Đại bại ở Định Tào, Hạng Lương chiến tử, quân Hạng Sở tan rã, thế lực phản Tấn ở Sơn Đông rơi vào thời kỳ đáy cốc.
Không có sự chống đỡ của đại quân chủ lực Hạng Sở, chư hầu phục quốc lập tức rơi vào cảnh tan rã rời rạc. Các vị vua phục quốc từng giương cao cờ hiệu sáu nước cũ, hầu như nhà nào cũng quạnh hiu tiêu điều. Tân Hàn không cần phải bàn, Hàn Thành do Trương Lương tôn lập chỉ có vẻn vẹn vài ngàn nhân mã, nơm nớp lo sợ luồn lách trong núi rừng Trung Nguyên. Còn Tân Ngụy, từ sau khi Ngụy vương Ngụy Cữu tự thiêu trên chiến trường, các thế lực tàn dư như Ngụy Báo đành phải bôn tẩu chốn Giang Hoài, đầu gia nhập vào thế lực nhà Sở, lúc bấy giờ khả năng phục quốc lần nữa cũng vô cùng mịt mờ. Tân Tề tỏ ra vô cùng suy yếu, Tề vương Điền Đam tử trận, tiếp đó Điền Giả tự lập lại bị trục xuất trong nội chiến, thế lực của Điền Giả lần lượt chạy trốn sang hai nước Sở và Triệu. Điền Vinh vốn có chút binh thế dù lại tôn lập tân vương mới, nhưng vì truy sát tàn dư của Điền Giả mà xảy ra xích mích lớn với cả hai phe Sở và Triệu, lạnh nhạt lẫn nhau, khiến cho quân Tề vừa không đánh giận độc lập với quân Tấn, cũng không cứu giúp bất kỳ bên nào, từ trước đến nay vẫn luôn đứng ngoài lực lượng phản Tấn do Hạng Sở làm minh chủ. Hạng Lương vừa chết, quân Tề của Điền Vinh không còn kiêng dè quân Sở nữa, bắt đầu dốc sức một mình gầy dựng gốc rễ của riêng mình.
Tân Yên ở phương bắc lại càng kém sức, Yên vương Hàn Quảng dưới sự uy hiếp của quân Tấn ở Cửu Nguyên sát bên còn lo thân không xong, bị vây hãm co cụm trong mấy thành trì nhỏ bé, hoàn toàn không dám kéo quân ra đánh quân Tấn. Vào thời điểm này, chư hầu Sơn Đông quân không thành quân, thế không thành thế, duy chỉ có Tân Triệu ở Hà Bắc là hiện lên một khí thế bừng bừng, với lực lượng khoe khoang là mấy chục vạn người, nhiều lần giao chiến nhỏ với lính Tấn ở các chốn quận huyện, lại chiếm được mấy thành ấp nhỏ, trong chốc lát thanh thế lừng lẫy. Sau khi Hạng Lương chiến tử, quân Triệu ở Hà Bắc đường hoàng trở thành ngọn cờ mới của thế lực phản Tấn ở Sơn Đông, trở thành minh chủ tiềm năng ở Sơn Đông. Cũng chính vì thế, quân Tấn nam bắc giáp công Tân Triệu, các phe chư hầu lập tức nhận thức được nguy hiểm to lớn.
Trước nguy cục diệt vong đồng loạt, thế lực đất Sở là nhạy bén và sâu sắc nhất.
Sau khi Hạng Lương bại trận, cục diện của nước Sở nhanh chóng phát sinh những thay đổi về cả hai mặt quân sự và chính trị.
