Đại Tần Đế Quốc 6: Đế Quốc Phong Yên

Lượt đọc: 209 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Tiết Thứ Tư
Thế Cục Tần - Triệu - Sở Mỗi Nơi Một Khác, Quân Hạng Vũ Chém Tướng Bạo Khởi

❊ ❊ ❊

Được tin quân Tần từ Nam chí Bắc áp đến, quân Triệu ở Hà Bắc vẫn hung hăng như ngày nào. Từ khi Trần Sênh khởi sự, thiên hạ đại loạn đến nay, đại quân bình loạn của Chương Hàm vẫn luôn tác chiến ở Trung Nguyên, Giang Hoài, quân chủ lực nhà Tần chưa từng đặt chân đến ba vùng Triệu, Yên, Tề. Cho nên, trọn một năm trời, cảnh tượng hỗn loạn ở ba vùng Triệu, Yên, Tề ngày càng trầm trọng, mà vùng đất cũ của nước Triệu là dữ dội nhất.

Thời đó, trong số các chư hầu làm phản, chỉ có quân Triệu ở Hà Bắc là chiếm được thành trì cũ Hàm Đan, và lấy kinh đô cũ của nước Triệu làm kinh đô. Cứ như thế, việc phục hưng đất Triệu lấy việc chiếm đoạt kinh đô cũ làm thế lực phản loạn chính tông, việc phục hưng đất Sở lại lấy việc tôn lập vương tộc cũ làm thế lực phản loạn chính tông, cuối cùng thành ra hai nguồn uy hiếp lớn nhất của thế lực phục hưng trong thiên hạ.

Đất Triệu lần lượt có hai vị vua phục hưng là Võ Thần và Triệu Hết, đều là những kẻ tầm thường hữu danh vô thực, vốn không đủ sức tạo nên khí thế. Thế lực của Triệu bành trướng lớn lao, căn cơ nằm ở chỗ Thừa tướng Trương Nhĩ và Đại tướng quân Trần Dư. Cả hai người này đều là người Đại Lương nước Ngụy cũ, thuở thiếu thời đều có tiếng tài hoa, đều học đạo Nho, kết nghĩa sinh tử. Trong những năm tháng sau khi sáu nước diệt vong, hai người cùng nhau du lãm Trung Nguyên, ngầm nhúng tay vào thế lực phục hưng của các cự tộc cũ xứ Sơn Đông, từng bị quan phủ đế quốc treo thưởng truy nã nghìn vàng và năm trăm vàng. Sau khi quân của Trần Sênh chiếm được Trần Thành, Trương Nhĩ và Trần Dư đã từ cuộc tụ hội của hậu duệ cự tộc sáu nước ở Trạch Trạch mà đi về phía tây, lập tức đến theo về với Trần Sênh. Gặp lúc hào kiệt ở Trần Thành khuyên Trần Sênh xưng vương, Trần Sênh nghe danh tài năng của Trương Nhĩ và Trần Dư, bèn hỏi hai người đối sách. Trương Nhĩ và Trần Dư liền hiến một chủ trương mang tâm địa đen tối, khuyên Trần Sênh chớ vội xưng vương, vì xưng vương chính là "tỏ lòng tư túi với thiên hạ", mà nên làm hai việc lớn: Một việc là nhanh chóng đánh tây tiến đánh nhà Tần, một việc là phái binh mã dựng lên vương hiệu sáu nước. Hai người thề thốt đinh ninh rằng: "Làm theo hai đường này, một là có thể tạo vây cánh cho tướng quân, hai là có thể tạo kẻ địch cho chính quyền nhà Tần. Địch nhiều thì lực bị chia sẻ, người đông thì binh mã mạnh. Nhà Tần hiện nay, đồng nội không có giao binh, huyện lỵ không có giữ thành, tướng quân tiêu diệt bạo Tần, chiếm cứ Hàm Đan để hiệu lệnh chư hầu, không phải là việc khó. Đến lúc đó, chư hầu sáu nước được khôi phục sau khi diệt vong, ắt sẽ tôn trọng và ủng hộ tướng quân! Tướng quân chỉ cần lấy đức thu phục họ, thì nghiệp đế sẽ thành! Nay nếu đơn độc xưng vương ở Trần Thành, thiên hạ sẽ vô cùng bất mãn!" Trương Nhĩ và Trần Dư vốn tưởng rằng, một bài luận lớn lao thế nào cũng sẽ khiến cho Trần Sênh u mê mà lập ra sáu vua trước, còn quân đội của Trần Sênh thì đi đánh giặc cho các cự tộc đời trước của sáu nước. Nào ngờ, Trần Sênh thô lỗ lúc ấy lại nghe ra được dụng ý sâu xa trong lời nói của Trương Nhĩ và Trần Dư, không thèm đếm xỉa đến cái bẫy to lớn của hai vị tài tử Nho gia, mà cứ thế tự mình xưng vương.

Trương Nhĩ và Trần Dư hậm hực, muốn phủi tay bỏ đi, nhưng trong tay lại trống không. Bàn bạc một hồi, Trương Nhĩ bèn bày cho Trần Dư – kẻ vốn ưa thích việc binh đao – một phen ăn nói, để Trần Dư lại đến khuyên nhủ Trần Sênh. Lời lẽ thế này: "Đại vương cất binh đi về phía tây, cốt ở việc tiến vào Quan Trung, nhưng chưa từng nghĩ đến việc thu phục Hà Bắc. Thần từng du lịch đất Triệu, biết rõ hào kiệt và địa hình nơi đó, xin đem một đạo kỳ binh, vì đại vương mà đánh chiếm miền bắc đất Triệu." Lần này, Trần Sênh nửa tin nửa ngờ, bèn phái người quen cũ của mình là Võ Thần – người quận Trần – làm chủ tướng đánh Triệu, dẫn ba nghìn quân đi về phía bắc. Trần Sênh vẫn còn đề phòng, lại phái thêm một viên lại nhỏ cũ là Thiệu Tao làm "hộ quân", giữ chức giám quan, chỉ giao cho Trương Nhĩ và Trần Dư làm tả hữu hiệu trưởng. Tính theo quân chức, chức hiệu úy nhỏ nhoi thực ra không đủ để quyết định việc lớn. Thế nhưng, Trần Sênh lại không ngờ rằng, hiệu úy tuy nhỏ, nhưng lại là quyền thực tế lãnh binh, ba nghìn quân mã tiến về phía bắc ấy lại nằm trọn trong tay hai viên hiệu úy này. Trương Nhĩ và Trần Dư căm hận thái độ khinh miệt của Trần Sênh, nhưng cũng được như ý nguyện, không nói hai lời liền mang tâm địa bừng bừng tiến về phía bắc.

Quân của Võ Thần tiến về phía bắc, Trương Nhĩ và Trần Dư dọc đường hết sức hô hào vang dội, hễ thấy hào kiệt sĩ phu là lại buông lời hào sảng hùng hồn một trận, quả nhiên thuyết phục được không ít cự tộc lần lượt gia nhập quân ngũ, chỉ một hai tháng đã nhanh chóng phình to thành mấy vạn nhân mã, chiếm được mười thành trì đất Triệu. Sách "Sử ký - Trương Trần liệt truyện" ghi chép lại những lời lẽ dọc đường này vô cùng khoa trương thổi phồng, sức kích động rất lớn, phần lớn được các nhà sử học đời sau dẫn dùng làm sử liệu về sự bạo ngược của chính quyền nhà Tần, nguyên văn như sau:

Tần thi hành chính sự đảo điên, hình phạt tàn nhẫn để tàn hại thiên hạ, đã mấy mươi năm rồi! Phía bắc có việc xây Vạn Lý Trường Thành, phía nam có việc canh phòng Ngũ Lĩnh, trong ngoài xôn xao, bách tính khốn cùng, góp thuế theo đầu người thu bã đậu để cung cấp quân phí, tài sản cạn kiệt, sức lực khô kiệt, dân chúng không thể sống nổi. Lại thêm luật pháp khắc nghiệt hình phạt nặng nề, khiến cha con trong thiên hạ không được yên ổn. Trần Vương vung tay làm kẻ khởi xướng cho thiên hạ, làm vua vùng đất Sở rộng hai nghìn dặm. (Thiên hạ) không ai là không hưởng ứng, nhà nhà tự nổi giận, người người tự đứng lên chiến đấu, ai nấy đều báo oán của mình mà đánh kẻ thù của mình, huyện thì giết lệnh thừa của nó, quận thì giết thủ úy của nó. Nay đã làm lớn nước Sở, xưng vương ở đất Trần, sai Ngô Quảng, Châu Văn dẫn tướng sĩ một triệu người đánh tây tiến đánh Tần. Vào lúc này mà không thành được nghiệp phong hầu, thì không phải là anh hào! Chư quân hãy thử cùng nhau tính toán xem. Phàm là thiên hạ đồng lòng mà khổ vì nhà Tần đã lâu rồi! Dựa vào sức của thiên hạ để đánh kẻ vô đạo, báo oán cho cha anh mà thành nghiệp chia đất có thổ địa, đây là thời cơ của kẻ sĩ vậy!

