tôi tìm kiếm Tyson trên mạng, nhưng phải mất một thời gian tôi mới nhận ra chính xác mình vừa gọi điện cho ai - một nhà ngư học lớn tuổi, người có lẽ từng giết và ngâm hóa chất nhiều loài cá hơn bất kì ai trên đời. Một phần lí do tôi không thể coi trọng sự nổi tiếng của ông ta xuất phát từ tính chính danh mỏng manh trong nghiệp nghiên cứu. Về cơ bản, ông chỉ là một cộng tác viên tự do. Nhiều năm trước Tyson đã bị loại khỏi Harvard trước khi ra khơi tới những vùng nước xanh thẳm hơn, rất giống Aristotle bị Học viện Plato đuổi. Tuy nhiên, không như Aristotle, Tyson chưa bao giờ ngừng viễn du. Trong quãng thời gian nửa thế kỉ, ông đã nổi danh là một kẻ cô độc bất trị. “Ông ấy có thể khá dữ dằn đấy,” một nhà ngư học trẻ người Mỹ sau này kể với tôi. “Cô chỉ cần ngáng đường ông ấy một lần thôi là sẽ lãnh đủ.”
Tuy nhiên, lúc cầm ống nghe cách xa tai, tất cả những gì tôi biết là nghe ông Tyson như đang nói qua cái loa cỡ đại. Giọng ông rõ ràng không phải thứ duy nhất quá khổ trên người ông - ông phàn nàn rằng mình không tìm nổi loại tất y khoa[*] cỡ XXL. Có lẽ điều vĩ đại nhất ở ông chính là trí tuệ kiểu thần thoại. Tâm trí ông giống như một mê cung chứa đầy những giao lộ, lối đi bí mật và những cái bẫy khiến người khác gần như không thể thoát ra một khi đã đi vào đó.
[*] Tất áp lực dành cho bệnh nhân bị suy tĩnh mạch mãn tính.
“Nào, cô có biết điều bí mật nhỏ bé kinh tởm, bẩn thỉu, lắt léo của giới buôn cá rồng không?” Đột nhiên Tyson nói khi đã thao thao bất tuyệt đến hai mươi phút trên điện thoại với một loạt những lần đánh lạc hướng. “Có cả một ngành công nghiệp tu chỉnh cá đấy.” Ở Thái Lan, ông nghe nói rằng cá rồng châu Á được nhuộm bằng màu thực phẩm y như người ta làm nước ngọt vị dâu và vị cam vậy. Nó làm ông nghĩ lại loại bơ thực vật hồi những năm 1950, một chất màu trắng trông như đất sét, đi kèm những túi phẩm màu cam để trộn vào.
“Chờ tí,” Tyson bỗng nói. “Có cái gì cháy trên bếp rồi. Hi vọng chỉ là nước.”
Hóa ra không phải nước mà là món đậu hầm.
Nhân nói về thị trường cá rồng giả, Tyson lan man sang chủ đề lịch sử nghệ thuật, đặc biệt là những bức tượng cổ của Campuchia. Trong lĩnh vực này, Tyson cũng được coi là chuyên gia có tiếng. Những tác phẩm yêu thích của ông - mà theo ông là “tác phẩm nghệ thuật vĩ đại nhất từng được tạo ra” - là “những bức chân dung” của các vị vua Khơme từ thế kỉ thứ năm. Ông ước lượng rằng chỉ có một trên hai mươi tượng vật có ở các bảo tàng là thật, và việc đi tìm những bức tượng giả đã trở thành thú vui của ông.
Lái Tyson về với đề tài Borneo chẳng khác nào việc dồn đuổi một con chồn sương. Nhưng dần dần tôi cũng có thể lắp ráp tương đối câu chuyện: Hồi năm 1976, ngay sau khi rời Harvard, Tyson đã đi thám hiểm hòn đảo này với danh nghĩa của Học viện Smithsonian. Ông bị hút về phía dòng sông Kapuas, dòng sông dài nhất Indonesia, có lẽ bởi nó cũng giàu quần thể cá nhất. Xưa kia dòng sông này từng là một phần của lưu vực Sunda rộng lớn, diện tích không kém gì vùng Amazon và nước Congo. Tyson đồng hành cùng với một nhà khoa học người Indonesia, nhưng chẳng bao lâu sau khi họ lên thượng nguồn sông Kapuas, ông này bị triệu hồi về Jakarta. Những người Indonesia nghĩ rằng Tyson sẽ phải về cùng, nhưng ông không về mà lại đi tiếp cùng một đoàn thủy thủ không biết nói tiếng Anh. Các nhà chức trách ở Jakarta hết sức khó chịu vì lo rằng họ có thể phải chịu trách nhiệm vụ mất tích của một người Mỹ, nhưng Tyson vẫn dành sáu tuần nữa đi thu thập cá ở Sentarum và phát hiện ra vùng đất còn khá hoang sơ, chưa bị con người chạm tới.
“Tôi chắc chắn rằng ngày nay Kapuas đã bị hủy hoại trên diện rộng,” ông nói. “Tôi có cảm giác thế này: Hễ mình tới một nơi nào thì chỉ trong vòng mười tới ba mươi năm sau là sẽ chẳng còn con cá nào ở đó nữa. Điều đó đã xảy ra với gần như tất cả mọi nơi tôi từng tới trong đời.”
“Ông đã từng trông thấy con cá rồng châu Á hoang dã thật chưa?” Tôi hỏi.
“Ồ, tôi còn thu thập được vài con ấy chứ.”
Ông không nhớ chính xác chỗ đã bắt mấy con cá - đã nhiều năm rồi ông không giở cuốn sách Những loài cá nước ngọt ở Tây Bornea của chính mình ra, - nhưng hồi ông đi nghiên cứu những năm 1970, ở đó vẫn còn khá nhiều cá. Ông vẫn còn nhớ mang máng rằng những con cá rồng này có nhiều màu sắc dù không nổi bật. Ông nhớ như in rằng không lâu trước chuyến đi của mình, cá rồng đã được đưa vào danh sách các loài gặp nguy cơ tuyệt chủng, đầu tiên là do IUCN (Hội liên hiệp Bảo tồn Thiên nhiên), rồi sau đó là CITES. “Theo tôi, thông tin của họ toàn không đúng,” ông nói, thêm rằng nguồn dữ liệu cho việc liệt kê của họ thường là từ các vị lãnh đạo phòng ban ngư nghiệp mà từ lâu đã không héo lánh tới thực địa. Cũng như Heiko, Tyson thấy rằng việc tuyên bố một loài vật nào đó đang gặp nguy cơ tuyệt chủng không phải lúc nào cũng tốt: “Làm thế chỉ khiến giá thị trường của chúng tăng vọt, đôi khi còn tăng như điên.”
