Năm Tần vương Chính thứ mười, cuối mùa thu, khói sương đỏ rực bao trùm đất Tần suốt cả tháng trời không tan.
Mặt trời vừa bò lên những ngọn núi xa phía đông, cơn gió thu gầy guộc và sắc lạnh cuốn lên từng đợt bụi nhẹ. Sương mù màu cam đỏ ở hai bờ sông Vị bốc lên ngút trời, mờ mịt bao trùm lấy non sông, thành trì, ruộng đồng, rừng cây cùng người qua kẻ lại, xe ngựa. Bầu không khí của đại Hàm Dương với những lầu gác mũi tên ở bốn cửa thành sừng sững vươn lên, bao quanh lấy các điện lâu đài của vương thành trung tâm, chìm trong làn sương tím đỏ chẳng khác nào phố xá chốn thiên đình. Trên những dãy mái nhà liên tiếp, các loài thần sơn tiên cầm như rùa, kỳ lân, chim sẻ, rắn cao cao nhìn xuống trần thế tất bật, lúc ẩn lúc hiện trong đám bụi đỏ phiêu bồng ngập trời. Non sông kiều diễm, trời đất ngả nghiêng, kỳ dị đến mức khiến tim người ta đập loạn nhịp. Thế nhưng, mặc cho trời xanh có đổi sắc thế nào, ánh bình minh vừa ló dạng là đại Hàm Dương lập tức tỉnh giấc. Tiếng gà gáy cuối cùng chưa dứt, những con đường lớn trong thành đã rộn tiếng xe ngựa lộc cộc và người qua kẻ lại vội vã. Quan lại ngồi xe cưỡi ngựa, vội vã đến công sở. Nông dân và trăm thợ "mặt trời mọc thì làm" quang gánh rời nhà, đổ xô về các xưởng thủ công, ra chợ, hướng tới những thửa ruộng ngoài ngoại ô thành. Các công sở, hội quán, xưởng thợ, cửa hiệu thương nhân, quán rượu và nhà dân hai bên đường lớn cũng đã sớm mở tung cửa lớn, người các tầng lớp không phân chủ tớ đều đang quét dọn sân nhà, bận rộn bày biện, lo toan đủ thứ công việc để bắt đầu một ngày mới.
Chợ sáng trên phố Trường Dương đã khai mạc.
Đây là một con đường dài nằm bên trong cửa nam thành Hàm Dương. Đầu phía bắc cách một khoảng rừng dương lá nhỏ của vương thành, nhìn từ xa có thể thấy rõ; chiều dài nam bắc chừng hơn ba dặm, chiều rộng đông tây khoảng hơn mười trượng, hai bên cửa hiệu và xưởng thợ liền kề nhau, là khu chợ lớn tập trung đông đúc nhất các thương gia bản địa nước Tần. Phía đông phố Trường Dương, cách một khu vực dinh thự quan lại san sát, chính là chợ lớn Thương Sơn Phường nổi tiếng thiên hạ. Hai chợ nằm giáp nhau, nha môn Quản thị thự của quốc phủ định tên phố Trường Dương là Quốc thị, còn Thương Sơn Phường nơi thương gia xứ Sơn Đông tụ tập thì được đặt tên là Ngoại thị. Người Tần gốc ở Hàm Dương lại chưa từng gọi như vậy, chỉ tùy theo sở thích của mình mà gọi phố Trường Dương là Cần thị, gọi Thương Sơn Phường là Lại thị. Nguyên do trong đó, cũng chính là sự đồng cảm sâu sắc của những người dân chốn thị thành. Nếu so sánh về hàng hóa, Ngoại thị Thương Sơn Phường trăm thứ đều đủ, còn Quốc thị phố Trường Dương thì chỉ có thể kinh doanh những mặt hàng sinh kế được pháp luật nước Tần cho phép. Tỷ như binh khí, muối sắt, châu báu, chu sa, xe ngựa chiến v.v., phố Trường Dương tuyệt đối không có. Nếu so sánh về quy mô cửa hàng, phố Trường Dương phần lớn là những cửa hiệu nhỏ ba đến năm gian, dẫu có vài tiệm lớn thì cũng chỉ chừng tám chín gian, tối đa là hai tầng lầu gỗ cùng một khoảng sân mà thôi. Thương Sơn Phường thì không như vậy, các đại thương xã của sáu nước không nhà nào là không có hiên bay vút lên, gác xé chồng chất, sân vườn thông qua nhiều lớp, nhà nào nhà nấy cũng đều sang trọng rộng rãi hơn cả dinh thự của đại thần nước Tần. Ngay cả những cửa tiệm bán lẻ ở Thương Sơn Phường cũng thường có mười mấy gian, cửa đồng tủ đồng, nền lát đá tinh xảo, sự hoa lệ rộng rãi cùng phong cách đại điếm ấy hoàn toàn không thể đem ra so sánh với phố Trường Dương.