Các vị khán quan chú ý, bài văn cáo này rất có thể cũng là lời lẽ tuyên truyền, chỗ rõ ràng là khoa trương ít ra có ba chỗ: "Dẫn tướng sĩ một triệu người đánh tây tiến đánh Tần", quân Châu Văn lấy đâu ra một triệu người? "Làm vua đất Sở, rộng hai nghìn dặm", quân của Trần Sênh đến một quận Trần còn không thể hoàn toàn kiểm soát, lấy đâu ra rộng hai nghìn dặm? "Góp thuế theo đầu người thu bã đậu để cung cấp quân phí", quân phí của chính quyền nhà Tần nguồn thu rất nhiều, ít ra là có hai đường tiền và lúa gạo. Lời lẽ lại khoa trương thành ra nhà nhà nộp lúa theo đầu người, quan phủ dùng sọt hốt để thu góp làm quân phí. Xét cho kỹ, bài diễn thuyết này hầu như câu nào cũng mang đặc trưng hô hào thổi phồng đậm đặc, có sự chênh lệch rất lớn với sử liệu đã được xác thực, không thể dùng làm sử liệu nghiêm túc để bàn luận được. Tỷ như câu "Nhà nhà tự nổi giận, người người tự đánh nhau, ai nấy báo oán nấy mà đánh kẻ thù, huyện giết lệnh thừa của nó, quận giết úy tốt của nó", kỳ thực là chủ ý hô hào cố ý thổi phồng. Nói cho thực tế, thời kỳ đầu ở nơi khởi sự chắc chắn có việc tàn sát trả thù, cũng sẽ có việc giết quan, nhưng nếu thiên hạ đều như thế, thì lấy gì để giải thích cho thế như gió cuốn mây tan trong hơn nửa năm của quân Chương Hàm? Ngoài ra, còn có một lời lẽ mang tính khủng bố khoa trương hơn nữa, cũng thường bị người ta dẫn dùng làm sử liệu về sự bạo ngược của chính quyền nhà Tần. Đó chính là câu chuyện và lời lẽ của Khoái Thông – người Phàn Dương – trong cùng một bài "Liệt truyện". Chép rằng:

Võ Thần dẫn binh đông bắc đánh Phàn Dương. Người Phàn Dương là Khoái Thông khuyên lệnh huyện Phàn Dương rằng: "Trộm nghe rằng ngài sắp chết, nên ta đến phúng viếng. Dẫu vậy, ta mừng vì ngài gặp được ta mà được sống." Lệnh Phàn Dương hỏi: "Dựa vào đâu mà phúng viếng ta?" Đáp rằng: "Luật Tần nặng nề. Hạ thần làm lệnh Phàn Dương mười năm nay! Giết cha người ta, làm con nhà người ta mồ côi, chặt chân người ta, thích chữ lên trán người ta, không thể kể xiết. Thế mà, cha hiền con thảo không ai dám cầm dao đâm vào bụng ngài, là vì sợ luật Tần mà thôi! Nay thiên hạ đại loạn, luật Tần không thi hành, thế thì cha hiền con thảo có thể cầm dao đâm vào bụng ngài để thành danh tiếng của họ. Đây là lý do hạ thần phúng viếng ngài vậy! Nay chư hầu làm phản nhà Tần rồi, binh mã của Vũ Tín Quân sắp đến, mà ngài còn kiên thủ Phàn Dương, đám thanh niên đều tranh nhau giết ngài để hàng theo Vũ Tín Quân. Ngài hãy mau sai thần yết kiến Vũ Tín Quân, việc chuyển họa thành phúc là ở ngay lúc này đây!"

Hiển nhiên, đây là một lời dọa dẫm hù dọa sống sượng, sự khoa trương của nó đối với sự tàn khốc chấp pháp của luật Tần quan Tần, đối với lòng căm thù của quần chúng, sự mâu thuẫn giữa đe dọa và khuyên nhủ, đều đã đến mức khiến người ta buồn cười không chịu nổi. Quả nhiên là một viên quan tàn ác như thế, quả nhiên là kẻ bị nhân dân căm thù như thế, mà cái gọi là mưu sĩ tự xưng là "anh hào", cái gọi là thế lực phản Tần giương cao ngọn cờ tiêu diệt bạo ngược sao lại không giết hắn để trừ hại cho dân, trái lại còn muốn kéo một tên quan tàn bạo như thế vào phe cánh của mình, lại còn giao phó trọng trách cho hắn? Trớ trêu hơn nữa là, Khoái Thông này nhận sự ủy phái của lệnh Phàn Dương, đã có thân phận, quay đầu lại là một bộ lời lẽ khác hẳn. Những gì Khoái Thông nói với Võ Thần là: Lệnh Phàn Dương muốn quy hàng, chỉ vì sợ Vũ Tín Quân giết hắn. Còn đám thanh niên Phàn Dương muốn giết lệnh Phàn Dương, là vì muốn chống lại Vũ Tín Quân để tự lập. Cho nên, Vũ Tín Quân nên mau chóng "ban chức lệnh cho Phàn Dương", khiến hắn dâng thành, và ban cho hắn "xe trục son lọng tía" tức là xe ngựa sang trọng, để hắn thu phục thành trì cho Vũ Tín Quân, cũng khiến cho "đám thanh niên cũng không dám giết huyện lệnh của họ". Võ Thần không những nghe theo lời Khoái Thông, mà còn ban cho lệnh Phàn Dương ấn tước hầu, mượn đó để thu hút những kẻ quy thuận. Nhóm "mưu sĩ" cuối thời Tần này khi thủy triều đen phục hưng cuốn vào, tiết tháo của họ đã hoàn toàn sụt giảm so với tiêu chuẩn mưu sĩ thời Chiến Quốc, biến thành những kẻ chèo môi múa mép thực sự chỉ vì lợi ích được mất của bản thân mà luồn cúi. Ngay cả Trương Nhĩ và Trần Dư vốn có tiếng là "hiền danh", sau này cũng vì tranh giành quyền lực mà nảy sinh xích mích lớn, rốt cuộc từ đôi bạn tri kỷ sinh tử trở thành kẻ thù không đội trời chung. Phàm là những điều này, nói chung lại, các du thuyết mưu sĩ thời kỳ cuối đời Tần và Hán Sở tranh hùng, hoài bão thiên hạ mà ôm ấp tín niệm chính đạo là cực kỳ hiếm hoi, thực sự khiến người ta không tài nào hứng thú để nhắc đến họ.

Dưới sự hô hào như thế, quân Triệu thế lực bành trướng lớn lao ở vùng đất Hà Bắc vốn không có quân chủ lực nhà Tần. Trương Nhĩ và Trần Dư lập tức thuyết phục được Võ Thần tự xưng là Vũ Tín Quân (Hạng Lương sau này cũng tự xưng là Vũ Tín Quân), còn hai người thì trên thực tế nắm giữ binh mã. Cho đến khi quân Châu Văn đại bại, Trương Nhĩ và Trần Dư ở Hà Bắc đã tạo được thế lực, "không cần giao chiến mà làm cho hơn ba mươi thành phải hạ thành".

Lúc này, Trương Nhĩ và Trần Dư lập tức khuyên Võ Thần xưng vương, lời lẽ của họ cũng khoa trương hoang đường không kém: "Trần Vương khởi binh ở Kỳ, đến thành Trần mà xưng vương, chưa chắc đã lập hậu duệ sáu nước! Tướng quân nay dùng ba nghìn người mà hạ được mấy chục thành ở đất Triệu, đơn độc đứng ở đất Hà Bắc, không xưng vương thì không lấy gì để trấn giữ được! Hơn nữa Trần Vương nghe tin lời sàm tẩu, biết được tin tức, bọn chúng ta e rằng khó thoát khỏi tai họa. Hoặc là Trần Vương muốn lập anh em của hắn làm Triệu Vương, bằng không thì cũng sẽ lập hậu duệ Triệu Vương làm vua. Tướng quân không thể bỏ lỡ thời cơ, thời cơ là thứ nhanh không kịp chớp mắt!" Võ Thần động lòng rồi, kẻ mang mệnh lệnh của Trần Sênh làm giám quân là Thiệu Tao cũng động lòng. Thế là, Võ Thần làm Triệu Vương, Trần Dư làm Đại tướng quân, Trương Nhĩ làm Hữu Thừa tướng, Thiệu Tao làm Tả Thừa tướng. Một bộ khung quyền lực của thế lực phục hưng, cứ thế qua loa thành hình.

Triều đình Trương Sở ở thành Trần nhận được tin bộ hạ của Võ Thần phục hưng xưng vương, Trần Sênh vô cùng nổi giận, lập tức muốn giết gia tộc của Võ Thần, lại còn muốn xuất binh đánh Triệu. Tướng quốc Phòng Quân lúc bấy giờ đã khuyên can Trần Sênh, cho rằng giết gia tộc Võ Thần là tạo thêm kẻ địch mới, chi bằng thừa nhận vương hiệu của hắn, mượn đó để giục Võ Thần quân Triệu nhanh chóng xuất binh tiến về phía tây hợp lực diệt Tần. Triều đình Trương Sở của Trần Sênh cũng là cảnh tượng hỗn loạn trăm bề lực bất tòng tâm, đành phải làm như vậy, dời gia tộc Võ Thần vào vương cung đối đãi hậu hĩnh, lại phong cho con trưởng của Trương Nhĩ là Trương Ngao danh hiệu "Thành Đô Quân". Đồng thời phái đặc sứ, giục quân Triệu lập tức tiến về phía tây.

"Quân Triệu không thể tiến về phía tây!"

Trương Nhĩ và Trần Dư rốt cuộc cũng phơi bày bộ mặt thật phản bội quân Trần Sênh. Lời lẽ đối phó của hai người với Triệu Vương Võ Thần là: "Trần Vương công nhận Triệu Vương, không phải ý định ban đầu, mà là mưu sách. Quả thực Trần Vương diệt Tần, sau này ắt sẽ mang quân đánh Triệu. Triệu Vương không thể tiến binh diệt Tần, chỉ có thể thu phục thành trì ở đất Yên Triệu cũ để tự mở rộng. Đến lúc đó, cho dù Trần Vương quả thực thắng Tần, cũng tuyệt đối không dám chế ngự Triệu đâu!" Võ Thần tự nhiên lập tức nghe theo, phớt lờ vương mệnh của Trần Sênh, lại phái ba đạo binh mã đi mở rộng đất đai: Hàn Quảng dẫn bộ hạ bắc tiến vào vùng đất Yên cũ, Lý Lương dẫn bộ hạ mở rộng vùng Hà Bắc, Trương Yểm dẫn bộ hạ mở rộng vùng Thượng Đảng.