Tôi kể với Tyson rằng tôi muốn lần theo bước chân ông và tìm hiểu xem số phận loài cá rồng Huyết long đã ra sao trong những năm bị con người can thiệp, để xem nó có còn sót lại trong thiên nhiên hoang dã hay không. “Tôi đã cố thuyết phục Heiko đưa tôi đi,” tôi nhắc lại.
“Nếu có đi cùng lão thì cô phải chuẩn bị tinh thần tự lo lấy thân,” Tyson cảnh báo. “Bởi vì rất có thể lão sẽ bỏ lại cô ở ngay hồ Sentarum.”
Khi Tyson còn được đưa vào viện ở Panama, Heiko đã bay từ Amazon qua thăm, đúng như dự định ông đã kể với tôi, và còn mang theo một món quà chúc lành bệnh. Đó là một loài lươn mới nhỏ xíu để Tyson viết mô tả. Nhưng Tyson phàn nàn rằng Heiko không ghi lại chính xác mình bắt được nó ở dòng sông nào. “Lão nói lão không bao giờ nhầm,” Tyson phàn nàn về ông bạn. “Lão bảo: ‘Tôi đã gặp cả chục ngàn loài, và có thể nhận ra từng loài một trong số chúng.’ Ai mà làm được thế cơ chứ! Đến Chúa còn chẳng làm nổi! Mà có khi Ngài chẳng buồn để tâm.”
Ông Tyson đã nói trọn vẹn ba tiếng đồng hồ thì chợt nhớ ra một lời đồn ông từng nghe, một điều gì đó bị vùi sâu trong bộ óc phi thường của ông, giống như tấm séc đặt nhầm trong một văn phòng đầy nhóc tài liệu của bảy thập kỷ. Lời đồn ấy thế này: một nhánh mới chưa từng được mô tả của cá rồng nằm sâu trong miền nam Myanmar, một vùng đất từ lâu đã bị thế giới bên ngoài lãng quên bởi bàn tay sắt của một nhóm vũ trang. Ông từng trông thấy một bức ảnh không xác thực của con cá đó, cho thấy những cái vẩy lớn đặc trưng cùng thân hình giống rồng của một con cá rồng. “Nhưng toàn thân nó bị phủ kín bằng chữ viết tay,” ông kể với tôi, “hoặc một thứ gì đó khiến tôi muốn đặt tên cho nó là Scleropages scriba. Giống như nó bị ai viết chữ lên vậy. Nó đẹp tuyệt.”
“Ông có định đặt tên cho nó không?” Tôi hỏi, tưởng tượng ra cảnh con vật bị người ta ghi chữ lên như một cuộn giấy da cổ và trong một phút điên rồ còn tự hỏi trên ấy có viết gì.
“Tôi chưa có cá thể nào!” Tyson gào lên. Rồi ông im lặng lần đầu tiên trong nhiều tiếng đồng hồ. Một ý tưởng chợt nảy ra trong ông. “Sao cô không cử chồng cô tới đó bắt cho tôi vài con, rồi tôi sẽ đặt tên nó theo tên cô?”
Tôi cười. Tôi không biết mình nên thấy nực cười vì ông đang gợi ý đi bắt một con cá rõ ràng là không thể bắt nổi, hay bị xúc phạm vì ông thản nhiên bỏ qua ý nghĩ cử tôi đi. Lý do duy nhất khiến Tyson biết tôi đã kết hôn là vì vài tiếng trước, khi ông còn đang cáu um vì gặp trục trặc với email, tôi đã cố giúp ông và lỡ nhắc tới chuyện chồng tôi là một kĩ sư ở Google. Nhưng đó là tất cả những gì ông biết. Chẳng hạn, ông không hề biết rằng Jeff lớn lên ở trung tâm Manhattan, là hậu duệ của một dòng dõi dân New York đã quá thích nghi với cuộc sống đô thị tới mức mẹ chồng tôi từng bảo cây cối khiến bà buồn bực. Hồi anh trai Jeff còn bé tí, anh ấy trông thấy một trảng cỏ và gọi cái vật chất xa lạ ấy là “nước màu xanh lá.” Khi Jeff lên chín, cha anh nhận một công việc ở vùng thôn quê New Jersey và chuyển cả gia đình tới đó. Khi họ lái xe tới ngôi nhà năm phòng ngủ trên một đoạn đường cụt nhiều cây cối, em trai Jeff hỏi người gác cửa đâu rồi. Đêm đầu tiên, cả ba cậu bé lôi đệm của họ vào phòng ngủ nhỏ nhất. Một tháng sau, họ phải chuyển về New York. Tất cả những điều này lóe lên tâm trí tôi, trộn lẫn với một chút nhức nhối vì lòng tự trọng bị tổn thương, vì vậy tôi nói giọng phản đối với ông Tyson: “Tôi nghĩ tôi mới là người có khả năng đi.”
“Thế sao?” Tyson nhanh chóng bật lại như một con rắn. “Thế sao cô còn chưa làm đi?”
“Tôi không nghĩ mình được trang bị đầy đủ,” tôi nói.
“Cô thừa đủ!” Ông hét lên. “Vì Chúa!”
“Tôi không biết… Chúng tôi sống ở Manhattan…”
Nhưng Tyson không chịu nghe tôi nói nữa. “Lại còn là phụ nữ!” Ông lẩm bẩm. “Phụ nữ thì có bao giờ phải chịu tội!”
Ý tưởng về Myanmar (hay Miến Điện như người phương Tây từ lâu đã quen gọi) chỉ gợi lên trong tôi đoạn phim chập chờn và bị nhiễu sóng về các ông thầy tu đi lại trong bộ áo cà sa. Tôi chỉ hiểu biết rất mơ hồ rằng chính phủ nơi ấy không được thân thiện, ấm áp cho lắm. Mãi đến sau này, khi giở cuốn Miến Điện / Myanmar: Điều ai cũng cần biết thì tôi mới đọc được dòng đầu tiên: “Myanmar có lẽ là quốc gia bí hiểm và khép kín nhất trong thế giới hiện đại, chỉ xếp sau Bắc Triều Tiên.”
“Gần như là cô đang ở thế kỷ trước vậy,” Tyson kể với tôi, nhớ lại nhiều năm về trước ông từng vượt biên qua biên giới Thái vào vùng đất do quân nổi dậy chiếm đóng và thuê quân khởi nghĩa với những khẩu Kalashnikov[*] dẫn mình đi tìm cá trên dòng Tenasserim Lớn. Ông nhớ lại khoảng thời gian kinh hoàng bọn họ đã trải qua khi phải ngụp lặn trên sông giữa cái nắng chang chang và bom cũ của Anh do quân đội Tatmadaw - quân của chính quyền Miến Điện - liệng trên đầu.
[*] Súng trường tự động AK.
“Ông có thấy an toàn không?” Tôi hỏi.
“Tôi cảm thấy an toàn ở mọi nơi tôi từng đến,” Tyson nói, “ngoại trừ việc ngồi đây ngay lúc này. Tôi có thể chết bất kì phút nào.”