Người Tần già vẫn cứ yêu phố Trường Dương.
Khu chợ mộc mạc của nước Tần có những điểm đáng yêu rất riêng. Cần cù tận tụy, thuận tiện cho người trong nước, ban ngày chưa từng ngừng buông bán, khi màn đêm buông xuống thì cứ chờ cho đến khi dọn sạch đường phố mới đóng cửa nghỉ ngơi. Nếu không có chiến tranh, đại Hàm Dương sẽ không dọn đường vào lúc nửa đêm, và phố Trường Dương luôn có những cửa hiệu thắp đèn lồng suốt đêm suốt sáng, chờ đợi những vị khách lang thang cô độc bất ngờ ghé đến. Thường là vào canh năm gà gáy, sắc trời còn chưa hửng, Thương Sơn Phường vẫn chìm trong tĩnh mịch, các thương gia sáu nước còn đang trong giấc mộng, thì chợ sáng của phố Trường Dương đã sớm náo nhiệt hồng hào rồi. Những người Tần dậy sớm nhân lúc ánh sáng mờ ảo tranh thủ bước nhanh ra chợ, hoặc giao dịch vài món đồ, hoặc ngấu nghiến một bữa bánh mì kẹp thịt cừu thơm lừng, xong việc lập tức đi ngay để lo sinh kế của mình. Ngay cả các lại viên quan phủ hay sĩ tử du học, cũng thường hẹn nhau ở chợ sáng phố Trường Dương để bàn chuyện, vừa ăn uống vừa sắp xếp những việc trọng đại trong ngày, rồi vội vã rời chợ để đến điểm danh nhậm chức. Lâu ngày thành thói quen, chợ sáng phố Trường Dương bỗng nhiên trở thành một phong vị lúc bình minh đầy hấp dẫn của đại Hàm Dương.
Sáng sớm gặp nhau, đề tài đầu tiên của người dân chốn thị thành phần lớn là thời tiết.
Mấy ngày liền sương đỏ bao trùm, ban đầu người ta vốn đã không còn kinh ngạc nữa, gặp nhau lắc đầu thở dài vài tiếng rồi chẳng nói gì thêm, ai nấy lại bận rộn việc của người nấy. Hôm nay lại khác, ai gặp ai cũng phải dừng lại thì thầm dăm ba câu, và những điều bàn tán hầu như đều xoay quanh cùng một lời đồn đại: Có một nhà chiêm tinh người nước Tề đến Hàm Dương, chiêm bói về hiện tượng sương đỏ của nước Tần rằng: "Sương mù là khí, mưa đất lất phất, trời đất một màu máu, trên dưới trái nghịch nhau." Bất luận là người quen hay người lạ, thì thầm với nhau vài câu xong, lại tranh nhau kể lể một loạt những thắc mắc kinh ngạc vốn đã bỏ bẵng nhiều ngày nay tưởng chừng như đã quên lãng. Có người bận rộn giải thích, thế nào gọi là sương mù, các nhà thiên văn gia âm dương gia gọi là "vũ thổ" (mưa đất), còn theo cách nói của người Tần thì là trời đổ đất xuống. Có người liền hỏi, trời đổ đất xuống thì cũng phải có nguyên do chứ, non xanh nước biếc vùng Tần Xuyên vốn ôn hòa nhiều mưa, từ phương nào sinh ra lắm bụi đỏ ngập trời bay lả tả suốt cả ngày như thế? Có người lại kinh ngạc, lão huynh ơi, lẽ nào nước Tần thực sự sắp xảy ra chuyện gì nữa sao? Bất luận ai nói ai hỏi, đề tài đều chỉ một màu sương mù.