Ngay lập tức, giữa những kẻ phục hưng đã bắt đầu diễn ra việc phản bội lẫn nhau. Hàn Quảng tiến về phía bắc đến đất Yên, lập tức cấu kết với các cự tộc đời trước của nước Yên được những kẻ gây loạn phục hưng tôn xưng là "anh hào", tự lập làm Yên Vương, từ chối tuân thủ bất kỳ mệnh lệnh nào của Triệu Vương Võ Thần. Võ Thần vô cùng tức giận, Trương Nhĩ và Trần Dư cũng vô cùng bẽ mặt, ba người vua tôi liền dẫn quân về phía bắc hỏi tội. Thế nhưng cả ba người chưa từng thực sự đánh trận nào, trong lòng không có đáy, đại quân tiến đến biên giới đất Yên thì dừng lại. Võ Thần u uất, đại quân dừng lại xong liền dẫn theo tùy tùng hộ vệ đi du lịch săn bắn trong núi, nào ngờ lại bị quân mã của Hàn Quảng đã đề phòng từ trước bắt sống. Hạng người Hàn Quảng này quả là thanh xuất vu lam mà thắng vu lam, thản nhiên hành gian trá công khai phản bội, học theo Võ Thần mà còn vượt qua cả Võ Thần, vừa bắt được Võ Thần liền ra giá trên trời với Trương Nhĩ và Trần Dư: chia đôi đất Triệu, mới trả lại Triệu Vương! Trương Nhĩ và Trần Dư vô cùng thẹn thùng tức giận, nhưng lại chẳng có chút kinh nghiệm đánh trận nào, đành phải phái đặc sứ đến "giảng hòa". Nhưng Hàn Quảng vô cùng tàn nhẫn độc ác, hễ nghe sứ thần không nói đến chuyện cắt đất là lập tức giết chết, giết liên tiếp hơn chục sứ thần. Trong lúc Trương Nhĩ và Trần Dư đang bó tay hết cách, thì có một tên gia binh lúc đó gọi là "tư dưỡng tốt" (lính chăn ngựa nuôi quân), nói với môn khách của Trương Nhĩ rằng hắn có thể cứu được Triệu Vương. Môn khách là tâm phúc môn khách của Trương Nhĩ, bèn đem chuyện này coi như chuyện cười kể cho Trương Nhĩ nghe. Trương Nhĩ và Trần Dư cũng đang lúc cấp bách đành chịu, coi ngựa chết như ngựa sống, cũng chẳng hỏi tên lính chăn ngựa rốt cuộc dùng mưu kế gì, liền lập tức phái tên lính chăn ngựa này với danh nghĩa thuyết khách tư nhân, đi đến doanh trại quân Yên. Tên lính chăn ngựa rất lanh lợi, theo phong cách gia đình của Trương Nhĩ từ sớm đã học được một bộ bản lĩnh ăn nói hùng hồn, nói ra một tràng lời lẽ khiến Hàn Quảng hoàn toàn bất ngờ, thế là việc đã thành. Cuộc đối thoại này mang tính châm biếm sâu sắc, chư công hãy xem:

"Tướng quân có biết, thần đến đây muốn làm việc gì không?" Tên lính chăn ngựa ra vẻ thần bí.

"Đương nhiên là muốn ta thả Triệu Vương rồi." Tướng Yên mang vẻ mặt thấu suốt gian mưu.

"Tướng quân có biết, Trương Nhĩ và Trần Dư là hạng người nào không?" Tên lính chăn ngựa cười mỉm đầy ẩn ý.

"Là người hiền." Tướng Yên sa sầm nét mặt.

"Tướng quân có biết, tâm tư của Trương Nhĩ và Trần Dư không?" Tên lính chăn ngựa lại cười đầy ẩn ý.

"Đương nhiên là muốn chuộc lại Triệu Vương rồi." Tướng Yên vô cùng khinh bỉ.

"Tướng quân sai rồi!" Tên lính chăn ngựa cười với vẻ vạch trần sự thật, "Võ Thần, Trương Nhĩ, Trần Dư ba người cùng đem binh đi về phía bắc. Sau khi hạ được mấy chục thành đất Triệu, Trương và Trần từ sớm đã muốn tự mình xưng vương rồi, làm sao có thể cam chịu làm khanh tướng suốt đời? Tướng quân biết đấy, thần và chủ, không thể đánh đồng với nhau được. Lúc ban đầu Trương Nhĩ và Trần Dư chưa xưng vương, đó là vì đất Triệu mới hạ, không dám hành động mạo hiểm mà thôi. Ngày nay đất Triệu đã quy phục, hai người đang muốn chia đất Triệu để xưng vương, đang muốn tìm cách trừ khử Triệu Vương, thì quân Yên lại giam cầm Triệu Vương, há chẳng phải là vừa khéo khiến cho Trương Nhĩ và Trần Dư được như ý nguyện lắm sao! Hơn nữa, Trương Nhĩ và Trần Dư từ lâu đã muốn đánh Yên, chẳng qua Triệu Vương không gật đầu đấy thôi. Không thả Triệu Vương, Trương và Trần xưng vương, sau ắt sẽ diệt Yên; thả Triệu Vương rồi, thì việc Trương và Trần diệt Yên không thể thực hiện được. Sự nặng nhẹ ở đây, Yên Vương không biết sao?"

Lời lẽ phao tin vịt này bẩm báo lên Hàn Quảng, tên võ musthô lỗ tàn nhẫn này vậy mà lại tin là thật, lập tức thả Võ Thần ra, bảo tên lính chăn ngựa dùng một chiếc xe bò cũ kỹ chở đi mất. Thế là, Võ Thần này lại đến Hàm Đan làm Triệu Vương, Trương Nhĩ và Trần Dư cũng không nhắc đến chuyện hỏi tội Hàn Quảng nữa. Thế nhưng, vở kịch phản bội vẫn chưa chấm dứt ở đó. Võ Thần vừa mới về đến nơi, thì tên Lý Lương phái đi mở rộng đất Thường Sơn lại làm phản nước Triệu. Lý Lương vốn là hậu duệ của một vị tướng cự tộc nước Triệu cũ, thấy Võ Thần loại tiểu lại ngày xưa cũng có thể xưng vương trong thời loạn, trong lòng sớm đã có ý đồ khác. Sau khi mở rộng đất Thường Sơn, bộ hạ của Lý Lương lại mưu đồ thu phục Thái Nguyên, lúc tiến về phía bắc thì bị quân Tần ở ải Tỉnh Hình chặn lại. Chương Hàm nghe được tin tức, lập tức hạ lệnh cho thủ tướng ải Tỉnh Hình lôi kéo phản bội Lý Lương. Thế là, tướng Tần đem chiếu thư đời Hai thế do đặc sứ của Chương Hàm đưa tới không dán niêm phong, đưa cho Lý Lương. Bức chiếu thư giả mạo này hứa hẹn, nếu Lý Lương phản Triệu đầu hàng triều đình, có thể tha tội cho Lý Lương, lại phong tước hầu. Lý Lương vô cùng nghi ngờ, chần chừ mãi không dám hành động. Đúng vào lúc này, một sự việc ngẫu nhiên đã kích thích Lý Lương đột ngột phản Triệu.

Một hôm, Lý Lương về Hàm Đan xin tăng binh để mở rộng lãnh thổ. Đi đến ngoài thành Hàm Đan, giữa đường gặp đại đội xe ngựa của tỷ tỷ Triệu Vương Võ Thần đi qua, Lý Lương thấy khí thế lừng lẫy, tưởng là xe giá của Triệu Vương, bèn sụp lạy bên đường để bái yết. Nào ngờ vị đại công chúa này đang trong cơn say mèm, chỉ sai kỵ tướng hộ vệ đuổi Lý Lương đi, rồi tung bụi bay đi mất. Lý Lương vốn tự cho mình là đại thần quý tộc, lúc đó cảm thấy vô cùng bẽ mặt. Một tên tùy tùng ở bên cạnh phẫn nộ nói: "Thiên hạ phản Tần, kẻ có tài được dựng lên trước! Triệu Vương Võ Thần vốn dĩ hèn kém, xưa nay ở dưới trướng tướng quân, ngày nay một người phụ nữ lại dám không xuống xe vì tướng quân! Đuổi theo giết ả ta, tướng quân tự xưng vương đi!" Lý Lương giận dữ ngùn ngụt, lập tức phái tùy tùng dẫn bộ hạ đuổi theo giết chết người chị của Triệu Vương ấy, rồi lập tức điều động quân mã bản bộ tập kích Hàm Đan. Sau khi công phá Hàm Đan, loạn quân nổi lên dữ dội, Triệu Vương Võ Thần cùng Tả Thừa tướng Thiệu Tao đều bị giết chết.

Lúc đó, Trương Nhĩ và Trần Dư may mắn trốn thoát khỏi thành, thu gom tàn quân Triệu, cuối cùng tụ tập được mấy vạn người. Lúc này, Trương Nhĩ và Trần Dư vốn muốn tự mình xưng vương, nhưng lại nghi ngờ lo lắng không yên. Nỗi bất an căn bản nhất là, phong tục đất Triệu vốn dũng mãnh ưa loạn, sợ rằng bản thân khó mà đứng vững được. Một vị môn khách khá có kiến thức đưa ra một mưu kế, nói rằng: "Hai vị vốn là kẻ tha hương đất khách, là người ngoại bang, nếu muốn đứng vững ở đất Triệu thì khó lắm! Chỉ có cách tôn lập hậu duệ chân chính của Triệu Vương, mà hai vị nắm giữ quyền thực tế, thì mới có thể lập nên đại công!" Hai người bàn bạc bí mật một hồi, cuối cùng cũng chấp thuận mưu kế của môn khách. Thế là, qua một hồi tìm kiếm, đã lùng sục ra được một hậu duệ của Triệu Vương đời trước là Triệu Hết, lập làm Triệu Vương. Lúc đó Hàm Đan bị Lý Lương chiếm giữ, Trương Nhĩ và Trần Dư bèn tạm thời an trí Triệu Vương Triệu Hết ở thành Tín Đô cách phía bắc Hàm Đan hơn trăm dặm. Chân vừa đứng vững, Lý Lương đã dẫn quân đến đánh. Mang trên đầu danh hiệu Đại tướng quân, Trần Dư chỉ đành cắn răng ra nghênh chiến. Không biết qua một trận hỗn chiến thế nào, kết quả là Trần Dư thắng, bộ hạ của Lý Lương đại bại tháo chạy, Lý Lương chạy sang đầu quân cho quân Tần của Chương Hàm.