Xét về mặt quân sự, ba bộ phận của Hạng Vũ, Lưu Bang, Lữ Thần giao chiến ở Trung Nguyên, do không ở chiến trường Định Tào mà may mắn thoát nạn. Sau đó, ba cánh quân lập tức chạy về phía đông, rút lui về địa phận Bành Thành① ở phía đông: bộ đội của Lữ Thần đóng quân ở phía đông Bành Thành, bộ đội của Hạng Vũ đóng quân ở phía tây Bành Thành; bộ đội của Lưu Bang không tiến vào quận Tứ Thủy, mà rút về thành Đăng Sơn thuộc quận Đăng giáp ranh với quận Tứ Thủy, tức là quay về chốn căn cơ trốn tránh làm cướp ngày trước, cách Bành Thành khoảng hơn trăm dặm, cũng coi như nằm trong vòng thế lực truyền thống của nước Sở mới. Lúc này, tình thế chung của quân Sở là: Đại quân chủ lực Hạng Sở cùng lực lượng phụ thuộc đã tan rã ở chiến trường Định Tào, tàn dư đột phá vòng vây tản mác khắp nơi, mấy vạn nhân mã của quân Hạng Vũ trở thành gốc rễ duy nhất của thế lực Giang Đông nhà Hạng Sở. Quân Lưu Bang trước sau vẫn chỉ có mấy vạn người, trong các cánh quân của nước Sở mới trước đó vốn hầu như không đáng kể, lúc này lại bỗng nhiên trở nên nổi bật. Quân Lữ Thần cũng có mấy vạn người, vốn là do thu gom tàn dư Trương Chức của Trần Sênh mà thành, trong các cánh quân của nước Sở mới trước đó cũng tương tự như vậy, không đáng kể là bao. Thế nên, Lưu Bang và Lữ Thần cùng hợp binh với Hạng Vũ chuyển chiến ở Trung Nguyên, từ trước đến nay vẫn luôn do Hạng Vũ trẻ tuổi chủ sự, mà hai cánh quân Lữ - Lưu vẫn luôn là bộ tướng tương đối lỏng lẻo của Hạng Vũ. Lúc này, bộ đội của Lữ Thần cũng đột ngột nổi bật lên, trong chốc lát hình thành cục diện mới ba chân vạc Hạng, Lưu, Lữ cùng tồn tại.
Các vị khán giả cần phải lưu ý, đám loạn quân Sơn Đông lúc bấy giờ không có bất kỳ thế lực nào có số lượng binh mã xác định, trong sử liệu thường dùng vài ngàn, vài vạn, mấy chục vạn để nói đại khái mà thôi. Nói từ tình hình thực tế, lúc bấy giờ đang là kỳ quân Tấn phản công đại quy mô, chư hầu mới tác chiến lưu động, binh lực tụ tán bất định, thực sự rất khó có con số chính xác. Một bên đại khái có một cánh quân mã, mấy tòa thành trì, thì coi như là một thế lực rồi. Thế nên, kết cục và sức ảnh hưởng thực tế của các bên vào lúc ấy, thường không căn cứ vào thực lực, mà mang tính kịch tính cực lớn: Thường thì "chư hầu nước lớn" danh tiếng lừng lẫy khắp thiên hạ, kết quả lại một trận là xong đời, như Tề vương Điền Đam, Ngụy vương Ngụy Cữu v.v. Thường thì thanh thế ban đầu không lớn lắm, lại bộc lộ rõ thực lực trong chiến trường, Hạng Sở ở Giang Đông là như vậy. Một trường hợp khác nữa là, thanh thế danh tiếng và thực lực đều rất bình thường, nhưng lại có thể trong sự xoay vở của chiến trường mà trước sau không tan rã, dần dần lớn mạnh, dần dần được mọi người biết đến, bộ đội của Lưu Bang ở Bái Huyện chính là như vậy. Phàm những điều này đều cho thấy, đối với các chư hầu Sơn Đông vào giai đoạn đầu hỗn chiến cuối thời Tấn, thực ra không thể căn cứ vào thanh thế và binh lực bề ngoài để khẳng định mạnh yếu, mà chỉ có thể đại khái xem như một thế lực núi non nào đó đang chìm nổi diễn hóa mà thôi.
Xét về mặt chính trị, hậu quả trực tiếp sau thất bại ở Định Tào chính là dời đô đổi chính.
