BORNEO THUỘC INDONESIA - KALIMANTAN
Rốt cuộc, tôi bay về phương nam tới Kalimantan - Borneo thuộc Indonesia - chính nơi ngõ cụt của cuộc truy lùng hai năm trước.
Tuần thứ hai của tháng Mười hai, tôi hạ cánh trở lại thành phố cảng Pontianak và lập tức thấy ấm lòng trước hình ảnh một người đàn ông đang chờ mình ở sân bay - Hery Cheng, người cung cấp cá của Kenny Ông Cá, cũng là người đã cùng tôi đi tới Sentarum năm 2009. Bất chấp cái nóng oi ả miền nhiệt đới, bản “Hãy để tuyết rơi!” vẫn đang được phát trên radio của xe anh.
“Ông già Santa đã ghé thăm Borneo đấy à?” Tôi hỏi trong lúc chúng tôi đi qua thị trấn.
“Có lẽ tôi chính là Santa chăng,” anh nói và nháy mắt. Lần cuối tôi gặp Hery là lúc anh đang li thân, nhưng giờ vợ chồng anh đã tái hợp và đưa cả ba đứa con của họ tới Trung Quốc mừng lễ Giáng sinh. Điều đó có nghĩa là anh không thể trở lại Sentarum cùng tôi. Tuy nhiên, tôi cũng đã vỡ lẽ ra rằng đi cùng một tay buôn cá như Hery có thể mang lại vài nguy cơ. Không chỉ vì khả năng những người bản địa không tin tưởng người Trung Quốc có thể ngăn chúng tôi lại gần mấy cái hồ, mà nếu chúng tôi thực sự tìm được một con Huyết long, không đời nào Hery lại chỉ chụp vài bức ảnh rồi ném nó trở lại mặt nước. Trong lúc uống nước ở trung tâm thương mại, anh cố thuyết phục tôi mang về bất kì con cá rồng nào tôi tìm được. “Chúng sẽ sung sướng hơn nhiều khi ở trong tay tôi!” Anh nói, mắt ánh lên vẻ tinh quái. Anh biện luận rằng con cá sẽ được sống trong một “cung điện” (những cái hồ của anh) và được cho ăn sơn hào hải vị như gián và ếch nhái.
Vì tôi sẽ không đi cùng Hery, tôi sắp xếp để tới Sentarum cùng các thành viên của một tổ chức phi lợi nhuận đặt tại Pontianak tên là Riak Bumi, nhiệm vụ của họ là bảo vệ khu vực hồ và giúp đỡ những người dân quanh đó - hai vấn đề tương phản lẫn nhau. Chỉ bốn ngày sau, tôi đã thấy mình đang ở trên một chiếc thuyền dài màu xanh lá cây, đi qua hòn đảo nhỏ Pulau Melayu, nơi mà công cuộc tìm kiếm của tôi đã kết thúc năm 2009. Đi cùng tôi là ba người đàn ông thuộc nhóm Riak Bumi: một chàng trai trẻ trung thực và thích phiêu lưu tên Hermanto, anh đã đi cùng tôi từ Pontianak, và hai người địa phương khác: Pa Itam, ông cụ độc thân sáu mươi tuổi mặc chiếc áo khoác NEW YORK màu xám, và Jim Sambi, một anh chàng ngoài ba mươi tuổi dẻo dai, đã từng chén món cá rồng trong bữa tối từ thuở thơ bé. Lần này tôi sẽ trông thấy Sentarum cùng những con người coi nó là nhà.
Ngồi ở mạn đuôi thuyền, Pa Itam khéo léo đưa chúng tôi qua hồ vào khu rừng ngập nước, một mê cung những bụi cây nổi lên từ con nước đen ngòm. Chẳng bao lâu sau mấy cái thân cây đầy mấu đã cao hơn mặt nước, những thân dây leo uốn éo che khuất tầm nhìn. Hướng nào cũng giống hệt như nhau. Hồi giữa những năm 1980, nhà sinh thái học người Hà Lan Wim Giesen, người đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về khu vực hồ này, đã viết trong một bản báo cáo gửi Quỹ Thiên nhiên hoang dã Thế giới như sau: “Phần lớn thời gian trong một năm, những cái hồ này tạo thành một mê cung lối đi trên mặt nước và vùng nước mở phức tạp, việc định hướng ở đây rất nguy hiểm. Bản đồ cũng chẳng giúp được gì.” Nếu Pa Itam có đang đi theo một con đường hẳn hoi thì tôi cũng mù tịt; nhưng ông đã lội qua những con nước này từ hồi thập niên 70.
Công viên Quốc gia Danau Sentarum như chúng ta biết ngày nay vốn là tám mươi ba cái hồ nước đen được nối lại với nhau bằng những khu rừng ngập nước, bao gồm một trong những hệ thống hồ nước ngọt đa dạng sinh vật nhất trên trái đất. Những loài chim nước kiêu hãnh vụt bay trên đầu chúng tôi. Ẩn nấp trong khu rừng ngập nước là hai trong số những loài bản địa nổi tiếng nhất của đảo Borneo, đười ươi và khỉ mũi vòi, cùng với ba loài cá sấu đặc chủng. Thế nhưng, Sentarum vẫn có thể lặng lẽ và yên bình một cách vờ vịt, mặt hồ của nó phẳng lặng khôn dò như một tấm gương màu đen.
Tới mùa hè, mực nước xuống thấp tới khoảng mười hai mét, khi các dòng sông nhỏ chảy vào dòng Kapuas rộng lớn, hút cạn những cái hồ theo mùa đến mức người ta có thể lái xe máy ngang qua đầm lầy còn lại. Tuy nhiên, trong mùa mưa, - lúc tôi tới vào tháng Mười hai năm đó thì đang vào giữa mùa - những dòng sông này chảy ngược lại, đóng vai trò là những cái van xả lũ cho dòng Kapuas. Vào mùa đông, hơn 90% vùng đất Sentarum chìm trong nước, khiến người ta cảm tưởng đây là một đại dương trong đất liền.