Từ đó, tiếng tăm của Trần Dư lừng lẫy, được Triệu Hết ban cho hiệu là Nho sĩ danh tướng. Bản thân Trần Dư cũng đột ngột hưng phấn lên, tự coi mình là đại tướng quân đánh đâu thắng đó, lập tức coi thường thiên hạ. Ngay sau đó, Trương Nhĩ và Trần Dư mang tâm địa bừng bừng, đưa Triệu Vương dời trở lại Hàm Đan, lại rầm rộ tập trung dân lưu vong đất Triệu để lập nên nhiều quân ngũ, chỉ mấy tháng mà thế lực nhanh chóng phình to, xưng là quân Triệu Hà Bắc mấy chục vạn, thanh uy chấn động thiên hạ.

Chiến sự Hà Bắc của quân Tần, thoạt đầu quả thực là phá như bẻ cành khô.

Mùa thu năm ấy, quân Chương Hàm vượt sông Chương sang bắc thẳng tiến Hàm Đan, quân Vương Lương nam hạ vượt qua thành Tín Đô①, tiến trú Khúc Lương②, hình thành thế gọng kìm nam bắc vây ép Hàm Đan. Lúc ấy tiếng tăm của Trần Dư đang vang dội, Vương Ly đặc biệt đến đại doanh của Chương Hàm để thỉnh giáo phương pháp tác chiến. Chương Hàm vô cùng cảm thán mà rằng: "Thiên hạ không còn danh tướng nữa sao? Thằng nhãi ranh vớ được hư danh! Nếu Hoàng đế nhà ta còn sống, căn cơ chính quyền nhà Tần còn đó, đừng nói là một Trần Dư, cho dù là nhà họ Hạng nước Sở có trăm kẻ như Hạng Lương sống lại, có trăm kẻ hung hãn như Hạng Vũ đi nữa, thì có thể đi được mấy hiệp trước mặt tinh binh đại Tần ta! Căn cơ của chiến trận, nằm ở quân đội, càng nằm ở chính quyền. Loại quân đội lưu vong ô hợp này, là kẻ chịu đựng sự quần thảo kém nhất. Đừng nói là cha ông của ngươi và Mông Điềm còn sống, cho dù là lão phu với tướng quân, chỉ cần lương thảo sung túc, chính sự quốc gia nghiêm túc, thì đám ô hợp này có gì đáng nói chứ! Đáng tiếc nay không bằng xưa rồi!" Vương Ly tuy không có nỗi đau thấu xương thịt như Chương Hàm, nhưng cũng vô cùng lo âu về đại cục hiện tại, đem tin tức mật báo do người tộc ở Hàm Đan gửi tới kể cho Chương Hàm nghe, mắng nhiếc sự chuyên quyền làm càn của Triệu Cao, vô cùng u uất trước tình cảnh hiểm nghèo của chính quyền nhà Tần và cảnh ngộ gian nan của quân Tần. Dù sao thì Chương Hàm cũng là kẻ già dặn kinh nghiệm, bình tĩnh an ủi Vương Ly, cuối cùng nói: "Tướng quân chớ lo, chúng ta vẫn theo mưu kế cũ, lấy nhanh chế biến. Nhanh chóng kết thúc chiến sự Hà Bắc, mới có thể quay người lo việc chính sự. Trận chiến Hà Bắc, chẳng có phương pháp tác chiến nào để nói cả, chỉ có sáu chữ: Buông tay đánh lớn! Trước tiết Lập Đông, rút quân nam hạ."

Mười ngày sau, hai đại quân bày trận lớn ở vùng ngoại ô Hàm Đan.

Trần Dư đang lúc khí thế hừng hực, vả lại chưa từng đối trận với quân chủ lực nhà Tần, càng chưa từng chứng kiến tận mắt quân Tần già dặn thời tiêu diệt sáu nước, quân Tần mà Trần Dư và đồng bọn biết từ trước đến nay, chỉ là những "quân lính úy ở các quận huyện rầm rộ trông gió mà quy thuận" gặp phải trong những năm gần đây, cho nên hoàn toàn không coi đại quân của Chương Hàm và Vương Ly ra gì. Mấy hôm trước hội bàn chiến sự, Trần Dư ngẩng cao đầu nói: "Trận chiến ngày mai, Hà Bắc có thể định đoạt! Sau đó thần tự mình nam hạ diệt Tần, Triệu Vương chỉ việc chờ xưng đế là được!" Trương Nhĩ cũng vô cùng phấn chấn, tự xin thân chinh đốc suất hậu phương lương thảo, quyết tâm cùng Trần Dư lập nên công lớn làm chủ lực diệt Tần. Chính vì phán đoán như vậy, quân Triệu mới hoàn toàn quên mất vết xe đổ của quân Hạng Lương, mới có trận chiến đối đầu chính diện đầu tiên giữa chư hầu quân phục hưng xứ Sơn Đông kể từ khi Trần Sênh khởi sự với quân chủ lực nhà Tần.

Đang độ cuối thu, núi non đồng bằng phía bắc Đại Hà một mảnh vàng úa. Trên vùng đồi núi ngoại ô Hàm Đan, đại quân hai bên lần lượt bày trận, khí tượng tráng lệ lâu ngày không thấy nay lại hiện ra một lần nữa. Đại trận dựa lưng vào thành Hàm Đan đỏ rực một vùng, trên chiến xa dưới đại kỳ chữ Triệu và đại kỳ chữ Trần là Đại tướng quân nước Triệu Trần Dư, đằng sau chiến xa là một hàng kỵ tướng đều một màu đao cong truyền thống nước Triệu, chủ lực phía sau là đại trận bộ binh sắc đỏ là chính mà khá là tạp nhạp, hai bên cánh là hai phương trận kỵ binh. Đại quân của Trần Dư xưng là mấy chục vạn, trải dài khắp núi non đồng ruộng, đến cả thành Hàm Đan ở phía sau cũng trở nên nhỏ bé. Cách quân Triệu về phía nam chừng một hai dặm, là đại trận quân Tần đen ngòm lấy bộ binh làm chủ, giữa cờ soái cờ quân là vị lão tướng Chương Hàm tóc tai bạc phơ, đằng sau là hai viên đại tướng Ti Tưmã Hân, Đổng Nghệ. Giao chiến chính diện, Chương Hàm không xuất động kỵ binh thiết giáp Cửu Nguyên của Vương Ly, mà chỉ dùng quân tội nhân bản bộ của mình để đối trận với quân Triệu. Chương Hàm kiên quyết không cho Vương Ly tự mình xuất chiến, chỉ yêu cầu Vương Ly phái đại tướng Thiệp Gian dẫn ba vạn thiết giáp bố trí ở phía sau quân tội nhân để làm nhiệm vụ truy sát cuối cùng. Cho nên, ở đại trận chính diện không hề có bóng dáng kỵ binh Cửu Nguyên.

"Đánh giết quân Tần! Bắt sống Chương Hàm –!" Trần Dư chỉ thẳng thanh gươm dài hét lớn.

Kỵ binh hai bên giao chiến, Chương Hàm lạnh lùng vạt cờ lệnh xuống.

Hàng chục hàng trăm chiếc trống lớn của hai bên cùng vang lên, tù và sừng bò không biết bao nhiêu mà kể cùng rền rỉ thổi. Giữa tiếng thét chém ngợp trời, quân Triệu ba trận cùng phát, như một thủy triều màu đỏ ngập trời áp đến. Trận cung nỏ hai bên cánh của đại trận Chương Hàm lập tức phát động, những mũi tên dài nhọn rít lên ào ạt như mưa giông gió bão lao vào quân Triệu. Đồng thời, đại trận bộ binh tội nhân theo tiếng trống bước đều bước chân nghiêm trang, tiến lên ầm ầm như sấm động, khiên sắt kiếm ngắn sáng loang loáng như rừng rậm di động, mặc cho quân Triệu đối diện có ào ạt kéo đến thế nào, chỉ như núi non xô tới biển cả màu đỏ.

Ngọn núi màu đen và biển cả màu đỏ, va vào nhau vang trời dậy đất trên vùng đồng nguyên khô vàng. Quân Tần đã không phải là quân Tần ngày xưa, quân Triệu cũng không phải là quân Triệu ngày xưa. Một khi đã giao chiến, tình hình chém giết cũng khác biệt một trời một vực. Biển cả quân Triệu hầu như vừa chạm là vỡ, lập tức phân tán thành vô số đám hỗn độn triều đỏ, chiến xa chiến mã bộ binh chen chúc lẫn nhau, phần lớn chưa giao chiến với quân Tần đã tự chen lấn dẫm đạp lẫn nhau thành một đống bòng bong... Không cần phải kể tỉ mỉ về chiến trường loại này, kết cục là hơn nửa khắc sau biển cả màu đỏ đã hoàn toàn tan rã. Chương Hàm hạ lệnh bộ binh ngừng truy sát, chỉ bảo ba vạn thiết kỵ của Thiệp Gian đi thu dọn tàn quân chạy trốn. Ba vạn Phi Kỵ Cửu Nguyên này một khi xuất động, khí thế thực sự vô cùng kinh ngạc, móng ngựa như sấm ánh kiếm chói trời, lập tức hóa thành vô số mũi tên bén bắn vút đi. Ngụy quân Triệu mạo danh quân Triệu ngày xưa, hoảng sợ đến nỗi không còn sức để chạy trốn, dứt khoát rúc hết vào trong các loại khe ngõ có thể ẩn nấp khắp nơi. Đại tướng quân Trần Dư từ sớm đã ngã lăn khỏi chiến xe, nơm nớp lo sợ được đội mã hộ vệ vây quanh cuốn đi mất. Kỵ binh quân Triệu tận mắt thấy đại kỳ chủ soái biến mất tăm, lập tức ầm ầm tản ra bốn phía. Thế nhưng, đối mặt với phi kỵ chủ lực quân Tần nhanh như chớp, cưỡi ngựa chạy trốn trái lại còn chết nhanh hơn gọn hơn, trong cơn hoảng sợ, kỵ binh quân Triệu dứt khoát lăn tã xuống ngựa, trốn vào những khe ngõ rừng cây có thể thấy ở khắp nơi. Nhất thời, trên chiến trường ngựa không yên cương chạy loạn khắp đồng ruộng, hí vang hoảng hốt lượn vòng tìm chủ, trái lại còn cản trở rất lớn đến sự truy sát của thiết kỵ quân Tần. Chủ tướng kỵ binh Cửu Nguyên Thiệp Gian thấy hiệu quả trên chiến trường này rất ít, liền hạ lệnh dừng việc truy sát.