Dù rằng kinh đô của chư hầu lúc bấy giờ hoàn toàn không thể so sánh với kinh đô thời sáu nước cũ, nhưng rốt cuộc cũng là nơi phát lệnh của một thế lực, vẫn là tiêu điểm chú ý của các bên thế lực. Ban đầu, Hạng Lương và Lưu Bang v.v. tôn lập Sở vương Mị Tâm, tạm định đô ở bờ nam sông Hoài là Vu Đài②, cơ sở mưu tính của họ là: Đại quân chủ lực nhà Sở phải bắc tiến Trung Nguyên đánh Tấn, không có đại quân bảo vệ kinh đô hậu phương, "định đô" ở bờ nam sông Hoài thì rủi ro sẽ nhỏ hơn rất nhiều. Sở Hoài vương Mị Tâm ở Vu Đài, tuy chỉ có vài ngàn nhân mã của Thượng trụ quốc Trần Anh bảo vệ, nhưng chỉ cần chiến trường chính không thua, Vu Đài tự nhiên sẽ không có chuyện gì. Thế nhưng, tin tức đại bại ở Định Tào vừa truyền vào Vu Đài, Trần Anh lập tức hoảng sợ, liên tiếp yết kiến Sở Hoài vương, một mực chủ trương dời đô. Ý kiến của Trần Anh là, người Tấn hận nước Sở thấu xương, quân Tấn của Chương Hàm chắc chắn sẽ thừa thắng nam hạ diệt Sở, đại vương ta buộc phải lập tức hợp làm một thể với các cánh quân Sở, mới có thể bảo toàn, nếu không thành cô độc chắc chắn sẽ phá! Cái vị Mị Tâm này tuy còn trẻ tuổi, nhưng lại thấm nhuần bản tính cố chấp tựa như dê đầu đàn trong những năm tháng chăn cừu, gặp chuyện khá có chủ kiến, lại thường nói năng bộc trực ở triều đình tựa như chốn đồng hoang. Cứ như vậy, thường ở những sự việc không mang tính căn bản, Mị Tâm ra dáng một vị vua giống y như đúc. Nay nghe lời Trần Anh, Mị Tâm thấy rất có lý, lập tức phái Trần Anh làm đặc sứ bí mật đến bờ bắc hội bàn việc dời đô. Mị Tâm vốn kiêng dè bản tính bưu hãn giảo hoạt của Hạng Vũ, lúc này Hạng Lương chiến tử, trong lòng lại càng thêm kiêng dè cái tên Hạng Vũ sống sượng hung ác này. Vì thế, trước khi Trần Anh lên đường, Mị Tâm đặc biệt dặn dò bí mật rằng: "Việc dời đô là chuyện lớn, nhất định phải hội nghị trước với Lữ Thần và Bái công, rồi sau đó hẵng báo cho Hạng Vũ! Hiểu chưa? Hạng Vũ không hiền lương, tuyệt đối không thể để làm rối tung triều cục ngày sau." Trần Anh vốn xuất thân từ tiểu lại, con người rộng rãi khoan dung, đối với lời dặn dò mật của Sở vương tự nhiên vâng dạ liên hồi.
Mươi ngày sau, Trần Anh vội vã trở về, Lữ Thần cũng tự mình dẫn theo hơn vạn quân Thương Đầu cùng đến phương nam. Tâm trạng hoảng sợ của vị Sở vương trẻ tuổi tan thành mây khói, lập tức thiết yến tẩy trần cho Lữ Thần. Trong bữa tiệc, Lữ Thần bẩm báo về sự bố trí liên quan đến hội bàn ở Bành Thành: Lữ Thần và Lưu Bang đều chủ trương lập tức dời đô đến Bành Thành, Hạng Vũ thoạt đầu trầm mặc không nói, sau đó cũng đồng ý. Bái công Lưu Bang ở lại Bành Thành chuẩn bị trước việc dọn dẹp cung thất, Lưu Bang đặc biệt trưng dụng hơn trăm thợ thủ công, tự mình lo liệu việc cung thất của Sở vương, vô cùng tâm huyết. Sau khi hội bàn với Lưu Bang, Lữ Thần tự mình dẫn dắt binh mã bản bộ đến nghênh đón Sở vương đi về phía bắc. Lữ Thần còn nói, Hạng Vũ đang bận rộn thu gom nhân mã lưu tán của bộ đội Hạng Lương, không rảnh phân tâm chuyện dời đô, hắn và Bái công sẽ dốc toàn lực. Mị Tâm nghe xong vô cùng hài lòng, hào sảng vỗ bàn nói: "Các hạ đúng là người tài! Bái công thật là người nhân hậu!" Giữa bữa tiệc: Mị Tâm liền hạ lệnh lập tức giải quyết hậu sự mọi việc ở Vu Đài, nhanh chóng đi về phía bắc đến Bành Thành. Sau một phen bận rộn tung tóe như thế, ba ngày sau, vương thất nước Sở mới rầm rộ đi về phía bắc.