"Mau đi xem đi! Cửa nam treo thưởng! Một chữ ngàn vàng đấy—!"
Khi người dân đang tụ tập thì thầm, bỗng một tên gia đồng từ giữa phố chạy như bay vụt qua, tiếng gọi non nớt trong trẻo và cấp bách văng vẳng suốt dọc đường. Bất luận là người trong tiệm hay phu phen quét dọn ngoài phố, chốc lát đều kinh ngạc bàn tán. Một cụ già cất cao giọng hỏi gấp: "Gì gì gì thế, một chữ ngàn vàng? Nói cho rõ ràng xem nào!" Có người bấy giờ mới lớn tiếng cười vang: "Thằng nhóc con chưa ngủ dậy, lão bá đây cũng đang nằm mơ phỏng? Một chữ ngàn vàng, chúng ta lập tức vứt chổi, đi học chữ đây!" Trong phố ngoài tiệm, nhất thời vang lên một tiếng cười rộ hòa lẫn.
"Cửa nam treo thưởng! Một chữ ngàn vàng! Mau đi xem đi——!" Tên gia đồng vẫn vừa chạy vừa hét.
Theo tiếng gọi non nớt gấp gáp văng vẳng dọc đường, lòng người dân dần trở nên nôn nao không yên. Đầu tiên là mấy kẻ thích hò reo chạy tút về phía cửa nam, tiếp theo là những thực khách trong quán bỏ dở bát đũa chạy theo, tiếp nữa, những kẻ đang quét dọn sân nhà cũng kéo theo chổi, ôm chậu đồng giẻ lau lần lượt đổ về hướng cửa nam. Chẳng mấy chốc, đến cả các lại viên và sĩ tử du học đang vội vã đến công sở, cũng quay xe đi theo từ lúc nào.
Bãi xe ngựa phía đông cửa nam trở nên náo nhiệt vô cùng.
Dưới chân thành dựng lên một bức tường ván cao hơn hai trượng, kéo dài từ cửa thành đến phía đông bãi xe ngựa, dài đúng hai dải tên bắn. Trên tường ván treo từng dải vải trắng, kéo dài từ đỉnh bức ván cao hơn hai trượng thẳng xuống cách mặt đất ba tấc, những dải lụa buông thõng giữa trời, vô cùng tráng lệ. Ở dải vải trắng đầu tiên tận cùng bên phía đông, đính bốn chữ đồng to bằng đấu — Lã Thị Xuân Thu. Dưới chữ đồng dựng một tấm ván gỗ lớn màu mộc, trên ván viết dòng chữ đỏ lớn: Lã Thị Xuân Thu xin thiên hạ chỉ giáo, sửa được một chữ thưởng ngàn vàng! Từng dải vải trắng lớn lần lượt xếp sang phía tây, trên đó viết đầy những chữ to bằng nắm tay ngay ngắn rõ ràng. Dưới bức tường trắng mờ mịt, cứ cách hơn ba trượng lại bày một chiếc bàn viết cực lớn, trên bàn xếp ngay ngắn mực tàu cỡ lớn, bút lông lớn và giấy da cừu lớn. Trước mỗi chiếc bàn lớn đứng hai vị sĩ tử y phục sang trọng, liên tục cất cao giọng xướng lớn: "Chúng ta đây là môn khách của Văn Tín Hầu, chuyên lo việc đốc trách công tra cứu sai sót! Kỳ thư xin sửa lỗi, cũng giống như Thương Quân dời cột lập tín vậy. Bất luận là ai, hễ sửa được một chữ, lập tức thưởng ngàn vàng!"
