Đại Tần Đế Quốc 6: Đế Quốc Phong Yên

Lượt đọc: 209 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết 1
Thuyết Bạo Tần - Lời Dối Trá Lịch Sử Của Thế Lực Phục Bích Cuối Đời Tần

❊ ❊ ❊

Sự diệt vong đột ngột của đế quốc Tần là hố đen lớn nhất trong lịch sử văn minh Trung Hoa.

Nhà Tần lấy khí thế dời non lấp biển thống nhất thiên hạ, lấy chí biến pháp đồ cường để tái thiết nền văn minh Hoa Hạ trên quy mô lớn; khiến Trung Quốc đương thời vừa một bước vượt qua nền văn minh bang liên lỏng lẻo cổ xưa của ba đời Hạ Thương Chu vốn dựa trên nền tảng sản xuất nô lệ, lại vừa một bước chỉnh hợp toàn bộ thành quả văn minh được ấp ủ qua hơn năm trăm năm đại tranh kịch liệt thời Xuân Thu Chiến Quốc. Với quy mô lớn nhất, tốc độ nhanh nhất, nước Tần đã sừng sững dựng nên hình thức quốc gia vĩ đại nhất, nền văn minh xã hội tiến bộ nhất của nhân loại trong thời đại đồ sắt. Chiểu theo quy luật lịch sử, một chủ thể quyền lực có sức sáng tạo vĩ đại thì sinh mệnh quyền lực chí ít cũng phải kéo dài suốt một thời kỳ lịch sử tương đối dài. Thế nhưng, đế quốc Tần lại chỉ tồn tại hữu hiệu trong mười hai năm (ba năm sau đó là thời kỳ sụp đổ). Cùng với sự ra đi đột ngột của Thủy Hoàng Đế, chủ thể quyền lực kiến tạo nên hệ thống văn minh vĩ đại này cũng ầm ầm sụp đổ.

Khoảng cách số phận khổng lồ này đã tạo ra mảnh đất lịch sử cho những lời công kích và dối trá.

Sự phát triển của lịch sử đã cho thấy tính logic nội tại vốn có: Chủ thể quyền lực diệt vong không đồng nghĩa với hệ thống văn minh do nó kiến tạo diệt vong; sự sụp đổ đột ngột của chủ thể quyền lực ở một giai đoạn nào đó không nhất thiết bắt rễ từ hệ thống văn minh do nó tạo ra. Sự thật lịch sử là: Với tư cách là kiến trúc sư của nền văn minh, đế quốc Tần đã đột ngột diệt vong, nhưng hệ thống văn minh do đế quốc Tần kiến tạo lại được hậu thế kế thừa; chính quyền đế quốc Tần vì biến cố chính trị bất ngờ mà sụp đổ, nhưng kết cục ấy cũng không hề làm thay đổi bản chất lịch sử của hệ thống văn minh do đế quốc Tần tạo nên.

Tính logic của lịch sử vốn đã bao hàm con đường giải mã chân tướng lịch sử. Thế nhưng, hơn hai nghìn năm qua, việc tìm hiểu lịch sử về bí ẩn diệt vong của đế quốc Tần vẫn luôn tồn tại một ngộ nhận: Đồng nhất hệ thống văn minh do đế quốc Tần kiến tạo với chủ thể quyền lực đế quốc Tần, bàn về việc Tần vong ắt lấy chính sự nhà Tần làm nhân, bàn về chính sự nhà Tần ắt lấy việc Tần vong làm quả; lấy sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Tần để suy đoán chính sự nhà Tần tàn ác, lấy chính sự nhà Tần tàn ác để suy đoán sự sụp đổ nhanh chóng của nhà Tần, đôi bên làm nhân quả cho nhau, càng dây dưa càng hỗn loạn. Do sự tồn tại của ngộ nhận này, việc truy tìm nguyên nhân Tần vong từ lâu đã rơi vào một định luận chủ lưu rập khuôn: Chính sự nhà Tần bạo ngược, bạo chính làm mất nước Tần. Đương nhiên, ngộ nhận này chỉ là ngộ nhận mang ý nghĩa phương pháp luận, là một trong những nguyên nhân học lý hình thành thuyết "bạo Tần". Hơn hai nghìn năm qua, các nhà sử học của chúng ta luôn chăm chăm tìm kiếm căn cứ "bạo chính", lặp đi lặp lại nhận định cổ xưa này vô số lần, mãi đến đương đại vẫn chưa có biến chuyển lớn, trong đó tự nhiên có nguyên nhân lịch sử xã hội sâu xa hơn.

Thuyết "bạo Tần" có nguồn gốc của nó, việc lần giở của chúng ta phải bắt đầu từ cội nguồn.