Dù có vẻ ngoài không mấy hiếu khách, thực ra cái đầm này đã có lịch sử cư trú từ lâu đời. Bằng chứng về các hoạt động của con người ở nơi này đã có niên tại từ ba mươi nghìn năm trước, dựa trên mức độ cacbon trong than bùn, cho thấy có nhiều hoạt động đốt lửa hơn chứ không chỉ là do biến động khí hậu. Ngày nay, có hai nhóm người chính sống tại Sentarum, nhóm đông nhất là người Mã Lai, hậu duệ của những thương nhân Hồi giáo đã đi tới tận thượng nguồn hồi thế kỉ mười bảy và những người Dayak bản xứ đã được họ đồng hóa. Tiếp theo là những người Dayaks không cải theo đạo Hồi, phần lớn trong số họ thuộc về tộc Iban. Kể từ năm 1970, đa số những người dân tộc này lại gia nhập Công giáo. Trong phái đoàn nhỏ bé của chúng tôi, Pa Itam là người Mã Lai còn Jim và Hermanto đều là người Iban.
Năm 1982, Sentarum được quy hoạch thành khu bảo tồn thiên nhiên chủ yếu vì nó được coi là môi trường sinh sống quý giá của loài cá rồng. Bốn năm sau, khi Wim Giesen - một nhà nghiên cứu thực địa nay đã “gác kiếm” - đặt chân tới đây, “nơi đó thực sự chỉ là một khoảng trống trên bản đồ,” ông kể với tôi như vậy khi tôi gọi điện lúc ông đang nghiên cứu tại quê nhà ở Hà Lan. “Tôi đã nghĩ mình sẽ cắm trại tại đó, nhưng làm gì có chỗ đất khô nào.” Thay vào đó, ông phải sống trên một cái nhà bè và phải nhảy xuống mặt nước tám mươi mấy độ F[*] để bơi hay kéo bè. “Đổ mồ hôi ở dưới nước đúng là một chuyện kì lạ,” ông nhớ lại.
[*] Khoảng 30°C.
Giesen đã rất ngạc nhiên khi phát hiện có tới ba ngàn người sinh sống bên trong đầm, rất nhiều gia đình trong số đó đã sinh sống ở đây nhiều thế hệ. Từ ấy đến giờ, khi những tuyến đường buôn lậu mở rộng trong khu vực này, dân số đã tăng hơn gấp ba lần. Trong mùa đánh bắt cá, những gia đình du mục đến từ các ngôi làng ở hạ nguồn trên các nhà bè. Với lượng người gia tăng này, dân số của loài cá giảm đi đáng kể. Đến giữa những năm 2000, lượng cá đánh bắt được đã giảm 40% so với cuối thập kỉ 1990.
Thi thoảng, chúng tôi đi ngang qua một vài mái nhà xây trên những cây cột trên mặt nước. Ông Pa Itam gợi ý cả đoàn nghỉ chân qua đêm ở nhà cháu gái ông, và ngay trước khi trời tối, chúng tôi đã tới một cái làng bé xíu, nơi mái ngói xanh trắng của nhà thờ Hồi giáo lấp lánh trong ánh chiều tà. Vì ở quá gần xích đạo, nơi này hiếm khi có buổi chạng vạng, và ngày chuyển sang đêm trong chớp mắt như thể tắt công tắc đèn. Bóng tối đã phủ kín trong lúc chúng tôi len lỏi qua những cái bè trôi nổi và loạng choạng trèo qua mấy tấm ván trơn trượt. Chỉ mới một năm trước, nơi này còn chưa có điện đóm gì; giờ thì máy phát đang chạy ầm ầm và mấy bóng đèn neon không có chụp toả ánh sáng nhợt nhạt trên lớp ván gỗ.
Bên trong một ngôi nhà gỗ mái nhọn và được trang trí bằng vỏ sò, Pa Itam ngồi thẳng xuống nền nhà trước mặt cái ti vi, đặt mũ lên đầu gối, châm một điếu thuốc và ôm ghì lấy thằng cháu họ Adi Muhammad Akbar khi nó đi qua. Một chương trình thời sự đang phát thông tin cảnh sát đã bắn chết bốn người biểu tình phản đối các trang trại trồng cọ dầu ở Sumatra.
Bữa tối, cô cháu gái Pa Itam trong bộ tạp dề mang ra các món cá khô, canh cá và cá chiên giòn rụm như thịt xông khói, cùng một món rau xanh rất ngon có tên là dương xỉ xương cá. Cả đám chúng tôi quây thành vòng tròn, ngồi ăn ngay trên nền nhà. Chẳng bao lâu căn phòng đã chật cứng những người hàng xóm trong làng, họ tò mò khi thấy người lạ tới. Một bà mẹ gầy gò vung vẩy cây nhang trong không khí để bảo vệ đứa bé bế trên tay.
“Nhang chống muỗi à?” Tôi hỏi.
“Không,” Jim nói, “chống tà ma đấy.” Rồi anh nhún vai. “Tất nhiên cả chống muỗi nữa.”
Theo lời ông Pa Itam, làng này là nơi đầu tiên những người ngoài đến để tìm siêu cấp huyết long. Khi các thương nhân Trung Quốc tới năm 1982, chính ông đã đưa họ tới đây để khảo sát người dân. Sau chuyến khám phá đó, một trong những người nọ quay trở lại trên thuyền dài và mang theo một cái máy phát điện cùng máy chiếu phim, mời mọi người trong làng xem một bộ phim tối hôm đó. Cả làng tụ tập vì sự kiện lớn ấy. Trong lúc đó, tay lái buôn kia chuồn ra hồ bằng cái thuyền của gã và bắt hết số cá rồng gã có thể chở được. Ba thập kỉ sau, vết thương của vụ đó vẫn còn chưa lành trong lòng mọi người.