Đóng định ở Bành Thành, Sở vương Mị Tâm lập tức bắt đầu chấn chỉnh triều cục. Xét theo tình hình thực tế, vào thời kỳ đại loạn "có binh là vua", cái vị Sở vương chăn cừu Mị Tâm này hoàn toàn không có khả năng sai khiến các bên thế lực. Nếu Hạng Lương còn sống, Mị Tâm chỉ có thể làm một vị vua hư vị, chuyện chấn chỉnh triều cục đại loại thế là nghĩ cũng không dám nghĩ tới. Thế nhưng, lúc này Hạng Lương đã chiến tử, đại quân chủ lực nhà Hạng Sở đã không còn tồn tại, nếu chỉ xét về số lượng nhân mã, binh mã của bộ đội Hạng Vũ chưa chắc đã nhiều hơn bộ đội của Lữ Thần hay bộ đội của Lưu Bang. Lực lượng quân sự của ba phe đang trong thời kỳ cân bằng yếu ớt, ngọn cờ lớn Sở vương cùng "đại thần triều đình" vốn không đáng kể bỗng trở nên vô cùng quan trọng. Dù là việc quân hay việc chính, nếu không có sự thừa nhận của ngọn cờ lớn này, các bên sẽ không thể phối hợp với nhau, không ai có thể làm nên chuyện. Nói cách khác, cục diện chung của "nước Sở" lúc này, lần đầu tiên thể hiện ra sức mưu toan của Sở vương và đại thần, "quyền lực miếu đường" vốn là hư vị bỗng trở nên thật sự, sinh ra một thứ tình thế nhiều đầu vừa lỏng lẻo vừa chế lẫn nhau giữa thực lực quân mã và quyền lực miếu đường.
Sở vương Mị Tâm vô cùng thông minh, nhận thức được đây là thời cơ tốt nhất để tăng cường vương quyền, lập tức bắt đầu sắp đặt nhân sự. Lần sắp đặt nhân sự này, Sở Hoài vương định tên là "đổi chính". Người đầu tiên được biết đến cuộc hội nghị bí mật đổi chính, là hai đại thần hoàn toàn không có thực lực binh chúng nhưng lại khá có danh tiếng, một là Thượng trụ quốc Trần Anh, hai là Thượng đại phu Tống Nghĩa. Trần Anh tự mình khởi sự, sau đó quy thuận Hạng Lương, lại phò tá Sở vương, từ xưa mang danh tiếng "người nhân hậu tín cẩn". Tống Nghĩa tuy là văn sĩ, nhưng vì can ngăn Hạng Lương và dự ngôn Hạng Lương chắc chắn bại trận, nên danh tiếng "biết binh" trong chốc lát vô cùng lừng lẫy. Quân thần ba người trải qua mấy bận hội bàn bí mật, cuối cùng đã mưu vạch ra được một bộ phương lược. Cuối tháng tám năm ấy, Sở vương Mị Tâm đại hành triều hội ở Bành Thành, ban bố chiếu thư phong tước quan lần đầu tiên:
Lữ Thanh (cha của Lữ Thần) làm Lệnh doãn, tổng lãnh chính sự quốc gia.
Trần Anh làm Thượng trụ quốc, phò tá Lệnh doãn lãnh đạo chính trị.