Sự tranh cãi phán xét đối với văn minh Tần lấy chính sự và thể chế nhà Tần làm trục tâm, thực chất đã bắt đầu từ thời kỳ nước Tần trỗi dậy sau biến pháp của Tần Hiếu Công và Thương Ưỡng. Nhìn tổng thể, thời Chiến Quốc phán xét văn minh Tần qua hai dòng chủ lưu: Một là, từ góc độ thể chế, đánh giá rất cao biến pháp nước Tần cùng nền văn minh pháp trị kiểu mới do nó tạo ra, đồng thời ra sức học theo nước Tần, từ đó hình thành làn sóng biến pháp thứ ba mà đại diện là biến pháp của nước Triệu và nước Yên; hai là, từ góc độ thi hành chính sự, đưa ra những lời cáo buộc gay gắt đối với nền pháp trị nước Tần, ngôn luận tiêu biểu là thuyết "hà pháp" (luật pháp hà khắc) và thuyết "hổ lang" (lang sói). Vào thời Chiến Quốc, vẫn chưa thấy xuất hiện cách nói "bạo chính" rõ ràng. Về căn bản, điểm tựa của hai cách nói này là khác nhau. Thuyết "hà pháp" là một phán xét chính trị của phái thủ cựu mang giá trị quan "vương đạo". Dẫu phán xét này mang đặc chất phản đối mọi biến pháp của phái thủ cựu, không có tính khách quan của việc nghiêm túc tìm hiểu, nhưng xét về diện cơ bản, nó vẫn là sự tranh minh giữa pháp trị và chính luận, không mang ý đồ phủ định tổng thể. Còn thuyết "hổ lang" lại là lời nguyền rủa chính trị xuất phát từ tâm lý thù hận sau nhiều lần kháng cự thất bại của sáu nước vùng Sơn Đông dựa trên ý thức kỳ thị tộc quần, thực chất là sự phán xét phi chính đáng mang tính công kích, tự nhiên không thể coi là căn cứ lịch sử.

Về cơ bản, trước khi Tần diệt sáu nước vào cuối thời Chiến Quốc, dư luận thiên hạ nhìn nhận chính sự nhà Tần một cách tích cực. Căn cứ cơ bản nhất có hai phương diện. Một phương diện, đại sư Tuân Tử vào cuối thời Chiến Quốc, người kiêm thông cả hai học phái Nho - Pháp và lập trường học thuật xưa nay vốn công chính, luôn đánh giá rất cao thể chế, chính sự và phong khí nước Tần. Trong thiên "Cường quốc", Tuân Tử dựa vào những điều mắt thấy tai nghe khi đích thân đến đất Tần đã đưa ra đánh giá cao nhất đối với phong khí và chính sự nước Tần: "Nhàn nhã mà trị yên, giản ước mà tường tận, không phiền hà mà nên công, đó là chỗ tột cùng của sự cai trị vậy. Nước Tần gần được như thế!". Trong thiên "Chính luận", Tuân Tử lại luận chứng đầy đủ tính hợp lý của việc "trị thế trọng hình" (thời loạn dùng hình nặng), thực chất chính là lời đáp trả đối với thuyết "hà chính". Lời bàn của Tuân Tử không có bất kỳ ai đưa ra phản bác. Phương diện khác, xu thế lịch sử "thiên hạ hướng về một mối" vào cuối thời Chiến Quốc ngày càng hình thành, chiến lược khả thi "thiên hạ nhất thống" cũng được Lý Tư kịp thời đề xuất. Xu thế lòng người này đồng nghĩa với việc thiên hạ gửi gắm kỳ vọng lớn lao vào chính sự nhà Tần, gửi gắm kỳ vọng lớn lao vào việc nước Tần gom thiên hạ về "một mối". Hai phương diện cơ bản như vậy đã chứng minh đầy đủ: Thời Chiến Quốc đối với chính sự nhà Tần tuy có tranh cãi, nhưng dòng chính trong thiên hạ là khẳng định chính sự và thể chế nhà Tần. Đương nhiên, đằng sau sự khẳng định này có một nguyên tắc giá trị xã hội cơ bản nhất phát huy tác dụng: Biến pháp thời Chiến Quốc chỉ có nước Tần thành công nhất, bản thân thành công là kết quả của việc "tùy thời mà biến đổi", là kết quả của việc thuận ứng trào lưu. Dưới bối cảnh lớn khi "cầu biến để sinh tồn" và "đại tranh sự công" trở thành tinh thần thời đại, toàn bộ xã hội đối với một quốc gia gặt hái thành công to lớn là không có lý do để chỉ trích.

Sau khi đế quốc Tần thống nhất thiên hạ, tình hình dư luận đã xảy ra biến đổi.