Chỉ qua một trận chiến, quân Triệu đã vứt bỏ Hàm Đan, chạy trốn đến Cự Lộc.

Triệu Vương Triệu Hết và Thừa tướng Trương Nhĩ, từ sớm ngay lúc quân Triệu mới tan rã đã hốt hoảng trốn khỏi Hàm Đan, một mạch chạy thẳng vào thành Cự Lộc mới kinh hoàng bạt vía dừng chân lại. Trần Dư trốn chạy từ chiến trường về sau không dám vào thành Cự Lộc, mà vội vã dựng doanh trại ở một thung lũng bí mật bên bờ Đại Lục Trạch. Mấy ngày sau tập hợp được mấy vạn người tản mát, Trần Dư lúc này mới dịch doanh trại lại gần thành Cự Lộc hơn chút ít, đồng thời phái sứ giả báo cho Triệu Vương và Trương Nhĩ trong thành, nói rằng chủ lực quân Triệu đóng quân ở ngoại ô có thể trong ngoài hô ứng, là cách thủ thành tuyệt vời nhất. Trương Nhĩ vô cùng khó chịu, nhưng cũng đành chịu hết cách, đành phải lấy danh nghĩa Triệu Vương hạ lệnh cho Trần Dư lập tức nghênh chiến quân Tần, bảo đảm căn cơ Cự Lộc.

Đúng lúc ấy, Chương Hàm vung quân bắc tiến, Vương Ly vung quân nam hạ, vây chặt thành Cự Lộc từ ba mặt. Quân Chương Hàm chặn ở gò cao Cức Nguyên rộng lớn phía nam Cự Lộc, quân Vương Ly có nhiều phi kỵ nhanh nhẹn, thì chặn ở các hiểm yếu gò cao phía đông bắc Cự Lộc. Hai đại quân nhìn nhau từ xa, trùm luôn cả đại quân của Trần Dư – kẻ chưa kịp trốn chạy lần nữa – vào trong vòng vây. Giữa lúc sai lầm đưa đẩy, quân Trần Dư thực sự trở thành lớp phòng tuyến ngoại vi của thành Cự Lộc. Trương Nhĩ trong thành lúc này mới thấy trong lòng hơi yên tâm. Còn Trần Dư ngoài thành thì hối hận chửi trời chửi đất không ngớt. Đến đây, Cự Lộc bị vây ba mặt, chỉ còn lại một dòng sông Chương cuồn cuộn ở phía tây, e rằng dẫu phá vây ra khỏi thành cũng khó mà vượt sông. Chương Hàm và Vương Ly hội bàn, muốn nhanh chóng đánh hạ thành trì kiên cố Cự Lộc này, tận diệt thế lực phục hưng ở vùng Hà Bắc. Vì quân Chương Hàm ở phía nam, nên Chương Hàm vẫn theo phương pháp cũ, đắp thêm đường dũng đạo đạo (đường đi có mái che), đem lương thảo vận chuyển qua đường dũng đạo đạo Hà Nội đến Cức Nguyên, lại từ đường dũng đạo đạo ngoài Cự Lộc vận chuyển đến trước quân Vương Ly.

Nào ngờ, đúng lúc quân Tần đang bận rộn xây dựng đường dũng đạo đạo, chuẩn bị lương thảo binh khí, thì vùng Hà Bắc lại đổ những trận mưa thu lạnh buốt. Mưa dầm mười mấy ngày, trong cơn mưa thu vậy mà lại có những bông tuyết phấp phới ẩn hiện, mặt đất một mảnh bùn lầy băng tuyết, thời tiết trông thấy ngày một lạnh hơn. Mãi mới đợi được trời quang mây tạnh mưa tuyết chấm dứt, quân Tần đang sốt ruột chờ đợi đồng ruộng khô ráo thì bỗng nhiên truyền đến một bản tin quân sự chấn động: Đường dũng đạo đạo Hà Nội đã bị quân Sở của Hạng Vũ dùng vũ lực đập phá cắt đứt, việc vận chuyển lương thảo đã bị gián đoạn!

Không ai ngờ rằng, quân Sở tiến ra bắc lại có thể lưu lại ở An Dương tới bốn mươi sáu ngày.

Quân Sở xuất phát từ hai đường Bành Thành, Tống Nghĩa dẫn đại quân chủ lực tiến về phía bắc, Lưu Bang dẫn nhân mã bản bộ tiến về phía tây. Vừa lên đường, Tống Nghĩa liền hạ một đạo quân lệnh mật cho tiền quân đại tướng Đăng Dương Quân: Từ từ tiến quân, giới hạn mỗi ngày đi ba mươi dặm. Đối với các tướng lĩnh còn lại, Tống Nghĩa thì đặc biệt tuyên bố: Lương thảo tiến vào Trung Nguyên vận chuyển khó khăn, cần phải tiến hành đồng bộ đại khái với lương thảo xe cộ, các bộ cần lấy cự ly của tiền quân làm pháp độ hành quân, không được tự ý vượt quá. Cứ như thế đi suốt dọc đường, đi được gần một tháng, mới vượt Đại Hà đến vùng ngoại ô phía nam An Dương. Vừa qua Đại Hà, Tống Nghĩa lập tức tụ tập các tướng ở đại doanh, tuyên bố phương lược của mình: Đại quân tiến về phía bắc bôn ba liên tục, toàn quân mệt mỏi, lương thảo vẫn chưa được tích trữ, không thể vội vàng cứu Triệu, cần phải đồn trú chỉnh đốn ở An Dương, đợi khi lương thảo sung túc rồi hãy cứu Triệu. Hạng Vũ giận tím mặt, lúc ấy muốn nổi giận ngay. Phạm Giăng kéo giật Hạng Vũ lại, Hạng Vũ nén giận quay người bước đi sải bước lớn. Tống Nghĩa rõ ràng nhìn thấy đủ mọi sắc thái của Hạng Vũ, nhưng cứ lờ đi không hỏi tới mà giải tán đại tiệc.

"Á phụ sao lại ngăn cản ta? Tống Nghĩa rõ ràng làm lỡ việc!" Về đến lều quân, Hạng Vũ giận dữ bừng bừng.

"Tống Nghĩa tuy làm lỡ việc, nhưng lòng căm phẫn của quần chúng chưa thành, không thể hành động bồng bột được."

Cần gì lòng căm phẫn của quần chúng! Bóp chết tên phu hồ đó là xong!

"Thiếu tướng quân lầm rồi!" Lão Phạm Giăng thở dài, "Đánh trận nhờ sức chung. Không thu phục lòng người, muôn việc không thành."

"Nói như vậy, đành phải chịu chết chờ đợi sao?"

"Chưa chắc." Lão Phạm Giăng bình tĩnh nói, "Hiện tại, bọn ta ít nhất có thể làm hai việc: Một là, lão phu sẽ riêng tư giao thiệp với các tướng lĩnh, tìm cách để các tướng hiểu rõ sai lầm của Tống Nghĩa, nhằm tụ họp lòng người; Hai là, thiếu tướng quân có thể bí mật liên kết với đội quân mới tinh nhuệ đã đến trước, sắp xếp thỏa đáng để họ tiếp tục đồn trú bí mật. Đội đại quân này là kỳ binh cứu Triệu, hiện tại, vẫn chưa thể công khai hợp binh với ta. Suy cho cùng, vào lúc tâm ý của Tống Nghĩa khó lường, đội kỳ binh này không thể xuất hiện."

"Tên chó Tống Nghĩa! Ta sớm muộn gì cũng giết chết hắn!"

Hạng Vũ giận dữ mắng nhiếc, nhưng vẫn theo phương lược của lão Phạm Giăng bận rộn đi làm.

Đại quân đồn trú đến tháng thứ nhất, những trận mưa thu ào ào kéo đến. Lúc ấy là đầu tháng mười, chính là lúc cuối thu đầu đông. Trời lạnh mưa lớn, sĩ binh rét mướt đói khát, dãy doanh trại liên miên một mảnh tiêu điều lạnh lẽo. Vùng đồng nguyên hai bên bờ sông Chương, suốt ngày chìm trong màn sương mưa mịt mờ, doanh trại bùn lầy đến nỗi củi đun nấu của quân lính cũng ướt sũng không thể nhóm lửa nổi. Thành An Dương thấp thoáng nhìn thấy được, nhưng suốt ngày kẻ ra người vào lại chỉ có một lũ tướng lĩnh cao quý như Tống Nghĩa, tướng sĩ liền dần dần có tiếng oán thán. Đúng vào lúc này, Tống Nghĩa nhận được vương thư của Tề Vương Điền Thị, nhiệt liệt mời con trưởng của ông ta là Tống Tương sang nước Tề nhậm chức Thừa tướng. Tống Nghĩa mừng rỡ khôn xiết, lập tức tự mình dẫn theo một đám thân tín mưu sĩ, xe ngựa nối liền bất tận đội mưa đưa con trưởng ra đi hơn trăm dặm, cho đến tận thành Vô Diêm③ ở bờ bắc cự trạch Giới Dã nơi biên giới nước Tề cũ, tự mình giao con trai cho đặc sứ nước Tề, lúc đó mới dừng lại. Ba ngày sau quay về đại doanh mưu phủ, Tống Nghĩa lại tụ tập tất cả các tướng quân cao quý và văn lại mở tiệc lớn chúc mừng, tiếng đàn tiếng hát tiếng reo hò vui vẻ từ đại doanh bay ra lan tỏa trong doanh trại sương mưa, các hiệu úy sĩ binh cuối cùng cũng không nhịn được mà chửi thề.