Vì chính ông đã khám phá vùng thượng nguồn sông Tenasserim Lớn, ông biết ở đó không có cá rồng. Vậy là chỉ còn nửa dưới hạ nguồn nơi ông chưa bao giờ tới được. Ông cho tôi các chỉ dẫn để lẻn vào một làng chài ông không nhớ nổi tên mà người lạ bị cấm vào và chờ thời gian đủ lâu để thu được lòng tin của dân địa phương. “Nếu cô kể cho họ biết mình theo đuổi cái gì và họ tin cô, thì vậy là đủ. Nếu họ không tin cô thì… tôi cũng chẳng biết được, nhỉ?”
“Tôi sẽ cân nhắc chuyện đó,” rốt cuộc tôi nói, nhưng chỉ để làm ông nguôi ngoai. Mặc dù bị kích thích, tôi đã phải nghĩ ngợi quá lâu về con siêu cấp huyết long đến nỗi không thể ngay lập tức đổi động cơ. Về mặt sinh học mà nói, mấu chốt của cuộc sống chính là độ linh hoạt - khả năng thích ứng, ứng biến, thay đổi chiến thuật ngay giữa chừng - và tôi tuyệt nhiên chẳng có tí lợi thế nào theo thuyết Darwin. Tôi chỉ là con chó đứng dưới gốc cây có con sóc ở trên cành. Tôi sẽ đứng đó cho đến tận tối mịt, đến tận lúc bị lôi vào, rồi lao vào phòng khách, ịn mũi lên lớp kính mà sủa cái cây khiến tất cả mọi người mất ngủ cả đêm. Ví dụ cụ thể: Suốt hai năm trời tôi đã nhìn ra ngoài cửa sổ phòng làm việc của mình, dán mắt vào các cột ống khói và thác nước, qua sông Đông và bên kia Brooklyn, băng qua Đại Tây Dương và sa mạc Sahara, qua bán đảo Ả Rập, Ấn Độ Dương và Biển Đông, tới tận trung tâm đảo Borneo. Nếu Heiko không chịu đưa tôi tới Sentarum, tôi biết rằng rồi mình sẽ tìm ra cách tới đó. Tôi không định thay đổi mục tiêu của mình ngay lúc này. Bất kì suy nghĩ nào về việc chạy theo một loài cá trong lời đồn đại nào đó ở Myanmar sẽ phải chờ đợi.
Tôi tiếp tục cố gắng lái Tyson trở lại đề tài Borneo, tới Sentarum, tới Iban (rõ ràng ông chẳng buồn để tâm đến họ, vì họ không phải là cá), và tất nhiên là tới con siêu cấp huyết long. Nhưng tôi không moi được gì thêm từ ông. Lúc này Tyson đã nói chuyện điện thoại với tôi hơn bốn tiếng. Tôi nghĩ đó là cuộc điện dài nhất trong đời tôi. Tôi tưởng tượng ra ông đang cô đơn và bệnh tật, sắp bị đuổi ra khỏi một căn hộ mốc meo, sặc mùi đậu hầm cháy khét. “Nghe này,” tôi bảo, “ông giữ gìn sức khỏe nhé.”
“À, chết tiệt,” Tyson lẩm bẩm qua ống nói. “Tôi không quá hào hứng với cơ may của mình đâu. Tôi vui khi được kể chuyện xưa, bởi tôi nghĩ mình chỉ có từng ấy.” Nhưng ngay khi nói xong những lời này, ông lại quay về với chủ đề cá rồng Myanmar, con cá cuối cùng sẽ ghi tên ông vào lịch sử các loài vật. Ông đảm bảo với tôi là mình sẽ sống đủ lâu để được mô tả nó. Thực tế, ông còn cam đoan điều đó. Nó là một con cá đáng để người ta phải cố sống vì nó.
❀ ❀ ❀
Suốt gần 250 năm qua, kể từ khi Linnaeus sáng tạo ra nguyên tắc phân loại hiện đại, gần hai triệu loài sinh vật đã được đặt tên và mô tả. Các nhà khoa học không nhất trí được còn bao nhiêu loài để khám phá, nhưng hầu hết các ước tính đều dự đoán con số có thể hơn gấp ba, hoặc còn nhiều hơn thế. Chính EOWilson từng nói: “Tất cả những gì chúng ta biết chắc là ‘chúng ta chỉ mới bắt đầu khám phá sự sống trên Trái Đất.’”
Trong thế kỷ hai mươi mốt này, khám phá ra một loài mới thì khó đến đâu? Chà, điều đó phụ thuộc vào việc bạn đang tìm cái gì. Trong gần hai triệu loài hiện đã được ghi vào sách, khoảng 1,5 triệu là động vật (để phân biệt với thực vật, nấm, vi khuẩn, vi rút và các loại tương tự vốn mới được biết đến rất sơ sài). Trong những loài động vật đã được kiểm kê, phần lớn - khoảng hai phần ba - là côn trùng. Ngày càng có nhiều loài côn trùng được phát hiện hơn số đã được mô tả - theo ước tính là khoảng gấp năm lần. Thế nên tìm kiếm một con bọ thì khá là dễ dàng.
Nhưng nếu bạn muốn phát hiện ra một động vật có xương sống như chính bạn thì tốt nhất là nên theo đuổi một loại cá. Như Malanie Stiassny, ủy viên Ban quản trị ngành Ngư học ở Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Hoa Kỳ đã nói: “Có rất nhiều cá trên hành tinh này. Chúng ta chỉ biết chút ít về một vài loài trong số chúng, còn thì gần như mù tịt về tất cả những loài còn lại.” Đáng ngạc nhiên là thế giới này chứa đựng nhiều cá hơn tất cả các loài có xương sống khác cộng lại. Nói cách khác, bạn có thể cộng toàn bộ loài động vật có vú, chim muông, bò sát và lưỡng cư - đến tận con chim sẻ và kỳ giông, cá sấu và chuột chũi cuối cùng trên đời - thì con số cũng không thể lớn bằng tổng các loại cá. Hiện nay có khoảng ba mươi ngàn loài đã được ghi vào sách, và mỗi năm thêm khoảng 350 loài mới được mô tả.
Việc phát hiện ra một vài loài cá thực sự giống như tiểu thuyết. Trong các trường hợp khác, những loài cá đã được khoa học biết đến bỗng lại được phân chia thành các loài khác nhau dựa trên các quan sát mới. Năm 2003, điều này xảy ra với cá rồng châu Á khi một bài báo trên tờ tạp chí của Pháp lập luận rằng không chỉ có một loại cá rồng duy nhất, mà thật ra là bốn loài. Nghiên cứu này cho rằng sự khác biệt về màu sắc - xanh lá, bạc, vàng và đỏ - hoàn toàn tách biệt các con cá với nhau, cả về mặt di truyền học lẫn hình dáng, đủ để cấu thành các loài khác nhau. Tác giả chính là một nhà ngư học người Pháp trẻ tuổi tên là Laurent Pouyaud, và các phản ứng dữ dội sau đó cho thấy việc định danh cho một loài cá rồng mới có thể gây tranh cãi đến mức nào.