Tống Nghĩa làm Thượng đại phu, kiêm lãnh các mặt sự vụ binh chính.
Lữ Thần làm Tư đồ, kiêm lãnh binh mã bản bộ.
Lưu Bang làm Vũ An hầu, hiệu là Bái công, kiêm lãnh quận trưởng Đăng quận cùng binh mã bản bộ.
Hạng Vũ làm Trường An hầu, hiệu là Lỗ công, kiêm lãnh binh mã bản bộ.
Quan tước đại thần đã định, Sở vương Mị Tâm đồng thời ban hành một đạo vương mệnh: Quân Hạng Vũ và quân Lữ Thần trực thuộc Sở vương "tự đem", không nghe lệnh của bất kỳ quan thự hay đại thần nào. Quân Lưu Bang đóng giữ quận Đăng, theo phép tắc mà nghe lệnh điều khiển. Việc phong quan định tước và bố trí đem binh thế này, các đại thần dự triều đều cất lời tụ tụng, duy chỉ có Hạng Vũ sa sầm nét mặt không nói một lời. Hạng Vũ thầm mắng Mị Tâm trong lòng, cái tên Sở vương vong ân bội nghĩa này, đúng là một tên vua khốn nạn! Bản thân mình tuy không có công nghiệp hiển hách như thúc phụ Hạng Lương, cũng không trông mong gì việc được đứng đầu tước vị, thế nhưng so với Lữ Thần và Lưu Bang, cớ sao Hạng Vũ lại đứng sau họ! Hơn thế nữa, cái tên chó má Tống Nghĩa nguyền rủa thúc phụ kia, lại làm đại phu binh chính tựa như loại thái úy của nhà Tấn, đúng là tiểu nhân đắc chí! Cứ cho là thế đi, rõ ràng biết Hạng Vũ thô lỗ không biết chữ, lại cứ tròng cho lão tử cái danh hiệu "Lỗ công", không phải là sỉ nhục lão tử sao! Lỗ công cái con khỉ gì! Quân Lưu Bang thì có dư dả không gian xoay sở, cái tên Sở vương này lại cứ muốn "tự đem" binh mã họ Hạng, khốn kiếp! Ngươi "tự đem" nổi không?...... Đúng vào khoảnh khắc Hạng Vũ đen mặt suýt nữa chửi mắng thành tiếng, Phạm Tăng ở phía sau nhẹ nhàng kéo vách áo sau của Hạng Vũ, Hạng Vũ mới vất vả lắm mới kìm nén được một ngụm ác khí.
"Vua khốn! Phong thưởng khốn kiếp!" Trở về mạc phủ ở ngoại ô, Hạng Vũ giận dữ đùng đùng đập bàn chửi mắng.
"Thiếu tướng quân thiếu kiên nhẫn bốc đồng thế này, làm sao có thể làm nên chuyện!" Phạm Tăng lạnh lùng thốt ra một câu.
"Á phụ..." Hạng Vũ bỗng nhiên nghẹn ngào, "Đại thù chưa báo, lại gặp nhục nhã, Hạng Vũ chịu không nổi!"
"Người không tự nhục, nào có ai có thể sỉ nhục được." Phạm Tăng thờ ơ hờ hững giống như tượng đất tượng gỗ vậy.
"Á phụ dạy tôi." Cuối cùng, Hạng Vũ bạo liệt cũng đã bình tĩnh lại.