“Phim đó là gì thế?” Tôi hỏi.
“Rambo,” tất cả cùng đồng thanh trả lời.
Một người đàn ông da đen với đôi mắt như hình cái đĩa lắc đầu hối tiếc và nói bằng tiếng Mã Lai. “Đã từng có rất, rất nhiều cá rồng ở đây,” Jim phiên dịch. “Không phải hàng ngàn, mà là hàng triệu.” Thế nhưng chỉ vài năm sau thì loài siêu cấp huyết long đã bị khai thác cạn kiệt. Theo lời Wim Giesen, vào thời điểm chuyến đi năm 1986 của ông ta, việc tìm một con cá thôi cũng khó khăn như “tìm vàng” rồi. Khi ông đến thăm các làng bản xứ, người dân sẽ chỉ vào một ngôi nhà mới hay chiếc thuyền mới mà bảo rằng người chủ đã mua được nó sau khi bắt được một con cá rồng. Bản thân Giesen thì chưa bao giờ trông thấy một con cá hoang dã nào.
Đến năm 1990, theo lời dân làng, một con cá rồng có giá từ 1,2 đến 1,3 triệu rupiah, tương đương với hơn 500 đô la Mỹ. Họ đoán rằng giờ đây con số đó phải cao gấp năm lần - nếu ai đó tìm được một con. Nhưng cá rồng đã biến mất sạch. Họ bắt được một con năm 2007, một con năm 2008, và một con vào năm 2009. Kể từ đó, ba năm rồi họ không trông thấy một con cá rồng nào.
❀ ❀ ❀
Sáng hôm sau, trong lúc chúng tôi chào tạm biệt cháu gái của Pa Itam và lại khởi hành trên dòng nước đen, tôi nhìn xuống dòng chảy êm ả và tự hỏi, nếu đã quá lâu mà chưa có ai lại thấy con siêu cấp huyết long, phải chăng nó đã biến mất thật?
Còn một nơi cuối cùng để tìm câu trả lời - những người Iban ở Nhà dài Meliau, nhóm kiểm soát trại nuôi cá rồng nổi tiếng nhất trên mảnh đất Sentarum.
Ngay khi cái nóng của mặt trời ban trưa bắt đầu thiêu đốt, chúng tôi trông thấy đích đến của mình sau một khúc quanh trên sông. Ngôi nhà dài bằng cỡ hai toa tàu hoả và đứng sừng sững trên mấy cái cột, nó là một tập hợp lộn xộn của gỗ màu xám và các tấm tôn gợn sóng. Các dây phơi đầy quần áo chăng khắp bên ngoài nhà như những lá cờ.
Sau khi neo thuyền ở một cái bè nổi và trèo lên bậc thang ọp ẹp, chúng tôi ngó vào trong - một hành lang rộng rãi, mát mẻ nối liền mười ba cánh cửa, sau mỗi cánh cửa là một hộ gia đình. Một người đàn bà có búi tóc bạc trông thấy Jim và vui vẻ kêu lên bằng tiếng Iban: “Mày lớn quá rồi!” Rồi bà ta nhìn từ đầu đến chân tôi và hỏi: “Cô ta tới bắt cá đấy à?”
Khi Jim giải thích rằng chúng tôi tới để tìm cá rồng hoang dã, chúng tôi biết được một tin quan trọng. Hai tháng trước, một thợ câu cá người Mỹ tên là Robert đã đi qua làng này trên đường săn tìm cá lóc. Nổi tiếng là loài cá hung dữ, lũ cá lóc có thân dài hình trụ với cái miệng rộng đầy răng sắc. Chúng có nguồn gốc từ châu Á và châu Phi, cực giỏi thích ứng với môi trường ngoài lãnh thổ tự nhiên của mình - thậm chí chúng có khả năng sống sót trên cạn tới bốn ngày. Người ta cũng biết là chúng có thể trườn trên đất để tìm đường giữa hai con nước cách nhau tới 400 mét. Năm 2002, loại cá này xuất hiện trong một cái hồ ở Crofton, Maryland, được cho là đã lang thang ra khỏi một khu chợ đồ tươi sống châu Á. Cơn kích động sau đó không chỉ gợi cảm hứng cho một mà là tới ba bộ phim hạng B: Nỗi kinh hoàng cá đầu rắn[*], Frankenfish[*] và Đầm cá đầu rắn.
[*] Tên tiếng Anh của cá lóc là snakeheard fish.
[*] Nhại lại tên nhân vật trong phim kinh dị Frankenstein.
Vậy nên Robert đã đi xa tới tận chốn này vì cái thú câu được một sinh vật khét tiếng như vậy. Thay vào đó, trong ngày đi câu thứ ba, anh ta đã tóm được một con siêu cấp huyết long khổng lồ cỡ bằng một chiếc giày trượt tuyết, thân lấp lánh và giãy giụa không ngừng. Anh ta chẳng biết nó là giống gì, nhưng người dẫn đường của anh ta, một chàng trai trẻ đến từ nhà dài này, đã khôn ngoan chụp một bức ảnh trước khi thả nó ra. Tôi săm soi bức ảnh anh thợ câu da trắng to lớn đội mũ có miếng che gáy, đang giơ cao một con cá màu đỏ cam, miệng bị bóp há ra, mang phồng lên. Một bên mắt cá trông thấy được đang lườm vào máy ảnh.
Tôi ước mình có thể nói rằng tôi đã lập tức thấy vui mừng khi nghe nói con siêu cấp huyết long tái xuất hiện, rằng trái tim tôi ngập tràn vui sướng khi biết nó chưa bị tuyệt diệt trong đầm lầy. Trong ngần ấy năm, biết bao nhiêu loại người đã săn đuổi giống loài này, vậy mà một con quái vật to lớn như thế đã trốn được hầu hết, còn ngày càng phát triển và đỏ đậm hơn. Nhưng phản ứng đầu tiên của tôi lại là:
Anh ta đã đánh bại mình.