Nghiên cứu của Pouyaud gây ra sự phản đối mạnh như vậy một phần là vì định nghĩa của một loài có tác động to lớn trong việc chúng có đáng được nhận sự bảo vệ vì số lượng sắp tuyệt chủng hay không. Bằng việc phân chia cá rồng châu Á thành bốn loài riêng biệt, Pouyaud quyết định rằng loại màu xanh lá nên giữ nguyên tên gọi Scleropages formosus. Anh đặt tên mới cho ba màu kia - bao gồm cả con siêu cấp huyết long lừng danh - về lý thuyết tước bỏ đặc quyền được bảo vệ của chúng, vì loài cá vừa được đặt tên kia không xuất hiện trong bất kì danh sách chính thức nào của các loài gặp nguy cơ.
Hầu hết giới khoa học phản đối nghiên cứu trên và tiếp tục xem cá rồng châu Á là một chủng loài duy nhất. Tuy nhiên, lý do của họ có lẽ ít liên quan đến khía cạnh khoa học của vấn đề, hay những hậu quả nhãn tiền của nó với loài cá hoang dã, mà là vì bê bối trước đó của Pouyaud cũng về việc đặt lại tên cho một sinh vật nổi danh khác: loài cá vây tay (tên tiếng Anh phát âm là seel-uh-kanth).
Cá vây tay thuộc một bộ cá thường thấy trong các mẫu hóa thạch từ thời tiền sử và được cho là đã tuyệt chủng cùng với loài khủng long, cho đến tận năm 1938, khi một phụ nữ Nam Phi trông thấy một con bị lọt vào mẻ cá đánh bắt ở vùng nước sâu. Con cá dài một mét rưỡi màu xanh nước biển với những cái vây như tay người và “cái đuôi chó cún nhỏ” là một trong những phát hiện đáng kể nhất trong ngành động vật học của thế kỉ hai mươi. Cá vây tay không chỉ là một “hóa thạch sống” (theo cách dùng từ của Darwin), một kẻ bám trụ, một trong những “dấu vết của một bộ sinh vật từng một thời chiếm ưu thế,” mà nó còn trám vào chỗ của “mắt xích” còn thiếu của quá trình tiến hóa từ cá lên động vật trên cạn. Dù nói thế không hoàn toàn chính xác, nhưng đúng là cá vây tay là một loại “cá có vây chân” hiếm thấy, khi vây của chúng mọc từ vùng bụng mập tròn và di chuyển tiến lùi y như chân. Và như thế, nó có liên quan đến loài cá đầu tiên bước ra khỏi mặt nước cách đây 300 triệu năm, đem lại sự trỗi dậy cho tất cả các loài xương sống trên cạn, bao gồm cả chúng ta. Loài cá có vây chân còn sống duy nhất từng được biết đến ngày nay là một loại cá phổi nước ngọt. Một thời gian dài, có hẳn một cuộc tranh cãi kịch liệt xem cá phổi hay cá vây tay mới là họ hàng cá gần nhất với chúng ta.[*]
[*] Năm 2013, cuộc tranh cãi cuối cùng cũng kết thúc khi Trung tâm nghiên cứu của MIT và Harvard giải mã được bộ gen cá vây tay, để trình lên một nhóm các chuyên gia quốc tế phân tích và họ đã kết luận rằng cá phổi chiến thắng. (Ghi chú của tác giả)
Vậy là vào năm 1999, bốn năm trước khi Pouyaud nhắm vào cá rồng, anh ta đã xuất bản một nghiên cứu mô tả hẳn một loài cá vây tay mới sống ở bờ bên kia Ấn Độ Dương, đây đúng là một tin giật gân. Tuy nhiên Pouyaud lại không phải là người thực sự phát hiện ra loài cá này. Thực tế đó là một nhà ngư học người Mỹ có tên là Mark Erdmann. Anh ta đã phát hiện nó trong một khu chợ lúc đi nghỉ tuần trăng mật ở hòn đảo Sulawesi của Indonesia. Buồn thay cho Erdmann, anh ta đã bị vuột mất con cá. Anh đã dành thời gian để tìm con khác - mãi đến gần một năm sau mới thành công. Trong lúc một đội các nhà sinh vật học ở Mỹ phân tích ADN của con cá vây tay thì Pouyaud tiếp cận được một cá thể ở một viện nghiên cứu Indonesia, nơi nó được lưu trữ, và cùng với năm nhà khoa học Indo khác, anh ta mô tả và đặt tên cho con cá, chẳng hề nhắc gì tới người phát hiện ra nó.
Một chuỗi những lời buộc tội vi phạm bản quyền khoa học nối tiếp theo đó. Để đáp trả, Pouyaud cùng hai đồng nghiệp Pháp khác gửi một bức ảnh cho tờ tạp chí Thiên nhiên đầy quyền lực, bức ảnh cho thấy một con cá vây tay Indonesia ở khu chợ cá địa phương từ năm 1995. Hành động này nhằm chứng minh người Pháp đã biết đến nó từ lâu trước Erdmann. Tuy nhiên, ngay trước khi bài báo được in, một nhân viên của Thiên nhiên đã phát hiện ra bức ảnh là giả - nó chính là bức ảnh Erdmann chụp con cá vây tay khó khăn lắm mới tìm được của anh ta, sau khi đã bị chỉnh sửa cho nằm trên một miếng gỗ. Thay cho bài biện hộ, tờ Thiên nhiên đăng một bài vạch trần lời nói dối. Kể từ đó, Pouyaud vẫn còn bị mang tiếng xấu, nên những tuyên bố của anh ta về loài cá rồng châu Á bị phần lớn người trong giới phớt lờ.
❀ ❀ ❀
Vậy là người duy nhất cố tách bạch các chi trong loài cá này đã không gặt hái được nhiều thành công, và kể từ đó chưa có ai đụng tới đề tài này nữa. Tuy nhiên, con cá mà Tyson Roberts kể cho tôi nghe không phải chỉ là một loại biến thể màu sắc - nó còn có hoa văn, một điều dường như ám chỉ rằng nó thực sự là độc nhất. Không lâu sau cuộc nói chuyện của chúng tôi, tôi tìm được một bức ảnh mờ mịt lưu truyền trên mạng về một con cá rồng có những dấu vết lạ lùng như thư pháp trên mình, vì thế mà nó được đặt tên là batik. Không ai biết bức ảnh trên từ đâu ra. Vài người nghĩ nó là ảnh giả.