"Sự mù quáng của thiếu tướng quân, nằm ở danh mục nhất thời ấy." Lão Phạm Tăng nghiêm nghị nói, "Từ khi Trần Sênh giương gậy dấy nghĩa, thiên hạ chớp lóe sấm chớp, gò thung lũng giao chéo, danh hiệu chư hầu chìm nổi nhiều như cá diếc qua sông, mà kẻ thực sự dựng nên gốc rễ, cho đến nay vẫn chưa có lấy một nhà. Căn nguyên ở chỗ nào? Chính là ở chỗ chỉ trọng hư danh, xem nhẹ thực lực. Thiếu tướng quân thử nghĩ xem, nếu Trần Sênh không vội vã xưng vương, mà là đại lực chấn chỉnh binh mã, cùng Ngô Quảng vương hô hào thiên hạ hợp lực đánh Tấn, đến lúc đó cho dù không thể lập tức diệt Tấn, thì sao lại đến nỗi diệt vong nhanh chóng đến mức chết không có chỗ chôn chứ? Sáu nước phục quốc xưng vương, vốn dĩ có cái lợi là khuếch trương thanh thế phản Tấn. Thế nhưng, sau khi chư hầu xưng vương, không có nhà nào dốc sức mài giũa tinh binh, tất thảy đều dốc sức tranh giành quyền lực danh hiệu. Để rồi đến ngày quân Tấn tiến đánh đại quy mô, chư hầu Sơn Đông lần lượt tản mác như chim muông thú rừng, há chẳng đáng buồn lắm sao! Sự việc đã đến nước này, các nhà vẫn không chịu thay đổi cách làm, vẫn chỉ dốc sức vào việc cổ động thanh thế. Việc này ngu ngốc đến cực điểm, sao có thể không bại vong chứ! Cứ lấy thất bại ở Định Tào của Vũ Tín quân ra mà bàn, chẳng thà nói là bại vì quân tan rã, chứ không nói là bại vì quân kiêu ngạo. Nếu đại quân bộ hạ của Vũ Tín quân đều giống như tám ngàn tử sĩ Giang Đông, sao lại có thể có một trận thua này chứ! Phàm những điều này, đủ để chứng minh đạo lý tồn vong của thời Chiến Quốc là bất hủ: Thiên hạ tranh giành lớn, kẻ mưu hư sẽ bại, kẻ mưu thực sẽ hưng; ngoài điều này ra, há còn có gì khác nữa chứ!"
"Á phụ là nói, Hạng Vũ không làm việc thực tế?"
"Người họ Hạng nổi lên vào thời đại loạn, cái gọi là thanh thế danh tiếng, vốn dĩ là hư thì nhiều mà thực thì ít. Nay, lại gặp sau khi quân Hạng Sở đại bại, thế hư ngày xưa mất sạch, thực lực thiếu thốn bộc lộ rõ ràng, người họ Hạng tụt xuống sau Lữ và Lưu, thiếu tướng quân liền cảm thấy khó chịu tủi nhục. Điều này, lão phu thấu hiểu tâm can của thiếu tướng quân. Thế nhưng, vào thời điểm này, mà lại đắm chìm vào việc phân chia quan chức quyền lực có công bằng hay không, mà mưu tính tranh giành, thì sai lầm lớn rồi! Vào thời điểm này, nhìn thấu yếu hại, gom góp lưu tán, mài giũa thực lực, để chờ thời cơ, mới là con đường chính đáng! Điểm cốt lõi của con đường này, duy chỉ có Lưu Bang là hiểu được một hai, thiếu tướng quân bắt buộc phải lưu tâm học hỏi theo."
"Con? Học theo cái bộ dạng của cái thằng cháu rùa Lưu Bang ấy á?" Hạng Vũ kinh ngạc lại khinh miệt.
"Thước có chỗ ngắn, tấc có chỗ dài." Phạm Tăng hiểu rất rõ Hạng Vũ gánh vác trọng trách hưng vong của Hạng Sở, cũng hiểu rất rõ chỉ có mình mới có thể thuyết phục được vị quý tộc trẻ tuổi có thiên phú hùng võ mà bản tính bạo liệt này, bèn ngậm ngùi sâu xa nói, "Thiếu tướng quân thử nghĩ xem, Lưu Bang xuất thân từ tên đình trưởng mà khởi sự, những kẻ tụ tập phần lớn là huyện lại, đồ tể, phường kèn trống. Cái gọi là binh mã của hắn, cũng phần lớn lấy bọn lưu tặc núi Mang Đãng cùng tử sĩ hào cường Bái Huyện làm trục tâm, có thể nói là vừa không có thanh thế, lại vừa không có chiến tích. Thế nhưng, Lưu Bang lại có thể dần chiếm một chỗ đứng giữa đám quần hùng nổi dậy, danh hiệu Bái công cũng ngày một rõ rệt, hiện tại thậm chí có thể đứng trong hàng chư hầu nước Sở mà tự thành một phe thế lực, há chẳng phải là chuyện kỳ lạ sao!"