Không chỉ thế - tôi còn để thua một người Mỹ chỉ đang đi nghỉ. Trong lúc cố tiêu hoá cái tin khó nuốt này, tôi nhìn kĩ hơn bức ảnh và trông thấy con cá ấy như đang ngậm thìa trong miệng. “Robert dùng một cái thìa để bắt con cá ấy,” Jim giải thích.
“Tại sao con cá lại cố ăn một cái thìa cơ chứ?” Tôi hỏi.
“Cá nào chẳng cố ngậm thìa.”
“Nhưng thìa có ăn được đâu!” Tôi phản đối.
Đây có lẽ là lúc thích hợp để thú nhận rằng trong đời tôi chưa một lần đi câu cá. Rõ ràng điều cơ bản nhất của cơ bản là có rất nhiều loài cá bị hấp dẫn bởi một thứ lấp lánh trong ánh sáng mặt trời, chẳng hạn như một cái thìa được buộc vào móc câu. Và cũng rõ ràng là cá rồng không phải ngoại lệ. Tôi thì chẳng biết phải làm gì với mẩu thông tin này.
Tôi đã luôn nghe nói rằng cách tốt nhất để săn loài này là dùng một chiếc đèn pin chiếu xuống nước tìm kiếm đôi mắt nó lấp lánh gần mặt nước vào ban đêm. Theo lẽ tự nhiên, tôi muốn người dẫn đường của Robert - chàng trai trẻ có tên là Sodik với một hình xăm mèo hoang đang nhe nanh trên lưng - dẫn tôi ra hồ vào tối hôm đó. Tuy nhiên, khi tôi đề nghị, cậu ta có vẻ đau khổ và bảo giá hôm đó không phải đêm Giáng sinh thì cậu ta sẵn lòng.
Tôi thấy hoang mang. Hôm ấy mới là 14 tháng Mười hai.
Về sau tôi được biết Giáng sinh ở Sentarum đến sớm. Như phần lớn những người Dayak khác ở đảo Borneo, tộc Iban ở Meliau cũng đã cải đạo sang Công giáo, và cả cái đầm này chỉ có duy nhất một người giảng đạo, chịu trách nhiệm mang ngày lễ tới cho khoảng hai mươi tư ngôi làng cách xa nhau nhiều giờ đi thuyền. Mỗi năm, kể từ tháng Mười, nhà thuyết giáo sẽ đi từ nhà dài này đến nhà dài khác. Ngày mai, theo lịch ông ta sẽ ghé Meliau, và các thành viên trong nhà đều trở về dự lễ, rất nhiều người trở về từ Malaysia, nơi họ làm việc trong các công ty khai thác gỗ và xây dựng.
Một vấn đề khác trong việc thuyết phục ai đó mạo hiểm ra ngoài sau khi trời tối là không ai còn đi săn cá rồng theo cách đó nữa. Khả năng tìm được cá thấp đến nỗi họ thấy không đáng phải thực hiện chuyến đi như thế. Thực ra, ngư dân duy nhất còn biết cách câu cá cũ thì nay đã bị mù.
Tuy nhiên, rốt cuộc vẫn có một người đàn ông cao lớn, khắc khổ tên là Badong đồng ý dẫn tôi đi, miễn là tôi không có ý định ở lì ngoài đó đến tận khi thực sự định vị được một con cá rồng. Xét cho cùng, đã mười năm nay ông ta có bắt được con nào đâu. Jim và Hermanto đều nói họ sẽ đi cùng, vậy là đêm đó cả bốn chúng tôi ngồi bó gối trên thuyền, choàng áo poncho màu xanh và đội mũ nan khi cơn mưa nhỏ bắt đầu. Chẳng bao lâu, mây đã che mờ mặt trăng và bóng đen hoàn toàn bao phủ chúng tôi. Badong bật bóng đèn đeo trên trán lên, nó chiếu sáng một đường hầm xuyên qua những thân dây leo vắt ngang tầm mắt và kêu to lời cảnh báo át tiếng động cơ: Đôi khi lũ rắn sẽ thả mình xuống từ trên cây do bị ánh sáng thu hút. Nếu chuyện ấy xảy ra, anh ta bảo, tốt nhất là nhảy ra khỏi thuyền.
Trong giây phút đó, khi nhớ lại những gì đã đọc về loài trăn da lưới châu Á (loại rắn dài nhất thế giới, có thể lên tới sáu mét), cũng như những vụ sét đánh, cá sấu và cả một trường hợp có thật là đười ươi hiếp dâm phụ nữ, tôi bắt đầu chùn bước về việc mình đang làm ở Borneo này. Bác sĩ của tôi đã cảnh báo về việc không nên nhúng mình xuống nước, bởi các loại kí sinh trùng trong ốc có thể gây ra bệnh bại liệt vĩnh viễn. Tôi còn định mạo hiểm đến thế nào nữa để theo đuổi một con cá mà thậm chí tôi còn không cho là đẹp? Đến lúc này, loài cá rồng chỉ gợi lên trong tôi cảm xúc khinh ghét công khai và nỗi oán giận khó chịu, y như bà Ida Pfeiffer với bất cứ thứ gì trên đời mà bà vô tình gặp phải. Tôi đang đuổi theo con siêu cấp huyết long như một tay cảnh sát trưởng săn đuổi kẻ tội phạm vậy.
Mải mê với những suy nghĩ này, và không thể nhìn quá vài mét phía trước mũi thuyền, tôi không nhận ra chúng tôi đã tới nơi cho đến khi Badong tắt động cơ và lặng lẽ chèo vào một rừng ngập mặn. Trong vòng tròn ánh sáng mờ mờ từ cái đèn trên trán anh ta, tôi nhận ra loại cây hình cái quạt trong cuốn sách mà ông Kamihata đáng kính (“nhà thám hiểm số hai thế giới”) đã tặng tôi ở Aquarama. Đó là cây sắn - loại cây mà những phụ nữ Iban dùng để dệt chiếu, còn đàn ông dùng làm vật trang sức truyền thống cho dương vật (tôi đọc thấy như vậy). Đó cũng là loại cây mà con cá rồng tìm kiếm trong kì sinh sản, những rễ cây cung cấp chốn trú ngụ tuyệt vời để trốn tránh, săn mồi và nhảy bật lên.