Trục tâm của sự biến đổi là cuộc đại tranh luận xung quanh việc khôi phục chế độ chư hầu hay thiết lập chế độ quận huyện. Từ cuộc đại tranh luận này nảy sinh ra sự so sánh tổng thể giữa văn minh ba đời Hạ Thương Chu với văn minh do đế quốc Tần kiến lập, cùng với những phán xét tổng thể liên quan đến nó. Thế nhưng, cuộc đại tranh luận này cùng những dư ba của nó vẫn được các bên tranh luận tự giác giới hạn trong phạm vi tranh minh mà tinh thần Chiến Quốc có thể dung nạp: Phía phản đối không hề đụng chạm đến những cáo buộc tổng thể đối với chính sự nhà Tần, phía đổi mới cũng không vì đối phương ca ngợi chế độ chư hầu truyền thống mà ngang ngược chỉ trích, càng không bàn tới chuyện định tội. Giọng điệu của lịch sử đột ngột đổi hướng bắt đầu từ sau vụ án "đốt sách chôn nho". Kể từ khi các bậc nho sinh, bác sĩ lũ lượt "trốn" khỏi triều đình đế quốc Tần (tự ý rời bỏ chức vụ mà không qua từ quan chính thức), trong các luận điệu phán xét văn minh Tần liền xuất hiện một thanh âm trước đó chưa từng có: Chính sự nhà Tần hủy diệt điển tịch, ấy là đạo bạo ngược. Cháu tám đời của Khổng Tử là Khổng Cự, người từng được Tần Thủy Hoàng phong làm Thiếu phó Văn Thông quân, cùng nhiều danh nho giữ chức bác sĩ trong đế quốc Tần, sau khi rời khỏi triều đình trung ương đều bí mật liên kết với quý tộc sáu nước đang ẩn náu nơi rừng rú biển khơi. Sự liên kết bí mật lấy việc "bài xích chính sự nhà Tần" làm điểm chung này, đã khiến sự phán xét chính trị vốn không có nền tảng chính trị thực tế mà chỉ là ý kiến của một nhà khi bàn luận nơi miếu đường, bất ngờ sinh sôi thành ngọn cờ chính trị phục bích của quý tộc sáu nước.

Thuyết "bạo Tần" liền lấy thanh thế cực lớn, đột ngột hình thành trong loạn cuối đời Tần.

Kể từ khi Trần Sênh, Ngô Quảng khởi sự chống Tần, nhận thức và phán xét về chính sự nhà Tần đã trở thành vấn đề cấp bách mà các thế lực chống Tần khi đó bắt buộc phải trả lời. Mà tập đoàn nông dân Trần Sênh, Ngô Quảng chống Tần đầu tiên khi ấy lại không hề có lòng thù hận mang tính tổng thể đối với chính sự nhà Tần. Đối tượng thù hận trực tiếp của đám "dân nghèo đi phu dịch" trước hết là sự trưng thu, bắt lính quá mức của Tần Nhị Thế, chứ chưa đụng chạm đến việc phán xét chính sự nhà Tần ra sao. Tiếng than "thiên hạ khổ vì Tần đã lâu" của Trần Sênh, nội dung thực tế được nói tới cũng chỉ là những hành vi chính trị sau khi Nhị Thế lên ngôi. Dựa trên đặc chất trực cảm của tập đoàn nông dân, con đường khởi phát của Trần Sênh, Ngô Quảng rất đơn giản: Trước hết lấy việc kêu oan cho Phù Tô, Hạng Yên làm cớ, sau lại lấy "Trương Sở" (mở rộng nước Sở) làm cờ hiệu khởi sự, cuối cùng đạt tới mục đích dùng vũ lực phản kháng để mưu cầu lối thoát xã hội tốt nhất. Bước ngoặt của sự chuyển biến xuất hiện ở cục diện đại loạn đột ngột bùng phát khắp thiên hạ mà không ai lường trước được sau khi Trần Sênh khởi sự. Nghĩa quân nông dân của Trần Sênh nhanh chóng chiếm cứ quận Trần, quý tộc sáu nước cùng hào cường địa phương lũ lượt kéo đến, mưu toan mượn dùng lực lượng của Trần Sênh để phục bích, từ đó mới có thuyết "bạo Tần" ban đầu. Quá trình phát sinh gốc rễ là: Giới "tam lão hào cường" ở quận Trần khuyên Trần Sênh xưng vương, đồng thời ra sức ca ngợi việc khởi sự chống Tần của ông là đại nghiệp "phạt vô đạo, tru bạo Tần". Đây là lần đầu tiên tầng lớp quý tộc quy chụp cho toàn thể đế quốc Tần cái danh "bạo Tần", là thuyết "bạo Tần" sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc.