Tuy nhiên, nếu trên đời này còn một giống cá rồng chưa được biết tới tồn tại, thì hẳn nhiên là nó sẽ ở Myanmar, vùng đất nằm vắt vẻo giữa Trung Quốc và Ấn Độ như hình một chú khỉ, phần đuôi trải dài của nó đặt giữa những dòng nước tối ở biển Andaman và những ngọn núi xanh biếc của Thái Lan. Phần lớn vùng lãnh thổ này đã bị ngăn cách khỏi thế giới bên ngoài từ sau một cuộc đảo chính quân sự năm 1962. Như một người bạn chuyên chơi cá cảnh từng nói với tôi: “Ngày nọ bạn có thể đi vào đó, ngay hôm sau lại không thể ra được.”
Nhưng kể cả nếu con cá kia có tồn tại đi nữa, rất có thể một nhà khoa học ở đâu đó đã thu được một cá thể và đang sẵn sàng mô tả nó. Khả năng này đè nặng trong lòng Tyson, ông đã thúc giục tôi phải điều tra chút ít và hỏi thăm “một cách tinh tế’ về loài cá mới tiềm năng kia. “Nhưng phải hết sức bí mật đấy nhé,” ông cảnh báo. “Đừng có kể với người Singapore, bởi vì bọn họ sẽ thèm con cá đến chết đi được.”
Tôi không cần phải tìm hiểu đâu xa. Chỉ vài tuần sau khi nói chuyện với Tyson, tôi đã quay lại Singapore để tham dự Aquarama lần thứ hai. Trong bữa trưa với nhà sinh vật học phân tử László Orbán của Phòng nghiên cứu Khoa học Sự sống Temasek, tôi đã được biết cả anh ta cũng nghe nói về con cá rồng Myanmar kia - thực tế, anh ta còn nhận được các mẫu vật để phân tích gen.
Trái tim tôi nặng trĩu như một hòn đá chìm xuống nước sâu. Dù lúc đầu tôi chỉ muốn giúp Tyson, nhưng ý tưởng khám phá ra một loài vật mới cũng đã hấp dẫn tôi.
“Con cá đó rất, rất khác với những con còn lại - thậm chí còn đẹp hơn cả những con cô tìm được ở đây,” Orbán nói. Anh là một người Hungary nhẹ nhàng với tình yêu sâu sắc dành cho loài cá, đến nỗi khi nói về chúng mắt anh long lanh hẳn. “Nó có một hoa văn màu sắc rất đặc biệt trên bộ vẩy, thực sự rất đẹp. Tôi chỉ trông thấy vài bức ảnh, nhưng…”
Chờ đã! Chỉ có ảnh thôi à?
Hóa ra Orbán không có mẫu cá nào mà chỉ là hai mẩu nhỏ cắt ra từ vây của nó. Anh ta nói đó là tất cả những gì anh ta cần để phân tích gen. “Có khi còn ít hơn cả lớp đất dưới móng tay cô ấy chứ.” Hai mẩu vây này được một nhà ngư học người Đức tên là Ralf Britz ở Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London gửi tới.
“Tôi cho là ông ta có con cá phải không?” Tôi hỏi.
“Tôi không biết.” Orbán nhún vai. “Cô phải hỏi ông ta.”
❀ ❀ ❀
Khi trở về nhà, tôi gọi ngay cho Ralf Britz ở Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên London. Trên điện thoại ông ta có vẻ khá dễ chịu, hỏi rằng liệu tôi có thể gọi lại sau bốn mươi lăm phút nữa không, rồi vội vã đi về nhà và bỏ mặc tôi đánh vật với cái máy trả lời tự động của ông ta suốt cả buổi sáng hôm ấy, với những cuộc điện thoại gọi cách nhau không lâu. Dù việc này không làm tôi yêu quý gì ông ta cho cam, nhưng lúc ấy tôi vẫn chưa hiểu thế là thế nào. Thay vào đó, tôi chỉ rầu rĩ lập luận rằng chỗ nào có vây thì chỗ đó thường có cá. Hơn nữa, vào thời đại ngày nay, chẳng phải chỉ một miếng vây bé tẹo - một mẩu thịt không hơn - là đủ để một nhà khoa học mô tả về một loài mới? Chẳng phải nó chứa toàn bộ thông tin về con cá ấy dưới dạng ADN hay sao?
Chỉ sau hơn hai tháng và nửa tá email sau đó tôi mới gặp được Britz lần nữa trên điện thoại ở London. Ông ta đã lảng tránh tôi vì không giữ con cá. Ông ta kiếm được mẩu vây đã gửi cho Orbán từ một nguồn nào đó ở Myanmar mà ông từ chối nêu tên. Trong khi ông ta háo hức được mô tả một loài cá rồng mới, ông khăng khăng rằng việc có được toàn bộ cá thể - tức con cá thật - “là tuyệt đối cần thiết.”
Và nó cũng gần như bất khả thi. “Như cô đã biết, Myanmar là một đất nước rất khó tới làm việc,” ông ta nói với tôi bằng trọng âm Đức lạnh lùng. “Con cá này xuất hiện ở dòng sông Tenasserim, mãi trên vùng núi, và khả năng cô tới được đó là rất thấp.”
Ông ta đang nói từ kinh nghiệm bản thân. Ông đã đến Myanmar bảy lần trong thập kỉ vừa qua và vẫn chưa tìm được con cá rồng. Năm kia, khi ông đã nghĩ rốt cuộc mình cũng tới được quê hương của nó thì chính phủ thu hồi giấy phép của ông vào phút chót. “Tôi chưa từng thấy quốc gia nào bị kiểm soát chặt chẽ đến thế,” ông nói. “Họ biết từng đường đi nước bước của tôi.”
Khi nghĩ lại tôi mới thấy điều này không hề có vẻ hứa hẹn gì. Thế nhưng sự bi quan của ông ta hầu như chẳng tác động nổi tôi, bởi trái tim tôi còn đang hân hoan khi nhận ra con cá rồng kia vẫn còn là một mục tiêu có thể theo đuổi. “Ông có nghĩ đó là một loài khác không?” Tôi hỏi.
“Tôi không thể nói trước được,” ông ta nói và chọn lựa từ ngữ thật cẩn thận. “Có thể đúng nhưng cũng có thể không.”
Tôi không chắc quy ước trong chuyện này là gì khi mà có tới hai nhà ngư học cùng theo đuổi một con cá, nhưng vẫn áp dụng ý tưởng mơ hồ, ngây thơ về sự hợp tác vui vẻ, tất cả cùng nhau làm việc vì một nền khoa học tiên tiến hơn. Để nhắm tới mục đích này, tôi hết sức nhẹ nhàng hỏi Britz có biết Tyson Roberts không.
“Cô mà tìm được nhà ngư học nào không biết ông ấy thì tôi sẽ rất ngạc nhiên đấy. Ông ấy là một nhân vật sáng chói. Ai cũng biết ông ấy cả.” Dường như ông ta muốn nói gì thêm, nhưng lại dừng ở đó.
“Ông có biết Heiko Bleher không?” Tôi hỏi.
Britz cười không thoải mái lắm. “Cô liệt kê hết bọn họ rồi! Có, tôi biết Heiko, có chứ.” Lại là sự im lặng kiềm chế đó.