Badong chiếu đèn xuống dưới hồ, tìm đôi mắt con cá rồng, nhưng cơn mưa lúc này đã nặng hạt hơn, giội nước xuống mũ của chúng tôi. Bất chấp mưa to, những loại côn trùng có cánh bu quanh ánh đèn càng làm mọi thứ khó nhìn hơn. Nheo mắt trông xuống khoảng nước đục ngầu, tôi nhớ lại Heiko từng kể chuyện lặn đêm ở đây mà không có một dụng cụ hỗ trợ nào mà rùng mình. Tôi nghĩ chắc chắn ông sẽ biết phải làm gì trong tình huống này. Còn tôi thì mù tịt.
Sau khoảng một tiếng quần thảo đám cây rừng ngập mặn bằng đèn pin, nước mưa bắt đầu ngập đến chân chúng tôi, Jim và Hermanto trông ướt nhẹp đến tội nghiệp. Tôi không định làm người bỏ cuộc đầu tiên. Nhưng khi Badong hỏi tôi đã thỏa mãn chưa, tôi thấy nhẹ nhõm hẳn. “Hơi khó kiếm vì mực nước lên cao rồi,” anh ta bảo tôi thông qua Jim làm phiên dịch. “Mùa khô thì dễ hơn nhiều.” Lời khuyên này hơi khó nghe bởi tôi đã từng băng qua cả Borneo trong một mùa khô nọ, chỉ để được khuyên phải trở lại vào mùa mưa, sau đó tôi đã phải nghiên cứu tỉ mỉ các hình thái thời tiết và đảo lộn quá trình di chuyển để đảm bảo quay lại đây đúng vào mùa nước nổi cao nhất. Có lẽ giờ đây chẳng còn mùa nào trong năm thích hợp để đi tìm Huyết long nữa.
Đêm đó, sau khi tôi đã thay quần áo khô và làm cả gia đình ấy sợ chết khiếp lúc tháo kính áp tròng, tôi được nằm nghỉ trên một tấm đệm hoa ở phòng khách nhà họ. Trong lúc nghĩ ngợi về những sự kiện ngày hôm đó, tôi nhớ tới Ida Pfeiffer và tự hỏi có cái sọ người nào treo trên xà nhà hay không. Jim kể với tôi rằng các gia đình trong nhà dài vẫn còn giữ lại chúng - rằng anh ta đã lớn lên trong một căn phòng đầy sọ người. Dù một phần trong tôi đã đồng tình với cuốn sách hướng dẫn là “đã đến lúc để vụ săn người ở đảo Borneo âm thầm chìm vào sự lãng quên,” tôi vẫn tò mò muốn xem vài cái sọ, và Jim đã đồng ý hỏi loanh quanh giúp tôi.
Nhưng anh ta chẳng nhờ vả được ai. Một bộ gồm bảy cái sọ vừa bị tiêu huỷ trong trận hoả hoạn. Một bộ sưu tập khác thuộc về một phụ nữ có chồng đang đi vắng, và bà ta quá sợ không dám cho chúng tôi xem các chứng tích ấy. Bà ta không sợ sọ người mà sợ một cái sọ rất đặc biệt - sọ của một naga, một loài rồng của bộ tộc Iban. Khi tôi hỏi trông nó thế nào, bà ta cân nhắc một lát, ước lượng kích thước bằng đôi bàn tay rồi nói gì đó với Jim, anh ta dịch lại như sau: “Giống một cái đầu chó.” Ở gia đình cuối cùng Jim tới hỏi, một bà già kể với chúng tôi rằng những cái sọ bà được kế thừa từ cha bà, cha thì nhận từ ông nội bà, được cất trong một cái hộp kín mà bà chưa bao giờ mở ra. Chưa từng một lần. Thậm chí ông nội bà cũng chưa dám nhìn vào trong đó lần nào.
Ngủ thiếp đi, tôi khẽ giật mình tỉnh giấc khi nghe tiếng người đến gần. Nhưng đó chỉ là bà cụ chủ nhà tới để giắt lại cái màn chống muỗi màu hồng mà cụ đã mắc cho tôi.
❀ ❀ ❀
Khi Ida Pfeiffer rời Sentarum năm 1852 và bắt đầu chuyến hành trình dài xuôi dòng sông Kapuas vĩ đại, một cảm xúc lạ lùng đã đến với bà. Sau khi dành cả một thập kỉ tìm kiếm lỗi lầm ở gần như mọi nền văn hoá bà chạm mặt khắp địa cầu, bà lại phát hiện ra mình thực sự mến tộc săn người Dayak ở Borneo và thấy tiếc khi phải chia tay họ. Bà thấy họ là những người trung thực, tốt bụng, khiêm nhường, yêu thương con trẻ và kính trọng người già. “Tôi thấy mình buộc phải đặt họ cao hơn bất kì giống người nào mà tôi từng biết.”
Còn về cái thực tế nho nhỏ là họ cắt và bảo quản thủ cấp kẻ thù, bà không thể không nghĩ người Âu châu cũng tệ như thế hay còn hơn. “Chẳng phải mỗi trang sử của chúng ta cũng chứa đầy những hành động phản trắc và sát nhân hay sao?” Bà viết, nhắc đến chuyện Napoléon có thể đã trang trí cả cung điện Versailles bằng hộp sọ của hàng triệu người.