Kỳ quan hiếm có trong thiên hạ như vậy khiến đám đông tụ tụ tập tập như thủy triều trở nên phấn khích.
Chưa đầy nửa khắc, dưới chân thành phía đông cửa nam người đông như núi biển. Trên những cây lớn hai bên hào nước quanh thành, treo đầy những thiếu niên nghịch ngợm. Xe ngựa dừng ở bãi xe bị đám đông chen chúc đẩy dạt ra ngoài. Các sĩ tử biết chữ lần lượt trèo lên trụ đá, trèo lên gò đất, cất cao giọng ngâm tụng bài văn trên tường vải trắng. Trong đám đông thỉnh thoảng lại vang lên tiếng cười rộ kinh ngạc, tiếng bàn tán xôn xao, náo nhiệt hơn cả chợ trời công khai của nước Tần thuở trước. Những nông phu thợ thuyền đến một chữ bẻ đôi cũng không biết, lúc này lại vô cùng thả lỏng thoải mái, gặp lại người quen cũ vốn ngày thường khó lòng gặp mặt, liền cười ha hả ném lớn một câu: "Lão huynh giỏi thật đấy! Mau đi sửa đi, một chữ đủ để anh đi khắp thiên hạ!" Người quen cũ đối diện cũng cười hì hì ném trả lại một câu: "Đến lượt lão hiền đệ sửa ấy chứ! Một chữ, đủ cho ông lão góa vợ nhà ngươi cưới một trăm người vợ già!" Tiếng hô hét liên hồi, từng đợt cười rộ vang dội cứ thế cuồn cuộn lan tỏa trong biển người vô tận. Còn những kẻ từng đọc sách biết chữ, thì bất luận học vấn nông sâu nền tảng thế nào, đều bị người thân láng giềng xúi giục đến mức lòng dạ thấp hỏm, ai nấy mặt mày đỏ bừng dán mắt vào bức tường chữ đen vải trắng, tốn bao sức lực săm soi phỏng đoán, ôm mộng nặn ra được một hai chữ mà bản thân hiểu rõ để có cái mà bàn tán. Người Tần coi trọng công trạng, ngươi làm việc gì phải giống việc nấy, ngày thường đọc sách được người ta kính trọng gọi là sĩ tử, nhưng đến khi cần giao tranh lại không dùng sức được, giống như ngày ngày luyện võ mà chưa từng ra trận sẽ bị người ta xem thường, xem thấp đi; sửa được hay không sửa được, không cần phải quá coi trọng, nhưng cứ có chuyện để bàn tán, ít ra cũng không phụ cái danh hiệu vải thô áo sĩ trước mặt mọi người.
Bỗng nhiên, một kẻ biết chữ y phục vải thô chỉnh tề nhảy vọt lên một trụ đá, biển người lập tức trở nên yên lặng.
"Chư vị, tại hạ xin đọc vài đoạn, sửa giúp một chữ, chia đôi tiền thưởng thì thế nào?"
"Hay lắm —!" Đám đông đồng thanh hô lớn.
Vị áo vải xoay người lại, chỉ tay vào bức tường vải trắng lớn cất giọng sắc bén đọc lên: "Đây là thiên Quý Công, viết rằng: Xưa các bậc thánh vương cai trị thiên hạ, tất phải đặt chữ công lên đầu, công thì thiên hạ phẳng vậy! ... Thiên hạ không phải là thiên hạ của một người, mà là thiên hạ của chung thiên hạ. Sự hòa hợp của âm dương, không nuôi lớn một loài. Mưa móc mưa thời hiệu, không thiên vị một vật. Chủ của muôn dân, không thiên vị một người."