Xét về thực chất, đây là một mưu đồ chính trị rõ ràng: Thế lực quý tộc ôm chí phục bích đã lợi dụng sự non nớt về ý thức chính trị của tập đoàn nông dân, dùng phương thức ca ngợi và khuyên tiến ngôi để khéo léo biến mục tiêu chính trị của mình thành mục tiêu chính trị của tập đoàn nông dân, từ đó tạo nên thanh thế thiên hạ cùng thảo phạt "bạo Tần". Mưu đồ thực tế của chúng là biến thế lực nông dân chống Tần thành lực lượng mượn dùng hùng mạnh cho công cuộc phục bích của quý tộc. Sự thật lịch sử sau đó quả nhiên diễn tiến như vậy: Ngoại trừ bốn nhánh thế lực chống Tần của Lưu Bang, Hạng Yên, Kình Bố, Bành Việt là mượn thanh uy phát động của Trần Sênh chứ không trực tiếp mượn binh lực của Trần Sênh để khởi sự, tất cả quý tộc sáu nước còn lại đều quy thuận tập đoàn Trần Sênh, Ngô Quảng, trực tiếp lấy quân mã do Trần Sênh điều phối làm nền tảng, lấy danh nghĩa bộ tướng của Trần Vương xuất binh, rồi sau đó lại nhanh chóng phản bội Trần Sênh, tới tấp khôi phục lại cờ hiệu của sáu nước. Chính quyền Trần Sênh nhanh chóng tiêu biến, nguyên nhân căn bản chính là bị thế lực quý tộc phục bích thẩm thấu ồ ạt làm tan rã từ bên trong.

Thế lực phục bích nổi lên khắp nơi, sự công kích tổng thể đối với chính sự và thể chế nhà Tần lập tức bùng nổ bằng phương thức báo thù khốc liệt nhất. Kẻ phục bích của sáu nước đua nhau bịa đặt những lời lẽ kích động, phẫn uất mắng nhiếc xóa bỏ toàn bộ chính sự nhà Tần. Trong thời gian đó, nhiều lời công kích trong sử liệu chỉ là những ngôn từ rời rạc, duy chỉ có ba bài luận thuyết là có hệ thống nhất, do đó mang tính đại diện. Ba bài luận thuyết này đều do tập đoàn "Hà Bắc" Triệu - Yên lấy Trương Nhĩ, Trần Dư làm trục tâm khởi xướng, vừa là những lời lẽ có sức kích động nhất thời bấy giờ, lại vừa là sử liệu được các học giả bàn về "bạo Tần" đời sau trích dẫn nhiều nhất. Chính vì thế, chúng tôi xin trích lục nguyên văn ba bài luận thuyết này như sau:

Hào kiệt phụ lão trong đất Trần bèn thuyết phục (Trần Thiệp xưng vương)... Trần Thiệp hỏi hai người này (Trương Nhĩ, Trần Dư), hai người đáp rằng: "Nhà Tần làm điều vô đạo, phá hoại quốc gia của người ta, diệt trừ xã tắc của người ta, dứt tuyệt hậu duệ của người ta, vắt kiệt sức lực của trăm họ, vét sạch tiền của của muôn dân. Tướng quân giận dữ xông pha, tung kế vạn chết không màng một sống, vì thiên hạ trừ khử bạo tàn! Nay mới đến đất Trần đã vội xưng vương, ấy là tỏ cho thiên hạ thấy sự ích kỷ. Mong tướng quân đừng xưng vương, hãy mau dẫn binh sang hướng tây; sai người lập hậu duệ sáu nước, tự kết bè cánh cho mình, tăng thêm kẻ địch cho Tần! Kẻ địch nhiều thì lực lượng Tần bị phân tán, đồng minh đông thì quân ta mạnh. Cứ như thế nơi đồng nội không cần giao binh, nơi huyện ấp không cần công thành, tru diệt bạo Tần, chiếm cứ Hàm Dương để hiệu lệnh chư hầu. Chư hầu bị diệt nay được lập lại, ắt lấy đức mà phục, như thế thì đế nghiệp thành vậy! Nay một mình xưng vương ở đất Trần, e rằng lòng thiên hạ sẽ nguội lạnh."