Ida những muốn ở lại lâu hơn với người Dayak. Nếu làm vậy, có thể bà đã bắt gặp con siêu cấp huyết long. Tuy nhiên, bà sẽ không phải là người “khám phá” ra loài cá này, bởi một nhà tự nhiên học người Đức là Salomon Müller đã tìm ra nó, dù là phiên bản màu xanh, ở sông Barito dưới phương nam từ mười sáu năm trước đó, năm 1836. Hành trình qua Tây Ấn của Müller là một tấn thảm kịch. Cả bốn đồng nghiệp nghiên cứu khoa học của ông đều bị chết, ba người chết bệnh còn một người chết trong cuộc nổi dậy ở đảo Java. Thực tế, trong số mười tám nhà nghiên cứu được Hiệp hội Lịch sử Tự nhiên vùng Tây Ấn do Hà Lan cử tới khu vực này trong ba mươi năm, chỉ có bảy người sống sót trở về châu Âu. Müller may mắn là một trong số họ, an toàn quay về Hà Lan, tại đây ông đã chuyển ít nhất sáu con cá rồng châu Á được bảo quản tới chỗ người đồng nghiệp Hermann Schlegel ở Viện bảo tàng Lịch sử Tự nhiên tại Leiden. Năm 1840, Müller và Schlegel cho xuất bản bản mô tả con cá dưới cái tên Osteoglossum formosum, cũng cùng chi cá rồng Nam Mỹ và chọn tên Latin cho nó là Formosum, nghĩa là “xinh đẹp.” (Loài này về sau được phân lại thành Scleropages formosus, sau khi người ta khám phá ra thêm hai giống cá rồng châu Úc có nhiều điểm tương đồng hơn.) “Loại cá này rất phổ biến,” Müller và Schlegel đã viết. “Thịt của nó không ngon lắm và hơi khô.” Bài nghiên cứu này là một dấu mốc, đánh dấu loại cá đầu tiên của đảo Borneo được mô tả.
Có thể Ida đã để lỡ mất con siêu cấp huyết long bơi qua phía dưới lớp váy lót của bà, nhưng bà thực sự có mang về một bộ sưu tập cá cho nhà ngư học nổi tiếng nhất thể kỉ 19, vị bác sĩ quân y Pieter Bleeker đồn trú ở Batavia, thành phố Jarkata ngày nay. Để thể hiện lòng biết ơn, Bleeker đã đặt tên cho một loài mới theo tên bà: Engraulis pfeifferi, loại cá lẹp[*] đầu ngắn. Than ôi, hoá ra ai đó đã mô tả loài này mất rồi, và niềm vinh dự được trở nên bất tử cùng với một loài cá cơm đã bị tước đoạt từ Ida. Vậy là ngay từ thời ấy, việc tìm ra một cái gì đó mới mẻ thực sự cũng đã rất khó khăn rồi.
[*] Một giống thuộc họ cá cơm.
❀ ❀ ❀
Đối thủ cạnh tranh vô tình của Darwin là Alfred Russel Wallace lại không gặp phải vấn đề tương tự. Sau tám năm ở Archipelago Mã Lai, cuối cùng ông cũng trở về London năm 1862 cùng con số choáng váng 125.660 mẫu vật, trong đó hơn một ngàn loài là giống mới. Trong tất cả những điều xinh đẹp Wallace đã để mắt đến, có lẽ không loài nào khiến ông xúc động sâu sắc hơn một loại chim vua của xứ sở thiên đường trông giống như đá quý mà ông đã bắt gặp ở hòn đảo Aru hẻo lánh. Sau này ông đã viết về sinh vật ngoại lai đẹp mê hoặc có bộ lông màu đỏ son với bộ ngực trắng muốt, một vòng xanh lục đậm và cái đuôi dài mười lăm phân với phần chóp đuôi xoắn ốc như sau:
Tôi biết số người châu Âu từng được cẩm trên tay sinh vật bé nhỏ hoàn hảo mà giờ tôi đang được ngắm nhìn đây ít ỏi đến thế nào, và những gì người ta biết về nó ở Âu châu còn khiếm khuyết ra sao… Tôi nghĩ về những năm tháng dài trong quá khứ, khi từng thế hệ loài sinh vật bé nhỏ này ngự trị trên ngai của chúng - năm này qua năm khác được sinh ra, lớn lên và chết đi giữa những cánh rừng tối tăm u ám, mà không có một đôi mắt trí tuệ nào nhìn ra sự đáng yêu của chúng; thật là một sự hoài phí cái đẹp vô cùng. Những ý nghĩ như thế làm nảy sinh cảm giác độc chiếm. Thật buồn vì một mặt những sinh vật tuyệt vời như thế này chỉ sống cuộc đời chúng và phô diễn những nét quyến rũ của chúng trong các khu vực hoang dã không gọi mời quần chúng, những nơi bị diệt vong từ trước cả thời kì man di mọi rợ; mặt khác, nếu loài người văn minh có bao giờ đặt chân đến những vùng đất xa xôi này, và mang theo ánh sáng đạo đức, trí tuệ và vật chất tới chốn thâm sơn nguyên sinh này, chúng ta có thể chắc chắn rằng người đó sẽ làm xáo trộn những mối quan hệ cân bằng hoàn hảo của thiên nhiên hữu cơ và phi hữu cơ nơi đây đến mức gây ra sự biến mất, và cuối cùng là tuyệt chủng, của những sinh vật mang cấu trúc và vẻ đẹp tuyệt vời mà chỉ mình anh ta mới đủ tư cách tán dương và tận hưởng. Sự cân nhắc này chắc chắn phải nhắn nhủ chúng ta rằng mọi sinh vật trên đời đều không được tạo ra cho loài người.