"Không có gì lạ cả! Già đầu mà gian xảo giảo hoạt mà thôi!"
"Thiếu tướng quân sai rồi!" Lão Phạm Tăng thở dài một hơi, "Chỗ căn bản, nằm ở chỗ Lưu Bang trước sau vẫn chú tâm tìm kiếm mở rộng thực lực, mà không tranh giành hư danh trước mắt. Binh lực của Lưu Bang tuy không mạnh, nhưng lại có thể chống đỡ qua mấy chục trận lớn nhỏ, không những không tan rã, mà binh mã còn ngày một tăng lên. Tình thế như thế, há chỉ là một kẻ gian xảo giảo hoạt có thể làm được chứ!"
"Á phụ là nói, Lưu Bang sớm đã lén lút bắt đầu gom góp binh lực rồi sao?"
"Phải vậy!" Phạm Tăng vỗ bàn, "Nếu tranh hư danh, thì lập công ở việc dời đô là có thanh thế lớn nhất. Thế nhưng, Lưu Bang lại đẩy bộ đội của Lữ Thần lên vị trí đứng đầu, bản thân thì co cụm ở phía sau, ngoài miệng nói là chỉnh đốn cung thất, nhưng thực chất là siết chặt việc gom góp binh mã lưu tán. Lưu Bang rút về phía đông, tại sao không cùng đóng quân một chỗ với quân ta ở Bành Thành, mà lại tự mình đóng quân ở thành Đăng Sơn? Căn nguyên ở giữa, không nghi ngờ gì nữa là đang lén lút gom góp binh mã, để các bên không phát hiện ra. Tâm địa của Lưu Bang, thật không thể đo lường được!"
"Bái công như vậy, mà Sở vương vẫn coi hắn là người nhân hậu." Hạng Vũ chợt tỉnh ngộ cười lạnh.
"Thời đại tranh giành lớn, chỉ bàn chuyện hùng kiệt, chứ bàn gì chuyện nhân hậu chứ!"
"Á phụ! Hạng Vũ lập tức siết chặt việc gom góp nhân mã lưu tán, nhanh chóng gia tăng thực lực lớn nhất!"
"Thiếu tướng quân có được ngộ tính này, thật là đại hạnh cho họ Hạng!" Phạm Tăng vui mừng gật đầu, "Thế nhưng, chúng ta cũng phải phỏng theo đạo lý của Lưu Bang, chỉ làm chứ không nói. Ý kiến của lão phu là: Thiếu tướng quân ban ngày chỉ canh giữ ở mạc phủ, đối phó với các bên Sở vương. Lão phu cùng Hạng Bá, Long Thư vương vẹn một lòng bí mật gom góp bộ cũ lưu tán của Vũ Tín quân, kết thành doanh địa bí mật ở thung lũng sông Tứ Thủy. Mỗi tối, thiếu tướng quân chạy đến doanh địa tự mình luyện binh! Có thể luyện thành một đội tinh binh trong vòng hai ba tháng, mọi việc ắt thành!"
"Cứ theo mưu hoạch của á phụ, Hạng Vũ dốc toàn lực luyện binh!"