Bọn Võ Thần từ Bạch Mã qua sông, đến các huyện, thuyết phục hào kiệt rằng: "Tần làm chính sự rối loạn, dùng hình phạt bạo ngược để tàn hại thiên hạ mấy chục năm rồi! Phía bắc có phu dịch xây Vạn Lý Trường Thành, phía nam có lính thú trấn giữ Ngũ Lĩnh, trong ngoài xáo động, trăm họ khốn cùng, thu thuế bổ đầu rút vét bồ cào để cung phụng quân phí, của cải cạn kiệt, sức lực hao mòn, dân không kế sinh nhai. Lại thêm luật pháp hà khắc, hình phạt nặng nề, khiến cho cha con trong thiên hạ không được yên ổn với nhau. Trần Vương vung tay khởi xướng đầu tiên cho thiên hạ, xưng vương đất Sở, cõi đất vuông vức hai nghìn dặm, không ai không hưởng ứng, nhà nhà tự phẫn nộ, người người tự chiến đấu, ai nấy đều báo oán trả thù, nơi huyện giết lệnh thừa, nơi quận giết thú úy. Nay đã mở rộng nước Sở, xưng vương ở đất Trần, sai Ngô Quảng, Châu Văn thống lĩnh trăm vạn quân kích Tần về hướng tây. Vào lúc này mà không thành tựu nghiệp phong hầu, thì không phải bậc nhân hào! Chư quân hãy cùng tính toán xem! Thiên hạ đồng lòng khổ vì Tần đã lâu rồi! Nhân lấy sức mạnh của thiên hạ mà đánh ông vua vô đạo, báo thù cho cha anh mà thành tựu đại nghiệp chia đất cắt bờ cõi, đây chính là thời cơ nghìn năm có một của kẻ sĩ!"

Võ Thần (Vũ Tín quân) dẫn binh về phía đông bắc đánh đất Phạm Dương. Người Phạm Dương là Khoái Thông thuyết phục huyện lệnh Phạm Dương rằng: "Trộm nghe ngài sắp chết, nên tôi đến viếng. Tuy nhiên, cũng chúc mừng ngài gặp được Thông mà được sống." Huyện lệnh Phạm Dương hỏi: "Cớ sao lại viếng?" Đáp rằng: "Pháp luật nhà Tần quá nặng. Tướng công làm huyện lệnh Phạm Dương mười năm rồi! Giết cha người ta, làm con người ta mồ côi, chặt chân người ta, khắc chữ lên đầu người ta, nhiều không đếm xuể. Thế nhưng, cha lành con thảo không ai dám đâm lưỡi dao vào bụng tướng công, là vì sợ pháp luật nhà Tần đấy thôi! Nay thiên hạ đại loạn, pháp luật nhà Tần không còn thi hành được nữa, cha lành con thảo có thể đâm dao vào bụng tướng công để thành danh. Đó là lý do tôi đến viếng tướng công vậy! Nay chư hầu đã phản Tần, quân Vũ Tín quân sắp đến nơi, mà ngài cứ cố thủ Phạm Dương, bọn trai trẻ ắt tranh nhau giết ngài để hàng Vũ Tín quân. Ngài nếu kíp sai tôi đi yết kiến Vũ Tín quân, chuyển họa thành phúc chính là lúc này đây!" Huyện lệnh Phạm Dương bèn sai Khoái Thông đi gặp Vũ Tín quân (lại làm sứ giả cho huyện lệnh Phạm Dương, ở đây lại có một tràng dài lời lẽ biện hộ cho huyện lệnh Phạm Dương)... Vũ Tín quân nghe theo kế đó, nhân tiện sai Khoái Thông ban ấn hầu cho huyện lệnh Phạm Dương (chú ý, lại biến thành sứ giả của Võ Thần). Đất Triệu nghe tin ấy, chẳng cần đánh mà đầu hàng hơn ba mươi thành trì.

Ba bài luận thuyết lấy việc công kích chính sự và thể chế nhà Tần làm trục tâm này có những điểm bất khả tín rõ rệt:

Thứ nhất, tâm lý báo thù mãnh liệt và mục tiêu quyền mưu khiến cho sự công kích chính sự nhà Tần của họ mang tính thủ đoạn rõ rệt, đánh mất đi tính chân thực khách quan. Nói một cách đơn giản, bài thứ nhất là Trương Nhĩ, Trần Dư lợi dụng sự non nớt về chính trị của tập đoàn nông dân để giăng ra một cái bẫy chính trị khổng lồ cho Trần Sênh: Không nên vội xưng vương, nghĩa quân nông dân một mặt nên dốc toàn lực tác chiến với Tần, một mặt đồng thời phò tá quý tộc sáu nước nhanh chóng phục bích. Chỗ hiểm của cái bẫy này là dụ dỗ quân nông dân chặn đánh quân Tần, để quý tộc sáu nước thừa cơ phục bích xưng vương. Vì mục tiêu này, hai người Trương - Trần đã liệt việc "phá hoại quốc gia của người ta, diệt trừ xã tắc của người ta, dứt tuyệt hậu duệ của người ta" thành tội ác hàng đầu của "bạo Tần", còn việc phục bích quý tộc sáu nước được coi là việc cấp bách hàng đầu để "tăng thêm kẻ địch cho Tần". Thế nhưng sự thật sau đó là: Các quý tộc sáu nước bao gồm cả tập đoàn Trương - Trần, hễ mượn được binh lực của Trần Sênh xuất động liền lập tức xưng vương, chẳng hề kiêng dè nghi vấn "tỏ cho thiên hạ thấy sự ích kỷ" nữa. Thuyết "bạo Tần" cố ý nảy sinh vì nhu cầu quyền mưu trần trụi bực này là lời lẽ công kích điển hình, không thể đánh đồng với những phán xét nghiêm túc. Cho nên, người đời sau bàn luận đa phần đều ngấm ngầm vứt bỏ cách nói này, không còn coi việc diệt sáu nước là tội hành của đế quốc Tần nữa.