Tổng kết trên chính là hình ảnh thấy trước của thế giới về sau này, khi cụm từ “một sự hoài phí vẻ đẹp vô cùng” không còn gợi người ta nhớ đến loài chim chưa được khám phá, mà là vô vàn những sinh vật đã bị huỷ diệt vì chính sự cô đơn của chúng. Mục đích của vẻ đẹp này đã trở thành đề tài tranh cãi căng thẳng giữa Wallace và Darwin, vì Wallace không bao giờ chấp nhận lý thuyết của Darwin về sự chọn lọc giới tính, ý tưởng rằng cuộc cạnh tranh để được giao phối đã mang lại những kết quả huy hoàng như đuôi loài công. Thay vào đó, Wallace tin rằng màu sắc loài vật được quyết định bởi thuyết vị lợi và chủ yếu là vấn đề cải trang hoặc cảnh báo. Với Wallace, sự tiến hoá không bao giờ có thể giải thích đầy đủ về vẻ đẹp - đặc biệt không phải ở cấp độ như anh đã chứng kiến. (Cả hai nhà khoa học đều không dự đoán được giả thuyết biophilia của EOWilson sau này: rằng cái đẹp nằm trong não của người thưởng thức, rằng tình yêu của nhân loại với các dạng sống khác có thể là một mối liên hệ bản năng giữa chủng Homo sapiens và thiên nhiên.)
Mặc dù hành trình tới Đông Ấn đã là chuyến đi cuối cùng của Wallace, bởi ông dành phần đời còn lại để làm dày thêm vốn hiểu biết của mình về những năm tháng đó. Sống tới tuổi chín mươi, ông chứng kiến thời đại của ô tô và máy bay trong khi bản thân lại trở thành một thứ tương tự như cỗ xe ngựa kéo. Kiểu nghiên cứu khoa học - tự học, nghiên cứu độc lập - như ông nhanh chóng mất dần.
❀ ❀ ❀
Quãng thời gian của chính tôi ở đảo Borneo cũng đi đến hồi kết. Một ngày trước khi trở lại bờ biển, sau khi đã nói lời tạm biệt với Pa Itam và trở về vùng đất khô hơn, tôi thuê một tài xế cùng với Jim và Hermanto đến thăm những ngôi nhà dài cổ của người Iban nằm rải rác trên những ngọn đồi phía đông Sentarum. Trong lúc xóc nảy trên đoạn đường bùn lầy dưới ánh mặt trời buổi sáng, chúng tôi đi qua một người đàn ông có vẻ cổ kính, chân bước tập tễnh bất thình lình xuất hiện. Ông lão có bộ râu màu xám và trên đầu đội một cái mũ của người lái xe tải. Đôi chân trần thò ra khỏi quần soóc của ông trông mảnh khảnh như chiếc gậy ông đang dùng để chống. Nhận ra ông là trưởng tộc trong một căn nhà dài gần đó, người lái xe tấp vào để mời ông lên cùng. Khi ông già trèo lên ghế sau, nhấp nháy một nụ cười không răng, khuôn mặt nhăn nhúm vì những nếp nhăn, tôi để ý thấy cổ họng ông có một hình xăm cây cối. Mùi mồ hôi ẩm bùn của ông tràn ngập chiếc xe.
Vài phút sau, chúng tôi tới được nhà dài của ông lão. Được xây trên vùng đất khô ở chân đồi, trông nó có vẻ rất cổ. Hầu hết những ngôi nhà dài mới hơn đều được dựng từ những tấm gỗ màu xám bản nhỏ, cong oằn dưới sức nặng những bước chân, nhưng ngôi nhà này đặc trưng với những miếng ván tối màu dày cộp từ loại gỗ ngày nay không thể tìm thấy nữa. Một chiếc đài chạy pin đang chơi bản techno của bài We are the world. Trên hiên, một nhóm đàn ông trẻ có cả hình xăm và xỏ khuyên - phong cách nửa truyền thống, nửa punk[*] - đang ngồi tô đậm một tấm bản đồ của công viên quốc gia để chỉ ra phạm vi các khu vực bảo tồn.
[*] Phong cách thời trang gai góc, nổi loạn.
“Cộng đồng này đã ở đây bao lâu rồi?” Tôi hỏi Jim.
Anh ta dịch lại câu hỏi cho ông cụ trưởng tộc, ông trả lời ít nhất 100 năm, có khi là 150, nhưng ông không chắc lắm. Ông nói mình sinh năm 1914. Ở tuổi chín mươi bảy, ông vẫn có thể đi bộ đi và về thị trấn gần nhất chỉ trong một ngày, mà đó là quãng đường xe ô tô đi mất ba tiếng đồng hồ. Ông nói tiếp, mẹo của ông là không ăn đồ chiên rán. “Nếu cô ăn quá nhiều cholesterol,” Jim dịch lại, “đầu gối của cô sẽ phát phì.”
“Thế ông đã ăn siluk bao giờ chưa?” Tôi hỏi và dùng tên bản địa của cá rồng.
Nhận ra từ ấy, ông trưởng tộc gật đầu mạnh mẽ. “Nhiều lần,” Jim dịch. “Ăn một con cá rồng giống như uống vitamin tổng hợp vậy!”
Tôi muốn biết cuộc sống đã thay đổi ra sao trong những năm qua. Ông cụ nghĩ một lát rồi nói các bộ tộc từng gây chiến với nhau rất nhiều. Nhà dài của ông từng được trang trí bằng sọ người. Trong Thế chiến thứ hai, với sự cổ xuý của người Anh, những chiến binh Dayak đã chặt đầu lính Nhật xâm lược đảo Borneo. Giờ đây những cái sọ cũ đều được chôn ở một nghĩa trang cách đây ba tiếng đi bộ, sâu trong rừng; chỉ còn một cái sọ duy nhất trong nhà dài này. Ngày nay con người chiến đấu trong một cuộc chiến khác. “Vì những vùng đất được bảo vệ,” ông nói, ám chỉ những chàng trai và tấm bản đồ bằng vải của họ. Các trang trại cọ dầu đang nuốt dần đất đai của họ.