“Thực ra tôi đã hi vọng ông ấy có thể đi cùng tôi để tìm con cá,” tôi thú nhận. “Vì tôi nghĩ nếu có ai đó có thể…”
Britz rên lên và bật ra từ “không.”
“Ông không nghĩ ông ấy làm được à?”
“Có thể ông ta sẽ xoay xở được, nhưng tôi không nghĩ ông ta sẽ làm việc đó một cách hợp pháp,” ông ta nói, chỉ ra tất cả những rào cản cấm xuất khẩu ở Myanmar. “Nếu là cô, tôi sẽ không giao du với ông ta đâu.”
❀ ❀ ❀
QUÁ MUỘN.
Tôi đã kể cho Heiko nghe về con cá rồng Myanmar có hoa văn chữ viết khi gặp ông ở Aquarama mất rồi. Lúc ấy ông đang ngồi uống cà phê, vành mũ cao bồi đội nghiêng tầm mắt, áo sơ mi mở phanh đến tận bụng, tôi thản nhiên thả thính rồi quan sát biểu hiện cá cắn câu gần như không thể nhận biết nổi của ông. Đôi cánh mũi chỉ khẽ phập phồng. Nhưng khi tôi cho ông xem bức ảnh mờ nhòe tôi tìm được trên mạng, ông vươn cả người tới để xem con cá. “Con này đúng là khác,” ông nói.
Tôi tin rằng Heiko là người lí tưởng để theo đuổi một con cá rồng trong tin đồn, vì hai lí do: (1) Có thể nói rằng ông đủ khả năng đi đến bất cứ đâu. Chính Ralf Britz từng kể: “Ông ta đã từng đi đến những nơi mà tôi phải thừa nhận rằng không thể có người thứ hai tới được, bởi sự kiên trì của mình.” Tenasserim - mũi cực nam của Myanmar, một trong những mảnh đất vĩ đại còn chưa được khám phá của thế giới - sẽ là một bài thử thách khả năng thực sự dành cho ông. Và (2), ông sẽ không muốn giữ con cá làm của riêng. Vốn là một nhà tự nhiên học chuyên đi thực tế theo kiểu thời Victoria, ông không mô tả các loài mới mà lại chuyển các loài này đến những nhà khoa học của phòng thí nghiệm, như lúc ông mang con lươn tới cho Tyson làm quà chúc bình phục khi đến thăm ông bạn ở bệnh viện Panama vậy. Còn ai thích hợp hơn Heiko để tìm về cho nhà ngư học vĩ đại niềm vui cuộc đời![*]
[*] Nguyên văn his poisson de résistance, nghĩa là điện trở biến dạng của ông ấy - tác giả chơi chữ.
Tuy nhiên, lúc gặp Heiko, tôi vẫn chưa tìm ra nguồn gốc mẩu vây; và tôi biết ông sẽ không muốn theo đuổi một con cá nếu người khác đã có nó. Thêm vào đó, còn nhiều trở ngại khác phải tính đến.
“CITES tạo ra một rào cản,” Tan Heok Hui - “chàng trai cá” ở Đại học Quốc gia Singapore đã chỉ ra điều này khi tôi đến gặp anh ta. “Đáng ra nó phải điều chỉnh việc buôn bán quốc tế, nhưng thực tế nó lại cản trở nghiên cứu khoa học.” Anh ta kể với tôi rằng làm việc với những loài động thực vật đã được liệt kê trong Sách Đỏ khó khăn tới mức nhiều nhà khoa học đã phải bỏ cuộc ngay từ đầu. Điều đó có nghĩa là một vài loài sinh vật quý hiếm nhất trên thế giới đáng ra phải được chú ý tới thì rốt cuộc lại không được vậy.
Tan cũng biết về con cá rồng batik, nhưng nói anh ta không quan tâm đến việc theo đuổi nó bởi quá nhiều khó khăn về phía giới chức trách. Khi tôi kể với anh rằng chính Tyson đã gợi ý cho tôi đi bắt con cá, Tan bảo: “Không, không, đừng làm thế.”
“Có vẻ như ông ấy nghĩ việc đó dễ như ăn kẹo,” tôi nói.
“Ông ấy nói có vẻ dễ thôi. Nhưng nếu cô bị bắt vì mang con cá về cho ông ấy, thì cô là đồ ngốc.”
Tuy nhiên quan điểm của Tyson là: con cá đâu có được bảo vệ - làm có thể “bảo vệ” một loài hoàn toàn mới mẻ đối với khoa học? Tất nhiên điều này còn phải cân nhắc lại: Không ai có thể nói chắc rằng nó là một loài mới, tách biệt hẳn loài cá rồng châu Á, cho đến khi nó được chính thức mô tả; nhưng làm gì có ai mô tả được nó nếu còn chưa bắt được con nào.
Thêm nữa, không phải CITES là rào cản duy nhất. Theo Công ước về Đa dạng Sinh học, một hiệp định toàn cầu được kí từ đầu những năm 1990, ‘các quốc gia có chủ quyền đối với các tài nguyên sinh học của đất nước họ.” Nói cách khác, Myanmar sở hữu hoàn toàn con cá bản địa này tới tận cái vẩy cuối cùng. Xâm nhập vào đất nước họ và lấy đi dù chỉ một mẩu vây nhỏ mà không được cho phép cũng có thể là vi phạm pháp luật nước sở tại và cấu thành tội ăn cắp nguồn gen, hay ăn cắp sinh học. Đó là lí do Heiko phải vào tù ở Amazon hồi năm 2008 - vì đã cố ra khỏi Brazil cùng với những loài cá được bảo tồn.
Tuy nhiên tôi nghĩ mình sẽ lo vụ giấy tờ sau. Bước đầu tiên là phải khám phá xem liệu con cá rồng Myanmar ấy có tồn tại thật không đã. Khi đã xác nhận được rằng Ralf Britz không sở hữu mẫu vật nào ở London, tôi gửi email cho Heiko để hỏi thẳng ông có muốn đi tìm con cá cùng tôi không, còn nghiêm trang viết thêm rằng: “Tôi nghĩ chúng ta có thể có một đóng góp thật sự cho khoa học vì việc này.” Nhưng có thật tôi nghĩ như thế không? Có thật chuyện này chỉ vì khoa học không?
❀ ❀ ❀
Ngay từ đầu, niềm vinh quang của việc phát hiện và đặt tên cho cá đã là một phần quan trọng trong thú chơi cá cảnh. Đến những năm 1930, rất nhiều loài mới đã gia nhập thương trường. Năm 1935, một cuốn sách hướng dẫn chơi cá của Mỹ đã liệt kê được khoảng 243 loài. Năm 1955, cha đẻ của ngành công nghiệp cá cảnh nhiệt đới là Herbert Axelrod đã cho xuất bản cuốn Sổ tay Các loài cá cảnh nhiệt đới của mình, con số lúc này đã tăng vọt lên thành 410 loài. Các chương giới thiệu tập trung vào việc làm thế nào để thu thập cá từ thiên nhiên, làm thế nào gửi một loài cá chưa được xác định đến chỗ các nhà ngư học để định danh cho nó, và cách người ta đặt tên khoa học cho cá.