"Cao luận! Hay!" Trong đám đông vang lên tiếng vỗ tay hoan hô khắp nơi.
"Sửa được hay không sửa được?"
"Không sửa được —!" Muôn người cùng gầm lên, chấn động cả đất trời.
Sĩ tử áo vải đành chịu làm một mặt quỷ, lại chỉ tay vào bức tường lớn: "Nghe tiếp đây! Đây là thiên Thuận Dân, viết rằng: Bậc tiên vương trước hết thuận theo lòng dân, cho nên công danh mới thành. Phàm dùng đức thu phục lòng dân, để lập công danh lớn, đời thượng cổ có rất nhiều! Mất lòng dân mà lập được công danh, chưa từng có bao giờ. Được lòng dân, ắt có đạo. Nước vạn xe, ấp trăm hộ, không dân nào là không vui thích. Lấy điều dân vui thích, mà dân theo vậy! Điều dân vui thích, há chẳng phải là cứu cánh sao! Đây là yếu điểm để thu phục lòng dân."
"Vạn tuế!"
"Một chữ cũng không sửa —!" Tiếng gầm của muôn người lại một lần nữa bùng nổ hừng hực.
Sĩ tử áo vải lắc đầu, lại xoay người chỉ tay: "Nghe tiếp nữa, đây là thiên Đãng Binh, viết rằng: Bậc thánh vương thuở xưa có nghĩa binh, chứ không có chuyện bãi binh. Binh vốn xuất xứ từ lâu đời, sinh ra cùng lúc có muôn dân. Phàm là binh, chính là uy. Uy chính là sức mạnh. Dân có uy lực, là bản tính. Bản tính là thứ nhận được từ trời, không phải do con người có thể làm ra, kẻ võ dũng không thể đổi, kẻ thợ khéo không thể dời. ... Tranh đấu trong thiên hạ, từ xưa đã có! Không thể cấm, không thể dứt, cho nên thánh vương có nghĩa binh, mà không có chuyện bãi binh vậy! ... Nghĩa binh là thuốc tốt cho thiên hạ, cũng thật lớn lao! Binh quả thực là nghĩa, để tru di bạo quân và chấn hưng khổ dân, dân vui thích vì điều đó."
"Nghĩa binh vạn tuế!"
"Sửa được hay không sửa được?"
"Không sửa được —!"
"Không cần tiền thưởng sao?"
"Không cần —!" Tiếng sóng gầm trời thét đất đã nuốt chửng toàn bộ đại Hàm Dương.
Sĩ tử áo vải nhảy phắt xuống trụ đá, quay người cúi mình thật nghiêm trang trước bức tường vải trắng lớn, cất giọng ngâm tụng một câu: "Lớn thay! Văn Tín Hầu đã đạt được lòng dạ của thiên hạ!" Vẻ mặt đầy kính trọng mà cũng đầy phơi phới rạng rỡ hòa mình vào đám đông, dường như còn thoải mái hơn cả việc thực sự nhận được tiền thưởng.
Giữa lúc náo nhiệt huyên náo, một đội nhân mã hộ tống một chiếc xe ngựa sang trọng chạy đến.
Đội xe ngựa vừa vặn dừng lại bên bãi xe, mấy nhân vật mặc gấm vóc lụa là đã xuống ngựa từ trên xe khiêng xuống một chiếc hòm đồng lớn quấn lụa đỏ. Những nhân vật mặc gấm vóc còn lại, lại vây quanh một vị lão giả tóc trắng buông xõa không đội mão tiến đến dưới bức tường trắng lớn.