Hôm ấy, Hạng Vũ – kẻ vốn từ chối bữa tiệc rượu của Tống Nghĩa – lại xông sầm vào đại doanh giữa lúc tiệc rượu đang hồi nồng nhiệt. Điều Hạng Vũ không biết là, đám hiệu úy sĩ binh đang run lẩy bẩy vì lạnh đã theo sát bóng lưng của hắn, tụ tập bên ngoài đại doanh. Hạng Vũ xông vào sảnh tụ họp tướng lĩnh của đại doanh, mấy vũ nữ áo vàng nước Sở đang bay lượn xoay vòng khiêu vũ, tiếng nhạc nước Sở ngập tràn, tiếng chúc tụng mời rượu ồn ào khắp nơi. Thấy Hạng Vũ mặt đen sì sải bước đi vào, đại sảnh đại doanh nhất thời lúng túng, bỗng chốc chìm vào im lặng. Tống Nghĩa cau mày rất sâu, xua tay với vũ nữ và nhạc công, tiếng nhạc ngừng lại, các vũ nữ cũng hoảng hốt lùi xuống.

“Thứ tướng sao lại đến muộn thế?” Tống Nghĩa cười một cách giữ kẽ và lạnh nhạt.

“Ta đến không phải để uống rượu, cũng không có tâm trạng chúc mừng.” Hạng Vũ lạnh lùng ném ra một câu.

“Nói vậy, thứ tướng đến có việc gì?”

“Quân Tần vây Triệu, quân Sở cứu Triệu. Quân Sở phải lập tức vượt sông Chương, trong ngoài hợp sức với quân Triệu phá Tần!”

“Thứ tướng xem nhẹ mưu lược rồi.” Thấy các tướng lĩnh đều nghiêm nghị, có vẻ không bất mãn với Hạng Vũ, Tống Nghĩa cũng không tiện lớn tiếng trách mắng, dứt khoát nói rõ mưu hoạch của mình ra, bấy giờ mới giữ kẽ cười nhạt một tiếng mà rằng: “Phàm cái phép vật lộn với trâu, không thể dùng để đập chí rận④. Đạo dùng binh, dùng sức mạnh vô ích rốt cuộc phải dùng trí mưu mới thành. Kế cứu Triệu của lão phu, là trước tiên khiến quân Tần và quân Triệu đánh nhau, quân ta ra tay sau. Nay quân Tần đánh Triệu, nếu Tần thắng diệt Triệu, thì quân ta nhân cơ hội thuận thế bình an bãi binh rút về, đây gọi là ‘thừa lúc suy sụp của địch’; nếu Tần không thắng, thì quân ta dẫn binh trống dồn bước tiến đánh phía tây, tất sẽ tiêu diệt được quân Tần! Mặc giáp cầm vũ khí sắc bén, ta không bằng công; ngồi mà vận dụng mưu lược, công không bằng ta. Hiểu chưa?”

“Không hiểu!” Hạng Vũ giận dữ nói, “Triệu vong thì chư hầu diệt! Cứu Triệu chính là cứu Sở!”

“Hạng Vũ to gan!” Tống Nghĩa rốt cuộc không chịu nổi nữa, vỗ bàn đứng phắt dậy, lớn tiếng hạ lệnh rằng: “Các tướng nghe lệnh: Từ hôm nay trở đi, kẻ dữ như hổ, tham như lang, sức mạnh không thể sai khiến, đều chém!”

Hạng Vũ cười lạnh một tiếng, quay người sải bước đi thẳng ra khỏi đại doanh. Tiệc rượu chúc mừng phút chốc trở nên khó xử, các tướng lĩnh lần lượt tìm lý do rồi cáo lui, trong chốc lát đại doanh liền trở nên quạnh quẽ. Tống Nghĩa tức giận, lập tức dâng thư lên Sở Sở Hoài Vương bẩm báo sự ngang ngược trái pháp luật của Hạng Vũ, xin chuẩn y bãi chức thứ tướng của Hạng Vũ. Nào ngờ Bành Thành mãi mười ngày sau mới đưa tới một đạo vương thư, chỉ vọn vẹn ba năm dòng: “Quân Sở cứu Triệu, là kế sách cấp bách của miếu đường. Dẫu mưa, Khanh Tử Quán Quân xin chớ chậm trễ.” Tống Nghĩa vô cùng u uất. Suy nghĩ theo bụng của Tống Nghĩa, cái gọi là Sở Hoài Vương quyết định cứu Triệu, chẳng qua chỉ là cái danh nghĩa mà thôi, cuối cùng vẫn là muốn giữ gìn thật chắc chắn đội quân nước Sở hiếm hoi này. Nhưng hôm nay vương thư của Sở Hoài Vương gửi tới, lại rõ ràng coi việc cứu Triệu là thật, hiển nhiên là đang trách mắng Tống Nghĩa. Dẫu vương thư không nhắc đến Hạng Vũ, nhưng ý của nó rõ ràng cho rằng Hạng Vũ không có sai sót gì lớn trong chuyện này. Sở Vương kiêng dè Hạng Vũ đến thế, cũng không định nhân cơ hội tốt này để bãi chức Hạng Vũ, quả thật là một vị vua u uất hồ đồ. Tống Nghĩa vô cùng chán nản, nhất thời lại không nghĩ ra được mưu sách gì hay để đối phó với Hạng Vũ. Đối với một vị tướng nắm đại quân thế này, nếu Tống Nghĩa không có danh nghĩa của Sở Hoài Vương thì hầu như không thể chế ngự nổi. Mà lúc ban đầu Tống Nghĩa có lòng tin tuyệt đối vào việc chế ngự Hạng Vũ, căn bản chính là ở chỗ đinh ninh rằng Sở Hoài Vương kiêng dè Hạng Vũ, nhất định sẽ dốc toàn lực ủng hộ mình tìm cách chế ngự Hạng Vũ, thậm chí là tiêu diệt Hạng Vũ. Hiện tại Sở Hoài Vương không nhắc đến Hạng Vũ nửa chữ, có thể thấy các tướng lớn trong quân chưa chắc đã đồng tình với chủ trương “đánh nhau giữa Tần và Triệu trước”. Vào lúc này, Tống Nghĩa thực sự gặp khó khăn rồi.

Tống Nghĩa không ngờ rằng, tình thế trong quân lại xảy ra sự thay đổi đột ngột như thế.

Hạng Vũ và Phạm Giăng bí mật mời Đăng Dương Quân, Bồ Tướng Quân cùng mấy vị đại tướng khác và tất cả các tướng bộ hạ của quân Hạng Sở, tụ họp tại lều lớn của thứ tướng. Hạng Vũ hào hứng sôi nổi nói: “Quân Sở tiến về phía bắc, vốn dĩ phải dốc sức đánh Tần cứu Triệu! Nào ngờ, Tống Nghĩa lại trì hoãn không tiến, đẩy quân ta vào hoàn cảnh khó khăn! Thời loạn năm nay, mất mùa dân nghèo, quân không có lương tích trữ, sĩ binh chỉ có thể ăn nửa cơm nửa rau, ai nấy đói thành da bọc xương! Mà Tống Nghĩa, lại có thể trong lúc tướng sĩ rét mướt đói khát mà bày vẽ việc tư, uống rượu ca hát tiệc tùng lớn! Hơn nữa, Tống Nghĩa không dẫn binh vượt sông, cùng Triệu hợp sức đánh Tần, trái lại còn nói là khiến Tần Triệu đánh nhau rồi thừa lúc chúng suy sụp. Với sự cường đại của quân Tần, đánh nước Triệu mới dựng, ắt sẽ tiêu diệt nó! Quân Tần sau khi diệt Triệu, đang lúc cường thịnh, quân ta lấy đâu ra thế suy sụp để mà thừa cơ? Hơn nữa, quân Sở mới bại ở Định Tao, Sở Vương ngồi không yên chiếu, đến cả đáy kho phủ cũng quét sạch, vơ vét lương thực tiền bạc giao cho Tống Nghĩa. An nguy đất nước, ở trận này là quyết định! Tống Nghĩa lại đi ngược lại đạo lý đó, không thương xót sĩ binh, chỉ mưu cầu lợi ích riêng, tuyệt đối không phải là bề tôi của xã tắc!”

Bài diễn thuyết đầy kích động do lão Phạm Giăng chắt lọc ra, khiến các tướng vô cùng kính phục Hạng Vũ, lần lượt tuyên bố nguyện đồng lòng với Lỗ Công cứu Triệu. Kình Bố vốn là tội nhân lại càng hăng hái hơn, vỗ bàn đôm đốp, tuyên bố muốn Hạng Vũ dứt khoát giết luôn Tống Nghĩa, tự mình làm Thượng tướng quân. Hạng Vũ cười lạnh đầy ẩn ý, tuy không gật đầu, nhưng cũng không lắc đầu. Các tướng tản đi rồi, lão Phạm Giăng cuối cùng nói một câu: “Thiếu tướng quân, lòng người hướng về, thời cơ đến rồi.” Hạng Vũ nghe được câu nói này, hừ lên một tiếng, giáng một quyền phẫn nộ khiến chiếc bàn lớn văng mảnh văng lả tả.

Sáng sớm hôm sau, trời vẫn mưa tuyết lất phất, doanh trại một mảnh bùn lầy. Chưa đến giờ Mão, Hạng Vũ một mình lội bùn bước vào “Trung quân Mưu phủ”. Hạng Vũ là đại tướng chỉ xếp sau Tống Nghĩa, tự nhiên không ai dám ngăn cản. Tống Nghĩa đang ăn sáng, trên bàn có một đỉnh một tước, một mình vừa nhấm nháp vừa uống từ từ. Nghe tiếng bước chân, Tống Nghĩa ngẩng đầu lên, đặt đôi đũa ngà voi xuống, với giọng điệu giữ kẽ và lạnh lùng hỏi một câu: “Thứ tướng trái thời tiết đội mưa mà đến, há muốn đến nhận cái chết sao?” Hạng Vũ đứng cách bàn ba thước, chống gươm dài u ám nói: “Tống Nghĩa, ngươi biết tội không?” Tống Nghĩa ngạc nhiên biến sắc, vỗ bàn trầm giọng nói: “Hạng Vũ! Ngươi dám nói chuyện với lão phu như thế sao?” Hạng Vũ nổi giận chỉ tay rành rọt, lớn tiếng mắng nhiếc: “Tên phu hồ Tống Nghĩa! Tâm địa ti tiện, mưu cầu lợi ích riêng hại nước, trời đất không dung!” Tống Nghĩa giận dữ vỗ bàn, lệnh chưa kịp thốt ra, Hạng Vũ đã tiến lên một bước, một kiếm đâm thủng lồng ngực Tống Nghĩa. Tống Nghĩa ngã xuống đất vẫn còn thều thào thở, Hạng Vũ lại bước lên một bước, vung kiếm quét ngang cắt đứt đầu Tống Nghĩa. Đến khi đám hộ vệ tư mã nghe tiếng chạy đến, thấy Hạng Vũ đã xách chiếc đầu dính máu của Tống Nghĩa trong tay, tức thì đực mặt ra ngây như phỗng không biết phải làm sao.