Thứ hai, để đạt được lợi ích thực tế là nhanh chóng hạ thành chiếm đất, họ đã hư trương thanh thế, tùy tiện phóng đại. Lời Khoái Thông thuyết phục huyện lệnh Phạm Dương là đại diện cho thuyết "Tần dùng quan lại tàn khốc". Sự phóng đại về mối thù hận của dân chúng, cùng sự mâu thuẫn tự vỗ vào mặt mình giữa lời đe dọa ban đầu và sự vỗ về sau đó, đều đã đạt tới mức khiến người ta phải bật cười. Sự thật hiển nhiên là: Khoái Thông để biến mình thành danh sĩ tung hoành, trước tiên dọa dẫm huyện lệnh Phạm Dương, rồi hứa hẹn về tiền đồ mà mình có thể đem lại cho huyện lệnh Phạm Dương: Chỉ cần hàng Triệu, thu phục thành trì cho thế lực phục bích thì có thể "chuyển họa thành phúc"; sau đó, Khoái Thông lại xoay người biến thành đặc sứ của huyện lệnh Phạm Dương, nói với Võ Thần thật nhiều về nỗi khổ tâm của huyện lệnh, khiến Võ Thần "nghe theo kế đó"; tiếp theo, Khoái Thông lại thoắt biến thành đặc sứ của Võ Thần, ban thưởng cho huyện lệnh Phạm Dương tước hầu cùng xe tứ mã lộng lẫy; đến đây, mục tiêu cá nhân của Khoái Thông đã đạt được mà trở thành danh sĩ trọng thần, huyện lệnh Phạm Dương cũng "chuyển họa thành phúc", Võ Thần cũng nhờ đó mà đoạt được hơn ba mươi tòa thành. Đám sách sĩ cuối đời Tần can dự vào làn sóng phục bích đen tối này, tiết tháo đã suy đồi xa so với chuẩn mực của sách sĩ thời Chiến Quốc, biến thành những kẻ khua môi múa mép luồn cúi chỉ vì tư lợi bản thân. Ngay cả những kẻ mang danh "hiền tài" lẫy lừng như Trương Nhĩ, Trần Dư, sau này cũng vì tranh giành quyền lực mà sinh ra hiềm khích lớn, rốt cuộc từ "bạn cắt máu ăn thề" biến thành kẻ thù không đội trời chung. Điều chúng ta muốn nói là: Những lời lẽ hư trương thanh thế đe dọa lẫn nhau trong cuộc tranh đoạt lợi ích thực tế này đa phần là phóng đại tùy tiện, không đủ tư cách làm chứng cứ sử liệu.

Thứ ba, những luận điệu loại này rỗng tuếch không sát thực tế, có mâu thuẫn hiển nhiên với sự thật đương thời, rất nhiều sơ hở hoàn toàn không chịu nổi sự suy xét cặn kẽ. Ví như lời lẽ của tập đoàn Võ Thần, sự phóng đại bịa đặt rõ rệt chí ít có bốn điểm: Một là, "Ngô Quảng, Châu Văn thống lĩnh trăm vạn quân kích Tần về hướng tây". "Sử ký" chỉ ghi "vài chục vạn", mà con số ấy còn đáng ngờ. Trăm vạn đại quân đánh Tần, hoàn toàn là buông lời bừa bãi. Hai là, "Trần Thiệp xưng vương đất Sở, cõi đất vuông vức hai nghìn dặm". Khi ấy, nghĩa quân nông dân của Trần Sênh đến một quận Trần còn chưa thể khống chế hoàn toàn, lấy đâu ra đất đai vuông vức hai nghìn dặm? Ba là, "thu thuế bổ đầu rút vét bồ cào để cung phụng quân phí". Nguồn quân phí của đế quốc Tần rất nhiều, nhưng lời lẽ lại phóng đại miêu tả quy về hình thức tàn khốc là "nhà nhà nộp tiền theo đầu người, quan phủ dùng bồ cào vơ vét". Bốn là, "nhà nhà tự phẫn nộ, người người tự chiến đấu, ai nấy đều báo oán trả thù, nơi huyện giết lệnh thừa, nơi quận giết thú úy". Xét đúng thực tế, những nơi khởi sự chống Tần trong giai đoạn đầu chắc chắn có sự thật về việc báo thù giết chóc và giết hại quan lại, như Hạng Yên, Lưu Bang khởi sự đều như vậy. Nhưng nếu thiên hạ đều như thế cả, thì giải thích thế nào về khí thế quét lá rụng mùa thu trong vòng hơn nửa năm sau khi đại quân Chương Hàm xuất trận?