Mưu hoạch đã định, đại doanh Hạng Sở lập tức bắt đầu sự bận rộn căng thẳng ngày đêm không nghỉ. Lúc bấy giờ, nhân mã phá vây tan rã của bộ đội Hạng Lương đã có những tốp nhỏ chảy vào quận Tứ Thủy, Phạm Tăng cùng Hạng Bá, Long Thư và một bầy tướng lĩnh chia nhau tìm kiếm dốc sức tụ tập lại, chưa đầy một tháng đã thu gom được mấy vạn nhân mã lưu tán, cộng thêm bộ cũ Giang Đông chưa hề tổn hại của Hạng Vũ, tụ lại thành vừa tròn mười vạn nhân mã. Mỗi khi bóng chiều buông xuống, mạc phủ Hạng Sở ở vùng ngoại ô Bành Thành liền đóng cửa ra vào, bên ngoài thì tuyên bố vết thương cũ trên chiến trường của Hạng Vũ cứ đến ban đêm lại tái phát, ban đêm không xử lý việc quân. Thực chất là, cứ đến chập tối là Hạng Vũ lại vội vã chạy đến doanh địa bí mật ở thung lũng sông Tứ Thủy, bắt đầu huấn luyện binh mã một cách thiết thực.
Hạng Vũ có thiên phú tài năng hùng võ, có trực giác kinh ngạc đối với thế nào là tinh binh. Đi tuần tra đại doanh một lượt, quyết định đầu tiên mà Hạng Vũ đưa ra, chính là thải loại già yếu du dân. Số là lúc bấy giờ khởi sự vội vàng, các bên đều đang vơ vét nhân mã, du dân lưu tán hầu như hễ là nam nhi thì đều có thể tìm được một bên để ăn cơm. Nhân mã họ Hạng tuy tinh nhuệ hơn các chư hầu còn lại một chút, thế nhưng những du dân già trẻ thế này cũng không hề ít. Mươi ngày thải loại chấn chỉnh, sĩ tử tráng kiện mà Hạng Vũ thu được chỉ còn lại khoảng năm vạn người. Những sĩ tốt du dân già yếu còn lại, Hạng Vũ cũng không giải tán. Dù sao đi nữa, vào thời điểm nguồn binh lực thiếu thốn thế này, đám nhân mã này chảy về bất kỳ bên nào cũng đều là làm lớn thanh thế của kẻ khác. Hạng Vũ đem những sĩ tốt bị thải loại này biên thành một quân khác, gọi là "quân hậu viện", giao cho quý phụ Hạng Bá thống lĩnh, chuyên trách duy nhất việc chế tạo sửa chữa binh khí và vận chuyển lương thảo cỗ xe nặng. Hơn năm vạn tinh tráng thì biên tập chung với bộ cũ Giang Đông của Hạng Vũ, lấy Long Thư, Hoàn Sở, Chung Ly Muội, Kình Bố làm bốn người tướng quân, mỗi người thống suất hơn vạn tinh binh. Còn Hạng Vũ ngoài việc tổng tư lệnh binh mã ra thì tự mình thống suất một quân, lấy tám ngàn tử sĩ Giang Đông làm trục tâm, cộng thêm hộ vệ mạc phủ và quân lại Tư Mã hơn bốn ngàn người, tổng cộng hơn vạn tinh binh, gọi là trung quân. Quân Hạng Sở mới biên thành, Hạng Vũ đêm đêm tự mình đến tận nơi luyện tập vất vả, ban ngày thì do bốn tướng đôn đốc diễn luyện. Đồng thời với đó, binh khí mới do quân hậu viện của Hạng Bá chế tạo và chiến tranh do Phạm Tăng v.v. thu gom mua sắm cũng ùn ùn kéo vào quân, hơn năm vạn quân Hạng Sở mỗi người có bốn món binh khí: một kiếm ngắn, một giáo dài, một khiên thuẫn, một nỏ giương tay. Hơn hai vạn kỵ sĩ, mỗi người bên ngoài có thêm một con tuấn mã tốt. Phàm những điều này, có thể nói là các quân đều không có. Chưa đầy hai tháng, chiến lực của quân Hạng Sở tăng mạnh, nhanh chóng trở thành một đội chiêu sư tinh nhuệ thực sự ——
Chú thích:
① Bành Thành, trị sở quận Tứ Thủy nhà Tấn, nay nằm ở địa phận thành phố Từ Châu, tỉnh Giang Tô.
② Vu Đài, thành huyện quận Đông Hải nhà Tấn, đại khái nằm ở vùng Đông Bắc huyện Vu Đài ở phía nam hồ Hồng Trạch ngày nay.