Một vị môn khách bên bàn viết cất tiếng hô lớn: "Quần chúng nhường đường cho quần chúng, lời nói thời chiến tranh, xuất từ *Lã Thị Xuân Thu - Bất Nhị*: 'Nghe bàn luận của quần chúng để trị nước, nước lâm nguy chẳng còn cách bao lâu nữa!', Cương Thành Quân giá lâm —"
Đám đông rẽ phắt ra hai bên. Thái Trạch mặc áo gấm đỏ rực, râu tóc bạc phơ, bước những bước dài đến một tảng đá lớn, đẩy vị môn khách đang tiến tới đỡ mình ra, một bước trèo lên trụ đá. Đám đông ngầm hiểu có chuyện, dần dần bình tĩnh trở lại. Giọng khàn khàn như vịt đực của Thái Trạch vang dội lên: "Chư vị, lão phu đã từ quan, trong lúc sắp sửa lên đường, nhận sự ủy thác của Văn Tín Hầu, đến đây để đốc tra thăm dò vị thầy một chữ. Kẻ nào là *Lã Thị Xuân Thu*, đó chính là cương kỷ trị nước mà Văn Tín Hầu thiết lập cho thiên hạ! Ngày hôm nay công bố tại cổng chợ Hàm Dương, mục đích là để thông cáo thiên hạ, muôn dân cùng suy ngẫm! Sĩ tử học vấn trong thiên hạ, hễ ai có ánh mắt tinh tường đều cứ việc chỉ ra chỗ sai. Sửa đúng một chữ, lập tức thưởng ngàn vàng, đồng thời tôn làm thầy một chữ! Lão phu nay không còn là người làm quan, quyết lấy lòng công bằng để phán định. Người đâu, bày tiền thưởng ra!" Vừa dứt lời, hai nhân vật mặc gấm vóc gỡ dải lụa đỏ, mở nắp hòm, từng lớp bánh vàng xếp ngay ngắn sáng chói lọi, hiện rõ trước mắt mọi người.
Hàng vạn con người bỗng nhiên im phăng phắc.
Hơn trăm năm nay, việc dời cột lập tín của Thương Quân đã trở thành truyền thuyết lâu đời được người Tần ca ngợi mãi không thôi. Người Tần hễ nói chuyện nước Tần, thì việc dời cột lập tín này chính là chương hồi kích động lòng người nhất. Bất luận là người nói hay người nghe, cuối cùng thế nào cũng có một câu cảm thán: "Dời một cây cột mà thưởng trăm vàng, phong thái của Thương Quân nay không còn nữa!" Không ngờ, ngày hôm nay vị Văn Tín Hầu này treo thưởng một chữ ngàn vàng, bút tích rõ ràng là lớn hơn rất nhiều. Thế nhưng, việc làm của Thương Quân là lập tín với dân, còn hành động thế này của Văn Tín Hầu, rốt cuộc là vì mục đích gì? Một cuốn sách giao cho muôn dân cùng suy ngẫm, từ xưa đến nay mấy khi có chuyện này? Lại nói các nhà các phái pháp, mặc, đạo, nôm, những sách vở lớn lao như sao trên trời, từng có ai dạy bách tính bình thường suy ngẫm bao giờ chưa? Hơn nữa, bách tính có mấy người biết chữ, mà suy ngẫm cái gì cơ chứ, chỉ e đến người nghe hiểu được cũng chẳng có mấy người. Muốn bách tính nói hay, trừ phi ngươi viết trong sách thay bách tính nói lên tiếng lòng, bằng không ai thèm nói ngươi tốt? Ồ, vị sĩ tử áo vải ban nãy đọc mấy đoạn, đều là thay bách tính mà nói cả. Hèn chi lại giao cho muôn dân suy ngẫm, tính toán cái gì chứ? Chẳng phải là tính toán lòng dân, tính toán sự công nghị đó sao. Thế nhưng, Văn Tín Hầu hiển hách uy quyền khuynh đảo triều dã, ham muốn sự công nghị của thứ dân này rốt