Thứ tư, thế lực phục bích cuối đời Tần mang tính chất phản văn minh điển hình, thực tiễn thi bạo tàn khốc của chúng là minh chứng hùng hồn nhất phản bác lại tính giả dối trong những luận điệu tru diệt bạo tàn. Là trục tâm của thế lực phục bích cuối đời Tần, những đại bạo hành của tập đoàn Hạng Vũ đất Giang Đông mang tính tàn khốc rùng rợn. "Sử ký - Hạng Vũ bản kỷ" đã ghi chép sáu cuộc đại thảm sát của tập đoàn Hạng Vũ đối với thường dân và hàng binh, toàn bộ đều là những vụ tàn sát thành trì và giết hại hàng binh rùng rợn sau khi chiến thắng: Lần thứ nhất đồ sát thành Tương Thành, chôn sống toàn bộ thường dân trong thành; lần thứ hai đại thảm sát Thành Dương, giết sạch toàn bộ thường dân trong thành từng hỗ trợ quân Tần kháng cự trước đó; lần thứ ba đại thảm sát Tân An, chôn sống hai mươi vạn hàng binh quân Tần; lần thứ tư đại thảm sát Hàm Dương, tàn sát thường dân Quan Trung không đếm xuể, đốt phá, giết chóc, cướp bóc và quật trộm lăng mộ trên quy mô lớn; lần thứ năm đại thảm sát khi phá Tề, chôn sống hàng binh của Điền Vinh không rõ số lượng, cướp bóc lớn, đốt giết lớn, bức bách nước Tề sau khi phục bích phải làm phản; lần thứ sáu đại thảm sát Ngoại Hoàng, vì lời phân tích thiệt hơn của một thiếu niên mà từ bỏ. Ngoài những bạo hành quy mô lớn muôn hình vạn trạng đó, Hạng Vũ còn khôi phục lại hình phạt nấu sôi người sống thời Chiến Quốc, sau này lại có những bạo hành như giết Sở Hoài Vương, giết Tần vương Tử Anh cùng hoàng tộc họ Doanh, khai quật lớn lăng Tần Thủy Hoàng. Tập đoàn Hạng Vũ liên tục thi bạo trên quy mô lớn, khiến làn gió tàn khốc của các cuộc đại thảm sát đột ngột bùng phát dữ dội trong cơn loạn cuối đời Tần. Tập đoàn Lưu Bang vốn được xưng là "khoan đại trưởng giả" và tương đối chừng mực, cũng từng có hai lần tàn sát thành trì: Một lần đồ sát Dĩnh Dương, lần hai đồ sát Vũ Quan. Tập đoàn Lưu Bang tự giác thi hành phương lược an dân còn như thế, thì sự đốt phá, cướp bóc và thảm sát của các tập đoàn khác tự nhiên có thể tưởng tượng được.

Bấy giờ, thiếu niên Mễ Tâm bất hạnh trở thành "Sở Hoài Vương", đối với mọi hành vi ác quỷ của Hạng Vũ trước sau vẫn chưa hết bàng hoàng sợ hãi. Vị Sở Hoài Vương này từng đầy vẻ lo âu nhưng cũng nghiến răng nghiến lợi nói với các đại thần, tướng quân rằng: "Hạng Vũ làm người, phiêu hãn hoạt tặc! Hạng Vũ từng đánh Tương Thành, Tương Thành không sót một mống, thảy đều bị chôn sống! Phàm những nơi hắn đi qua, không nơi nào không bị tàn diệt!" Vì cớ đó, Sở Hoài Vương kiên quyết không tán đồng việc Hạng Vũ tiến binh vào Hàm Dương, mà chủ trương để "khoan đại trưởng giả" Lưu Bang tiến binh Hàm Dương. "Phiêu" tức là phường cướp bóc trộm đạo. "Hãn" tức là hung bạo ngang ngược. "Hoạt" tức là xảo quyệt làm loạn thế gian. "Tặc" tức là tà ác tàn ngược. Bốn chữ này của thiếu niên Sở Hoài Vương đã phác họa một cách cô đọng và sâu sắc nhất phẩm chất xấu xa và hành vi độc ác của Hạng Vũ. Vị Sở Hoài Vương thông minh này khi ấy căn bản không ngờ rằng, chính vì lời đánh giá này mà Hạng Vũ căm hận ông tận xương tủy. Khoảng hai ba năm sau đó, Sở Hoài Vương liền bị Hạng Vũ dùng danh nghĩa "Nghĩa Đế" để cô lập vô hiệu hóa. Sau đó lại bị sát hại không chút nương tay. Sở Hoài Vương có thể phán xét như vậy, đủ thấy những cuộc đại thảm sát khốc liệt của Hạng Vũ đã mang tiếng xấu rành rành khắp thiên hạ.