Xuất thân trong tầng lớp công nhân ở Bayonne, New Jersey, Axelrod là một nhân vật lập dị và đầy tham vọng. Ông thành lập tờ Tạp chí Người chơi cá cảnh nhiệt đới năm 1952 ở tuổi hai mươi lăm và phát triển nó thành Nhà xuất bản TFH (có biệt danh là Hãng General Motors của thế giới thú cưng), là nơi phát hành những đầu sách như Chuột Mỹ hiện đại và Lợn Guinea cho những ai yêu thích. Ông nổi lên trong thập kỉ sau Đại chiến Thế giới II, đúng lúc vật nuôi trở thành một loại hàng hóa thời thượng - chính ở thời này mà chó thuần hóa trở nên phổ biến và người ta bắt đầu xây dựng các trang trại chó. Cá nhiệt đới không nằm ngoài xu thế. Trước đây người ta bắt chúng từ môi trường tự nhiên và chỉ được vài người nuôi nhân giống trên diện nhỏ lẻ thì nay đã được nhân giống hàng loạt ở các trang trại tại Florida. Axelrod nhanh chóng trở thành người nhân giống vĩ đại nhất thế giới, báo cáo cho rằng ông trữ tới sáu triệu con cá trong năm trang trại gần Tampa. Ở một trong những trang trại này, ông đã thuê chàng trai trẻ mới chân ướt chân ráo từ Brazil sang - anh chàng kiêu ngạo kì diệu có tên Heiko Bleher.
Là huyền thoại đầu tiên trong giới cá cảnh, Axelrod tự nhận mình là một nhà thám hiểm gan dạ. Năm 1965, tờ Sports Illustrated viết rằng ông đã thực hiện hơn bốn mươi cuộc thám hiểm tới Nam Mỹ, châu Phi, châu Úc, quần đảo Fiji, Indonesia, Thái Lan, Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai. Theo lời Axelrod, ông có thể đọc tên bảy ngàn loài cá ngay tại chỗ.
Chính Axelrod là người mang lại danh tiếng cho Heiko với tư cách cộng tác viên của Tạp chí Người chơi cá cảnh nhiệt đới. Trong một khoảng thời gian, hai người thân thiết như cha con. Nhưng rồi đến năm 1976, họ cùng lên đường trên tuyến Cao tốc xuyên Amazon - chuyến đi kết thúc không mấy tốt đẹp. (Heiko buộc tội Axelrod bỏ mặc ông giữa rừng rậm mà không có lương thực dự trữ.) Sau đó họ không nói chuyện với nhau suốt hai năm. Tuy nhiên, đến cuối những năm 1980, họ đã hòa giải và bắt đầu hợp tác trong một cuốn sách về cá mang lại cái kết cho các cuốn sách khác, sách hướng dẫn dễ hiểu về mọi loài cá từng được buôn bán. Nhưng sự cộng tác này cũng kết thúc chua chát và Axelrod đâm đơn kiện người mình bảo trợ. Từ lâu ông đã được tờ Sports Illustrated mô tả là “vô cùng yêu thích việc tranh cãi và kiện tụng.” Một luật sư có quen biết cả hai đã mô tả sự thù địch của Axelrod rất chính xác là vấn đề danh dự: “Herb coi chuyện này là ‘Ta giỏi hơn cậu và có nhiều con cá được đặt theo tên ta hơn cậu,’ rồi ông ấy quyết tâm hủy diệt Heiko.”
Cuối cùng Axelrod thắng kiện. Theo lời Heiko, ông đã mất sạch tiền tiết kiệm trong ba mươi năm và cả bảy ngôi nhà ông sở hữu vào thời đó. Nhưng điều làm ông hối hận nhất là khi mẹ ông mất năm 1991, ông đã không được gặp bà suốt hai năm trời bởi quá bận rộn với việc kiện cáo ở New Jersey.
Trong khi đó, Axelrod kiếm được cả một gia tài giúp ông có khả năng mua trọn bộ bốn nhạc cụ tứ tấu của hãng Stradivari, trị giá 50 triệu đô la. Sau này ông đã hiến tậng toàn bộ số tiền cho Học viện Smithsonian năm 1998. Khung thời gian ấy lại có vẻ hoàn hảo để được giảm một khoản thuế kếch xù khỏi hợp đồng bán công ty TFH của ông trị giá 80 triệu đô la. Tuy nhiên, chẳng bao lâu sau, chính ông lại vướng vào một vụ kiện với người mua công ty, khi họ phát hiện ra các giấy tờ bị làm giả, cáo buộc rằng Axelrod đã dùng công ty để tiêu xài hoang phí cho các dam mê cá nhân từ xì gà cho đến các cô nhân tình. Điều này đã khiến IRS[*] điều tra. Tháng Tư năm 2004, Axelrod, khi đó bảy mươi sáu tuổi, bị chính thức buộc tội trốn thuế và đã trốn chạy tới Cuba. Hai tháng sau, ông ta bị bắt ở Berlin và cuối cùng bị dẫn độ về New Jersey để chịu án mười sáu tháng tù giam.
[*] Cơ quan Thuế Liên bang.
Bất chấp lần xuống dốc này, tên tuổi Axelrod vẫn được vinh danh bất tử với mười sáu loài cá (bao gồm cả một loài cá vây tay đã tuyệt chủng) và cả một chi sinh vật. Nổi tiếng hơn cả trong đó là cá neon đỏ, Cheirodon axelrodi, loài cá cảnh bán chạy nhất mọi thời đại. Axelrod tuyên bố ông đã phát hiện ra loại cá nhỏ bé có cái bụng đỏ rực và một sọc dọc thân như đèn neon ở một nhánh phụ của dòng sông Amazon vào năm 1954. Nhưng sau này Hiệp hội Danh pháp Động vật Quốc tế đã phát hiện ra ông ta mua nó từ một cửa hàng vật nuôi ở New Jersey.
Heiko, đương nhịên, chính là tên gốc để đặt cho loài cá sóc đầu đỏ, Hemigrammus bleheri, theo lời ông thì nó là loại cá bán chạy thứ hai trong mọi thời đại. Tôi hi vọng ông sẽ không thể từ chối cơ hội tăng thêm một cấp cho tấm lưới của mình.