cuộc là vì cái gì? Các vị độc giả hãy chú ý, người Tần vốn dĩ mộc mạc đôn hậu, người Tần sau khi biến pháp của Thương Yến, sự tin tưởng kiên định đối với pháp luật quan phủ lại càng vô cùng thực tế; hễ phàm là chuyện gì liên quan đến quan phủ, liên quan đến quốc sự, người Tần xưa nay đều vô cùng điềm tĩnh trọng thị, không hề có sự bàn luận sôi nổi bùng nổ nhiệt tình như dân chúng sáu nước xứ Sơn Đông. Tuân Tử vào nước Tần, cảm khái rất nhiều, trong đó hai câu phán định là xác thực nhất: "Dân có phong tục cổ xưa, quan có lòng dạ công bằng." Muốn khiến dân chúng tuân theo lời của một cuốn sách mà sinh lòng nghi ngờ quan phủ, người Tần ắt sẽ phải nhíu mày phỏng đoán một phen trước đã. Thưởng ngàn vàng ngày hôm nay, không đơn giản giống như chuyện dời cột lập tín, cẩn thận vẫn hơn. Sự đời cũng thật kỳ lạ, nếu Thái Trạch không lên tiếng, người Tần còn ham vui xem sự lạ, tha hồ hò reo bàn tán; Thái Trạch ưỡn ngực ngẩng cao đầu tuyên bố tôn chỉ, biển người mênh mông bỗng chốc lại mang trong lòng sự thấp hỏm không yên.
"Văn chương thiên hạ há lại không có chỗ có thể sửa? Tại hạ đến đây!"
Bỗng một tiếng hét xé tan đám đông, biển người náo động hoan hô, xôn xao rẽ ra một lối đi.
Một vị sĩ tử áo đỏ tay cầm thanh trường kiếm, từ lối đi giữa biển người oai phong lẫm liệt bước đến dưới bức tường lớn. Thái Trạch bước xuống trụ đá, từ xa chắp tay nói: "Dám hỏi các hạ, đến từ nước nào? Đại danh quý tính là gì?" Sĩ tử áo đỏ chắp tay, hiên ngang đáp rằng: "Sĩ tử nước Tần Thuần Vu Việt, môn hạ của Mạnh Tử đây!" Thái Trạch không khỏi phì cười nói: "Nước Tần đã mất, các hạ đành làm kẻ trốn đời phỏng? Ngươi phải là người nước Sở hoặc nước Tề mới đúng chứ." Thuần Vu Việt dứt khoát xua tay: "Đời dẫu không có nước Tần, lòng dân có nước Tần! Cương Thành Quân có gì mà cười?" Thái Trạch lắc đầu khinh bỉ không muốn tranh cãi bèn cười nhẹ, khua tay mời rằng: "Đây không phải là nơi luận chiến, các hạ đã có chí hướng sửa lỗi, xin hãy làm thầy một chữ."
"Học vấn khảo đính, Nho gia chúng ta không nhường ai hết." Thuần Vu Việt lạnh lùng cười, một bước trèo lên trụ đá, kiếm chỉ bức tường lớn vải trắng, "Chư vị hãy xem, đây là thiên *Trọng Thu Ký* thuộc *Luận Uy Thiên*, câu mở đầu của nó viết rằng: 'Nghĩa vậy thay, kỷ cương của muôn việc, là nguồn gốc khởi nguồn của vua tôi trên dưới thân sơ, là nơi tồn tại của trị loạn an nguy quá thắng.' Viết như thế có đúng không?"
"Chính thế!" Các sĩ tử xung quanh đồng thanh hưởng ứng.
"Tại hạ xin sửa chữ 'nghĩa' này!" Vỏ kiếm của Thuần Vu Việt liên tục đập vào bức tường vải trắng lớn, "Chữ nghĩa, phải sửa thành chữ lễ! Kỷ cương của muôn việc, chỉ có lễ mới đáng mặt. Khổng phu tử nói: Muôn việc mông lung, điều này là lớn nhất, khắc kỷ phục lễ vậy. Lễ là kỷ cương, tuyệt đối không được thay đổi. Lấy nghĩa thay lễ, đại đạo thiên hạ nằm ở đâu!"