Thái Sử Công cũng từng trong phần lạc khoản sau "Hạng Vũ bản kỷ" bày tỏ nỗi kinh ngạc sâu sắc trước sự hung bạo của ông ta, cảm thán lớn rằng: "Vũ há phải là miêu duệ của Thuấn Đế chăng? Sao nổi lên bạo ngược thế!" Lời tán trong "Sách ẩn thuật tán" cuối cùng cũng bày tỏ nỗi kinh hãi tột cùng: "Thương thay kẻ tài trùm đời ấy, rốt cuộc lại thành đứa hung tàn!" — Thật đáng than thở thay, một kẻ sức mạnh trùm đời như hắn, lại đột ngột biến thành một tên hung ác khôn lường! Rõ ràng, nỗi họa hung ác của Hạng Vũ vẫn còn được nhận thức tỉnh táo vào thời Tây Hán. Nào ngờ sự đời vô định, một tên phiêu hãn hoạt tặc dục vọng xấu xa tràn trề, hung bạo kinh hoàng đến thế, từ thời Tống - Minh trở đi lại có kẻ tha thiết sùng bái hắn làm anh hùng, kẻ tiếc nuối có, người ngợi ca có, đến mức các tác phẩm ca tụng "khí phách anh hùng" của hắn được lưu truyền rộng rãi. Nhận thức hoang đường đến bực này, lương tri của tộc ta ở đâu, thị phi ở đâu!

Suốt cả thời Chiến Quốc chiến tranh binh đao liên miên, chưa từng có một cuộc bạo hành tàn sát thành trì nào. Trong đại chiến diệt sáu nước của Tần Thủy Hoàng, quân Tần cũng không hề có bất kỳ bạo hành tàn sát thường dân nào. Thế nhưng các thế lực phục bích cuối đời Tần lại biến thành lũ ác quỷ điên cuồng, triển khai sự trả thù bệnh hoạn đối với toàn bộ xã hội, mức độ tàn bạo khốc liệt của chúng vượt xa hàng nghìn hàng trăm lần cái gọi là "bạo Tần" mà chúng chỉ trích. Những bạo hành phá hoại lớn, hủy diệt lớn vô song bực này trong vài năm ngắn ngủi của thời kỳ "Hán - Sở tranh hùng", đã trở thành thời kỳ bão táp tàn phá lớn có một không hai trong lịch sử Trung Quốc cũng như toàn nhân loại. Hậu quả trực tiếp là, nền văn minh đế quốc phồn vinh hưng thịnh chỉ trong vòng năm sáu năm đã đột ngột rơi vào cảnh tiêu điều cùng cực "người ăn thịt người, kẻ chết quá nửa", đến mức sau hơn năm mươi năm lập chính quyền Tây Hán vẫn chìm trong cảnh nghèo đói cùng quẫn nghiêm trọng mà chưa thể phục hồi.

Là thời kỳ phát sinh những lời dối trá lịch sử, động cơ, thủ pháp cùng tâm trạng oán độc của kẻ nói ra đã được thể hiện đầy đủ nhất trong các đặc trưng nêu trên. Theo một ý nghĩa nào đó, lời nói và hành vi của những kẻ phục bích cuối đời Tần quả đúng như lời Khổng Tử vẽ ra khi chỉ trích Thiếu Chính Mão: Nói năng khoác lác lớn lối, lời lẽ dối trá mà giảo biện, hành vi thiên lệch mà gian xảo, tâm địa phản nghịch mà hiểm độc. Cho nên, những lời lẽ công kích của chúng không nơi nào là không đúng mà hóa sai, hầu như không có lấy một điều có thể dùng làm căn cứ phán xét văn minh Tần. Nếu như xem nhẹ những đặc trưng cơ bản này mà lấy chúng làm căn cứ lịch sử để luận chứng cho "bạo Tần", thì điều đó đồng nghĩa với việc ý thức lịch sử của chúng ta vẫn chưa đạt tới chuẩn mực phân tích cần có của một thời đại văn minh cao cấp.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.