❀ ❀ ❀
Heiko mất hơn một tháng mới trả lời tôi về chuyện Myanmar. Email của ông tới với tôi vào ngày cuối cùng của tháng Tám, ông vừa mới bị tai nạn khủng khiếp, gợi nhớ lại vụ tai nạn của ông với bà mẹ trên dãy Andes từ năm mươi bảy năm trước. “Tôi hết sức xin lỗi vì trả lời cô muộn thế này,” ông viết, “nhưng tôi chỉ vừa trở về tối hôm qua sau một chuyến phiêu lưu hoành tráng băng qua Tajikistan, Uzbekistan, Turkmenistan và Iran. Ở đó tôi đã gặp phải một tai nạn kinh khủng sau những khám phá và cả những nỗi thất vọng ghê gớm. Tai nạn xảy ra Chủ nhật tuần trước, gần biên giới Thổ Nhĩ Kỳ.” (Ghi chú: Tôi đã chỉnh lại tất cả những chỗ viết sai chính tả. Bức thư cứ như được gõ bằng ngón chân cái của ông ấy vậy.)
Heiko đã tới Tajikistan để thu hồi chiếc xe Heikomobile bị hỏng ở đó từ hai năm trước và mới được sửa lại. Tuy nhiên, Tajikistan có thể không phải là nơi đáng tin cậy nhất để sửa một chiếc Mercedes bán cạn đặt chế tạo riêng. Khi Heiko đang phóng xe ra khỏi rặng núi Zagros của miền tây Iran, toàn bộ phần bánh sau - cả trục xe và các thứ - rơi ra, và ông đã bị “văng ra khỏi cửa xe,” ngã giập chân trái, lúc này đang phải bó bột. Ông dính “sẹo (sic) khủng khiếp khắp người,” và “đầu bị khâu (sic) bao nhiêu mũi.”
Tất cả những chuyện này đều khá kịch tính. Thế nhưng, tôi thấy mình vẫn đọc lướt qua những chi tiết rùng rợn như một người đi tìm vàng đang sàng cát cho đến khi mắt tôi tham lam bám lấy một cục quặng vàng ở đoạn gần cuối: “Vâng, tôi rất mong được trở lại Myanmar.” Cụ thể là Heiko rất mong được khám phá vùng đất aqua incognita của mũi cực nam - chính là phần đuôi con khỉ, Tenasserim.
Ông nói rằng vấn đề duy nhất là ông còn tới bốn chuyến thám hiểm nữa phải thực hiện trước tháng Mười hai (với một cái chân bó bột ư?), “và không biết bao nhiêu bài giảng với hội nghị nữa.” Nhưng ông nghĩ mình có thể lên kế hoạch một chuyến đi vào tháng Hai, tức là năm tháng nữa. Lúc ấy sẽ rơi vào mùa khô ở Myanmar, thời điểm ông thích đi thu thập ở đó, vì cá sẽ tập trung nhiều hơn trong khoảng nước hẹp hơn. “Giờ tôi sẽ đi ngủ,” ông viết. “Nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể thực hiện được đấy.”
Tôi thì không dám chắc. Tyson nói thì nghe có vẻ bắt được con cá rồng rất dễ. Tuy nhiên tôi đã khám phá ra rằng dòng sông Tenasserim, nơi được cho là đã tìm thấy con cá, chính là chiến trường của cuộc nội chiến kéo dài nhất thế giới.
Bấy giờ là cuối mùa hè năm 2011. Mùa thu trước đó, Myanmar vừa có cuộc tổng tuyển cử bầu tổng thống đầu tiên trong hai mươi năm, nhưng nó đã bị Liên Hiệp Quốc phủ quyết là gian lận, còn Tổng thống Obama thì lên án là “vừa không dân chủ vừa không công bằng.” Sau cuộc bầu cử, bạo lực lại một lần nữa nổ ra ở các khu vực biên giới. Trong lúc đọc các báo cáo về những cuộc chạm trán và leo thang quân sự giữa các lực lượng của chính phủ và các bộ tộc đòi li khai, tôi lạc lối giữa một rừng các tên viết tắt. Nào là DKBA (Democratic Karen Buddhist Army - Quân đội Phật tử Karen Dân chủ), KNLA (Karen National Liberation Army - Quân đội Giải phóng Quốc gia Karen), KIO (Kachin Independence Organization - Tổ chức Kachin Độc lập), nào KIA (Kachin Independence Army - Quân đội Kachin Độc lập), cộng thêm các nhóm nổi loạn và mujahieen đạo Hồi, tất cả đều đánh nhau với Tatmadaw, quân đội chính phủ Myanmar - trong những thời điểm khác nhau và theo từng liên minh khác nhau.
Hơn nữa, tôi còn có một mối lo ngại khác: Có thể tôi còn chẳng xin nhập cảnh được vào đất nước này. Myanmar nổi tiếng là đất nước thường xuyên từ chối cấp thị thực cho các nhà báo và phóng viên, ngay cả những người tới đó chỉ để đi du lịch. Tôi lo ngại rằng chỉ cần kiểm tra tên tôi trên Google một lần là họ sẽ biết nghề nghiệp của tôi, và tôi sẽ bị từ chối, để cho Heiko đi tìm con cá rồng mà không có tôi.
Vì vậy, vào tháng Chín, tôi đã phải đứng xếp hàng trước Tòa án Dân sự ở thành phố New York, nhận họ của Jeff là Korn, để tôi có thể vào Myanmar với tư cách khách du lịch mà không gây nghi ngờ gì. Vấn đề duy nhất mà tôi sớm biết được là tôi bị buộc phải thông báo công khai việc thay đổi họ này cùng với địa chỉ của mình, thế là tiêu tùng mục đích ẩn danh.
Cách duy nhất để lách luật là tôi đệ đơn thỉnh cầu lên tòa án xin bảo vệ hồ sơ của mình, một lựa chọn vốn được đề ra để dành riêng cho các trường hợp bị bạo hành gia đình. Trong lúc ngồi trên ghế băng cứng ngắc của tòa, chờ đợi thỉnh cầu niêm phong hồ sơ đổi tên của mình được chấp thuận, tôi nghĩ về chuyện mọi người khác ở tòa đã đối xử tử tế khác thường với mình thế nào, nói nhỏ nhẹ ra sao, dù không ai nhìn thẳng vào mắt tôi, mà thay vào đó là lịch sự nhìn vào một điểm nào đó ở phía sau tai tôi. Nếu phải lựa chọn một thời điểm, thì đó chính là giây phút tôi bắt đầu nghi ngờ rằng mối quan hệ của mình với cá rồng không hẳn là lành mạnh 100%.
❀ ❀ ❀
Rốt cuộc tôi cũng được cấp thị thực bốn tuần để tới Myanmar trong tháng Hai, tôi dự định gặp Heiko và đi tìm con cá rồng trong lời đồn cho Tyson. Tuy nhiên, trước đó tôi cũng còn những việc dang dở của chính mình. Mùa mưa vừa mới bắt đầu ở Borneo. Theo ngư dân địa phương, đó là thời điểm vẫn còn có thể bắt được cá rồng trong năm. Tôi quyết tâm một lần nữa tìm hiểu điều gì đã xảy ra với con siêu cấp huyết long.