Đám đông lại lạnh nhạt một cách kỳ lạ, không vỗ tay, không ho호, giống như bầu trời hỗn mang một màu đỏ quạch. Thuần Vu Việt nhất thời kinh ngạc, có phần lúng túng không biết phải tay chân để đâu. Bỗng nhiên, một lão già tóc trắng cất cao giọng hỏi: "Dám hỏi tiên sinh nước Tần, cái lễ mà ngươi nói ấy, có phải là cái lễ mà Khổng phu tử không dạy cho đám thứ dân bọn ta biết không? Câu nói đó, nói thế nào nhỉ?"
"Lễ không ban xuống cho thứ dân!" Có người cất cao giọng đáp ứng.
"Đúng đúng đúng, lễ không ban xuống cho thứ dân!" Lão già bỗng đỏ bừng mặt, giọng già nua run rẩy, "Muôn vàn thứ dân không được dự lễ, chỉ có một nhúm quý tộc thế tộc mới được dự lễ, mà cũng làm nên gốc rễ của muôn việc ư? A!"
"Nói hay lắm! Lão bá vạn tuế —"
Mọi người cười rộ hoan hô vang trời, kẻ thô lỗ thẳng thừng chửi mắng: "Ta cứ ngỡ thằng nhóc con có thể rặn ra cứt vàng, hóa ra chỉ là cái thứ chó má thối tha!" "Đồ khốn kiếp! Lễ là cái thá gì? Chày gỗ lớn của quyền quý chứ gì!" "Khổng lão phu tử thậtâm độc, chỉ biết bắt nạt bách tính!" "Còn đòi môn hạ của Mạnh Tử, còn nước Tần, trần truồng một mảng, xấu hổ! Thèm chấp!" "Đồ khổng tước! Lại còn đòi sửa sách, về nhà mà sửa lại cái thứ đồ vật của nhà ngươi đi!"
Một màn cười cợt chửi rủa náo loạn cả lên, Thuần Vu Việt xấu hổ vô cùng, mặt đen sì quay ngoắt bỏ đi.
"Hay lắm! Lòng dân chính là lòng trời, phán định vô cùng thỏa đáng!"
Thái Trạch vô cùng đắc ý, cười dài một tiếng, hô lớn: "*Lã Thị Xuân Thu* ai ai cũng có thể sửa, sĩ tử xứ Sơn Đông lại càng có thể sửa!" Lại sai người phân phó xuống dưới, bảo các môn khách trèo lên trụ đá, đồng thanh hô lớn: "*Lã Thị Xuân Thu* ai ai cũng có thể sửa! Sĩ tử xứ Sơn Đông lại càng có thể sửa!" Ý ban đầu của Thái Trạch, là thừa biết sĩ tử xứ Sơn Đông có rất nhiều tài năng, chỉ có sĩ tử xứ Sơn Đông tâm phục khẩu phục rồi, *Lã Thị Xuân Thu* mới có thể thực sự đặt nền móng vững chắc, cho nên mới phát ra lời hiệu triệu này. Thế nhưng, câu nói này lúc bấy giờ lọt vào tai hàng vạn người Tần già, lại bị định đoạt đây là lời khiêu chiến với sĩ tử sáu nước, không nói hai lời liền hùa theo gầm thét lên, sóng âm chấn động ngút trời như muốn lật tung cả thành đại Hàm Dương. Cứ thế cho đến quá trưa, cho đến lúc hoàng hôn, tuyệt nhiên không còn một vị sĩ tử nào đến làm thầy một chữ nữa.
Đến thời điểm thắp đèn, một tên môn khách mặc áo gấm vội vã đến cửa nam, len lỏi chen đến bên cạnh Thái Trạch.
Môn khách thì thầm vài câu, Thái Trạch vô cùng kinh ngạc, lập tức lên xe ngựa chìm khuất vào trong làn sương tím đỏ.