Ông trưởng tộc dẫn chúng tôi đến ngưỡng cửa nhà một bà già. Bà mời Jim, Hermanto và tôi trèo lên một cây gỗ có khía rãnh đặt dốc đứng để lên nóc nhà. Trên đó chất đầy sọt mây và chiếu cuộn tròn. Bụi vẩn lên trước ánh sáng khi chúng tôi ngồi xuống, trước mặt chúng tôi là một bát bỏng gạo và một chai rượu gạo tên là tuak. Bà rót thứ rượu này ra mấy cái cốc thiếc có trang trí hình bông hoa. Lúc ấy, con trai của bà lại biến mất trên một cầu thang khác và lúc trở lại, tay anh ta cầm chiếc đĩa kim loại bày cái sọ đen thui bên trên, trên đầu hộp sọ là một vòng hoa khô nhìn như vương miện liễu gai.
Vừa vẫy những ngón tay trên đầu, bà cụ vừa bắt đầu lẩm bẩm khấn. Jim thì thầm rằng bà cụ đang kể với các linh hồn rằng ngày hôm nay thời tiết rất đẹp nên không có lí do gì để họ nguyền rủa chúng tôi cả. Hermanto tròn xoe mắt, anh ta lủi xuống dưới cầu thang và nhìn lén lên trên qua một cái lỗ ở sàn. Tiếp theo, bà cụ ném bỏng gạo vào sọ người, hầu hết bị rơi vào hai hốc mắt. Bà tưới rượu trên cái miệng cười quái gở và tự mình uống một ngụm. Rồi bà chỉ vào tôi và ra dấu là tôi nên làm theo.
Trong lúc tưới tuak từ cốc của mình lên bộ răng lởm chởm đen sì, tôi hỏi người này là ai. Bà cụ kể với Jim bà nghĩ cái sọ này thuộc về một người lính Nhật đã bị cha bà giết. Nhưng bà không dám chắc. Cha bà để lại năm cái sọ, trong đó chị gái bà đã chôn bốn cái. Chẳng ai biết cái sọ nào là của ai nữa cả. Họ không hề ghi lại chuyện đó.
“Sao bà ấy lại giữ lại cái sọ này?” Tôi hỏi Jim.
“Bà ấy bảo nó giống như một biểu tượng,” Jim nói, “như một vật gia truyền, một thứ của tổ tiên để lại.”
Bản thân tôi từng chơi trò săn tìm kho báu, đuổi theo một con cá dường như chỉ thuộc về một thời đại khác. Cá rồng châu Á không hề tuyệt chủng - nó đang có mặt trong những bể kính trên khắp thế giới. Nhưng thời đại của nó trong tự nhiên đã đi đến hồi kết. Mặc dù con siêu cấp huyết long vẫn chưa hoàn toàn tuyệt chủng ở Sentarum, nhưng nó đã trở nên hiếm hoi đến mức mỗi khi có một con xuất hiện, nó trở thành đề tài bàn tán của cả vùng đầm lầy. Giờ không còn ai ăn nó để bổ sung vitamin như trước nữa.
Một cuộc khai phá thực sự đòi hỏi phải có những vùng đất chưa ai đặt chân tới. Tâm trí tôi trôi dạt cả trăm cây số về phía tây bắc, tới một khu rừng hẻo lánh nghe đồn là nơi che giấu chiếc chén thánh trong thế giới loài cá này, con cá rồng batik của Myanmar. Có thực tồn tại một loài sinh vật chưa con người nào biết đến trong từng ấy năm hay không? Giọng nói sang sảng của nhà ngư học già Tyson Roberts vang vọng trong đầu tôi, xúi giục tôi đi theo con cá ấy: “Nếu cô là một người du hành thực thụ, cô có thể thu thập nó về cho tôi. Và tôi sẽ công bố nó nếu có nó trong tay. Tôi sẽ sống tới ngày ấy.”
❀ ❀ ❀
Ở hiên nhà, ông trưởng tộc ngồi xuống một cái chiếu và giục tôi tới ngồi đối diện với ông. Ông khoá đôi mắt lấp lánh của mình với mắt tôi, ríu rít chuyện trò bằng những ngữ âm cao và giọng mũi của ông.
“Họ kể một câu chuyện về sự hình thành trái đất,” Jim dịch trong một khoảng dừng. “Tất cả chúng ta là cùng một thể. Cá. Rừng cây. Loài vật. Tất cả đều giống nhau. Cả cá rồng cũng vậy.”
Chắc chắn rồi, đó chỉ là một câu nói rập khuôn. Nhưng ông già nói đúng 100%. Wallace và Darwin đã dạy chúng ta rằng “những mối quan hệ tự nhiên” mà Linnnaeus từng mô tả chính xác là những mối quan hệ theo nghĩa đen - những cái nhánh của cùng một cây phả hệ. Những kẻ lang thang trên mặt đất như chúng ta đây chẳng qua chỉ là một nhánh khác của loài cá, vốn đã thích nghi vượt bậc so với những tiền bối đi trước và trở thành thế lực thống trị địa cầu mạnh hơn bất kì thế lực nào trước đó.
Rồi ông lão lại kể câu chuyện thứ hai, lần này sát thời hiện đại hơn nhiều. Câu chuyện kể về một người lạ mặt đã xuất hiện ở Meliau ba năm trước cùng với cái móc câu mắc vào má anh ta. Sau khi một thầy lang được gọi tới để lấy cái móc câu ra, tất cả mọi người bỗng nhận ra kẻ lạ mặt chẳng phải người mà chính là vua cá.
“Chờ đã,” tôi hỏi khi câu chuyện đến hồi kết, dù không biết bắt đầu từ đâu. “Chuyện ấy mới xảy ra từ ba năm trước thôi à?”
Jim dịch lại câu hỏi và ông già gật đầu quả quyết.
Rồi ông ta cúi xuống gần đến mức mặt ông chỉ còn cách mặt tôi có vài phân và bắt đầu nói giọng khẩn trương, háo hức tiết lộ một điểm quan trọng cuối cùng. “Cá rồng cũng giống như một bóng ma - anh ta có thể biến mất,” Jim dịch lại. “Cá rồng không tuyệt chủng mà chỉ đang ẩn nấp.”