Hạng Vũ cười lạnh một tiếng, coi đám giáp sĩ trong đại sảnh như không có, tay trái xách đầu người đẫm máu của Tống Nghĩa, tay phải cầm gươm dài dính máu, sải bước đi ra khỏi đại doanh. Ngoài đại doanh đã ầm ầm tụ tập một đám đông tướng sĩ, Hạng Vũ giơ cao đầu người của Tống Nghĩa lớn tiếng nói: “Chư vị tướng sĩ, Tống Nghĩa cấu kết với nước Tề, phản bội nước Sở! Hạng Vũ phụng mật lệnh của Sở Vương, đã giết chết Tống Nghĩa rồi!” Tướng sĩ kinh ngạc tột độ, nhưng không một ai dám ho hửng lên tiếng, hỏi Hạng Vũ tại sao không trưng ra mật lệnh của Sở Vương. Hiển nhiên, tướng sĩ quân Sở đã bị sự uy quyền quyết đoán của Hạng Vũ khuất phục rồi. Giữa sự im lặng, Kình Bố giơ gươm hô lớn: “Kẻ lập lại nhà Sở, vốn là nhà họ Hạng! Nay Lỗ Công trừ loạn, bọn ta tôn đới Lỗ Công làm Thượng tướng quân!”

“Tôn đới Lỗ Công làm Thượng tướng quân –!” Các tướng sĩ bị khuất phục cuối cùng cũng tỉnh ngộ lại.

“Được! Hạng Vũ tạm thời làm giả Thượng tướng quân, bẩm báo Sở Vương rồi quyết định sau.”

“Con trai cả của Tống Nghĩa làm Thừa tướng nước Tề, là họa về sau, nên truy sát nó đi.” Phạm Giăng nhắc nhở một câu.

“Long Thư, dẫn trăm phi kỵ truy sát Tống Tương!” Hạng Vũ lập tức lớn tiếng hạ lệnh.

Long Thư hăng hái đáp lời, bước bay đi mất. Ba ngày sau, Long Thư mang theo đầu của con trai Tống Nghĩa trở về, bẩm báo rằng đã đuổi đến tận sâu trong nội địa nước Tề mới giết được Tống Tương. Hạng Vũ không còn mối lo về sau nữa, lập tức theo sự sắp xếp của Phạm Giăng, phái thân tín đại tướng có giao du thế giao với nhà họ Hạng là Hoàn Sở ngày đêm chạy gấp về nam tới Bành Thành, bẩm báo tình hình quân sự An Dương với Sở Vương. Mấy ngày sau Hoàn Sở trở về, mang theo vương thư chính thức sắc phong Hạng Vũ làm Thượng tướng quân thống lĩnh toàn quân cứu Triệu của Sở Vương, cũng thuật lại tình hình triều nghị ở Bành Thành. Sở Vương Hoài Vương xem xong báo cáo quân sự của Hạng Vũ, chỉ trầm mặt nói một câu, cha con Tống Nghĩa đáng phải chết. Thượng trụ quốc Trần Anh và Lệnh doãn Lữ Thanh, đều chỉ lắc đầu không nói gì. Cuối cùng vẫn là Sở Hoài Vương vỗ bàn quyết định: “Hạng Vũ tự ý giết Thượng tướng quân, dẫu sao cũng là hành vi không đúng phép. Nhưng Tống Nghĩa trì hoãn ở An Dương bốn mươi sáu ngày, uổng phí lương thảo, lỡ việc nước quá nhiều, phụ bạc rất lớn sự kỳ vọng nặng nề của quốc gia, thực sự là có tội. Sự việc đã đến nước này, thì cứ giao cho Hạng Vũ làm Thượng tướng quân đi, Đăng Dương Quân, Bồ Tướng Quân cùng các bộ cũ của Lữ Thần, cũng quy thuộc về Hạng Vũ. Lệnh cho hắn lập tức xuất binh cứu Triệu. Hai vị thấy thế nào?” Trần Anh và Lữ Thanh nhìn sang Hoàn Sở đang đứng u ám bên cạnh, muốn nói gì đó nhưng rốt cuộc vẫn im lặng, cuối cùng vẫn gật đầu công nhận. Hoàn Sở nói, hắn vừa nhận được vương thư liền phi ngựa gấp về bắc, không biết hai người này sau lưng có mưu đồ gì bất lợi cho Thượng tướng quân hay không.

Phạm Giăng thong thả cười nói: “Có thể có mưu đồ gì chứ? Tâm tư ba vua tôi giống nhau, chẳng qua là đang suy tính cách mượn thế Bái công Lưu Bang, để kìm chế thiếu tướng quân mà thôi. Đạo vương thư này, chẳng qua là cực chẳng đã mới phải ra thế thôi.” Hạng Vũ nghiến răng nghiến lợi nói: “Sở Vương này từ đầu đến cuối vẫn nghi kỵ ta, quả thực là không thể nói lý được!” Phạm Giăng nói: “Vào lúc này, thiếu tướng quân chớ bận tâm đến những chuyện khác, chỉ toàn lực bố trí chiến sự. Một khi đã thắng được đại quân chủ lực nhà Tần, thì bất kỳ sự nghi kỵ nào cũng vô dụng.”

Hạng Vũ hừng hực khí thế cho trận chiến phục thù, lập tức phái Đăng Dương Quân, Bồ Tướng Quân dẫn hai vạn binh mã đi trước vượt sông Chương tiến về phía bắc, làm tiền quân cứu Triệu xuất phát đi Cự Lộc. Nào ngờ, mười ngày sau tin báo chiến sự cùng đặc sứ của Trần Dư đồng thời bay tới: Hai đạo quân Sở giao chiến với quân Tần, quân Triệu của Trần Dư cũng ra khỏi doanh trại giáp công, ai ngờ không chịu nổi sức chiến đấu của quân Tần, cả hai đạo quân đều chuốc lấy đại bại. Quân của Trần Dư bị quân tội nhân của Chương Hàm tiêu diệt mấy ngàn người, còn hai đạo quân Sở thì bị thiết kỵ Cửu Nguyên của Vương Ly đánh tan tát hoàn toàn, đã biến thành một đội tàn quân. Nếu không phải vì chiến trường sau mưa tuyết khó khăn, quân Tần không thể nhân cơ hội đó tấn công mãnh liệt, thì e rằng Cự Lộc đã thất thủ rồi. Đặc sứ của Trần Dư vô cùng hoảng sợ, khẩn cấp kêu xin Hạng Vũ lập tức tăng viện tiến về phía bắc, bằng không Hà Bắc sẽ gặp họa diệt vong.

“Không thể lập tức tiến về phía bắc.” Lão Phạm Giăng lạnh lùng ngăn cản.

“Á phụ, Hà Bắc nguy cấp, sao có thể trì hoãn!”

“Thiếu tướng quân chớ nóng vội, lúc này đi sai một bước, hối hận thì đã muộn!”

Lão Phạm Giăng phân tích tường tận đại thế hiện tại: Hai bộ Đăng Dương Quân và Bồ Tướng Quân thất bại, đủ chứng tỏ sức chiến đấu của quân Sở hãy còn kém, mạo muội tiến về phía bắc, chỉ có chuốc lấy thảm bại uổng phí. Còn như quân Triệu ở Cự Lộc, tuyệt đối sẽ không nhanh chóng thất thủ đâu. Đại thế mà Phạm Giăng suy tính là: Mưa tuyết dầm dề cuối thu, đã trì hoãn rất lớn chiến sự Hà Bắc, cũng thay đổi cục diện ba bên. Về phía quân Triệu, đã có được thời gian thở dốc, dựa vào kho dự trữ ở Cự Lộc vẫn có thể chống cự được, doanh trại của Trần Dư ngoài thành cũng đang liên tục thu gom binh lính tản mát nên quân lực tăng mạnh, không đến mức thất thủ ngay lập tức. Về phía quân Tần, chiến sự tấn công chém giết vì mưa tuyết mà bị đình chỉ, đường vận chuyển lương thực ở Hà Nội lại bị cắt đứt, quân Tần đã lâm vào cảnh khốn cùng, Chương Hàm và Vương Ly nhất định sẽ sốt ruột muốn tốc chiến tốc thắng. Về phía quân Sở, trì hoãn ở An Dương quá lâu, lương thảo trước đó lại không được tích trữ, tướng sĩ chiến mã đói rét mệt mỏi rã rời suốt mấy tháng trời, binh lính miền nam lại mặc áo giáp mỏng manh không chịu nổi rét mướt, lúc này sức chiến đấu đang ở thời kỳ đáy cốc, vừa hay không thích hợp để đánh nhanh. Chính vì thế, lập tức tiến về phía bắc chiến đấu mùa đông, không có lợi cho quân Sở, chỉ có lợi cho quân Tần. Phương lược mà Phạm Giăng mưu tính là: Đồn trú tại chỗ qua mùa đông, tiếp tục đánh phá cắt đứt lương thảo Hà Nội của quân Tần, khiến cho tướng sĩ ngày ngày ăn no uống đủ, dưỡng sức mạnh sĩ khí và chỉnh đốn quân mã, mùa xuân tới tiến về phía bắc quyết chiến!

“Thiếu tướng quân hãy nhớ kỹ, không có tinh binh trong tay, muôn việc chỉ là nói suông.”

“Được! Đành theo mưu tính của Á phụ.”

Trải qua hơn bốn mươi ngày trì hoãn cùng với những biến động xáo trộn sau đó, chớp mắt đã bước vào mùa đông giá rét.

Suốt cả mùa đông, quân Sở dời doanh trại đến vùng tránh gió đã hồi phục lại hoàn toàn.

Mùa đông này, Hạng Vũ đã tiến hành chỉnh đốn một cách táo bạo đối với quân Sở. Thứ nhất, các bộ trong toàn quân lập tức đào thải già yếu bệnh tật, giao hết cho hậu quân an trí: Kẻ nào làm được thợ thuyền phu dịch thì giữ lại dùng, kẻ nào hoàn toàn vô dụng thì tại chỗ dựng tường lũy tự phòng thủ, mùa xuân tới không cần phải lên chiến trường phía bắc. Thứ hai, toàn bộ chiến xe cũ kỹ, nhạc công vũ nữ, nghi vệ cửa doanh... của mưu phủ Tống Nghĩa, hoặc là đập bỏ vứt đi hoặc là giải tán, trong quân không cho phép bất kỳ thói quen xa hoa lãng phí nào lan tràn. Thứ ba, điều động đội quân mới tinh nhuệ nhà Hạng Sở được đồn trú bí mật ở thung lũng sông An Dương, chính thức biên vào quyền thuộc của Thượng tướng quân, xếp làm chủ lực toàn quân, do Long Thư thống suất ngày ngày luyện tập phương pháp tác chiến chống lại kỵ binh quân Tần. Các tướng đến đây mới biết Hạng Vũ vẫn còn một đội quân mới tinh nhuệ giấu kín chưa bộc lộ, nhất thời đều kinh ngạc tột độ, đối với Hạng Vũ lại càng thêm vài phần kính sợ. Thứ tư, đổi chủ lực trung quân vốn do một tay Tống Nghĩa thống suất, tức là bộ cũ của Lữ Thần và bộ cũ của Trần Anh, thành hậu quân bảo vệ lương thảo tu sửa binh khí, do các lão tướng quân tóc hoa râm trong bộ cũ của Lữ Thần thống suất. Thứ năm, lấy quân mã của Kình Bố làm đội quân du kích, tiếp tục phương pháp đánh phá đường dũng đạo đạo vận chuyển lương thực Hà Nội của quân Tần từ trước, mùa đông liên tục xuất động, quyết không để đường lương của quân Tần khôi phục. Thứ sáu, lấy bộ hạ của Hoàn Sở làm nền tảng, xây dựng doanh trại cung nỏ khí giới của quân Sở, gấp rút chế tạo hơn trăm cỗ liên nỏ lớn cùng hàng vạn mũi tên dài, ngày ngày luyện tập phương pháp sử dụng thao tác. Thứ sáu, lấy binh sĩ bản thổ Giang ĐÔNG của quân Hạng Sở làm trục trung tâm của trung quân, toàn bộ kỵ binh, do một mình Hạng Vũ thống suất và tiến hành huấn luyện nghiêm ngặt. Dưới sự chỉnh đốn liên tiếp như thế, cộng thêm lương thảo áo giáp binh khí do Bành Thành liên tiếp vận chuyển đến, cộng thêm những bài luyện tập mà Hạng Vũ trong suốt mùa đông cũng không hề từ bỏ, khi băng trên sông tan ra cỏ xuân ngả màu xanh biếc, quân Sở so với lúc mới tiến về phía bắc, đã biến thành một đội tinh nhuệ thực sự binh hùng tướng mạnh.

Băng trên sông vừa tan, Hạng Vũ liền cất binh tiến về phía bắc.

Sớm hôm ấy, giữa lúc sương giá mịt mờ, đại quân nhà Hạng Sở xuất phát khỏi doanh trại bí mật, khí thế hừng hực không tầm thường. Buổi trưa, quân Sở đến bờ nam sông Chương, không hề nghỉ ngơi chút nào mà bắt đầu vượt sông. Binh sĩ đi thuyền, chiến mã bơi qua, tù và hai bên bờ hô ứng chiến mã hí vang, khí tượng vô cùng tráng lệ. Thượng tướng quân Hạng Vũ không cùng binh sĩ ngồi chung thuyền vượt sông, mà cởi bỏ giáp trụ áo choàng, mặc một bộ y phục vải thô ngắn, dắt chiến mã ào ào lội xuống làn nước vẫn còn những tảng băng trôi lững lờ, người và ngựa cùng nhau bơi qua.

Chiến mã của Hạng Vũ vô cùng tuấn tú kỳ lạ, có tên là “Truy”. Sách “Chính nghĩa” dẫn sách “Thích súc” viết: “Lông pha tạp trắng xanh, gọi là Truy.” Lại nói là chiến mã màu trắng xanh. Sắc lông trắng xanh pha tạp, trông không đẹp mắt cho lắm, thế nhưng chắc chắn mang lại một thứ cảm giác uy mãnh đáng sợ mà chiến trường đòi hỏi. Mấy năm sau Hạng Vũ lâm vào bước đường cùng, muốn đem con chiến mã này tặng cho đình trưởng Ô Giang. Lúc đó, Hạng Vũ đã nói về con Truy thế này: “Ta cưỡi con ngựa này năm năm, đi đến đâu là vô địch đến đó, từng có ngày đi nghìn dặm.” Chính vì câu nói này mà con chiến mã ấy được lưu truyền đời sau và ngày càng được thần thánh hóa, trở thành một trong số ít những con chiến mã nổi tiếng trong lịch sử.

Có lẽ người đời sau phần lớn cảm thấy lông pha tạp trắng xanh không đẹp, cho nên con chiến mã tuấn tú này liền có một cái tên trong truyền thuyết, ngựa Ô Truy, biến thành một đám mây đen bay lượn tung hoành trên chiến trường. Tài năng thiên bẩm suốt đời của Hạng Vũ đều thể hiện ở ba việc: Binh khí, ngựa chiến, mỹ nhân. Trực giác thiên bẩm thời niên thiếu, tìm kiếm “sức địch vạn người”; trực giác thiên bẩm tiếp theo, có được chiến mã thần Truy; trực giác thiên bẩm sau đó nữa, có được mỹ nhân Ngu Cơ.

Ngoài ba việc này ra, tài năng thiên bẩm của Hạng Vũ hoàn toàn không thấy thể hiện ở đâu khác. Cho nên, câu chuyện về thần Truy của Hạng Vũ, hẳn là đáng tin vậy. Lúc này, con thần Truy lông pha tạp đang chở thanh “địch vạn người” thô dài ấy, Hạng Vũ đầu bù y phục vải thô ung dung bơi qua giữa những tảng băng trôi, đứng sừng sững nổi bật giữa mặt sông trông như thiên thần. Tướng sĩ trên thuyền tinh thần phấn chấn lập tức vang lên một tiếng hoan hỉ hừng hực muôn năm cho Thượng tướng quân.

Vượt qua sông Chương, quân Sở tập kết ở vùng thung lũng bờ bắc. Hạng Vũ đứng trên một tảng đá lớn, vung gươm dài hào hứng hạ lệnh bố trí quyết chiến: “Hư chư vị tướng sĩ! Quân Sở vì báo thù Định Tao mà chiến! Vì phục hưng sáu nước mà chiến! Quân Sở có đi không về! Chỉ tiến không lùi! Da thịt xương cốt của quân Sở, phải đổi lấy việc quân Tần thây phơi đồng nội! Phải đổi lấy sự diệt vong của chính quyền nhà Tần! Trận chiến cứu Triệu đẫm máu lần này, Hạng Vũ quyết định thân rước tử sĩ đệ tử Giang Đông mặc giáp cầm vũ khí sắc bén, thẳng đánh vào đại doanh quân Tần! Quân lệnh quyết chiến tử chiến của Hạng Vũ: Toàn quân đục thủng thuyền vượt sông! Đập vỡ nồi niêu! Đốt cháy lều tranh! Ngoài binh khí chiến mã ra, sĩ binh chỉ mang theo ba ngày lương khô! Phá thuyền dìm xuồng! Quyết chiến tử sinh với quân Tần!”

“Phá thuyền dìm xuồng –! Quyết chiến tử sinh với quân Tần –!” Tiếng gầm rung chuyển đất trời, bao trùm cả thung lũng sông Chương.

Hăng hái bận rộn hơn một canh giờ, quân Sở đục hỏng tất cả thuyền bè qua sông, đập nát toàn bộ nồi gang và chõ đất dùng để nấu nướng, thiêu rụi tất cả lều trại mà trong quân gọi là "lư xá", mỗi binh sĩ lĩnh phần cơm nắm thịt khô chỉ đủ dùng trong ba ngày, ai nấy đều thu dọn gọn gàng nhanh chóng. Không đợi Hạng Vũ hạ lệnh, các cánh quân Sở đã chấn chỉnh đội ngũ tập hợp lại.

"Toàn quân bắc tiến!" Nhìn ngọn lửa rực trời vẫn chưa tắt, Hạng Vũ phất mạnh lệnh kỳ xuống——

Chú thích:

① Tín Đô, thành ấp của quận Hàm Đan thời Đại Tần, cố đô phụ của nước Triệu cũ, đại trí nằm ở khu vực phía nam thành phố Hình Đài tỉnh Hà Bắc ngày nay.

② Khúc Lương, yếu sự của quận Hàm Đan, đại trí nằm ở khu vực ngoại ô phía đông bắc thành phố Hàm Đan tỉnh Hà Bắc ngày nay.

③ Vô Diêm, thành ấp của quận Tiết thời nhà Tần, đại trí nằm ở khu vực phía nam huyện Đông Bình tỉnh Sơn Đông ngày nay.

④ "Sử ký·Hạng Vũ bản kỷ", câu đó nguyên văn là: "Phu bác ngưu chi manh bất khả dĩ phá kỷ sắt." Các bản Tập giải, Sách ẩn giải thích theo nhiều cách khác nhau nhưng đều không thể hiện trực tiếp ý ban đầu. Căn cứ vào nội dung ngữ nghĩa trong văn bản, nghi ngờ văn bản câu này có chỗ sai sót, nên là "Phu bác ngưu chi pháp, bất khả dĩ phá kỷ sắt."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 2 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.